Tải bản đầy đủ (.pdf) (49 trang)

ĐỀ CƯƠNG PHÂN TÍCH các tác PHẨM văn THƠ lớp 9 học kỳ 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (7 MB, 49 trang )

Đề Cương
PHÂN TÍCH
CÁC TÁC PHẨM
VĂN THƠ LỚP 9
HỌC KÌ 2


Mùa xuân nho nhỏ
Thanh Hải

Đây cả mùa xuân đã đến rồi
Từng nhà mở cửa đón vui tươi
Từng cơ em bé so màu áo
Đơi má hồng lên nhí nhảnh cười.
(Thơ xn, Nguyễn Bính)
Nếu phải chọn ra ý nghĩa nhân văn nhất của thơ ca
trong đời sống thì đó là việc thơ ca đã cống hiến cho
cuộc đời này những tiếng lòng đẹp đẽ, những vẻ đẹp
trong sáng, đầy cảm xúc trong tâm hồn của các thi
nhân. Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải xứng đáng
mang ý nghĩa cao đẹp ấy. Bài thơ là tiếng lòng tha thiết
yêu mến và gắn bó với đất nước, với cuộc đời; thể hiện
ước nguyện chân thành của nhà thơ được cống hiến cho
đất nước, góp một mùa xn nho nhỏ của mình vào mùa
xuân lớn của cuộc đời.
Bài thơ ra đời năm 1980. Khi đó, Thanh Hải đang nằm
viện để điều trị một căn bệnh hiểm nghèo và không lâu
sau khi sáng tác bài thơ này, nhà thơ đã vĩnh viễn lìa bỏ
những mùa xuân khác nữa của cuộc đời mình. Năm 1980
cũng là năm đất nước đang gặp nhiều khó khăn trong
cơng cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Trong hoàn cảnh


ấy, bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải ra đời đã
thể hiện cảm hứng đón nhận thanh sắc, đất trời mùa
xuân, cảm nhận đầy tự hào về bước đi lên thanh xuân
của đất nước, đồng thời cũng là tâm nguyện dâng hiến


sức xuân trong cuộc sống cách mạng của đất nước. Mùa
xuân nho nhỏ là tiếng thơ đầy cảm động của nhà thơ.
Bức tranh mùa xuân thiên nhiên trong sáu câu thơ
đầu được vẽ bằng vài nét phác hoạ nhưng rất đặc sắc.
Không gian cao rộng của bầu trời, chiều rộng dài của
dịng sơng, màu sắc hài hồ của bơng hoa tím biếc và
dịng sơng xanh – đặc trưng của xứ Huế. Sự rộn rã; tươi
vui với tiếng chim chiền chiện hót vang trời, tiếng chim
trong ánh sáng xuân lan toả khắp bầu trời như đọng
thành “từng giọt long lanh rơi”.
Cảm xúc của tác giả trước mùa xuân đất trời thể
hiện qua cái nhìn trìu mến với cảnh vật, trong những lời
bộc lộ trực tiếp như lời trò chuyện với thiên nhiên: “ơi”,
“hót”, “chi”, “mà”. Đặc biệt, cảm xúc của nhà thơ được
thể hiện trong một động tác vừa thể hiện sự trân trọng,
vừa tha thiết, trìu mến với mùa xuân: đưa tay hứng lấy
từng giọt long lanh của tiếng chim chiền chiện:
Từng giọt long lanh rơi
Tơi đưa tay tơi hứng
Có thể hiểu câu thơ theo nhiều cách khác nhau. Trước
hết, “giọt long lanh” là những giọt mưa mùa xuân, giọt
sương mùa xuân, trong sáng, rơi xuống từng nhành cây,
kẽ lá như những hạt ngọc. Ở đây, “giọt long lanh” cũng có
thể được hiểu theo nghĩa ẩn dụ, một nghệ thuật chuyển

đổi cảm giác. Tiếng chim từ chỗ là âm thanh (cảm nhận
bằng thính giác) chuyển thành từng giọt (hình và khối,
cảm nhận bằng thị giác), từng giọt ấy lại long lanh ánh
sáng và màu sắc, có thể cảm nhận bằng xúc giác “đưa
tay hứng”. Dù hiểu theo cách nào thì hai câu thơ vẫn thể


hiện cảm xúc say sưa, ngây ngất của tác giả trước cảnh
đất trời xứ Huế vào xuân, thể hiện mong muốn hoà vào
thiên nhiên đất trời trong tâm tưởng giữa mùa đơng giá
lạnh khiến ta vơ cùng khâm phục.
Hình ảnh “lộc” xuân theo người ra đồng làm đẹp ý
thơ với cuộc sống lao động và chiến đấu, xây dựng và
bảo vệ, hai nhiệm vụ không thể tách rời. Họ đã đem mùa
xuân đến mọi nơi trên đất nước:
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ.
Hình ảnh “mùa xuân người cầm súng, lộc giắt đầy
trên lưng” khiến chúng ta liên tưởng đến những người
chiến sĩ ra trận mà trên vai, trên lưng họ có cành lá
ngụy trang. Những cành lá ấy mang lộc biếc, chồi non,
mang theo mùa xuân của thiên nhiên, cây cỏ. Từ “lộc”
còn làm cho người ta liên tưởng đến hình ảnh người lính
khi ra trận, mang theo sức sống của cả dân tộc. Chính
màu xanh ấy đã tiếp cho người lính có thêm sức mạnh, ý
chí để họ xơng lên phía trước tiêu diệt qn thù. Hình
ảnh “mùa xuân người ra đồng, lộc trải dài nương mạ” nói
về những người lao động, những người ươm mầm cho sự

