Tải bản đầy đủ (.pdf) (53 trang)

Chế độ pháp lý về chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật thương mại việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.16 MB, 53 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT THƢƠNG MẠI
--------

NGUYỄN THỊ DIỆU THU

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ CHẤM DỨT HỢP
ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
THƢƠNG MẠI VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thƣơng mại

TP HCM - 2013


TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT THƢƠNG MẠI
--------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ CHẤM DỨT HỢP
ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
THƢƠNG MẠI VIỆT NAM

SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THỊ DIỆU THU
KHOÁ : 34


MSSV : 0955010232
GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN : ThS. NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

TP HỒ CHÍ MINH - 2013


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cơ trƣờng Đại học Luật Thành phố
Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt kiến thức để tơi có khả năng hồn
thành khố luận tốt nghiệp này.
Tơi xin tỏ lịng biết ơn sâu sắc đến cô ThS. Nguyễn Thị Thanh Huyền đã
trực tiếp hƣớng dẫn, tận tình giúp đỡ, định hƣớng cho tơi trong suốt q
trình thực hiện đề tài.
Tơi cũng xin cảm ơn quý thầy cô khoa Luật Thƣơng mại Trƣờng Đại học
Luật Thành phố Hồ Chí Minh, gia đình, bạn bè đã ln động viên, giúp
đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gian học tập tại trƣờng.
TÁC GIẢ KHOÁ LUẬN


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình khoa học do tơi nghiên cứu và thực hiện, khơng
có sự sao chép của ngƣời khác, mọi nguồn tài liệu đều đƣợc trích dẫn đầy đủ theo
đúng hình thức mà khoa Luật Thƣơng mại đã quy định.
Tơi sẽ hồn tồn chịu trách nhiệm trƣớc nhà trƣờng về lời cam đoan này.
TÁC GIẢ KHOÁ LUẬN

NGUYỄN THỊ DIỆU THU


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT


Bên nhận quyền
Bên nhƣợng quyền

:
:

BNhQ
BNQ

Bộ luật Dân sự 2005
Nhƣợng quyền thƣơng mại

:
:

BLDS 2005
NQTM


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG NHƢỢNG
QUYỀN THƢƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT THƢƠNG MẠI VIỆT NAM........ 4
1.1 Khái quát về hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại và khái niệm chấm dứt
hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại ........................................................................... 4

1.1.1 Khái niệm hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại..................................................... 4
1.1.2 Đặc điểm hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại ...................................................... 6
1.1.3 Phân loại hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại ...................................................... 8
1.1.4 Chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại ................................................... 11
1.2 Các vấn đề pháp lý đặt ra liên quan đến vấn đề chấm dứt hợp đồng nhƣợng
quyền thƣơng mại......................................................................................................... 12
1.2.1 Các trƣờng hợp chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại .......................... 12
1.2.2 Các điều khoản sau khi chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại .............. 15
1.2.3 Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại .......... 16
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ............................................................................................ 17
CHƢƠNG 2: CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THƢƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ...................................................................................... 19
2.1 Các trƣờng hợp chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại theo quy
định của pháp luật thƣơng mại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện ........................ 19
2.1.1 Chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại khi hết hạn hợp đồng (hợp đồng
hoàn thành) ..................................................................................................................... 21
2.1.2 Chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại theo thỏa thuận của các bên ...... 23
2.1.3 Chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại khi một trong các bên bị giải thể
hoặc tuyên bố phá sản .................................................................................................... 23
2.1.4 Chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại trong trƣờng hợp một bên vi
phạm nghĩa vụ hợp đồng ................................................................................................ 26


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

2.1.4.1 Chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại do bên nhận quyền vi phạm
nghĩa vụ hợp đồng .......................................................................................................... 26

2.1.4.2 Chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại do bên nhượng quyền vi
phạm nghĩa vụ hợp đồng ................................................................................................ 31
2.2 Các điều khoản sau khi chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại theo
quy định của pháp luật thƣơng mại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện ................. 35
2.3 Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
theo quy định của pháp luật thƣơng mại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện ........ 38
2.4 Bồi thƣờng thiệt hại khi chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
theo quy định của pháp luật thƣơng mại Việt Nam.................................................. 42
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ............................................................................................ 43
KẾT LUẬN .................................................................................................................... 1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
NQTM là một hoạt động thƣơng mại, một phƣơng thức kinh doanh đƣợc đánh
giá là một trong những thành tựu lớn của các nƣớc phƣơng Tây đang thâm nhập vào
Việt Nam trong quá trình Việt Nam mở cửa thị trƣờng, hội nhập hơn vào nền kinh tế
thế giới và dƣờng nhƣ ngày càng phát triển. Kinh doanh bằng mơ hình NQTM tuy
cịn mới mẻ ở Việt Nam nhƣng sức hấp dẫn và những ƣu điểm của nó đã đƣợc chứng
minh qua thực tiễn ở các nƣớc trên thế giới. Trƣớc sự phát triển mạnh mẽ của hoạt
động này, NQTM đã đƣợc pháp luật thƣơng mại Việt Nam quan tâm điều chỉnh nhƣ:
Mục 8 Chƣơng VI Luật Thƣơng mại 2005, Nghị định số 35/2006/NĐ-CP, Thông tƣ
09/2006/TT-BTC. Đây là những căn cứ pháp lý cơ bản nhất nhằm tạo ra khung pháp
lý định hƣớng cho hoạt động NQTM phát triển tai Việt Nam. Tuy nhiên, những quy
định của pháp luật về hoạt động NQTM chƣa thật hồn chỉnh và cịn nhiều thiếu sót

với sự chồng chéo và mâu thuẫn trong các văn bản pháp luật khác nhau. Điều này sẽ
dẫn đến những hạn chế trong hoạt động nhƣợng quyền đối với các doanh nghiệp đã,
đang và sẽ lựa chọn con đƣờng kinh doanh NQTM.
Trong khi đó, hoạt động NQTM phát triển nhanh và đa dạng trên nhiều lĩnh
vực. Mặc dù có nhiều ƣu điểm nhƣng NQTM là một phƣơng thức kinh doanh rất dễ
phát sinh tranh chấp do có rất nhiều ràng buộc giữa các bên trong hợp đồng và khi
đó, vấn đề chấm dứt hợp đồng ln đƣợc các bên cân nhắc. Vì vậy, nghiên cứu vấn
đề chấm dứt hợp đồng NQTM là việc cần thiết, góp phần làm rõ các quy định của
pháp luật, hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động NQTM tại Việt Nam; giúp các
bên yên tâm hơn khi tham gia vào hệ thống nhƣợng quyền. Trên cơ sở đó, tác giả
chọn nghiên cứu đề tài “Chế độ pháp lý về chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương
mại theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam” với mong muốn đóng góp
một phần cơng sức nhỏ bé vào việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về chấm
dứt hợp đồng NQTM.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài này tập trung nghiên cứu về các vấn đề pháp lý khi chấm dứt hợp đồng
NQTM dƣới góc độ các quy định của pháp luật thƣơng mại Việt Nam, từ đó đƣa ra
phƣơng hƣớng góp phần hồn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng NQTM đặc biệt là
trƣờng hợp chấm dứt hợp đồng, cũng nhƣ đề xuất cho các bên các giải pháp nâng cao
hiệu quả áp dụng khi chấm dứt hợp đồng NQTM.
1


