Tải bản đầy đủ (.pdf) (63 trang)

Chuyển án dân sự (luận văn thạc sỹ luật)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.42 MB, 63 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ ĐÌNH VĂN

CHUYỂN VỤ ÁN DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

CHUYỂN VỤ ÁN DÂN SỰ
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Hải An
Học viên: Lê Đình Văn
Lớp: Cao học luật khóa 24

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là cơng trình nghiên cứu khoa học thực sự của
cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Hải An. Các
quyết định và văn bản được sử dụng để lập luận và trích dẫn trong luận văn được


tác giả thu thập tại Tòa án nhân dân các cấp, được đảm bảo độ tin cậy và được
trích dẫn đầy đủ theo quy định. Những kết luận nghiên cứu được trình bày trong
luận văn này trung thực và chưa từng được cơng bố dưới bất kỳ hình thức nào. Tơi
xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả

Lê Đình Văn


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

Từ đƣợc viết tắt

BLTTDS

Bộ luật Tố tụng dân sự

TAND

Tòa án nhân dân

VADS

Vụ án dân sự


MỤC LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... ..1
CHƢƠNG 1. CĂN CỨ CHUYỂN VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN ............... ..7
1.1. Căn cứ thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ…………………………..8
1.2 Căn cứ thẩm quyền của Tòa án theo cấp………………………...…….17
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ...................................................................................... 24
CHƢƠNG 2. THẨM QUYỀN, THỜI HẠN CHUYỂN VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA
TÒA ÁN ................................................................................................................. 25
2.1 Thẩm quyền chuyển vụ án dân sự của Tòa án .................................... 25
2.2 Thời hạn chuyển vụ án dân sự của Tòa án .......................................... 31
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ...................................................................................... 37
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 38
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chuyển vụ án dân sự là một hoạt động tố tụng quan trọng của Tịa án trong
q trình giải quyết án. Sau khi thụ lý, Tòa án xét thấy vụ án dân sự khơng thuộc
thẩm quyền giải quyết của mình mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân
dân địa phương khác hoặc Tịa án nhân dân cấp trên, thì Tồ án đã thụ lý vụ án dân
sự ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tồ án có thẩm quyền. Chuyển vụ án dân
sự là một hoạt động tố tụng được quy định tại Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015. Vụ án được Tòa án đúng thẩm quyền giải quyết sẽ đảm bảo quá trình giải
quyết án nhanh chóng, đúng pháp luật, tiết kiệm chi phí, thời gian. Tịa án có thẩm
quyền có điều kiện thuận lợi để tiến hành các thủ tục tố tụng chung, có mối quan hệ
hành chính với các cơ quan hữu quan có thẩm quyền tại địa phương để hỗ trợ trong
việc giải quyết án. Tịa án có thẩm quyền giải quyết mới được phép đưa ra các phán

quyết mà Tòa án nơi thụ lý vụ án không thể thực hiện được. Tại thời điểm nộp đơn
kiện, Tòa án chỉ xem xét các thông tin, tài liệu do đương sự cung cấp để làm căn cứ
thụ lý vụ án hoặc do trong quá trình giải quyết án phát sinh những tình tiết, sự kiện
mới mà Tòa án nơi thụ lý xét thấy cần phải chuyển vụ án là điều xảy ra phổ biến.
Việc xác định đúng Tịa án có thẩm quyền giải quyết thì vụ án sẽ được giải quyết
nhanh chóng, Tịa án sẽ có điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành các hoạt động tố
tụng cần thiết, quyền lợi hợp pháp của các tổ chức, cá nhân được bảo vệ kịp thời,
toàn diện.
Tuy nhiên, trên thực tế việc chuyển vụ án dân sự cũng xảy ra nhiều vướng mắc
do quan điểm của các Tòa án là khác nhau về cách hiểu, cách tiếp cận hồ sơ vụ án,
căn cứ, thẩm quyền chuyển vụ án nên có thể xảy ra tranh chấp về thẩm quyền. Thực
tiễn hiện nay rất nhiều bản án, quyết định dân sự bị hủy, sửa do các cấp Tòa án chưa
thống nhất về căn cứ, thẩm quyền chuyển vụ án dân sự dẫn tới việc không chuyển
hoặc chuyển vụ án dân sự không đúng, xác định sai thẩm quyền giải quyết.
Từ những lý do trên, tác giả nhận thấy việc phân tích và làm rõ quy định
chuyển vụ án dân sự là điều cần thiết. Trong đó, làm rõ về căn cứ, thẩm quyền và
thời hạn chuyển vụ án dân sự là vấn đề trọng tâm, cốt lõi, nhằm tìm ra những điểm
bất cập của pháp luật cũng như những vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ án
của Tòa án. Sau cùng là đưa ra giải pháp hồn thiện pháp luật, góp phần nâng cao


2

chất lượng giải quyết các vụ án dân sự của Tịa án, hướng đến bảo đảm quyền và lợi
ích hợp pháp của cơng dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội.
Chính vì lẽ đó mà tác giả chọn đề tài “Chuyển vụ án dân sự” làm đề tài
nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ của mình. Kết quả nghiên cứu của tác giả sẽ có giá
trị lý luận và thực tiễn, là nguồn tham khảo cho việc kiến nghị hoàn thiện hơn nữa
quy định về việc chuyển vụ án dân sự, từ đó tìm ra giải pháp chung để tháo gỡ
những khó khăn hiện nay mà các cấp Tịa án gặp phải khi tiến hành chuyển vụ án

dân sự.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các cơng trình nghiên cứu về thủ tục chuyển vụ án dân sự hiện nay rất hạn chế
và chưa có cơng trình nào nghiên cứu một cách tập trung, đầy đủ và thống nhất về
việc chuyển vụ án dân sự. Mỗi cơng trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau
của hoạt động chuyển vụ án dân sự là nguồn tài liệu quý giá để bản thân tác giả
tham khảo, làm cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn đề tài đã chọn. Tác giả đã tiến
hành nghiên cứu các cơng trình sau:
Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam,
Nhà xuất bản Công an nhân dân. Tại Chương II của giáo trình, trình bày về Thẩm
quyền của Tịa án nhân dân, trong đó đã phân tích vấn đề chuyển vụ việc dân sự
cho Tòa án khác; Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học quốc gia Thành phố Hồ
Chí Minh) (2016), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, Nhà xuất bản Đại học quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Chương III của giáo trình, trình bày về Thẩm quyền
của Tịa án nhân dân, trong đó cũng đã phân tích vấn đề chuyển vụ việc dân sự cho
Tịa án khác. Các cơng trình nghiên cứu dưới dạng giáo trình có đặc điểm chung là
trình bày và phân tích một cách có hệ thống và khái qt bao phủ mọi vấn đề về
pháp luật tố tụng dân sự, nêu lên các hoạt động của Tòa án ở các giai đoạn tố tụng
khác nhau. Tuy nhiên, các giáo trình chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, sơ lược mà
chưa đi sâu phân tích vấn đề chuyển vụ án dân sự.
Đồn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Điệp (2016), Bình luận khoa học Bộ luật Tố
tụng dân sự 2015, Nhà xuất bản Lao động; Trần Anh Tuấn (2017), Bình luận khoa
học Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
2015, Nhà xuất bản Tư pháp. Các cơng trình nghiên cứu dưới dạng bình luận khoa