sống, ươm những hạt mầm non trên những cánh đồng quê
hương. Từ “lộc” cho ta nghĩ tới những cánh đồng trải dài
mênh mông với những chồi non mới nhú xanh mướt. Từ
“lộc” còn mang sức sống, sức mạnh của con người. Có thể
nói, chính con người đã tạo nên sức sống của mùa xuân
thiên nhiên, đất nước. Cuối cùng chỉ đọng lại, đan kết lại


trong ý thơ:
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao.
Nhà thơ Thanh Hải đã cảm nhận mùa xuân đất
nước bằng hai từ láy “hối hả” và “xôn xao”, thể hiện tinh
thần và hành động khẩn trương, liên tục không dừng lại.
“Xôn xao” khiến ta nghĩ tới những âm thanh liên tiếp
vọng về, hoà lẫn với nhau xao động. Đây chính là tâm
trạng của tác giả, là sự náo nức trong tâm hồn. Tiếng
lòng của tác giả như reo vui, náo nức trước tinh thần lao
động khẩn trương của con người. Mùa xuân đất nước
được làm nên từ tinh thần hối hả ấy. Sức sống của đất
nước, của dân tộc cũng được tạo nên từ sự hối hả, náo
nức của người cầm súng, người ra đồng. Như vậy, hình
ảnh mùa xuân đất nước đã được mở rộng dần. Đầu tiên,
nó chỉ gói gọn trên đơi vai, tấm lưng của người ra trận,
rồi cuối cùng được mở rộng thành một cánh đồng bao la.
Nhà thơ tin tưởng, tự hào về tương lai tươi sáng của đất
nước cho dù trước mắt còn nhiều vất vả, khó khăn. Và
đất nước được hình dung bằng một hình ảnh so sánh thật
đẹp, mang nhiều ý nghĩa:
Đất nước bốn ngàn năm

Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.
“Sao” là một nguồn sáng lấp lánh, là vẻ đẹp vĩnh hằng
vượt qua mọi khơng gian và thời gian. Sao cũng là hình
ảnh rạng ngời trên lá cờ Tổ quốc đang tung bay trong
gió. Qua đó, tác giả bộc lộ niềm tự hào về một đất nước


Việt Nam anh hùng và giàu đẹp. Đất nước mãi trường
tồn, vĩnh cửu cùng vũ trụ, không bao giờ mất đi và không
một thế lực nào ngăn cản được, nhất định đất nước cũng
sẽ toả sáng như những vì sao trong hành trình đến tương
lai rực rỡ, đến bến bờ hạnh phúc. Đó là ý chí quyết tâm,
niềm tin sắt đá, niềm tự hào, lạc quan của cả dân tộc. Ở
câu thơ thứ hai, phụ từ “cứ” kết hợp với động từ “đi lên”
thể hiện quyết tâm cao độ, hiên ngang tiến lên phía
trước, vượt qua tất cả mọi khó khăn thử thách. Cảm xúc
của nhà thơ là sự lạc quan, tin tưởng, ngợi ca sức sống
của quê hương đất nước, của dân tộc khi mùa xuân về.
Từ những cảm xúc về mùa xuân, tác giả đã chuyển
mạch thơ một cách tự nhiên sang bày tỏ những suy ngẫm
và tâm niệm của mình về lẽ sống, về ý nghĩa, giá trị của
cuộc đời mỗi con người:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Làm “con chim hót” giữa mn ngàn tiếng chim vơ
tư, cống hiến tiếng hót vui, làm “một cành hoa” giữa vườn

xuân rực rỡ, làm “một nốt trầm” giữa bản hồ tấu mn
điệu, làm “một mùa xn nho nhỏ” góp vào mùa xuân lớn
của đất nước, của cuộc đời chung. Ở phần đầu bài thơ,
tác giả đã phác hoạ hình ảnh mùa xuân bằng các chi
tiết “bông hoa” và “tiếng chim hót”. Câu từ lặp đi lặp lại
như vậy tạo ra sự đối ứng chặt chẽ. Hình ảnh chọn lọc ấy
trở lại đã mang một ý nghĩa mới: niềm mong muốn được
sống có ích, cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên. Điệp từ


“ta” như một lời khẳng định. Nó khơng chỉ là lời tâm niệm
thiết tha, chân thành của nhà thơ mà còn đề cập đến
một vấn đề lớn là khát vọng chung của nhiều người:
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
Ước nguyện hố thân đó vơ cùng cháy bỏng, nhưng
được tác giả âm thầm, “lặng lẽ dâng cho đời”. “Nho
nhỏ”, “lặng lẽ” là cách nói khiêm tốn, chân thành mà giản
dị, là cách sống cao đẹp. Tác giả muốn mỗi người là một
mùa xuân nhỏ hoà vào cuộc sống, là ước nguyện sống có
ích, được cống hiến cho đời:
Nếu là con chim, chiếc lá
Thì chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không trả
Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình.
(Một khúc ca xuân, Tố Hữu)
Mùa xuân nho nhỏ là một ẩn dụ đầy sáng tạo độc
đáo, cũng là cách thể hiện thiết tha, cảm động. Nó đã

khắc sâu ý tưởng:
Ơi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hố núi sơng ta.
(Đất Nước, Nguyễn Khoa Điểm)
Đó khơng phải là mong muốn trong một khoảnh
khắc mà là cả một cuộc đời:
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
Điệp từ “dù là” khiến âm điệu câu thơ tha thiết, sâu lắng