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các quy định về chấm dứt hợp đồng
NQTM của pháp luật thƣơng mại Việt Nam; từ đó liên hệ tới các điều khoản trong

hợp đồng NQTM liên quan đến vấn đề chấm dứt hợp đồng NQTM.
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề xung quanh điều khoản hợp
đồng NQTM điều chỉnh việc chấm dứt hợp đồng trong mối tƣơng quan với quy định
của pháp luật thƣơng mại Việt Nam cụ thể nhƣ các trƣờng hợp chấm dứt hợp đồng,
các điều khoản sau khi chấm dứt hợp đồng, hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp
đồng…Thông qua việc nghiên cứu các quy định của pháp luật, luận văn chỉ ra đƣợc
những mặt hạn chế, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật.
4. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, một số sách tham khảo, luận văn cử nhân, thạc sỹ hoặc một số bài
viết của các tác giả khác nhau trên tạp chí chuyên ngành có nói nhiều về hoạt động
NQTM nhƣ: “Giáo trình Pháp luật về Thương mại hàng hoá và dịch vụ” của Trƣờng
Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2012), “Giáo trình Luật hợp đồng thương mại
quốc tế” của PGS-TS Nguyễn Văn Luyện, TS Lê Thị Bích Thọ, TS Dƣơng Anh Sơn
(2007); “Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài theo pháp luật
Việt Nam” của ThS. Nguyễn Bá Bình đăng trên tạp chí Luật học số 5/2008; “Một số
vấn đề pháp lý về chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại” của Vũ Đặng
Hải Yến đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 4/2008; “Hợp đồng nhượng quyền
thương mại theo pháp luật Việt Nam” luận văn Thạc sỹ Luật học của Hồ Vĩnh Long
(2006); “Chế độ pháp lý về nhượng quyền thương mại theo Luật Thương mại 2005”
của luận văn cử nhân của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006).
Tuy nhiên, các cơng trình nghiên cứu này chỉ dừng lại ở góc độ nghiên cứu
các quy định của pháp luật về hoạt động NQTM ở mức độ khái quát, chƣa thực sự
tập trung vào một vấn đề chuyên biệt, ví dụ nhƣ chấm dứt hợp đồng NQTM. Vì vậy,
trong khố luận này, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu các quy định của pháp luật về chấm
dứt hợp đồng NQTM theo quy định của pháp luật thƣơng mại Việt Nam. Từ đó, chỉ
ra những vƣớng mắc, hạn chế trong quy định của pháp luật hiện hành và đƣa ra một
số giải pháp hoàn thiện.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong suốt khoá luận, tác giả sử dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng,
nghiên cứu lịch sử để phân tích và làm rõ những vấn đề mang tính lý luận chung về

hợp đồng NQTM.

2


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

Bằng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và liên hệ, khố luận dựa trên
cơ sở lý luận kết hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật về NQTM nói chung và những
quy định của pháp luật thực định liên quan tới chấm dứt hợp đồng NQTM để thấy
đƣợc những vƣớng mắc, thiếu sót và đƣa ra một số kiến nghị nhằm hồn thiện pháp
luật về chấm dứt hợp đồng NQTM nói riêng và pháp luật NQTM cũng nhƣ pháp luật
thƣơng mại nói chung.
6. Bố cục
Ngồi Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của
luận văn gồm:
Chương 1: Các vấn đề pháp lý về chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương
mại theo pháp luật thương mại Việt Nam
Chương 2: Chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của
pháp luật thương mại Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện

3


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU


CHƢƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG
NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT THƢƠNG MẠI VIỆT
NAM
1.1
Khái quát về hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại và khái niệm
chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
1.1.1 Khái niệm hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động thƣơng mại, nhiều phƣơng
thức kinh doanh đã ra đời và phát triển rộng rãi. NQTM (Franchise) là một trong
những phƣơng thức hiệu quả đƣợc nhiều thƣơng nhân lựa chọn để tiến hành hoạt
động kinh doanh của mình.
Thuật ngữ nhƣợng quyền có nguồn gốc từ tiếng Pháp “francis” có nghĩa là đặc
quyền, ƣu đãi. Mặc dù khơng có nguồn gốc từ tiếng Anh nhƣng các quan hệ NQTM
đầu tiên đƣợc sử dụng, phổ biến không phải ở châu Âu lục địa mà là ở Hoa Kỳ.
NQTM xuất hiện ở Hoa Kỳ ở thế kỷ 19, đƣợc phổ biến rộng rãi ở Hoa Kỳ và châu
Âu chỉ sau năm 19501. NQTM là phƣơng thức kinh doanh mà thông qua đó BNQ có
thể mở rộng đƣợc mạng lƣới kinh doanh bằng việc cho phép BNhQ đƣợc hoạt động
dƣới nhãn hiệu hàng hóa đã nổi tiếng trên thị trƣờng. Qua phƣơng thức này, BNQ
chiếm lĩnh đƣợc thị trƣờng mới (trong và ngồi nƣớc) một cách dễ dàng, bởi vì thơng
thƣờng BNhQ phải chịu trách nhiệm về cơ sở kinh doanh của mình, tất cả các chi phí
đầu tƣ để mở một cơ sở kinh doanh đều là của BNhQ nên họ rất quan tâm đến việc
phát triển cơ sở kinh doanh mà mình đầu tƣ.
Trong hoạt động NQTM, BNQ và BNhQ luôn xác lập với nhau một hợp đồng,
nhằm ràng buộc về mặt pháp lý giữa các bên đồng thời cũng là cơ sở để giải quyết
khi phát sinh tranh chấp trong quá trình các bên thực hiện hợp đồng.
Theo Hiệp ƣớc EEC, “Hợp đồng nhượng quyền thương mại là một thoả thuận
trong đó, một bên là bên nhượng quyền cấp phép cho một bên khác là bên nhận
quyền khả năng được khai thác một “quyền thương mại” nhằm mục đích xúc tiến
thương mại đối với một loại sản phẩm hoặc dịch vụ đặc thù để đổi lại một cách trực
tiếp hay gián tiếp một khoản tiền nhất định. Hợp đồng này phải quy định những

nghĩa vụ tối thiểu của các bên, liên quan đến: việc sử dụng tên thông thường hoặc
dấu hiệu của cửa hàng hoặc một cách thức chung; việc trao đổi công nghệ giữa bên
nhượng quyền và bên nhận quyền; việc tiếp tục thực hiện của bên nhượng quyền đối
1

PGS-TS Nguyễn Văn Luyện, TS Lê Thị Bích Thọ, TS Dƣơng Anh Sơn (2007), Giáo trình Luật hợp đồng
thương mại quốc tế, Nxb.Đại học Quốc gia-Tp.Hồ Chí Minh, tr.234.