3

học có đặc điểm chung là dẫn giải các quy định của pháp luật cũng như các quy
định hướng dẫn thi hành và nêu ý kiến bình luận của tác giả, trong đó có quy định

về chuyển vụ án dân sự. Tuy nhiên, cơng trình chỉ đề cập và bình luận sơ lược quy
định về chuyển vụ án dân sự mà chưa đi sâu phân tích nội dung của quy định này.
Bùi Thị Hiền (2017), “Thời hạn trong tố tụng dân sự”, Luận văn thạc sĩ luật
học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn đi sâu nghiên cứu
thực tiễn áp dụng các quy định về xác định thời hạn chuẩn bị xét xử trong các
trường hợp có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét
xử sơ thẩm và thời hạn giao nộp chứng cứ, nêu rõ bất cập và tìm ra ngun nhân
của những bất cập đó. Từ đó, đề xuất, kiến nghị nhằm hồn thiện pháp luật về thời
hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và thời hạn giao nộp chứng cứ. Luận văn đã đưa ra
kiến nghị về những vấn đề chưa hợp lý để hoàn thiện pháp luật tố tụng, khắc phục
vướng mắc, khó khăn trên thực tế. Tuy nhiên, trên thực tế thì thời hạn chuyển vụ án
dân sự cũng nằm trong thời hạn chuẩn bị xét xử của một vụ án nhưng chưa được
luận văn đề cập đến và phân tích, làm rõ.
Vũ Thị Thu (2018), “Vướng mắc về thẩm quyền giải quyết của Tịa án đối với
vụ án dân sự có u cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, đăng trên tạp chí
Kiểm sát số 14/2018. Trong bài viết này tác giả Vũ Thị Thu có nêu các vấn đề khó
khăn, vướng mắc trong cơng tác giải quyết án, cụ thể là xác định thẩm quyền giải
quyết của Tòa án cấp huyện hay cấp tỉnh, có thực hiện việc chuyển vụ án hay không
đối với tranh chấp dân sự phát sinh yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Tuy nhiên, bài viết chưa đưa ra giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề chuyển vụ
án trong trường hợp này.
Kim Quỳnh (2018), “Bàn về thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 5
Điều 397 của Bộ luật Tố tụng dân sự”, đăng trên tạp chí Tịa án nhân dân điện tử
ngày 28/02/2018. Trong bài viết này tác giả Kim Quỳnh có nêu các vấn đề vướng
mắc trong công tác giải quyết án, cụ thể về xác định Tịa án nào có thẩm quyền giải
quyết khi Tịa án đình chỉ giải quyết việc dân sự về cơng nhận thuận tình ly hơn,
thỏa thuận ni con, chia tài sản khi ly hôn và thụ lý vụ án để giải quyết, nhưng Tịa
án giải quyết lại khơng phải là Tịa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, khơng đúng theo
quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ. Tuy nhiên, bài viết



4

chưa đưa ra giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề chuyển vụ án trong trường hợp
này.
Đỗ Thị Nhung (2018), “Chuyển đơn khởi kiện – thực trạng và giải pháp hồn
thiện”, đăng trên tạp chí Tịa án nhân dân điện tử ngày 12/8/2018. Trong bài viết
này tác giả phân tích, đánh giá quy định của pháp luật tố tụng dân sự về chuyển đơn
khởi kiện, từ đó nêu ra thực trạng của pháp luật tố tụng, thực tiễn áp dụng về
chuyển đơn khởi kiện và đề xuất một số giải pháp hồn thiện. Tác giả cũng có đề
cập đến vấn đề chuyển vụ án dân sự, tuy nhiên để nhằm mục đích so sánh với quy
định về chuyển đơn khởi kiện mà chưa đi sâu phân tích, chưa nêu ra được những bất
cập, cũng như đề xuất kiến nghị đối với các quy định của pháp luật về chuyển vụ án
dân sự.
Lê Thị Kim Loan (2017), “Hội đồng xét xử sơ thẩm cấp huyện có quyền ra
quyết định chuyển vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015?”,
đăng trên trang thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ
ngày 06/02/2017. Trong bài viết tác giả có nêu vấn đề về thẩm quyền chuyển vụ án
dân sự sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc tại phiên tòa sơ thẩm,
Thẩm phán hay Hội đồng xét xử sẽ ban hành quyết định chuyển vụ án. Tuy nhiên,
bài viết chưa nêu ra giải pháp cụ thể để xác định thẩm quyền chuyển vụ án dân sự
trong trường hợp này.
Trước thực trạng tình hình nghiên cứu như trên, tác giả nhận thấy sự cần thiết
của việc nghiên cứu một cách toàn diện thực tiễn pháp lý trên cơ sở áp dụng luật
thực định để hoàn thiện các quy định của pháp luật về căn cứ chuyển vụ án dân sự,
về thẩm quyền, thời hạn chuyển vụ án dân sự. Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu đề
tài một cách chun sâu, có phân tích và đánh giá toàn diện dựa trên những thành
quả nghiên cứu của các cơng trình khoa học đã cơng bố và thực tiễn trong cơng tác
giải quyết án hiện nay của Tịa án.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích của đề tài: Trên cơ sở nghiên cứu tìm hiểu những nội dung về
việc chuyển vụ án dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng hiện hành, phân
tích thực trạng về căn cứ, thẩm quyền và thời hạn chuyển vụ án dân sự, tác giả
sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn các quy
định của pháp luật tố tụng về quy định chuyển vụ án dân sự. Kết quả nghiên cứu