ý thơ được nhấn mạnh làm cho người đọc không chỉ xúc
động trước giọng thơ ấm áp, mà còn bồi hồi trước lời
tâm sự thiết tha của một người đã từng trải qua hai
cuộc kháng chiến, đã cống hiến trọn cuộc đời và sự
nghiệp cho cách mạng, vẫn tha thiết được sống đẹp,
sống có ích với tất cả sức sống tươi trẻ của mình cho
cuộc đời chung.
Bài thơ được viết một tháng trước khi nhà thơ trở
về miền cát bụi nhưng không gợi chút băn khoăn về bệnh
tật, những suy nghĩ riêng tư cho bản thân. Và một nhịp
láy lại của khúc dân ca dịu dàng, đằm thắm đã góp phần
làm tăng giá trị biểu hiện của các khổ thơ trên, đem lại
thi vị của xứ Huế mộng mơ, trìu mến mà tha thiết:
Mùa xuân – ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế.
Bài thơ khép lại trong âm điệu “khúc Nam ai, Nam

bình” xứ Huế. Đoạn thơ kết thúc như một khúc hát ca
ngợi mùa xuân, để lại dư vị sầu lắng. Nhà thơ muốn hát
lên điệu “Nam ai, Nam bình”, điệu dân ca tha thiết xứ
Huế để đón mừng mùa xuân. Câu ca nghe như một lời từ
biệt để hoà vào cát bụi vĩnh viễn. Nhưng ở đây không
phải là lời ca buồn mà ta đã từng nghe:
Anh đi rồi xứ Huế buồn hiu đó anh
Chim xa đàn khơng cịn nghe hót trên cành…
(Huế buồn, Lê Dinh)
mà là “nhịp phách tiền đất Huế” nghe giòn giã, vang xa.


“Nước non ngàn dặm mình, nước non ngàn dặm tình” còn
ngân nga mãi mãi. Phải yêu đời lắm, phải lạc quan lắm
mới có thể hát lên trong hồn cảnh nhà thơ lúc đó (đang
ốm nặng và sắp qua đời). Điều đó làm ta càng trân q
tiếng hát và tấm lịng nhà thơ.
Như vậy, bài thơ không chỉ đơn thuần viết về mùa
xuân của thiên nhiên, đất trời. Từ tiếng chim chiền chiện
tượng trưng cho khúc hát của đất trời đến làm một nốt
nhạc trầm nhập vào bản hoà ca đất nước, và đến đây là
khúc hát tạo ấn tượng một bài ca không dứt, bài thơ đã
trở thành bài ca yêu cuộc sống và thể hiện khát vọng
cống hiến của tác giả. Bài thơ được nhạc sĩ Trần Hoàn
phổ nhạc thành bài hát và trở thành khúc ca xuân quen
thuộc, xúc động, còn mãi với đời. Thể thơ năm chữ gần
với điệu dân ca, âm hưởng trong sáng, nhẹ nhàng, tha
thiết, điệu thơ như điệu của tâm hồn, cách gieo vần liền
tạo sự liền mạch của dịng cảm xúc. Hình ảnh tự nhiên,
giản dị, giàu ý nghĩa biểu tượng, đặc biệt một số hình

ảnh cành hoa, con chim, mùa xuân được lặp đi lặp lại và
nâng cao, gây ấn tượng sâu đậm. Câu từ bài thơ chặt
chẽ, chủ yếu dựa trên sự phát triển của hình tượng mùa
xuân: từ mùa xuân đất trời đến mùa xuân đất nước và
con người. Giọng điệu bài thơ phù hợp với cảm xúc của
tác giả: ở đoạn đầu vui, say sưa với vẻ đẹp của mùa
xuân thiên nhiên, rồi phấn chấn, hối hả trước khí thế lao
động của đất nước. Và cuối cùng là trầm lắng, trang
nghiêm mà thiết tha bộc bạch, tâm niệm. cống hiến
không mệt mỏi cho đất nước, nhà thơ vẫn khao khát “làm
con chim hót”, “làm một cành hoa”, “một nốt trầm xao


xuyến”, “một mùa xuân nho nhỏ” để “lặng lẽ dâng cho
đời”. Tiếng thơ đã thể hiện ước nguyện chân thành của
nhà thơ là được cống hiến cho đất nước, góp một mùa
xuân nho nhỏ của mình vào mùa xuân lớn của cuộc đời.
Hơn ba thập niên đã trôi qua từ ngày thi phẩm
Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải ra đời nhưng chưa một
mùa xuân nào đất nước lại thiếu vắng những tiếng thơ
ơng hồ trong lời nhạc sơi nổi, say mê: “Mùa xuân, mùa
xuân, một mùa xuân nho nhỏ, lặng lẽ dâng cho đời…”. Bài
thơ ấy đã, đang và sẽ trở thành bản nhạc lĩnh xướng cho
dàn hoà ca đóng góp và dựng xây đất nước của tồn
dân tộc.