4


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

với bên nhận quyền trong việc trợ giúp, hỗ trợ thương mại cũng như kỹ thuật trong
suốt thời gian hợp đồng nhượng quyền thương mại còn hiệu lực”2.
Tại Đức, hợp đồng NQTM chỉ đƣợc xem là một loại hợp đồng hợp tác để
phân phối sản phẩm, chứ không phải là một hợp đồng đặc thù. Nó chỉ đƣợc nhận biết
thơng qua sự so sánh với hợp đồng phân phối hàng hóa, dịch vụ với các đặc tính: thứ
nhất, trong hợp đồng NQTM, quan hệ cung ứng hàng hố, dịch vụ từ phía BNQ cho
BNhQ không nhất thiết phải tồn tại với lý do BNhQ có thể tự mình sản xuất ra sản
phẩm; thứ hai, BNQ trao toàn bộ “quyền thƣơng mại” dƣới một thể thống nhất cho
BNhQ; thứ ba, BNhQ vẫn có tên thƣơng mại của mình trong con mắt pháp luật, mặc
dù dịch vụ hoặc hàng hoá mà bên này cung cấp trên thị trƣờng lại không mang tên
thƣơng mại đã đăng ký với nhà nƣớc3.
Ở Việt Nam, Điều 285 Luật Thƣơng mại 2005 có quy định Hợp đồng nhượng
quyền thương mại nhƣng chỉ nói về hình thức hợp đồng và tại Nghị định số
35/2006/NĐ-CP đã có hai định nghĩa khá rõ về hợp đồng phát triển quyền thương
mại, hợp đồng nhượng quyền thương mại thứ cấp, nhƣng lại chƣa đƣa ra một định

nghĩa về hợp đồng NQTM. Tuy nhiên, dựa vào định nghĩa về hoạt động NQTM tại
Điều 284 Luật Thƣơng mại 2005 và các quy định pháp luật liên quan, hợp đồng
NQTM theo pháp luật Việt Nam có thể đƣợc định nghĩa nhƣ sau:
“Hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại là thỏa thuận giữa bên nhƣợng quyền
và bên nhận quyền, trong đó bên nhƣợng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền
tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau:
- Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đƣợc tiến hành theo cách thức tổ
chức kinh doanh do bên nhƣợng quyền quy định và đƣợc gắn với nhãn hiệu
hàng hóa, tên thƣơng mại, bí quyết kinh doanh, biểu tƣợng kinh doanh,
quảng cáo của bên nhƣợng quyền;
- Bên nhƣợng quyền đƣợc nhận khoản tiền nhƣợng quyền, có quyền kiểm
sốt và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh
doanh”4.

2

Vũ Đặng Hải Yến (2008), “Một số vấn đề pháp lý về chủ thể của hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại”, Tạp
chí nghiên cứu lập pháp, số 4(120), tr.41.
3
Vũ Đặng Hải Yến (2008), tldd, tr.42.
4
Nguyễn Bá Bình (2008), “Hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngồi theo pháp luật Việt
Nam”, Tạp chí Luật học, số 5/2008, tr.9-10.

5


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU


1.1.2 Đặc điểm hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
Từ những định nghĩa trên, có thể đƣa ra các đặc điểm của hợp đồng NQTM
nhƣ sau:
-

Hợp đồng NQTM là hợp đồng song vụ, dài hạn. Hợp đồng NQTM ghi nhận
sự thỏa thuận của BNQ và BNhQ trong việc chuyển giao quyền kinh doanh
các đối tƣợng thuộc quyền sở hữu trí tuệ của BNQ để tiến hành hoạt động
kinh doanh, đổi lại, BNhQ có nghĩa vụ trả phí nhƣợng quyền. BNhQ phải ln
đầu tƣ để đáp ứng và duy trì các yêu cầu của BNQ, vì vậy, BNhQ cần có một
thời gian đủ dài để khoản đầu tƣ đó đƣợc khấu hao và đem lại lợi nhuận. Thực
tiễn cho thấy, hợp đồng NQTM thƣờng có thời hạn năm năm với các điều

-

khoản gia hạn hợp đồng thêm một thời gian tƣơng ứng và không giới hạn số
lần gia hạn5.
Đối tƣợng của hợp đồng NQTM là quyền thƣơng mại. BNQ cho phép và yêu
cầu BNhQ tự mình tiến hành cơng việc kinh doanh cùng hàng hóa hoặc dịch
vụ theo một hệ thống do BNQ quy định và đƣợc gắn với nhãn hiệu hàng hóa,
tên thƣơng mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tƣợng kinh doanh, bí mật kinh
doanh, quảng cáo của BNQ. Quyền thƣơng mại không đơn thuần là từng
quyền riêng biệt đã nêu trên mà nó là sự tổ hợp các quyền đó. “Tổ hợp” có ý

-

nghĩa khẳng định các quyền đƣợc giao không phải là từng quyền riêng biệt mà
là một đối tƣợng thống nhất để đạt đƣợc mục đích của hợp đồng NQTM 6.
Chính sự chuyển giao các tổ hợp quyền đã tạo nên sự khác biệt của cơ sở kinh

doanh trong hệ thống NQTM, giúp phân biệt với các đối thủ cạnh tranh khác.
Chủ thể của hợp đồng NQTM là các bên tham gia hợp đồng, bao gồm BNQ
(Franchisor) và BNhQ (Franchisee). Theo Luật Thƣơng mại 2005, BNQ và
BNhQ phải là thƣơng nhân tại thời điểm ký kết hợp đồng NQTM. BNQ là
thƣơng nhân cấp quyền thƣơng mại, bao gồm cả BNQ sơ cấp và BNQ thứ cấp
(Sub-franchisor), phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 5 Nghị
định số 35/2006/NĐ-CP nhƣ: hệ thống nhƣợng quyền hoạt động ít nhất một
năm, đã đăng ký hoạt động NQTM với cơ quan nhà nƣớc, đối tƣợng của
quyền thƣơng mại phải là hàng hóa đƣợc phép kinh doanh. BNhQ là thƣơng
nhân nhận quyền thƣơng mại, phải có đăng ký kinh doanh ngành nghề phù
hợp với đối tƣợng của quyền thƣơng mại. BNhQ luôn là bên yếu thế hơn của
hợp đồng, bởi vì hoạt động thƣơng mại có đƣợc khi ký kết hợp đồng NQTM

5

Trƣờng Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Pháp luật về Thương mại hàng hóa và dịch
vụ, Nhà xuất bản Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam, tr.339.
6
PGS-TS Nguyễn Văn Luyện, TS Lê Thị Bích Thọ, TS Dƣơng Anh Sơn (2007), tldd, tr.238.

6


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

đối với họ là hồn tồn mới mẻ, họ khơng có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh
doanh tƣơng ứng, trong khi đó, lĩnh vực này đối với BNQ hoàn toàn quen
thuộc và trong nhiều trƣờng hợp vị trí kinh tế của họ cũng vững vàng hơn. Do

đó, để bảo vệ BNhQ thì hợp đồng NQTM có quy định nhƣ: BNhQ đƣợc độc
quyền kinh doanh dƣới các quyền thƣơng mại của BNQ trong phạm vi lãnh
thổ đã đƣợc xác định trong hợp đồng; hay BNhQ đƣợc quyền ƣu tiên gia hạn
-

khi hết hạn hợp đồng.
Hợp đồng NQTM phải đƣợc lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có
giá trị tƣơng đƣơng, đối với hợp đồng NQTM từ nƣớc ngồi vào Việt Nam thì
phải đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Trong đó, các hình thức có giá trị
tƣơng đƣơng văn bản gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình
thức khác theo quy định của pháp luật7. Hợp đồng NQTM chỉ đƣợc công nhận
hiệu lực pháp lý khi giao kết bằng văn bản. Nếu giao kết bằng hình thức khác
nhƣ lời nói hay hành động, thì hợp đồng có thể có hiệu lực với các bên nhƣng
nếu có tranh chấp xảy ra, đƣợc giải quyết tại Tịa án thì trƣờng hợp này có thể
bị tun bố vơ hiệu.