5

khi hồn thành sẽ là nguồn tài liệu hữu ích, có giá trị lý luận và thực tiễn đối với
những đối tượng cần tìm hiểu các vấn đề liên quan đến chuyển vụ án dân sự, là
nguồn tham khảo cho những kiến nghị, khắc phục những bất cập, vướng mắc
liên quan đến vấn đề này.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Đề tài làm rõ một số vấn đề liên quan đến chuyển vụ
án dân sự, đồng thời nghiên cứu thực tiễn xét xử của Tịa án từ đó tìm ra được
những vấn đề vướng mắc của Tòa án khi tiến hành hoạt động chuyển vụ án dân
sự. Qua đó đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện hoạt động này. Ngoài ra, luận
văn tìm ra hướng giải quyết để việc chuyển vụ án dân sự được thực hiện nhanh
chóng, hạn chế thấp nhất việc tranh chấp thẩm quyền của các Tòa án, đảm bảo
đúng thời hạn giải quyết vụ án dân sự.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu: Vì đề tài theo định hướng ứng dụng nên chỉ tập trung
nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về những vấn đề bất cập từ thực tiễn pháp
lý, từ đó đề xuất các giải pháp áp dụng pháp luật. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
quy định chuyển vụ án dân sự, mà không nghiên cứu về vấn đề chuyển việc dân sự,
phạm vi nghiên cứu được giới hạn là một phần của Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự
hiện hành. Các vấn đề khác liên quan đến quy định chuyển vụ án dân sự nếu có đề
cập đến chỉ nhằm mục đích làm rõ hơn những nội dung trọng tâm cần nghiên cứu.
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu ở pháp luật tố tụng Việt Nam cụ thể là Bộ luật
Tố tụng dân sự hiện hành và các văn bản pháp luật có liên quan, từ đó đối chiếu với

thực tiễn xét xử của các cấp Tòa án ở Việt Nam, đồng thời có liên hệ với pháp luật
tố tụng của nước ngoài.
Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành luận văn tác giả đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích để làm sáng tỏ quy định chuyển vụ án dân sự. Đồng
thời, tác giả cũng sử dụng phương pháp này để phân tích quan điểm của các tác giả
khác, phân tích những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật về chuyển
vụ án dân sự tại Tòa án.
Phương pháp so sánh để so sánh, đối chiếu quy định chuyển vụ án dân sự với
các quy định có liên quan và thực tiễn áp dụng pháp luật.


6

Phương pháp tổng hợp để tổng hợp các tài liệu đã thu được từ q trình phân
tích, so sánh, nhằm có được một kết quả nghiên cứu hồn thiện nhất.
5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Trên cơ sở nghiên cứu quy định của pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam hiện hành, cũng như từ thực tiễn giải quyết tại Tịa án, đề tài đã phân
tích một cách rõ ràng và có hệ thống các quy định của pháp luật về vấn đề chuyển
vụ án dân sự. Từ đó góp phần tìm ra những vướng mắc, bất cập trong quy định của
pháp luật và đưa ra giải pháp hoàn thiện, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của mọi tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ, cũng như tạo điều kiện, tiền
đề đảm bảo cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm minh và thống nhất.
Giá trị ứng dụng: Đề tài là một cơng trình nghiên cứu có giá trị tham khảo cho
sinh viên, những người làm công tác pháp luật và những người quan tâm nghiên
cứu quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục tố tụng của Tòa án trong giải quyết
vụ án dân sự nói chung và quy định về chuyển vụ án dân sự nói riêng.
6. Bố cục và nội dung cơ bản của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục thì luận

văn được chia thành hai chương, gồm:
Chương 1. Căn cứ chuyển vụ án dân sự của Tòa án.
Chương 2. Thẩm quyền, thời hạn chuyển vụ án dân sự của Tòa án.


7

CHƢƠNG 1
CĂN CỨ CHUYỂN VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN
Trong thực tiễn nhiều trường hợp sau khi đã thụ lý vụ án dân sự (VADS) thì
Tịa án mới phát hiện là VADS đã thụ lý không thuộc thẩm quyền giải quyết của
mình. Pháp luật tố tụng đã quy định cụ thể việc xử lý trường hợp thụ lý vụ án sai
thẩm quyền như sau: VADS đã được thụ lý mà khơng thuộc thẩm quyền giải quyết
thì Tịa án đó ra quyết định chuyển hồ sơ cho Tịa án có thẩm quyền và xóa tên vụ
án trong sổ thụ lý. Quyết định này được gửi ngay cho đương sự, cá nhân, cơ quan,
tổ chức có liên quan. Đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan có quyền
khiếu nại quyết định này trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
quyết định. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại,
Chánh án Tòa án đã ra quyết định chuyển VADS phải giải quyết khiếu nại. Khi xét
thấy VADS đã được thụ lý khơng thuộc thẩm quyền giải quyết của mình mà thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân (TAND) địa phương khác cùng cấp
hoặc khác cấp, thì Tịa án đã thụ lý VADS ra quyết định chuyển hồ sơ cho Tịa án
có thẩm quyền. Trong trường hợp đương sự đã nộp tiền tạm ứng án phí thì Tịa án
chuyển hồ sơ vụ án không phải trả lại tiền tạm ứng án phí cho đương sự mà tiền tạm
ứng án phí đã nộp được xử lý khi Tịa án có thẩm quyền giải quyết VADS. Tịa án
có thẩm quyền sau khi nhận được quyết định và hồ sơ vụ án chuyển đến phải vào sổ
thụ lý và tiếp tục giải quyết VADS đó theo quy định chung1.
Việc xác định Tịa án nào có thẩm quyền giải quyết VADS nhất định luôn là
một vấn đề rất dễ gây ra sự nhầm lẫn. Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS)
2015 quy định thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tịa án đối với VADS gồm nhiều

loại khác nhau, vì vậy có những VADS thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều Tịa
án khác nhau2, nhưng cũng có những vụ án mà thẩm quyền giải quyết lại chỉ thuộc
về một Tòa án cụ thể nào đó. Do đó, khi người khởi kiện có u cầu khởi kiện
VADS tại Tịa án thì nhiều trường hợp nộp hồ sơ khởi kiện không đúng Tịa án có
thẩm quyền giải quyết. Trường hợp này theo quy định của pháp luật, nếu Tòa án
phát hiện ra ngay tại giai đoạn nhận đơn thì Tịa án sẽ trả lại đơn cho người khởi
1

Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Điệp (2016), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nhà xuất
bản Lao động, tr.46, 47.
2
Xem điểm d khoản 1 Điều 40 BLTTDS 2015.