Viếng lăng Bác
Viễn Phương


Có những tình cảm trong cuộc sống có ý nghĩa vơ
cùng với tâm hồn mỗi người. Đó là tình yêu ruột thịt, là
tình bạn bè, anh em, đồng chí. Những tưởng khơng có sợi
dây nào gắn kết những con người tưởng chừng xa lạ,
nhưng luôn ấm áp tình thương. Ấy là người con miền NamViễn Phương với trái tim thành kính hướng về người cha
già. Người cha khơng cùng một dịng máu nhưng Người là
cha chung của toàn dân tộc Việt Nam. Viếng lăng Bác ra
đời là tấm lòng người con gửi đến cha.
Bài thơ được sáng tác năm 1976 tại một thời điểm
rất đặc biệt. Đây là năm đánh dấu sự kiện lăng Bác
được hoàn thành và những người con miền Nam trong đó
có Viễn Phương, lần đầu được đến thăm, gặp gỡ người
cha già của cả dân tộc. Với bốn khổ thơ tự do, một chỉnh
thể không quá dài nhưng tất cả là kết tinh cho niềm u,
nỗi nhớ, sự kính trọng khơn cùng của người con miền Nam
dành cho Bác.
"Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp Mưa sa đứng thẳng hàng"
Mở đầu là lời xưng hô “con - Bác” thật thân mật gần
gũi như người thân trong gia đình, giữa cha với con. Lời
xưng hô ấy là lời chào giới thiệu đứa con ở miền Nam ra


thăm lăng Bác. Cách nói giảm nói tránh “thăm lăng Bác”
dường như trong lòng Viễn Phương Bác vẫn còn sống mãi
để giờ đây người con xa xôi ra thăm cha. Đến với lăng
Bác nhà thơ bắt gặp hình ảnh “hàng tre trong sương
xanh ngát” bốn mùa. Hàng tre ấy được trồng quanh lăng

Bác gợi trong lòng cảm giác quen thuộc trở về với quê
hương. Cây tre là loài cây bé nhỏ dẻo dai không chịu
khuất phục bão táp mưa sa. Ngắm nhìn hàng tre mà nhà
thơ khơng khỏi bồi hồi xúc động “Ơi! Hàng tre xanh xanh
Việt Nam”. Dịng cảm xúc trào dâng được thể hiện bằng
từ “ôi” cùng nghệ thuật ẩn dụ hàng tre xanh xanh tượng
trưng cho cả dân tộc Việt Nam đang hội tụ quây quần
bên lăng Bác.
Tình cảm ấy khơng chỉ quyện hịa mà cịn lắng đọng
trong niềm xúc cảm của người con xa. Khổ thơ thứ hai
trở thành điểm tựa để Viễn Phương bày tỏ trực tiếp
chân tình trước hình ảnh lớn lao của người cha:
"Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày mặt trời đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân"
Khổ thơ được tạo dựng bởi những hình ảnh thực cùng
hình ảnh ẩn dụ thật đẹp. Hai câu thơ đầu thông qua ẩn
dụ “mặt trời”, Viễn Phương ngợi ca công lao to lớn của
Bác. Mặt trời của tự nhiên trong câu thơ đầu là nguồn
sống cho mn lồi và đảm nhiệm nhiệm vụ lớn lao “ngày
ngày” duy trì sự sống. Mặt trời ấy quan trọng, quý giá và
chỉ có duy nhất. Ấy nhưng mặt trời tự nhiên lại bắt gặp
một mặt trời nữa cũng đẹp, cũng sáng. Ấy là “mặt trời
trong lăng”- ẩn dụ chỉ Bác Hồ với những hi sinh lớn lao


dành cho dân tộc. Và đâu chỉ có Viễn Phương, Bác cũng
luôn lồng lộng như ánh dương ấm áp trong ngòi bút Tố
Hữu: “Bác như trời đất của ta”. Với câu thơ của mình,

nhà thơ bên cạnh việc khẳng định công lao bất tử, sức
sống của Bác với dân tộc Việt Nam thì cịn muốn nói lên
lịng biết ơn, sự tơn kính dành cho người cha già của cả
dân tộc.
"Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim"
Ánh sáng của những ngọn đèn mờ ảo trong lăng gợi
nhà thơ liên tưởng thật thú vị “ánh trăng”. Tác giả đã
thể hiện sự am hiểu của mình về Bác qua sự liên tưởng kì
lạ đó. Bởi trăng với Bác đã từng vào thơ Bác trong nhà
lao, trên chiến trận, giờ đây trăng cũng đến dỗ giấc ngủ
ngàn thu cho Người. Với hình ảnh “vầng trăng sáng dịu
hiền” nhà thơ còn muốn tạo ra một hệ thống hình ảnh vũ
trụ để ví với Bác. Bác của chúng ta là vậy. “mặt trời”,
“vầng trăng”, “trời xanh” đó là những cái mênh mông bao
la của vũ trụ được nhà thơ ví như cái bao la rộng lớn
trong tình thương của Bác. Đó cũng là biểu hiện cho sự vĩ
đại, rực rỡ của con người với sự nghiệp của Bác. Biết
rằng Bác vẫn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng và
tâm trí nhân dân như bầu trời xanh vĩnh viễn trên cao.
Nhưng nhà thơ vẫn khơng khỏi thấy đau nhói trong lòng
khi đứng trước thi thể Người. “Mà sao nghe nhói ở trong
tim”. Nỗi đau như hàng ngàn mũi kim đâm vào trái tim
thổn thức của tác giả. Đó là sự rung cảm chân thành của
nhà thơ.