-

BNQ và BNhQ có mối quan hệ mật thiết với nhau. BNQ có nghĩa vụ đảm bảo
việc giao cho BNhQ tổ hợp các quyền theo quy định của hợp đồng. Theo đó,
BNQ chuyển giao cho BNhQ tất cả các tài liệu kỹ thuật và tài liệu thƣơng mại,
các tài liệu hƣớng dẫn về hệ thống nhƣợng quyền. Trong suốt thời hạn hợp
đồng BNQ phải hƣớng dẫn, giúp đỡ kỹ thuật, đào tạo và nâng cao trình độ
chun mơn cho nhân viên BNhQ. Khi có bất kỳ sự thay đổi nào trong tổ hợp
các quyền đƣợc giao, BNQ có nghĩa vụ bổ sung để phát triển và hoàn thiện tổ
hợp các quyền này. Đây là một nghĩa vụ cho thấy rõ đƣợc mối quan hệ giữa
BNQ và BNhQ mà mối quan hệ này khơng thể có đƣợc trong các hợp đồng
thƣơng mại khác. BNhQ phải tuân thủ tổ hợp các quyền đƣợc giao, trả phí
nhƣợng quyền và các khoản thanh tốn khác cho BNQ theo thỏa thuận. Hơn
nữa, khi tham gia vào hệ thống nhƣợng quyền, BNhQ phải chịu sự kiểm tra,

giám sát của BNQ8.
BNQ có thể chịu trách nhiệm liên đới với BNhQ trong trƣờng hợp hàng hóa
do BNhQ sản xuất trên cơ sở hợp đồng NQTM kém chất lƣợng (không phải
do khối lƣợng, loại hàng, đồng bộ, thời hạn và những điều kiện hợp đồng khác
của BNhQ với khách hàng của mình) nếu trong hợp đồng có quy định điều

7
8

Khoản 15 Điều 3 Luật Thƣơng mại 2005.
Khoản 3 Điều 286 Luật Thƣơng mại 2005.

7


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

này một cách gián tiếp hay trực tiếp9. Thậm chí khi hợp đồng NQTM chấm
dứt các chủ thể này vẫn có mối liên hệ với nhau nhƣ BNhQ khơng đƣợc tiết lộ
bí mật kinh doanh đã đƣợc nhƣợng quyền.
-

-

Phí nhƣợng quyền là khoản phí mà BNhQ phải trả cho bên BNQ, đổi lại, họ
đƣợc nhận quyền thƣơng mại cũng nhƣ sự hỗ trợ của BNQ. Thơng thƣờng, có
hai loại phí nhƣợng quyền đó là phí nhƣợng quyền ban đầu và phí nhƣợng
quyền hàng tháng.

Trong hợp đồng NQTM chứa đựng những thỏa thuận liên quan đến hạn chế
cạnh tranh. Các bên có thể quy định về vấn đề phân chia thị trƣờng, bao gồm
phân chia lãnh thổ và phân chia khách hàng. Trong thỏa thuận về phân chia
lãnh thổ thể hiện ở điều khoản về địa điểm bán hàng. Theo đó, BNQ cấm
BNhQ khơng đƣợc bán hàng ngồi phạm vi của mình; cấm BNhQ mở cửa
hiệu thứ hai trong thời hạn hợp đồng hoặc sau khi hết hạn; cấm BNhQ mở một
của hiệu có đặc điểm giống hệt hoặc tƣơng tự trong một khu vực mà BNhQ có
thể cạnh tranh với thành viên của mạng lƣới NQTM trong thời hạn hợp đồng
hoặc khi hợp đồng chấm dứt…Những quy định này nhằm hạn chế BNhQ cạnh
tranh với BNQ hoặc các BNhQ khác. Về thỏa thuận phân chia khách hàng
nhƣ: BNQ đảm bảo không tranh giành khách hàng với BNhQ; cấm BNhQ
quảng cáo ngoài phạm vi của mình vì hành động này có thể dẫn đến việc dịch
chuyển khách hàng; cấm BNhQ bán lại hàng hoá khơng mang nhãn hiệu của
BNQ…Ngồi ra, BNQ cịn ấn định giá bán cho các thành viên trong hệ thống
NQTM. Những điều khoản độc quyền này thƣờng dẫn đến hạn chế cạnh tranh
và có thể bị điều chỉnh bởi pháp luật cạnh tranh.

1.1.3 Phân loại hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
Việc xác định đƣợc những loại hợp đồng NQTM khác nhau sẽ giúp ích rất
nhiều cho việc nghiên cứu vấn đề về chấm dứt hợp đồng NQTM. Mỗi loại hợp đồng
NQTM sẽ có những đặc điểm đặc trƣng của nó, việc nghiên cứu vấn đề về chấm dứt
hợp đồng NQTM đối với những loại hợp đồng cụ thể sẽ góp phần làm rõ hơn các vấn
đề đƣợc quan tâm nhƣ các trƣờng hợp dẫn đến chấm dứt hợp đồng hay hậu quả pháp
lý khi chấm dứt hợp đồng. Vì vậy, việc phân loại hợp đồng NQTM là cần thiết.
NQTM tồn tại trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, do đó hợp đồng
NQTM đƣợc phân loại dựa trên cách phân loại hoạt động NQTM theo các tiêu chí
nhất định.
9

PGS-TS Nguyễn Văn Luyện, TS Lê Thị Bích Thọ, TS Dƣơng Anh Sơn (2007), tldd, tr.251.


8


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

-

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

Căn cứ vào mục đích của việc kinh doanh nhƣợng quyền ta có thể phân hợp
đồng NQTM thành ba dạng cơ bản sau đây10:


Hợp đồng nhƣợng quyền bán sản phẩm (product franchise agreement).
Theo hợp đồng này thì nhà sản xuất cấp cho BNhQ đƣợc bán sản phẩm
của mình, BNhQ hành động với tƣ cách là một bên phân phối của BNQ.



Hợp đồng nhƣợng quyền gia công (process franchise agreement). Phƣơng
thức này cho phép BNhQ sử dụng một tiến trình, một cơng thức đặc biệt,
một bí quyết và sử dụng tên nhƣợng quyền trong việc sản xuất, gia cơng
của mình.



Hợp đồng nhƣợng quyền phƣơng thức kinh doanh (business format
franchise agreement). BNQ không chỉ cấp cho BNhQ quyền sử dụng tên
và bán sản phẩm, dịch vụ của BNQ mà cịn chuyển giao cho BNhQ tồn

bộ cách thức kinh doanh độc đáo và riêng biệt mà BNQ đã thiết lập và
phát triển. Cụ thể, BNQ chuyển giao hệ thống hoạt động, chuyên môn kỹ
thuật, hệ thống tiếp thị, hệ thống đào tạo, phƣơng thức quản lý, quyền sử
dụng các đối tƣợng sở hữu trí tuệ và tất cả các thơng tin liên quan cho

-

BNhQ. Ngồi ra BNQ còn cung cấp đào tạo và hỗ trợ thƣờng xuyên cho
BNhQ.
Căn cứ vào hệ thống nhƣợng quyền ta có hợp đồng NQTM một cấp và hợp
đồng NQTM nhiều cấp.


Hợp đồng NQTM một cấp có hai loại là hợp đồng NQTM mà BNhQ đƣợc
cấp quyền thiết lập chỉ một cơ sở kinh doanh theo phƣơng thức nhƣợng
quyền duy nhất và hợp đồng phát triển quyền thƣơng mại (area
development agreement).
Hợp đồng NQTM mà BNhQ đƣợc cấp quyền thiết lập chỉ một cơ sở kinh
doanh theo phƣơng thức nhƣợng quyền duy nhất là hợp đồng NQTM mà
theo đó BNQ tiến hành nhƣợng quyền trực tiếp cho từng đối tác riêng lẻ
để mở một cơ sở kinh doanh theo một hệ thống do BNQ quy định và đƣợc
gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thƣơng mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu
tƣợng kinh doanh, quảng cáo của BNQ11. Đây chính là hình thức NQTM
đơn giản và phổ biến nhất, thƣờng áp dụng với các hình thức nhƣợng
quyền trong nƣớc.