8

kiện. Còn nếu, Tòa án đã nhận đơn, ghi vào sổ thụ lý vụ án, sau đó mới nghiên cứu
hồ sơ và thấy vụ án không thuộc thẩm quyền của mình thì Tịa án sẽ phải ra quyết
định chuyển hồ sơ VADS cho Tịa án có thẩm quyền giải quyết và xóa tên vụ án đó
trong sổ thụ lý. Quyết định chuyển hồ sơ VADS do Thẩm phán được phân cơng giải
quyết vụ án ký tên và đóng dấu của Tịa án. Vì vậy, việc xác định đúng Tịa án có
thẩm quyền giải quyết thì vụ án sẽ được giải quyết nhanh chóng, kịp thời, có điều
kiện thuận lợi nhất để tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết, đặc biệt có ý nghĩa
quyết định đối với các trường hợp đương sự cố tình khơng hợp tác làm việc.
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng những quy định của pháp luật về chuyển
VADS vào thực tiễn thì phát sinh những vướng mắc, bất cập. Trong phần căn cứ
chuyển VADS, tác giả phát hiện vấn đề bất cập đối với căn cứ thẩm quyền của Tòa
án theo lãnh thổ và căn cứ thẩm quyền của Tòa án theo cấp mà cần phải nghiên cứu
để hoàn thiện pháp luật về chuyển VADS.
1.1. Căn cứ thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

Tại thời điểm thụ lý VADS, Tòa án xem xét nội dung đơn khởi kiện và các tài
liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm căn cứ thụ lý vụ án. Trong quá trình
xác minh, thu thập chứng cứ Tịa án phát hiện bị đơn khơng cịn cư trú tại địa chỉ
nguyên đơn cung cấp mà trước đó và hiện tại đang cư trú, làm việc tại nơi khác, nơi
này ngồi phạm vi thẩm quyền của Tịa án theo lãnh thổ nên buộc Tòa án đã thụ lý
phải tiến hành chuyển vụ án để Tòa án khác giải quyết theo đúng thẩm quyền.
Cốt lõi của việc xác định thẩm quyền dân sự theo lãnh thổ là giải quyết mối
tương quan giữa yêu cầu đảm bảo thuận lợi cho Tòa án giải quyết vụ án và đảm bảo
quyền tham gia tố tụng, quyền tự định đoạt của đương sự. Việc thiết lập tiêu chí và
thứ tự ưu tiên của các tiêu chí xác định thẩm quyền theo lãnh thổ phải trên cơ sở
góc nhìn học lý căn bản này. Các tiêu chí xác định thẩm quyền dân sự theo lãnh thổ
bao gồm: tiêu chí về Tịa án nơi có bất động sản đối với các tố quyền bất động sản,
tiêu chí về Tịa án nơi cư trú, làm việc hoặc có trụ sở của bị đơn, nơi có tài sản đối
với các tố quyền đối nhân và tố quyền động sản, tiêu chí về nơi phát sinh sự kiện và
tiêu chí về quyền thỏa thuận của các đương sự trong việc xác định Tịa án có thẩm
quyền. Quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ về cơ bản được thiết lập
dựa trên các tiêu chí trên.


9

Về nguyên tắc, để thuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp và đảm bảo công
bằng giữa những người tham gia tố tụng thì người bị động trong việc tham gia tố
tụng cần phải được nhà lập pháp trao cho những lợi thế hơn so với người ở thế chủ
động trong việc thực hiện quyền tự bảo vệ của mình. Việc nguyên đơn thực hiện tố
quyền của mình sẽ làm cho bị đơn buộc phải tham gia tố tụng, trong khi đó họ chỉ là
người được giả thuyết hay suy đoán xâm phạm tới quyền lợi của nguyên đơn, cho
nên họ cần được tạo điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện quyền tự bảo vệ mình
trước Tịa án. Ngồi ra, trong trường hợp họ không hợp tác trong việc giải quyết vụ
án thì Tịa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở là Tịa án có khả năng và điều

kiện tốt hơn cả trong việc xác minh các tình tiết, sự kiện của vụ tranh chấp. Do vậy,
việc xây dựng các quy định để xác định Tịa án có thẩm quyền đối với các tố quyền
đối nhân được dựa trên tiêu chí về nơi hiện diện của bị đơn hay nói cách khác là nơi
bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở3.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 41 BLTTDS 2015 thì:
“Vụ việc dân sự đã được thụ lý mà không thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tịa án đã thụ lý thì Tịa án đó ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tịa
án có thẩm quyền và xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi
ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có quyền khiếu nại, Viện
kiểm sát có quyền kiến nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận được quyết định. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
khiếu nại, kiến nghị, Chánh án Tòa án đã ra quyết định chuyển vụ việc dân sự phải
giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Quyết định của Chánh án Tòa án là quyết định cuối
cùng.”
Vấn đề chuyển VADS đã được quy định chi tiết nhưng trong thực tiễn áp dụng
thì vẫn có trường hợp xảy ra bất cập, gây khó khăn và mất thời gian cho Tòa án.
Việc xung đột về thẩm quyền giữa các Tịa án là điều khó có thể tránh khỏi. Bởi vì,
pháp luật khơng thể bao qt hết sự phong phú, đa dạng nảy sinh từ thực tiễn, sự
thiếu rõ ràng, cụ thể của một số quy định pháp luật hay do cách hiểu và áp dụng
3

Trần Anh Tuấn (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam năm 2015, Nhà xuất bản Tư pháp, tr 114, 117.