Chính vì vậy mà khi chân cịn ở trên đất Bác nghĩ

đến ngày mai trở về nhà thơ cảm thấy buồn, xúc động
lưu luyến khơng muốn xa rời. Dịng cảm xúc ấy rất tự
nhiên, chân thành tuôn trào thành giọt nước mắt để rồi
nhà thơ bày tỏ những ước nguyện:
"Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này"
Viễn Phương muốn làm con chim để dâng tiếng hót
hay nhất của mình nơi lăng Bác, muốn làm bông hoa để
khoe hương khoe sắc làm đẹp nơi Bác yên nghỉ, muốn làm
cây tre để đứng canh cho giấc ngủ của Người. Nghệ
thuật ẩn dụ “con chim, nhành hoa, cây tre” chỉ nhà thơ
Viễn Phương người mn hóa thân vào những gì nhỏ bé
nhưng đẹp đẽ để được gần gũi nơi Bác yên nghỉ. Điệp
ngữ “muốn làm” điệp cấu trúc điệp cách phô diễn càng
làm cho những ước nguyện chân thành tha thiết. Hình ảnh
cây tre trung hiếu còn là lời thề thiêng liêng nguyện
trung thành với lý tưởng của người. Hình ảnh cây tre kết
thúc ở cuối bài tạo cách kết thúc đầu cuối tương ứng.
Với một loạt hệ thống hình ảnh thơ giàu tính
biểu cảm, những biện pháp nghệ thuật đặc sắc, Viễn
Phương đã minh chứng cho người đọc một tình cảm thiết
tha sâu nặng mà người con muốn dành tặng người cha dù
bao xa cách trở. Tình cảm kính u, sự tự hào, niềm
thương, nỗi nhớ ấy luôn sống mãi cùng thời gian và bạn
đọc mọi thế hệ hôm nay.


Con Cị


Chế Lan Viên

Ai đó đã từng nói: "Kì quan tuyệt phẩm nhất của
tạo hóa là trái tim người mẹ". Từ lâu, đề tài tình mẹ tình mẫu tử đã trở thành ngọn nguồn cảm hứng, khơi dậy
biết bao nhiêu cảm xúc cho các thi nhân viết lên những
áng thơ thật hay, thật xúc động lòng người. Nhà thơ
Nguyễn Duy trong bài thơ "Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa..."
đã từng có lời thơ:
"Ta đi trọn kiếp con người
Cũng khơng đi hết mấy lời mẹ ru."
Hay Chế Lan Viên cũng đã từng viết:
"Thêm một người trái đất sẽ trật hơn
Nhưng thiếu mẹ, thế giới đầy nước mắt
Đối với con, riêng mẹ là duy nhất
Mẹ từng ngày dõi theo bước chân con."
Và cũng viết về tình mẹ, Chế Lan Viên – một trong
những tên tuổi hàng đầu của nền thơ ca Việt Nam thế kỉ
XX với thi phẩm "Con cò" (1962) đã thể hiện thật xuất
sắc, thật cảm động tình yêu thương con vô bờ và ý nghĩa
lời hát ru của mẹ đối với cuộc đời của mỗi con người.
Trong đoạn đầu, khi phân tích bài thơ Con cị của
Chế Lan Viên, ta thấy tác giả đã sử dụng những hình ảnh
quen thuộc trong ca dao để gợi tả không gian và khung
cảnh quen thuộc. Nhà thơ đã đánh thức cánh cò yên
ngủ, gọi cò cùng những ước mơ tuổi thơ về với những lời


ru ấm áp ngọt ngào. Để rồi qua lời ru của mẹ trên trang
thơ, con cò dần đến với tuổi thơ diệu kì của đứa trẻ.

Giọng thơ man mác đã thể hiện được nhịp điệu nhẹ
nhàng và thong thả của cuộc sống thời xưa vừa tái hiện
hình ảnh con người, nhất là người phụ nữ vất vả nhọc
nhằn để kiếm sống ni con.
Hình tượng trung tâm trong bài thơ là cánh cị
nhưng cảm hứng chủ đạo lại là tình mẹ. Xun suốt bài
thơ chính là sợi dây tình cảm ngọt ngào. Đó là sợi dây đỏ
về tình mẹ sâu rộng bao la, bất tận và bất tử.
“Con còn bế trên tay
Con chưa biết con cị
Nhưng trong lời mẹ hát
Có cánh cị đang bay”
Với điệu ru quen thuộc, hình ảnh những cánh cò bay
lả bay la đã nhẹ nhàng đi vào những giấc mơ của con,
mang theo những yên bình và hạnh phúc. Người mẹ đã
gửi tất cả tình yêu thương con vào trong lời ru để à ơi vỗ
về, nâng niu và chăm sóc cho giấc ngủ ngọt ngào của
con. Cử chỉ “bế trên tay” “sẵn tay nâng” thể hiện sự âu
yếm và chăm chút cho con từng li, từng tí một. Con lớn
lên bằng dịng sữa ngọt ngào của mẹ, bằng cả lời hát ru
thiết tha sâu lắng. “Con còn bế trên tay” nghĩa là con
còn nhỏ và chưa nhận thức được về ý nghĩa của những lời
ru ấy. Con cũng chưa biết về con cò như nào, là biểu
tượng cho cái gì, hình ảnh con cị đến với con một cách
vơ thức. Khi phân tích bài thơ Con cò của Chế Lan Viên,
ta thấy con cò hiện lên với bao đức tính cao q:
“Cị một mình cị phải kiếm lấy ăn
Con có mẹ, con chơi rồi lại ngủ”