10

Nguyễn Vĩnh Long (2006), Hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ
Trƣờng Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tr.14.

11
Điểm a khoản 6 Điều 3 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thƣơng mại về hoạt động
nhƣợng quyền thƣơng mại.

9


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

Hợp đồng phát triển quyền thƣơng mại là hợp đồng NQTM theo đó BNQ
cấp cho BNhQ quyền đƣợc phép thành lập nhiều hơn một cơ sở của mình
để kinh doanh theo phƣơng thức nhƣợng quyền thƣơng mại trong phạm vi
một đơn vị địa lý nhất định12. Khi tham gia vào hợp đồng này, BNhQ cam
kết với BNQ sẽ mở rộng mạng lƣới kinh doanh phát triển quyền thƣơng
mại theo một tiến trình cụ thể và phải trả phí. Thơng thƣờng các bên sẽ ký
với nhau một hợp đồng phát triển khu vực và các hợp đồng NQTM riêng
cho từng cơ sở đƣợc thiết lập. BNQ cũng có thể ký một hợp đồng duy
nhất cho cả quá trình kinh doanh.


Hợp đồng NQTM nhiều cấp hay còn gọi là hợp đồng NQTM chung
(Master franchise agreement). Theo đó, BNQ trao cho BNQ thứ cấp đƣợc
phép cấp lại quyền thƣơng mại cho các BNhQ thứ cấp. Pháp luật Việt
Nam chỉ thừa nhận hình thức NQTM hai cấp. BNhQ thứ cấp không đƣợc
phép cấp lại quyền thƣơng mại chung này. Trong hệ thống NQTM hai cấp
này tồn tại hai loại hợp đồng là hợp đồng NQTM chung và hợp đồng
NQTM thứ cấp.
Hợp đồng NQTM chung là hợp đồng NQTM đƣợc ký kết giữa BNQ và

BNhQ sơ cấp. BNQ là bên sở hữu một hệ thống nhƣợng quyền và các
nhãn hiệu gắn với nó (franchisor); BNhQ sơ cấp là bên đƣợc BNQ giao
nhiệm vụ nhƣợng quyền trong một khu vực địa lý nhất định (subfranchisor). Theo hợp đồng này, BNhQ sơ cấp đƣợc quyền mở và điều
hành các cơ sở kinh doanh theo phƣơng thức NQTM và quyền cấp lại
quyền thƣơng mại cho chủ thể khác theo một lộ trình cam kết trƣớc với
BNQ.
Hợp đồng NQTM thứ cấp là hợp đồng NQTM đƣợc ký kết giữa BNQ thứ
cấp và BNhQ thứ cấp theo quyền thƣơng mại chung. BNQ thứ cấp là bên
nhận quyền thƣơng mại theo quyền thƣơng mại chung, đƣợc phép cấp lại
quyền thƣơng mại cho BNhQ ở cấp tiếp theo. BNhQ thứ cấp là bên đƣợc
cấp lại quyền thƣơng mại và BNhQ thứ cấp không đƣợc phép cấp lại
quyền thƣơng mại chung đó nữa. BNQ thứ cấp có quyền thu phí nhƣợng
quyền và có nghĩa vụ thay thế BNQ cung cấp một số dịch vụ hỗ trợ, trợ
giúp nhất định cho BNhQ thứ cấp.

12

Khoản 8 Điều 3 Nghị định 35/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết Luật Thƣơng mại về hoạt động nhƣợng quyền
thƣơng mại.

10


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

Quan hệ nhƣợng quyền thƣơng mại giữa BNQ với BNhQ sơ cấp (quan hệ
hợp đồng NQTM chung) và giữa BNhQ sơ cấp đó với BNhQ thứ cấp
(quan hệ hợp đồng NQTM thứ cấp) là độc lập về mặt pháp lý với nhau,

bởi vậy các chủ thể của hai hợp đồng này phải tự tạo nên mối liên hệ với
nhau, ví dụ nhƣ thỏa thuận trong hợp đồng NQTM thứ cấp về việc chấm
dứt hợp đồng này trong trƣờng hợp hợp đồng NQTM chung chấm dứt13.
1.1.4 Chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
Sự hợp tác giữa các bên trong quan hệ NQTM đƣợc thể hiện thông qua hợp
đồng NQTM. Hợp đồng NQTM là kết quả của sự tự do và thống nhất ý chí của các
chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng, là căn cứ pháp luật có giá trị ràng buộc cao
nhất để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình cũng nhƣ là cơ sở để giải
quyết tranh chấp. Nằm trong quy luật vận động của các sự vật và hiện tƣợng nói
chung, hợp đồng NQTM cũng trải qua các giai đoạn phát sinh, phát triển và chấm
dứt. Tuy nhiên, khác với các sự vật, hiện tƣợng khác, hợp đồng NQTM bao giờ cũng
đƣợc xác lập từ những hành vi có ý thức của các chủ thể. Do đó, các sự kiện làm
chấm dứt một hợp đồng NQTM không phải là các sự biến sinh ra do sự vận động của
tự nhiên mà đó là những sự kiện đƣợc xuất hiện từ hành vi có ý thức của các chủ thể
hoặc do pháp luật quy định. Các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng có nhiều
vấn đề nảy sinh dẫn đến chấm dứt hợp đồng NQTM. Vì thế cần phải hiểu đƣợc thế
nào là chấm dứt hợp đồng NQTM. Để từ đó có thể hiểu rõ đƣợc bản chất của vấn đề,
tìm hiểu sâu hơn về các trƣờng hợp chấm dứt và hậu quả của nó.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “chấm dứt” là làm dừng hẳn lại, kết thúc.
Chấm dứt hợp đồng có thể hiểu là kết thúc việc thực hiện các thỏa thuận mà
các bên đã giao kết khi tham gia vào quan hệ hợp đồng, làm cho việc thực hiện
quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng dừng hẳn lại, bên có nghĩa vụ
khơng có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ và bên có quyền khơng thể buộc
bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ nữa.
BLDS 2005 và Luật TM 2005 không xây dựng một khái niệm cụ thể về chấm
dứt hợp đồng. Tuy nhiên từ các quy định của pháp luật về các trƣờng hợp chấm dứt
hợp đồng dân sự và hậu quả phát sinh thì chấm dứt hợp đồng NQTM có thể hiểu nhƣ
sau:
Chấm dứt hợp đồng NQTM là hành vi pháp lý của BNQ, BNhQ hoặc theo
quy định của pháp luật, theo đó quan hệ hợp đồng NQTM đã đƣợc xác lập giữa các

13

Trƣờng Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Pháp luật về Thương mại hàng hóa và dịch
vụ, Nhà xuất bản Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam, tr.341-342.