10

pháp luật chưa thống nhất giữa các Tòa án về việc xác định thẩm quyền. Các xung

đột này có thể theo hướng nhiều Tịa án đều cho rằng mình có thẩm quyền xét xử
hoặc theo hướng các Tòa án đều cho rằng mình khơng có thẩm quyền xét xử một vụ
án nhất định. Bên cạnh đó, bị đơn cũng lợi dụng việc này để kéo dài thời gian giải
quyết vụ án nhằm các mục đích có lợi cho họ. Tác giả xin được nêu ra các trường
hợp sau để phân tích, đánh giá nhằm đưa ra hướng hồn thiện hơn đối với quy định
về căn cứ chuyển VADS theo lãnh thổ.
Ví dụ thứ nhất: TAND thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thụ lý, giải quyết vụ
án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Đăng Khoa
với bị đơn là ông Nguyễn Văn Hồng và vợ là bà Lê Ngọc Vì. Tịa án thụ lý vụ án
ngày 03-10-2017, Tòa án triệu tập nhiều lần đối với ơng Hồng và bà Vì nhưng bị
đơn khơng đến Tịa án làm việc, qua q trình xác minh thì biết được vợ chồng ơng
Hồng, bà Vì mặc dù có hộ khẩu thường trú tại khu phố 5, thị trấn Mỹ Phước, thị xã
Bến Cát, tỉnh Bình Dương nhưng từ tháng 7-2017 vợ chồng ơng Hồng, bà Vì đã
khơng cịn cư trú tại đây mà cư trú tại ấp Giữa, xã Hiệp Thạnh, huyện Gò Dầu, tỉnh
Tây Ninh. TAND thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương căn cứ vào Điều 39 và Điều 41
BLTTDS 2015 để chuyển vụ án cho TAND huyện Gị Dầu, tỉnh Tây Ninh. Do vợ
chồng ơng Hồng, bà Vì cố tình kéo dài thời gian để tẩu tán tài sản nên sau khi vợ
chồng ông Hồng, bà Vì nhận được quyết định chuyển vụ án của TAND thị xã Bến
Cát đã rời khỏi địa chỉ cư trú tại huyện Gò Dầu mà quay về địa chỉ theo hộ khẩu
thường trú tại thị xã Bến Cát để cư trú. TAND thị xã Bến Cát ban hành quyết định
chuyển vụ án vào ngày 02-11-2017 nhưng đến ngày 15-12-2017 TAND huyện Gò
Dầu mới nhận hồ sơ vụ án qua đường bưu điện. TAND huyện Gò Dầu thụ lý, giải
quyết theo thẩm quyền nhưng khi triệu tập đương sự thì chính quyền địa phương
cho biết đương sự này đã rời khỏi địa phương từ đầu tháng 11-2017, quay về sống
tại địa chỉ theo hộ khẩu thường trú. TAND huyện Gò Dầu lại ra quyết định chuyển
vụ án đến Tòa án nhân thị xã Bến Cát. Các đương sự đã có mục đích kéo dài thời
gian giải quyết vụ án nên sau khi nhận được quyết định chuyển vụ án lại thay đổi
nơi cư trú về địa chỉ tạm trú tại huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
Vậy, trong trường hợp này, Tòa án sẽ xử lý như thế nào khi BLTTDS 2015
chưa thể vận dụng để chỉ rõ rằng TAND thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương hay

TAND huyện Gị Dầu, tỉnh Tây Ninh sẽ giải quyết nếu đương sự liên tục thay đổi


11

địa chỉ qua lại hoặc thay đổi địa chỉ khác. Mặc dù, trong các lần thay đổi địa chỉ
đương sự đều cơng khai và có trình báo với chính quyền địa phương, trường hợp
này có được xem là đương sự cố tình giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ hay khơng?
Nếu sau khi Tịa án thụ lý, bị đơn biết được vụ việc Tịa án đang giải quyết mà cố
tình chuyển nơi ở thì chúng ta dễ dàng xác định được đấy là trường hợp đương sự
cố ý trốn tránh làm việc với cơ quan chức năng, họ tự từ bỏ các quyền tham gia tố
tụng của họ được pháp luật bảo vệ, Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định
chung của pháp luật tố tụng. Trong ví dụ trên thì bị đơn thay đổi nơi cư trú trước
mỗi lần Tòa án thụ lý vụ án nên không thể xem là họ trốn tránh nghĩa vụ tham gia tố
tụng, mà chỉ được hiểu rằng vì lý do cá nhân của họ mà họ thay đổi nơi cư trú.
Về vấn đề này, hiện nay cũng đang có các quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc xác định Tịa án nào có thẩm quyền giải
quyết vụ án căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS 20154,
nhưng đối với trường hợp này được xem như đương sự cố tình giấu địa chỉ 5, trốn
tránh nghĩa vụ, gây cản trở cho hoạt động tố tụng của Tòa án. Trường hợp trong đơn
khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc
nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ
được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là đã ghi đầy đủ và
đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở. Trường hợp người bị kiện,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ
sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không
thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới
thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.
Việc tống đạt trực tiếp khơng được thì có thể niêm yết công khai các văn bản tố
tụng.

Quan điểm thứ hai cho cho rằng, việc xác định Tòa án nào có thẩm quyền
giải quyết vụ án căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS
2015. Tịa án có thẩm quyền giải quyết là Tịa án mà nơi đương sự đang cư trú, làm
việc, nếu đương sự không cư trú tại địa chỉ theo đơn khởi kiện thì Tịa án phải tiến
4

Xem điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015.
Xem Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao
hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 BLTTDS 2015.
5


12

hành chuyển vụ án đến Tòa án nơi đương sự đang cư trú, làm việc để giải quyết.
Trong trường hợp trên, sau khi Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ thì
biết được bị đơn đã chuyển nơi ở trước khi Tòa án thụ lý và hiện tại Tòa án xác định
được nơi cư trú của bị đơn. Trong trường hợp này bị đơn có đăng ký tạm trú với cơ
quan có thẩm quyền đúng theo quy định của Luật Cư trú 2006, sửa đổi 2013 6. Vì
vậy, Tòa án bắt buộc phải chuyển vụ án trong trường hợp này mà không được tiếp
tục giải quyết vụ án, được xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nếu Tịa án
khơng đúng thẩm quyền vẫn tiếp tục giải quyết vụ án.
Qua nghiên cứu các quy định của BLTTDS 2015, tác giả thấy rằng: Với quy
định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì về cơ bản các nhà làm luật đã
quy định rõ thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ. Tuy nhiên, quy định
này đã không bao quát được trường hợp như nêu ở trên. Tác giả đồng tình với quan
điểm thứ nhất, tức là, khi bị đơn đã cố tình kéo dài thời gian giải quyết vụ án nhằm
mục đích nào đó có lợi cho họ, cụ thể trong trường hợp nêu trên là để họ có thời
gian tẩu tán tài sản, gây khó khăn cho cơng tác thi hành án, ảnh hưởng tới quyền lợi
hợp pháp của nguyên đơn được pháp luật bảo vệ trong giai đoạn thi hành án nói

riêng và cả q trình tố tụng nói chung. Theo luật định thì Tịa án nhận VADS được
chuyển sẽ được tính lại thời hạn giải quyết vụ án, là một vụ án nhưng nếu các Tòa
án căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 mà chuyển qua
lại nhiều lần thì ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của nguyên đơn. Theo khoản
3 Điều 39 BLTTDS 20157 cũng quy định thêm rằng trường hợp VADS đã được Tòa
án thụ lý và đang giải quyết theo đúng quy định của pháp luật tố tụng về thẩm
quyền của Tịa án theo lãnh thổ thì phải được Tịa án đó tiếp tục giải quyết mặc dù
trong q trình giải quyết vụ án có sự thay đổi nơi cư trú, trụ sở hoặc địa chỉ giao
dịch của đương sự8. Để bảo đảm quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự, đồng
thời, tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án giải quyết vụ án, theo tác giả trường hợp
này Tịa án có quyền được xem như trường hợp đương sự cố tình giấu địa chỉ cư
trú, trốn tránh nghĩa vụ. Tòa án căn cứ vào hộ khẩu thường trú của đương sự để xác
định thẩm quyền thụ lý, giải quyết theo quy định chung của pháp luật tố tụng, mặc