Trong khi con cảm nhận được tình yêu thương của
mẹ, của những ấm êm trong vòng tay ngọt ngào ấy thì
những cánh cị ngồi kia đang phải lặn lội kiếm ăn, cũng
như chính cuộc đời gian truân vất vả của mẹ để ni con
khơn lớn… Thân cị nhỏ bé phải kiếm ăn một mình giữa
giơng bão cuộc đời hẳn sẽ phải vượt qua biết bao khó
khăn mưa bão. Mẹ thương cho những cành cò, lại càng
thương con nhiều hơn biết mấy, con còn nhỏ và bé bỏng
quá. Sự chở che, bao bọc của mẹ cho con cùng với những
gì tốt đẹp nhất, mẹ đều dành cho con. Thấp thoáng
trong những lời thơ bình dị ấy, là hình ảnh của một người
mẹ đang chơi cùng con, đang ru con bằng dòng sữa mát
lành, đang ôm ấp vỗ về con qua những lời à ơi dịu ngọt.
“Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên
Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng.
Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân
Con chưa biết con cò, con vạc.
Con chưa biết những cành mềm mẹ hát.
Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân”.
khi phân tích bài thơ Con cị của Chế Lan Viên, ta thấy
cánh cò, cánh vạc, cành mềm đều là những chất liệu từ
ca dao, dân ca. Đó là những hình ảnh quen thuộc và gần
gũi biết bao, nó gợi lên tình u vơ bờ mà cũng đầy bình
dị của người mẹ. Cịn cịn bé bỏng và trong sáng biết
bao. Vì thế, những hoạn nạn khó khăn của cuộc đời ngồi
kia hãy để mẹ ơm trọn, con hãy cứ ngủ ngoan mà chẳng
cần phân vân vì đã có mẹ ở bên. Điệp từ “mẹ hát” ở đầu
đoạn thơ và cuối đoạn thơ cho thấy mẹ hát ru con rất
nhiều bài, ru con qua biết bao tháng năm. Vậy lời hát ru
của mẹ là gì? Vì sao trong lời ru của mẹ lại có hình ảnh



con cị?. Hình tượng về con cị thường xuất hiện trong ca
dao dân ca và trở thành hình ảnh gần gũi thân thuộc với
con người Việt Nam từ thủa nhỏ. Con cò trong ca dao gợi
nỗi buồn thương về những gì lận đận, trong sạch, nghèo
khó nhưng cao cả. Mẹ mang theo cả điệu hồn dân tộc
vào những lời hát ru.
Trong lời ru của mẹ có hình ảnh con cị bay lả bay la,
gợi lên nhịp sống thong thả bình n, có con cị cửa Phủ,
con cị Đồng Đăng từ nơi này đến nơi khác trên mảnh
đất thân thương này. Đồng thời hình ảnh con cị cịn gợi
lên thân phận người phụ nữ, những người mẹ lận đận,
nghèo khó, cơ cực và bất hạnh. Như vậy, cị là hình ảnh
bé bỏng cơi cút trong ca dao. “Cị ơi chớ sợ”! Con là con
của mẹ. Và mẹ sẽ sẵn sàng nâng niu tất cả, tình mẹ nhân
từ được mở rộng. Từ tình yêu con đến yêu thương những
gì nhỏ bé đáng thương, đáng được che chở.
Trong những lời ru ấy của mẹ cịn có hơi xn, nghĩa
là thấm đượm cả sự sống, và hạnh phúc tuổi trẻ thấm cả
cuộc đời của mẹ. Tất cả mẹ gửi vào những lời ru cuộc
đời, những lời hát mộc mạc bình dị, nhẹ nhàng mà êm ái
sâu lắng. Cứ như thế, tình yêu thương bao la và nhân ái
của mẹ cùng với lời ru đã in sâu vơ thức vào kí ức tuổi
thơ con “Sữa ni phần xác, hát ni phần hồn” (Nguyễn
Duy). Đó là lời ru khởi đầu để ru cao vào cuộc sống,
nâng đỡ con suốt mỗi chặng đường. Tấm lòng mẹ dạt dào
vô hạn, mẹ luôn khát khao cho con một cuộc sống bình
n, hạnh phúc, mong con khơn lớn lên người. Phân tích
bài thơ Con cị của Chế Lan Viên, người đọc cịn phát

hiện ra biết bao hình ảnh dung dị gần gũi.


“Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên
Con khôn lớn, con theo cị đi học
Cánh cị trắng bay theo gót đơi chân…”
Trong những lời ru yêu thương ấy, không chỉ nhằm
mang đến những giấc mơ ngọt lành cho con mà mẹ còn
gửi gắm biết bao mong ước. Đó là khát khao con khôn lớn
trưởng thành, con đến trường và đi học như bao đứa trẻ
khác. Bên cạnh đó, mẹ cịn ước mong tâm hồn con ngời
sáng, được chắp cánh bay cao bay xa như cánh cị để
trở thành người có ích:
“Lớn lên, lớn lên, lớn lên
Con làm gì?
Con làm thi sĩ
Cánh cị trắng lại bay hồi khơng nghỉ
Trước hiên nhà
Và trong hơi mát câu văn”
Tình mẹ cùng những lời hát ru ngọt ngào đã nâng đỡ
con khơn lớn và trưởng thành. Hình ảnh con cò đã đi vào
tiềm thức của tuổi thơ để trở nên gần gũi, và sẽ theo
con trên mọi chặng đường đời gian khó. Hình ảnh con cị
được xây dựng bằng sự liên tưởng đa dạng và phong phú
của nhà thơ như được bay ra từ ca dao để sống trong
tâm hồn con. Đó cũng là biểu tượng của lịng mẹ, sự nâng
đỡ dìu dắt dịu dàng của mẹ. Phân tích bài thơ Con cị
của Chế Lan Viên, ta khơng khỏi xúc động về hình ảnh
người mẹ – như biểu tượng con cị tảo tần chịu khó cũng
như u thương con sâu đậm.