11


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

bên sẽ chấm dứt; kể từ thời điểm chấm dứt, các bên không tiếp tục thực hiện quyền
và nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng NQTM nữa, hay nói cách khác, các bên sẽ
khơng cịn chịu sự ràng buộc của hợp đồng.
Luật Thƣơng mại 2005 không quy định về chấm dứt hợp đồng thƣơng mại nói
chung và hợp đồng NQTM nói riêng. Vì vậy, khi nghiên cứu về vấn đề này thì những
quy định của BLDS 2005 đƣợc áp dụng. Tại Điều 424 BLDS 2005 quy định về các
trƣờng hợp chấm dứt hợp đồng dân sự. Theo đó, hợp đồng NQTM có thể chấm dứt
trong các trƣờng hợp nhƣ:
- Hợp đồng đã đƣợc hoàn thành;
- Theo thỏa thuận của các bên;
- Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giải thể hoặc tuyên bố phá sản;
- Hợp đồng bị hủy bỏ hoặc đơn phƣơng chấm dứt thực hiện.
1.2 Các vấn đề pháp lý đặt ra liên quan đến vấn đề chấm dứt hợp đồng
nhƣợng quyền thƣơng mại
Có thể thấy hoạt động NQTM là hoạt động có tích chất phức tạp và ln liên
quan đến nhiều khía cạnh khác nhau của pháp luật. Đặc biệt là vấn đề về chấm dứt
hợp đồng NQTM. Về cơ bản các vấn đề pháp lý đặc thù của hợp đồng NQTM khi
chấm dứt hợp đồng bao gồm các vấn đề chính nhƣ: các trƣờng hợp chấm dứt hợp

đồng NQTM, các điều khoản sau khi chấm dứt hợp đồng NQTM, hậu quả pháp lý
của việc chấm dứt hợp đồng NQTM.
1.2.1 Các trƣờng hợp chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
Hợp đồng NQTM có hiệu lực trong thời hạn đƣợc các bên thỏa thuận trong
hợp đồng, còn nếu hợp đồng đƣợc ký không xác định thời hạn thì sẽ có hiệu lực đến
thời điểm hiệu lực của nó chấm dứt theo quy định của pháp luật hay thỏa thuận của
các bên. Vì vậy, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng NQTM đƣợc chấm dứt khi hết thời
hạn có hiệu lực của hợp đồng, trong một số trƣờng hợp có thể chấm dứt trƣớc hạn.
Hợp đồng NQTM đƣợc chấm dứt khi hết thời hạn có hiệu lực của hợp đồng.
Lúc này các bên đã thực hiện xong các nghĩa vụ và đƣợc hƣởng các lợi ích khi thực
hiện xong hợp đồng. Khi tham gia vào hệ thống NQTM, BNhQ đã đầu tƣ rất nhiều
chi phí vào việc xây dựng hệ thống NQTM, BNhQ cũng đã có những đóng góp
khơng nhỏ vào việc phát triển và mở rộng hệ thống nhƣợng quyền. Nếu nhƣ hợp
đồng chấm dứt vào thời điểm này thì BNhQ sẽ có những bất lợi khi mà việc kinh
doanh theo phƣơng thức nhƣợng quyền đang phát triển mà BNhQ phải chấm dứt
thực hiện các hành vi khai thác quyền thƣơng mại từ hợp đồng. Vì vậy, trong hợp
12


KHỐ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

đồng NQTM ln có thêm điều khoản về việc gia hạn hợp đồng của BNhQ khi mà
BNhQ muốn tiếp tục đƣợc tham gia vào hệ thống nhƣợng quyền. Theo đó, BNhQ có
thể tiếp tục ký hợp đồng NQTM với BNQ với các quyền và nghĩa vụ tƣơng đƣơng
với hợp đồng cũ, hơn nữa, số lần gia hạn là không giới hạn.
Đây là một quy định không chỉ bảo vệ riêng đối với BNhQ mà cả BNQ cũng
có những lợi ích nhất định. Bởi vì, khi chấm dứt hợp đồng NQTM với một cơ sở
nhƣợng quyền xác định, BNQ phải tìm kiếm đối tác khác phù hợp với các điều kiện

nhƣợng quyền, sau đó phải bỏ thời gian đào tạo ban đầu, cung cấp trợ giúp kỹ thuật
thƣờng xun. Chi phí cho các cơng việc trên không phải là nhỏ và thời gian cũng
tƣơng đối dài. Trong khi, nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng NQTM với BNhQ thì
BNQ sẽ khơng phải mất những chi phí đó, hơn nữa, BNhQ lại khơng vi phạm hợp
đồng. Vì thế, gia hạn hợp đồng đều mang lại lợi ích cho cả hai bên.
Hợp đồng NQTM là quan hệ hợp đồng ổn định, liên tục và lâu dài. Do vậy,
pháp luật cho phép các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng có thể chấm dứt trƣớc
thời hạn theo sự thỏa thuận của các bên; hoặc khi không đảm bảo các yêu cầu về mặt
pháp lý (phá sản, giải thể, không đáp ứng điều kiện luật định) hoặc một trong các bên
vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
Hợp đồng NQTM có thể chấm dứt hiệu lực trƣớc thời hạn theo thỏa thuận của
các bên. Đối với loại hợp đồng đƣợc ký kết khơng có thời hạn, bất kỳ bên nào cũng
có quyền yêu cầu chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong mọi thời điểm sau khi đã
thông báo cho phía bên kia biết trong một khoảng thời gian hợp lý. Thông thƣờng
trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng NQTM thời hạn này là sáu tháng nếu
trong hợp đồng các bên không thỏa thuận thời hạn lớn hơn14.
Hợp đồng có thể chấm dứt hiệu lực trƣớc thời hạn trong trƣờng hợp khi một
trong các bên không đảm bảo các yêu cầu về mặt pháp lý (giải thể hoặc tuyên bố phá
sản). Pháp luật quy định chủ thể của hợp đồng NQTM phải là thƣơng nhân, tồn tại
một cách hợp pháp, có quyền hoạt động thƣơng mại phù hợp với đối tƣợng đƣợc
nhƣợng quyền. Nhƣ vậy, khi mà BNQ hoặc BNhQ bị giải thể hoặc tuyên bố phá sản
thì chủ thể thực hiện hợp đồng đã khơng cịn nữa, hợp đồng NQTM chấm dứt trong
trƣờng hợp này.
Quá trình thực hiện hợp đồng NQTM là một quá trình tƣơng đối dài. Khi thực
hiện hợp đồng, các bên không thể tránh khỏi trƣờng hợp vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
Chính những vi phạm đó có thể làm cho hợp đồng NQTM bị chấm dứt. Nội dung của
hợp đồng NQTM ln đƣợc xây dựng bởi BNQ, vì vậy, những điều khoản chấm dứt
14

PGS-TS Nguyễn Văn Luyện, TS Lê Thị Bích Thọ, TS Dƣơng Anh Sơn (2007), tldd, tr.252.