6

Xem Điều 30 Luật Cư trú 2006, sửa đổi 2013.
Xem khoản 3 Điều 39 BLTTDS năm 2015.
8
Trường Đại học Kinh tế - Luật (2016), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, Nhà xuất bản Đại học quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh, tr 87.
7


13

dù đương sự thay đổi nơi cư trú nhưng thực chất họ cũng biết được rằng Tòa án
đang thụ lý, giải quyết vụ án vì họ đã nhận được quyết định chuyển vụ án. Họ cố
tình cản trở hoặc khơng tham gia tố tụng là họ tự từ bỏ quyền tố tụng của mình, từ
bỏ quyền trình bày để bảo vệ quyền lợi của chính họ. Nếu Tịa án có khó khăn trong

việc tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho đương sự thì hồn tồn có thể áp
dụng việc niêm yết công khai, đây cũng được xem là một cách tống đạt hợp lệ và
được quy định cụ thể tại Điều 179 BLTTDS 20159.
Kiến nghị thứ nhất: Đối với quy định nêu tại Điều 41 BLTTDS 2015 cần có
sự nghiên cứu và hồn thiện hơn để hạn chế được việc đương sự lợi dụng điểm này
kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Dựa trên các kết quả phân tích và bất cập thực tế
trong cơng tác giải quyết án, tác giả kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao
nên có văn bản hướng dẫn quy định tại Điều 41 BLTTDS 2015 theo hướng: “Vụ án
dân sự đã được thụ lý mà không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tịa án đã thụ lý
thì Tịa án đó ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tịa án có thẩm quyền, trừ
trường hợp Tịa án xét thấy đương sự có hành vi cố ý gây cản trở cho cơng tác giải
quyết án thì Tịa án khơng chuyển vụ án mà tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục
chung”.
Ví dụ thứ hai: TAND huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải
quyết việc dân sự về “u cầu cơng nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con,
chia tài sản chung” đối với người yêu cầu là chị Huỳnh Thị Hồng Vân và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Thanh Phú. Tịa án tiến hành hịa giải
đồn tụ nhưng không thành, anh Phú vẫn tiếp tục yêu cầu ly hôn, chị Vân không
đồng ý ly hôn và thay đổi ý kiến đã thỏa thuận về nuôi con, chia tài sản chung.
TAND huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định đình chỉ giải quyết
việc dân sự và thụ lý VADS để giải quyết theo quy định tại khoản 5 Điều 397
BLTTDS 2015. Chị Vân và anh Phú đã ly thân, tại thời điểm Tòa án giải quyết thì
chị Vân đang sinh sống và làm việc tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương,
anh Phú đang sinh sống và làm việc tại huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi TAND huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý VADS đã ra quyết
9

Xem Điều 179 BLTTDS 2015.



14

định chuyển vụ án đến TAND thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương giải quyết
theo thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015. Sau khi
TAND thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thụ lý vụ án thì lại căn cứ theo
quy định tại khoản 5 Điều 397 BLTTDS 2015 chuyển hồ sơ cho TAND huyện Nhà
Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, xảy ra tranh chấp về thẩm quyền giữa hai Tòa án.
Trong trường hợp này, Tòa án sẽ xử lý như thế nào khi BLTTDS 2015 khơng
có quy định cụ thể rằng Tịa án đã đình chỉ việc dân sự về cơng nhận thuận tình ly
hơn, thỏa thuận ni con, chia tài sản khi ly hơn thì tiếp tục giải quyết vụ án mà
không căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn để chuyển cho Tịa án khác có thẩm quyền.
Hoặc, sau khi Tịa án đã đình chỉ việc dân sự như trên thì căn cứ theo các quy định
của BLTTDS 2015 để xác định lại thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Việc chưa
được rõ tại điểm này nên làm cho các Tịa án lúng túng, khơng xác định được việc
có chuyển vụ án hay không, nếu không chuyển vụ án mà tiếp tục giải quyết khi sai
thẩm quyền của Tòa án thì sẽ bị hủy, sửa án là điều hồn tồn có thể xảy ra.
Theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 39 BLTTDS 201510 thì Tịa án nơi một
trong các bên thuận tình ly hơn, thỏa thuận ni con, chia tài sản khi ly hôn cư trú,
làm việc có thẩm quyền giải quyết u cầu cơng nhận thuận tình ly hơn, thỏa thuận
ni con, chia tài sản khi ly hơn. Trong q trình giải quyết u cầu cơng nhận
thuận tình ly hơn, thỏa thuận ni con, chia tài sản khi ly hơn, trường hợp Thẩm
phán tiến hành hịa giải đồn tụ khơng thành và các đương sự khơng thỏa thuận
được về việc chia tài sản, việc trông nom, ni dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì
Tịa án đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hơn, thỏa thuận
ni con, chia tài sản khi ly hôn và thụ lý vụ án để giải quyết theo quy định tại
khoản 5 Điều 397 BLTTDS 201511.
Thực tiễn cho thấy, có nhiều trường hợp khi chuyển hồ sơ việc dân sự thành
VADS thì Tịa án đang giải quyết lại khơng phải là Tịa án nơi cư trú, làm việc của
bị đơn và cũng khơng ít trường hợp bị đơn gây khó khăn nhằm kéo dài vụ án. Về
vấn đề này, hiện nay cũng đang có nhiều quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc xác định Tịa án nào có thẩm quyền giải
quyết vụ án cần phải căn cứ theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 39 của
10
11

Xem điểm h khoản 2 Điều 39 BLTTDS 2015.
Xem khoản 5 Điểu 397 BLTTDS 2015.