“Ngủ yên! ngủ yên! ngủ yên
Cho cò trắng đến làm quen


Cị đứng ở trong nơi
Rồi cị vào trong tổ
Con ngủ n thì cị cũng ngủ
Cánh của cị, hai đứa đắp chung đơi”.
Cánh cị phải chăng chính là vịng tay âu yếm của mẹ,
là tình yêu thương dạt dào của mẹ đã chung hơi ấm,
truyền hơi ấm cho con. Là con, đứa con bé bỏng của mẹ,
là con cị cơi cút trong ca dao. Tất cả được mẹ chở che
và chăm sóc. Những năm tháng tuổi thơ, cị đứng bên
con, đứng quanh nôi rồi vào trong tổ, vỗ về giấc ngủ cho
con. Đến khi con khôn lớn và cắp sách đến trường thì
“con theo cị đi học”. Khi con trưởng thành thì “cánh cị
trắng lại bay hồi khơng nghỉ/ trước hiên nhà và trong
hơi mát câu văn”.
Tại sao con cò lại làm thi sĩ? Bởi thi sĩ là người sáng
tạo ra cái đẹp, cũng như khơi dậy và bồi đắp những tình
cảm đẹp của con người. Và hơn thế nữa là lời ru của mẹ,
từ cái ngọt ngào sâu lắng của ca dao đã đi vào tâm hồn
con lúc nào không hay. để những cảm xúc dạt dào cứ
tuôn chảy mãi trong con.
“Con làm thi sĩ” cánh cò trắng đi vào những câu thơ
của con dịu ngọt, mát lành và đằm thắm. Mẹ mong tâm
hồn con trong sáng, ấm áp biết làm đẹp cho đời. Phân
tích bài thơ Con cị của Chế Lan Viên, người đọc còn
phát hiện ra những ước mơ nhỏ nhoi đầy ấm áp của mẹ.
Đến khổ thơ thứ ba, nhịp thơ bỗng trở nên dồn dập

hơn như sự trào dâng của tình mẫu tử thiêng liêng:
“Dù ở gần con
Dù ở xa con


Lên rừng xuống biển
Cị sẽ tìm con
Cị mãi u con
Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con”.
Đến đây, mẹ như đã hóa thân thành cánh cò tuổi
thơ để đi vào những giấc mơ của con. Dù cuộc sống này
có sao đi nữa, có khó khăn gian khổ đến đâu, dù con có
đi đến chân trời góc bể thì mẹ cũng sẽ tìm đến bên con,
bảo vệ và chở che cho con. Đoạn thơ như một lời đúc kết
quy luật của tình cảm. Đó chính là những xúc cảm trong
tấm lịng của người mẹ.
Điệp từ “dù ở” cùng với từ chỉ không gian gần xa,
thành ngữ “lên rừng xuống biển” đã thể hiện cuộc sống
mưu sinh lận đận vất vả. Những câu thơ còn thể hiện
không gian cách trở với sự đổi thay của cuộc sống con
người. Nhưng dù thế nào đi nữa thì “cị sẽ tìm con” và
“cị mãi u con” – Đó là hình ảnh về cị của hiện tại và
cị ở tương lai.
Cuộc đời dẫu là thế, thời gian dẫu có biến đổi
khơng ngừng, nhưng với mẹ con mãi cịn bé bỏng. Hơm
nay con vẫn nằm trong vịng tay ấm áp của mẹ, rồi mai
con lớn sẽ bay đến những chân trời ước mơ của riêng
con, nhưng dù thế nào con vẫn là con của mẹ và cho đến
hơi thở cuối cùng, mẹ vẫn luôn bên con…

Mạch thơ chuyển sang hai câu thơ tám chữ, thể hiện
một triết lý sâu sắc “Con dù lớn thì mãi là con của mẹ”.
Con dù có lớn khơn trưởng thành đi chăng nữa, con mãi
là đứa con bé bỏng của mẹ, vẫn luôn cần mẹ chở che. Đó
cũng là bản năng của người làm mẹ. Trong thâm tâm của


mẹ, con cái bao giờ cũng còn nhỏ dại, cùng cần yêu
thương và chở che. Từ sự thấu hiểu tấm lòng của người
mẹ, nhà thơ Chế Lan Viên đã khái qt hóa thành một
quy luật của tình cảm có ý nghĩa bền vững và sâu sắc.
Trở lại với âm hưởng của lời ru, khi phân tích bài
thơ Con cị của Chế Lan Viên trong đoạn thơ cuối, ta
thấy tác giả lại một lần nữa khẳng định ý nghĩa của
những lời hát ru ngọt ngào. Những lời ru ấy cũng là khúc
hát u thương, là tình cảm vơ bờ mẹ đã dành cho con.
Sự hóa thân của người mẹ vào cánh cò mang nhiều ý
nghĩa sâu xa, kết tụ những gian khổ, nhọc nhằn với những
hy sinh thầm lặng của mẹ để nuôi dưỡng tâm hồn con
trưởng thành.
Câu thơ cuối như một hình ảnh rất đẹp. Cánh cị vỗ
qua nơi như dáng mẹ đang nghiêng xuống chở che, đang
thì thầm nói với con những lời tha thiết của lòng mẹ. Tác
giả đã đúc kết hình tượng con cị mang ý nghĩa về mẹ, về
cuộc đời của con. Dường như trong tất cả tình yêu
thương trên thế gian này đều đã được quy tự bên nôi, à
ơi nuôi dưỡng tâm hồn bé bỏng của con.
Khi phân tích bài thơ Con cị của Chế Lan Viên, ta
thấy tác giả đã sử dụng thể thơ tự do, với những câu dài
ngắn khác nhau, nhiều chỗ lặp lại sử dụng điệp từ hoàn

toàn gợi lên những âm hưởng quen thuộc của những lời
hát ru. Sâu xa hơn trong những vần thơ ấy lại là sự suy
ngẫm, là chất triết lý của cuộc đời. Qua lời ru của mẹ,
tất cả ánh sáng, tình u, khơng gian và màu sắc trên
thế giới này đều dành cho trẻ thơ.
Tình mẫu tử là tình cảm mang đầy chất thơ với rất nhiều
tác phẩm xúc động về đề tài này, điển hình là bài thơ