13


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

thƣờng đƣợc BNQ đƣa ra đối với BNhQ khi BNhQ vi phạm nghĩa vụ. Tùy thuộc vào
loại vi phạm và mức độ vi phạm của BNhQ mà BNQ chấm dứt hợp đồng NQTM
ngay lập tức hay khơng. Có những vi phạm mà BNQ cho đó là những vi phạm cơ
bản, khơng cần xem xét tới khả năng khắc phục của BNhQ để chấm dứt hợp đồng
NQTM. Cũng có những vi phạm mà BNQ cho phép BNhQ khắc phục trong một
khoảng thời gian quy định, mà hết thời hạn đó nếu BNhQ khơng thể khắc phục thì
BNQ chấm dứt hợp đồng. Hoặc hợp đồng NQTM cũng có thể chấm dứt khi mà
BNhQ lặp đi lặp lại vi phạm trong thời gian quy định, mặc dù trƣớc đó vi phạm này
đã đƣợc khắc phục. BNhQ có thể chấm dứt hợp đồng NQTM với BNQ khi mà BNQ
vi phạm các nghĩa vụ đƣợc quy định tại Điều 287 Luật Thƣơng mại 2005.
Bên cạnh những trƣờng hợp làm cho hợp đồng NQTM chấm dứt đã nêu ở
trên, thì đối với một số hợp đồng NQTM cịn có những vi phạm đặc thù có thể dẫn
tới chấm dứt hợp đồng.
Đối với hợp đồng phát triển quyền thƣơng mại thì hợp đồng NQTM này cũng
có thể chấm dứt khi mà một trong số các cơ sở nhận quyền có vi phạm. Việc chấm
dứt hợp đồng riêng đối với từng cơ sở nhận quyền có thể dẫn tới việc chấm dứt hợp
đồng phát triển quyền thƣơng mại (hợp đồng chính). Bất kỳ vi phạm nào của cơ sở
nhận quyền cũng làm cho hợp đồng chính chấm dứt hay BNQ dựa vào những căn cứ
cụ thể, xác đáng mới có quyền chấm dứt hợp đồng chính. Đây là một vấn đề mà các
bên khi tham gia vào hệ thống NQTM dƣới hình thức phát triển quyền thƣơng mại
cần quan tâm. Bởi vì khi một cơ sở nhận quyền vi phạm khơng có nghĩa là các cơ sở
nhận quyền cịn lại của BNhQ cũng vi phạm. Việc chấm dứt hợp đồng riêng với cơ

sở nhận quyền có vi phạm sẽ khơng ảnh hƣởng nhiều đến các bên trong hoạt động
nhƣợng quyền nếu khơng làm chấm dứt hợp đồng chính. Ngƣợc lại, nếu việc chấm
dứt hợp đồng với cơ sở nhận quyền có vi phạm dẫn đến hợp đồng chính chấm dứt thì
các cơ sở còn lại của BNhQ cũng chấm dứt theo hợp đồng phát triển quyền thƣơng
mại. Theo đó, BNhQ sẽ rơi vào tình trạng khó khăn, tổn thất gây ra không phải nhỏ
khi mà hàng loạt các cơ sở nhận quyền chấm dứt hoạt động. Hơn nữa, BNhQ không
đáp ứng đúng các tiến độ phát triển cam kết trong hợp đồng thì cũng là lý do dẫn đến
hợp đồng bị chấm dứt.
Hợp đồng NQTM chung cũng có quy định BNhQ sơ cấp phải thực hiện đúng
lộ trình mở rộng mạng lƣới nhƣợng quyền theo kế hoạch đã thỏa thuận. Nếu mục tiêu
này khơng đạt đƣợc thì đây là cơ sở để BNQ chấm dứt hợp đồng.

14


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

1.2.2 Các điều khoản sau khi chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng
mại
Trong hoạt động NQTM, BNhQ đã có một thời gian dài tiếp xúc với hệ thống
nhƣợng quyền của BNQ, đã nắm đƣợc các quy trình, bí mật kinh doanh, trong một số
trƣờng hợp BNhQ đã đủ tự tin tách khỏi BNQ, khơng cần dựa vào trợ giúp của BNQ
mà vẫn có thể hoạt động tốt. Hơn nữa, khi mà BNhQ có thể tự mình kinh doanh phát
đạt mà lại phải trả phí nhƣợng quyền cho BNQ, để thốt khỏi sự kiểm sốt của BNQ
có thể họ sẽ vi phạm nghĩa vụ để có lý do chấm dứt hợp đồng. Vì vậy, BNQ để bảo
vệ hệ thống NQTM cần có những điều khoản để hạn chế đƣợc phần nào rủi ro cho
mình và các BNhQ còn lại. BNQ thƣờng tạo ra một cơ sở pháp lý đƣợc xây dựng
trong hợp đồng NQTM đó là các điều khoản sau khi chấm dứt hợp đồng. Trong các

điều khoản này, BNQ thƣờng quy định cho BNhQ các nghĩa vụ phải tuân thủ sau khi
chấm dứt hợp đồng và các hạn chế áp đặt sau khi chấm dứt.
Thứ nhất, nghĩa vụ phải tuân thủ sau khi chấm dứt hợp đồng NQTM, BNhQ
phải chuyển giao danh sách, thông tin chi tiết về khách hàng tiềm năng và các hợp
đồng liên quan đến hệ thống NQTM. BNhQ thanh tốn các khoản nợ, hồn trả cẩm
nang vận hành, các tài liệu thiết bị khác liên quan đến hệ thống nhƣợng quyền. Nhƣ
vậy, với điều khoản này, BNQ đã tạo đƣợc cho mình một cơ sở pháp lý vững chắc
nhằm bảo vệ hệ thống NQTM của mình khỏi BNhQ sau khi chấm dứt, đảm bảo
quyền thƣơng mại của BNQ vẫn cịn giá trị pháp lý và cả thực tiễn, bí quyết kinh
doanh khơng bị bộc lộ ra bên ngồi.
Thứ hai, các hạn chế áp đặt sau khi chấm dứt hợp đồng NQTM. BNQ quy
định các điều khoản không cạnh tranh đối với BNhQ, theo đó, BNhQ khơng đƣợc
tiến hành các hoạt động kinh doanh cạnh tranh với hệ thống NQTM trong phạm vi
lãnh thổ và thời gian đƣợc quy định sau khi chấm dứt. BNhQ không đƣợc lôi kéo các
tổ chức cá nhân từng là khách hàng của BNhQ trong phạm vi lãnh thổ và thời hạn
quy định sau khi chấm dứt hợp đồng. Hơn nữa, BNQ không cho phép BNhQ lôi kéo
ngƣời lao động/nhân viên của BNQ và các BNhQ khác trong phạm vi và lãnh thổ
đƣợc quy định sau khi chấm dứt hợp đồng. Sở dĩ, BNQ phải quy định những điều
khoản này trong hợp đồng là để phần nào ngăn cản BNhQ sử dụng những điều đã có
đƣợc khi cịn nằm trong hệ thống nhƣợng quyền với mục đích xây dựng một cơ sở
kinh doanh khác cạnh tranh với BNQ.

15


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

1.2.3 Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng

mại
Bất kỳ hợp đồng nào khi chấm dứt cũng mang lại những hậu quả cho cả hai
bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng. Trong hoạt động NQTM cũng vậy, khi hợp
đồng chấm dứt vì lý do gì thì cũng mang lại cho các bên những hậu quả pháp lý nhất
định. Khi hợp đồng NQTM chấm dứt, các bên không tiếp tục thực hiện các quyền và
nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền u cầu
bên kia thanh tốn hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng. NQTM là một hoạt động thƣơng
mại có những đặc trƣng riêng biệt cho nên, khi chấm dứt hợp đồng, sự ràng buộc
giữa BNQ và BNhQ vẫn cịn tồn tại. Đó là các điều khoản mà BNhQ phải tuân thủ
sau khi chấm dứt.
Trong phần này, tác giả sẽ đề cập đến hậu quả phát sinh đối với hai loại hợp
đồng NQTM cụ thể, phổ biến đó là hợp đồng phát triển quyền thƣơng mại và hợp
đồng NQTM chung.
Khi tìm hiểu về hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng phát triển quyền thƣơng
mại có ba vấn đề chính cần đƣợc quan tâm nghiên cứu. Thứ nhất, việc mất đi quyền
phát triển sẽ ảnh hƣởng đến các cơ sở đang hoạt động. BNhQ không đƣợc mở các
cửa hàng mới, những thành quả mà BNhQ làm đƣợc trong suốt thời gian tham gia
vào hệ thống nhƣợng quyền thuộc hồn tồn về BNQ, BNhQ khơng đƣợc hƣởng.
Thứ hai, hợp đồng phát triển quyền thƣơng mại chấm dứt sẽ dẫn đến chấm dứt hợp
đồng NQTM riêng cho từng cơ sở. Các cơ sở của BNhQ lúc này cũng phải ngừng sử
dụng các quyền thƣơng mại, do vậy, BNhQ sẽ phải gánh chịu rất nhiều thiệt hại về
tài chính khi đã đầu tƣ rất nhiều vào hệ thống NQTM này. Thứ ba, hậu quả của việc
chấm dứt phải đƣợc áp dụng nhƣ nhau đối với các BNhQ.
Đối với hợp đồng NQTM chung, BNQ sơ cấp và BNQ thứ cấp sẽ ký với nhau
hợp đồng NQTM chung, BNQ thứ cấp và BNhQ thứ cấp sẽ giao kết hợp đồng
NQTM thứ cấp. Hệ thống NQTM hai cấp phức tạp do đó khi chấm dứt hợp đồng
NQTM chung (ở cấp thứ nhất) sẽ ảnh hƣởng rất lớn đến BNhQ thứ cấp. Chính vì
vậy, các bên khi ký kết hợp đồng NQTM chung, để không ảnh hƣởng nhiều đến hệ
thống nhƣợng quyền, trong hợp đồng thƣờng quy định một điều khoản về chuyển
giao hợp đồng NQTM thứ cấp của BNQ thứ cấp cho BNQ sơ cấp. Từ đó, nhiều vấn