15

BLTTDS 2015. Tòa án nơi cư trú của bị đơn sẽ có điều kiện làm việc thuận lợi hơn
Tịa án nơi khác nếu thụ lý và giải quyết vụ việc, tại địa phương thì Tịa án có hiểu
biết nhất định về địa giới hành chính, thuận lợi trong cơng tác tống đạt văn bản tố
tụng, có mối quan hệ với các cơ quan hữu quan để hỗ trợ khi đương sự khơng hợp
tác làm việc hoặc có những hành vi khác cản trở hoạt động tố tụng của Tịa án.
Ngồi ra, để thuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp và đảm bảo công bằng giữa
những người tham gia tố tụng thì người bị động trong việc tham gia tố tụng cần phải
có những lợi thế hơn so với người ở thế chủ động trong việc thực hiện quyền tự bảo
vệ của mình. Việc khởi kiện của nguyên đơn sẽ làm cho bị đơn buộc phải tham gia
tố tụng, trong khi đó họ chỉ là người được suy đốn xâm phạm tới quyền lợi của
nguyên đơn, cho nên họ cần được tạo điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện quyền tự
bảo vệ mình trước Tịa án.
Quan điểm thứ hai lại cho cho rằng, theo quy định tại khoản 5 Điều 397
BLTTDS 2015 thì đây là quy định cho trường hợp cụ thể khi đình chỉ giải quyết
việc dân sự về cơng nhận thuận tình ly hơn, thỏa thuận ni con, chia tài sản khi ly
hôn và thụ lý vụ án để giải quyết. Quy định này là quy định ẩn về việc không thay
đổi thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án, kể cả trong trường hợp Tòa án thụ lý
vụ án khơng phải là Tịa án nơi cư trú, làm việc của bị đơn12.
Theo quan điểm của một vị Thẩm phán TAND tối cao13 thì ủng hộ quan điểm

thứ hai, ông cho rằng không phải chuyển VADS trong trường hợp này vì tại khoản
5 Điều 397 BLTTDS 2015 đã chỉ rõ là không phải phân công lại Thẩm phán giải
quyết vụ án thì đương nhiên phải hiểu rằng Tòa án và Thẩm phán đang giải quyết
tiếp tục giải quyết vụ án mà không cần chuyển vụ án. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng
nếu không chuyển vụ án như trong trường hợp nêu trên thì có thể gây một số khó
khăn nhất định và mất thời gian cho Tịa án nếu đương sự cố tình khơng hợp tác làm
việc.
Qua nghiên cứu các quy định của BLTTDS 2015, tác giả thấy rằng: Với quy
định tại khoản 5 Điều 397 BLTTDS 2015 thì về cơ bản các nhà làm luật đã khắc
12

Kim Quỳnh (2018), Bàn về thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều 397 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/ban-ve-tham-quyen-cua-toa-an-theo-quy-dinh-taikhoan-5-dieu-397-cua-bo-luat-to-tung-dan-su, truy cập ngày 29-10-2018.
13
Chu Xuân Minh, Thẩm phán, thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thuyết giảng tại
buổi trao đổi nghiệp vụ trực tuyến cho hệ thống Tòa án trên cả nước ngày 29-10-2018.


16

phục những bất cập trong giải quyết việc dân sự u cầu cơng nhận thuận tình ly
hơn, thỏa thuận ni con, chia tài sản khi ly hôn trong trường hợp hịa giải đồn tụ
khơng thành, các đương sự khơng thỏa thuận được về việc chia tài sản, việc trông
nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con của BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung năm
2011 và tạo thuận lợi cho đương sự trong giải quyết vụ, việc dân sự. Tuy nhiên, quy
định này đã không bao quát được trường hợp như nêu ở trên.
Theo quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 về thẩm
quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì thẩm quyền giải quyết VADS của Tòa án theo
lãnh thổ được xác định dựa vào nơi cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc
nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức. Các đương sự cũng có quyền

tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của
nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu
nguyên đơn là cơ quan, tổ chức. Như vậy, trong trường hợp trên thì Tịa án có
thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nơi cư trú, làm việc của bị đơn hoặc Tòa án
nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn trong trường hợp các đương sự tự thỏa thuận
với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn giải
quyết.
Tại khoản 5 Điều 397 BLTTDS 2015 quy định: “…Việc giải quyết vụ án được
thực hiện theo thủ tục chung”. Quy định này có thể hiểu là bao gồm cả việc xác
định Tịa án có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của BLTTDS 2015. Nếu
hiểu khoản 5 Điều 397 là quy định ẩn về việc không thay đổi thẩm quyền của Tòa
án đang giải quyết vụ án thì sẽ rất khó khăn cho việc giải quyết vụ án trong trường
hợp bị đơn khơng có thiện chí, gây cản trở hoạt động tố tụng. Tòa án sẽ khó khăn
trong cơng tác tống đạt các văn bản tố tụng, quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ,
thực hiện việc thẩm định, định giá tài sản tranh chấp (nếu có), thực hiện việc ủy
thác tư pháp,... Bên cạnh đó, Điều 41 BLTTDS 2015 về chuyển vụ việc cho Tòa án
khác có quy định như sau: “Vụ việc dân sự đã được thụ lý mà không thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tịa án đã thụ lý thì Tịa án đó ra quyết định chuyển hồ sơ
vụ việc dân sự cho Tịa án có thẩm quyền và xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý”.
Do đó, tác giả đồng tình với với quan điểm thứ nhất, tức là, khi hòa giải đồn
tụ khơng thành và các đương sự khơng thỏa thuận được về việc chia tài sản, việc
trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Tịa án ra quyết định đình chỉ


17

giải quyết việc dân sự và thụ lý vụ án để giải quyết cũng cần xác định lại thẩm
quyền giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 39 BLTTDS 2015. Để bảo đảm
quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự, đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho
Tịa án giải quyết vụ án. Theo tác giả thì trong trường hợp Tòa án đang giải quyết

đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì Tịa
án đang giải quyết vụ án tiếp tục giải quyết vụ án. Trường hợp Tòa án đang giải
quyết vụ án khơng phải là Tịa án nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì tùy từng trường
hợp cụ thể mà xử lý như sau: Nếu bị đơn phản đối về thẩm quyền giải quyết vụ án
hoặc có văn bản đề nghị chuyển vụ án cho Tòa án nơi cư trú, làm việc của bị đơn để
giải quyết thì Tịa án đang giải quyết vụ án áp dụng điểm a khoản 1 Điều 39 và
khoản 1 Điều 41 BLTTDS 2015 ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nơi
cư trú, làm việc của bị đơn giải quyết. Nếu bị đơn có văn bản đề nghị Tòa án đang
giải quyết vụ án tiếp tục giải quyết vụ án thì Tịa án đang giải quyết vụ án áp dụng
điểm b khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Kiến nghị thứ hai: Để bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật, tác giả
kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao cần sớm ban hành văn bản hướng
dẫn cụ thể về vấn đề này. Đối với khoản 5 Điều 397 BLTTDS 2015 thì cần quy
định theo hướng:
“Trường hợp hịa giải đồn tụ khơng thành và các đương sự khơng thỏa thuận
được về việc chia tài sản, việc trông nom, ni dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì
Tịa án đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hơn, thỏa thuận
ni con, chia tài sản khi ly hôn và thụ lý vụ án để giải quyết. Tòa án đang thụ lý,
giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật này thì Tịa án khơng phải
thông báo về việc thụ lý vụ án, không phải phân cơng lại Thẩm phán giải quyết vụ
án. Tịa án đang thụ lý, giải quyết không đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ
luật này thì phải chuyển vụ án cho Tịa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định
tại Điều 41, trừ trường hợp các đương sự có thỏa thuận khác”.
1.2. Căn cứ thẩm quyền của Tòa án theo cấp
TAND cấp huyện thụ lý VADS nhưng trong quá trình giải quyết phát sinh
tình tiết mới của vụ án làm thay đổi thẩm quyền giải quyết. Tòa án cấp huyện
khơng có thẩm quyền để tiếp tục giải quyết vụ án, vụ án phải được Tòa án cấp
trên thụ lý, giải quyết thì mới đảm bảo trình tự tố tụng và có đủ các điều kiện