Con cị. Đóng góp của nhà thơ Chế Lan Viên đã mang
nhiều cách tân với giọng điệu suy ngẫm và chất triết lý.
Những ý thơ trong bài cứ như lướt trên cái nền uyển
chuyển của ca dao vậy. Hình tượng con cị chính là biểu
tượng của cách nghĩ, cách nhìn của thời đại, lắng lại về
những chiêm nghiệm về những gì là bản chất tốt đẹp của
cuộc đời.
Giữa dịng đời đầy bộn bề ngày hơm nay, trẻ em
đã khơng cịn được nghe những lời hát ru ngọt ngào nữa.
Thay vào đó là những âm thanh tất bật của đời thường,
khiến mỗi đứa trẻ lớn lên dường như thiếu một thứ gì đó,
một thứ nhẹ nhàng nhưng đơi chút mơ hồ mà khơng gì có
thể bù đắp được. Con cị là một trong những kiệt tác
của hồn thơ Chế Lan Viên.Bằng con đường của sự suy
tưởng, với sự vận dụng linh hoạt và sáng tạo trong ca
dao, giọng thơ điệu tâm tình thủ thủ, nhịp điệu êm ái và
dịu dàng đã mang lại âm hưởng của những lời hát ru ngọt
ngào.
Bài thơ con cị đã ngợi ca tình mẹ và thấm
đượm chất nhân văn cao cả. 51 câu thơ tự do đã đan
xen và kết chuỗi thành lời ru ngân nga, ngọt ngào, biểu

hiện tình thương và ước mơ của người mẹ hiền đối với
con thơ. “Kì quan tuyệt phẩm nhất của tạo hóa là trái
tim người mẹ” Ai đó đã từng nói như vậy về tình mẫu tử
thiêng liêng. Qua bài thơ này, mỗi chúng ta thêm yêu và
trân trọng biết bao về người mẹ hiền yêu dấu của mình!


Nói với Con

Y Phương

"Quê hương là cầu trẻ nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa câu rụng trắng ngồi hè"
Ai cũng có cho riêng mình một quê hương đề nhớ
về khi đi xa, để tự hào mỗi khi nhắc tới. Viết về mảnh
đất chôn rau cắt rốn ấy, ai cũng dành cho quê hương
những yêu thương và cảm xúc chân thành nhất. Em đã
từng đọc rất nhiều bài thơ viết về quê hương nhưng hồn
thơ khiến em xúc động nhất là nhà thơ Y Phương với thi
phẩm "Nói với con", bài thơ là sự đan xen hài hịa giữa
tình cảm cha con và tình u q hương đất nước..
Với lời thơ giản dị, hình ảnh đời thương, thể thơ tự
do giúp tác giả dễ dàng bộc lộ cảm xúc, Y Phương đã gửi
gắm tình cảm thiết tha, những lời tâm tình sâu sắc về nơi
cội nguồn quê hương, nơi đã nuôi dưỡng bao tâm hồn,
chắp cánh bao khát khao bay cao, bay xa.
" Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười"
Q hương là nơi có gia đình, có mái nhà ấm áp những
yêu thương che chở. Dưới bàn tay nâng niu, bên những lời
thủ thỉ ngọt ngào của ba mẹ, mỗi người từ đó mà lớn lên


Cha mẹ- những người sinh thành, nuôi dưỡng, luôn bảo
ban ta, dạy cho ta từng câu nói, tập từng bước đi, đó có
lẽ là điều đẹp đẽ và đáng trân trọng nhất mà tuổi thơ
may mắn có được. Những bước chân đầu đời, những tiếng
bập bẹ của con, không chỉ với riêng con mà với ba mẹ
đều rất thiêng liêng, nó đánh dấu cho sự lớn lên và phát
triển của con. Tác giả sử dụng điệp từ "bước tới" kết hợp
với các danh từ "mẹ" ,"cha" và biện pháp liệt kê "chân
trái", chân phải", cách sử dụng ngơn từ có ý đồ ấy đã gợi
lên một hình ảnh rất đẹp, em bé đang chập chững bước
về phía vịng tay mẹ cha trong niềm vui khó tả, cả mẹ
cha đều chờ đợi con bước tới đích, nắm lấy con, nở núi
cười khích lệ và tự hào trong mỗi bước con đi. Đằng sau
"tiếng nói", "nụ cười" ấy là niềm hạnh phúc lớn lao, dẫu
sau con bước tiếp những chặng đường mới mà cịn lựa
chọn, cha mẹ vẫn ln dõi theo ủng hộ và vui với những
thành công của con. Chỉ với 4 câu thơ thôi mà tác giả đã
thể hiện được tấm lòng lớn lao của mỗi bậc làm cha, làm
mẹ trong cuộc đời.
"Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lịng
Nếu gia đình là nơi mẹ cha thì quê hương cho ta những
"người đồng mình" đầy bình dị mà yêu thương. Những con
người chung quê hương ấy luôn yêu thương nhau, họ cần
mẫn lao động, họ hăng say làm việc. Đôi bàn tay tài hoa
của "người đồng mình" khơng chỉ góp phần lao động tạo
ra của cải mà cịn góp phần gây dựng q hương.


×