đề giải quyết hậu quả khi hợp đồng NQTM chung chấm dứt phát sinh nhƣ: BNQ thứ
cấp chỉ chuyển giao quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng đối với BNhQ thứ cấp cho
BNQ sơ cấp, liệu rằng hệ thống nhƣợng quyền thuộc quyền sở hữu của BNQ thứ cấp
có chuyển giao cho BNQ sơ cấp hay khơng và BNQ thứ cấp đƣợc những lợi ích gì.
16


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

BNQ sơ cấp có nghĩa vụ phải tiếp nhận các cơ sở nhận quyền từ BNQ thứ cấp không,
đặc biệt khi hệ thống đƣợc vận hành yếu kém. Những vấn đề này sẽ đƣợc đề cập rõ ở
Chƣơng 2.
Bên cạnh đó, một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mà gây thiệt hại cho bên
cịn lại thì bên vi phạm có trách nhiệm phải bồi thƣờng các tổn thất.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Kinh doanh bằng mơ hình NQTM đã khơng cịn q xa lạ đối với các thƣơng
nhân ở Việt Nam, sức hấp dẫn và những ƣu điểm của nó đã đƣợc chứng minh qua
thực tiễn trong những năm gần đây. Tính đến nay, có khoảng 101 hệ thống NQTM từ
nƣớc ngồi vào Việt Nam, cho thấy thị trƣờng NQTM ở Việt Nam đang rất đƣợc chú
trọng15. NQTM là một phƣơng thức kinh doanh, trong đó BNQ cho phép BNhQ độc
lập với BNQ về tƣ cách pháp lý, đƣợc cùng khai thác giá trị thƣơng mại của BNQ
gồm các yếu tố thuộc đối tƣợng của sở hữu trí tuệ nhƣ: tên thƣơng mại, nhãn hiệu
hàng hóa/dịch vụ, bí mật kinh doanh, quảng cáo, khẩu hiệu…Hoạt động của BNQ và
các BNhQ tạo thành một hệ thống NQTM đồng bộ, thống nhất với nhau về quyền lợi
và lợi ích.
Hợp đồng NQTM quy định các quyền và nghĩa vụ cho các bên, tạo nên một
cơ sở pháp lý cho các bên khi thực hiện NQTM cũng nhƣ giải quyết tranh chấp nếu
có. Hợp đồng NQTM có những đặc điểm đặc trƣng nhƣ: thời hạn, đối tƣợng của hợp

đồng, chủ thể của hợp đồng, hình thức, mối quan hệ giữa BNQ và BNhQ, phí
nhƣợng quyền, các điều khoản quy định trong hợp đồng NQTM liên quan đến pháp
luật cạnh tranh. Việc tìm hiểu về những đặc trƣng của hợp đồng NQTM có ích rất
nhiều trong việc phân biệt hợp đồng NQTM với các hợp đồng thƣơng mại khác, từ
đó các vấn đề về chấm dứt hợp đồng NQTM sẽ đƣợc tìm hiểu đúng đắn và rõ ràng.
Dựa vào các tiêu chí khác nhau mà ta có các loại hợp đồng khác nhau. Hiện
nay, khi nghiên cứu về NQTM, hệ thống NQTM cho thấy rõ các đặc trƣng của hoạt
động NQTM đó là hệ thống NQTM một cấp và hệ thống NQTM hai cấp. Tƣơng ứng
với mỗi hệ thống nhƣợng quyền sẽ có những hợp đồng tƣơng ứng đƣợc thiết lập.
Hợp đồng NQTM một cấp thƣờng đƣợc áp dụng đối với các hình thức nhƣợng quyền
trong nƣớc, giữa các thƣơng nhân trong một quốc gia với nhau. Hợp đồng NQTM hai
cấp thƣờng đƣợc áp dụng với hoạt động NQTM có yếu tố nƣớc ngồi. Khi BNQ
muốn mở rộng mạng lƣới kinh doanh của mình, đƣa tên tuổi của BNQ đến với khách
hàng nhiều hơn phạm vi một quốc gia thì lúc này hợp đồng NQTM chung nên đƣợc
15

http://www.moit.gov.vn/vn/pages/Thongke.aspx?Machuyende=TK&ChudeID=61.

17


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN THỊ DIỆU THU

xem xét. Bởi vì, với việc mở rộng hệ thống kinh doanh ở một quốc gia khác sẽ là khó
khăn với BNQ do BNQ không thể am hiểu về đất nƣớc cũng nhƣ con ngƣời ở quốc
gia này bằng thƣơng nhân địa phƣơng. Vì vậy, để tiết kiệm chi phí cho việc tìm kiếm
thị trƣờng, BNQ thƣờng ký kết hợp đồng NQTM chung với BNQ thứ cấp. Hợp đồng
NQTM đƣợc phân thành nhiều loại khác nhau dựa vào các tiêu chí khác nhau. Do đó,

việc nghiên cứu về chấm dứt hợp đồng NQTM với mỗi loại hợp đồng cũng sẽ có sự
khác biệt. Vì vậy, việc phân loại hợp đồng NQTM sẽ giúp việc nghiên cứu đƣợc rõ
ràng, cụ thể hơn.
Chấm dứt hợp đồng NQTM là một vấn đề pháp lý mà đòi hỏi các bên tham
gia hoạt động NQTM cần đặc biệt quan tâm. Pháp luật nhiều nƣớc trên thế giới,
trong đó có Việt Nam cũng quan tâm về vấn đề này. Những vấn đề mà pháp luật cần
quan tâm khi nghiên cứu về chấm dứt hợp đồng NQTM nhƣ: các trƣờng hợp chấm
dứt hợp đồng, các điều khoản sau khi chấm dứt hợp đồng, hậu quả pháp lý của việc
chấm dứt hợp đồng và bồi thƣờng thiệt hại (nếu có). Những quy định này, phần nào
cũng đảm bảo các giá trị pháp lý khi các bên khi tham gia vào hoạt động NQTM,
đảm bảo quyền lợi ích của các bên và sự ổn định của nền kinh tế.

18


×