18

thuận lợi hơn (Điều kiện thực hiện các thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài,
điều kiện về thẩm quyền hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo luật
định,...). Trong quá trình áp dụng BLTTDS 2015, vấn đề thực tế chuyển VADS
theo cấp Tòa án cũng phát sinh một số bất cập, gây khó khăn trong cơng tác áp
dụng pháp luật của Tịa án, có nhiều cách hiểu chưa thống nhất. Vả lại, Tòa án
cấp huyện là cấp dưới trực tiếp, chịu sự quản lý, điều hành của Tòa án cấp tỉnh,
nên trong một số trường hợp việc có được chuyển vụ án lên cấp trên hay khơng
là do Tòa án cấp tỉnh hướng dẫn và quyết định, Tịa án cấp huyện phải tn thủ.
Ví dụ thứ ba: TAND huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý
vụ án kinh doanh thương mại về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”
giữa ngun đơn là Cơng ty TNHH Giải Pháp Máy Tính với bị đơn là Công ty
TNHH Thành Công. Công ty TNHH Giải Pháp Máy Tính có cung cấp 01 sản
phẩm phần mềm định danh dùng để cài đặt máy tính cho Cơng ty TNHH Thành
Cơng. Trong q trình sử dụng phần mềm có xảy ra lỗi kỹ thuật nên bị đơn chưa
thanh toán đủ tiền cho nguyên đơn. Công ty TNHH Giải Pháp Máy Tính cũng
cho rằng mình chỉ là đại lý cấp 1 cung cấp sản phẩm phần mềm này, sản phẩm
này bản quyền do Công ty Sunway E-Systems (Singapore) cung cấp. Thỏa thuận
giữa hai Công ty về các vấn đề liên quan đến cài đặt phần mềm, hướng dẫn vận
hành, bảo hành, bảo trì liên quan đến sản phẩm đều do nguyên đơn thực hiện
dưới sự giám sát của Công ty Sunway E-Systems. TAND huyện Bình Chánh xác
định tư cách của Cơng ty Sunway E-Systems (Singapore) là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong vụ án nên căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1
Điều 37 và Điều 41 BLTTDS 2015 chuyển VADS đến TAND Thành phố Hồ Chí
Minh. TAND Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án, sau đó ban hành quyết định
chuyển vụ án cho TAND huyện Bình Chánh với lý do khơng cần phải đưa Công
ty Sunway E-Systems (Singapore) vào vụ án với tư cách là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan mà chỉ xác định nguyên đơn là Công ty TNHH Giải Pháp
Máy Tính và bị đơn là Cơng ty TNHH Thành Công để giải quyết vụ án.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 35 BLTTDS 2015 14 quy định trường hợp
có đương sự ở nước ngồi thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh.
Pháp luật tố tụng quy định thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh là để Tòa án
14

Xem khoản 3 Điều 35 BLTTDS 2015.


19

cấp tỉnh có thể thực hiện các thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngồi, có điều kiện
thuận lợi hơn Tòa án cấp huyện, giúp việc giải quyết vụ án được nhanh chóng.
Trong trường hợp này theo quan điểm của tác giả thì vấn đề chưa rõ ở chỗ
xác định tư cách tố tụng của đương sự, Công ty Sunway E-Systems (Singapore)
là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án nhưng Tịa án Thành phố
Hồ Chí Minh xác định không liên quan là chưa đúng, ảnh hưởng đến quyền lợi
của Công ty Sunway E-Systems, đưa thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
của vụ án vào tham gia tố tụng. Nếu trường hợp rơi vào khoản 3 Điều 35 thì bắt
buộc phải chuyển vụ án, Tịa án cấp huyện khơng chuyển thì sau khi xét xử nếu
bản án bị sửa, hủy thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm đối với hậu quả của việc
giải quyết không đúng thẩm quyền. Theo quan điểm tác giả thì trường hợp trên
phải được xác định là có yếu tố nước ngồi, TAND Thành phố Hồ Chí Minh
phải thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung mà không chuyển vụ án lại cho TAND
huyện Bình Chánh. Việc căn cứ vào thẩm quyền theo cấp Tòa án để chuyển vụ
án có phát sinh nhiều vấn đề bất cập, Tịa án cấp huyện khơng chỉ căn cứ vào
luật mà cịn phải chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn mang tính nội bộ từ TAND cấp
tỉnh. Khi Tòa án cấp tỉnh đã chuyển vụ án về thì Tịa án cấp huyện khơng được
phép chuyển lại mà bắt buộc phải giải quyết dù việc này nếu căn cứ vào pháp
luật tố tụng là chưa đúng.
Ví dụ thứ tư: TAND huyện Gị Dầu thụ lý vụ án “Tranh chấp đòi lại tài

sản là quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Nguyễn Minh Châu và bị đơn
ơng Nguyễn Văn Lách. Ơng Châu và ơng Lách là anh em ruột, vụ án thụ lý vào
tháng 8-2018 (sau ngày Luật Tố tụng hành chính 2015 có hiệu lực). Trước khi
mất, cha mẹ có chia đều tài sản cho các anh chị em, lúc chia đất thì các phần đất
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Ông Châu đi làm ăn xa nên
phần đất của ông Châu có nhờ ơng Lách trơng coi, ơng Lách làm giả các loại
văn bản thừa kế và đi kê khai đăng ký thì được Ủy ban nhân dân huyện Gị Dầu
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lách. Trong q trình giải
quyết án thì ơng Châu u cầu ông Lách trả lại phần đất này cho ông và đồng
thời hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện Gò
Dầu đã cấp cho ông Lách. TAND huyện Gò Dầu căn cứ vào nội dung vụ án nên
đã chuyển cho TAND tỉnh Tây Ninh giải quyết theo thẩm quyền. TAND tỉnh Tây
Ninh thụ lý, sau đó có quyết định chuyển lại cho TAND huyện Gò Dầu giải quyết


20

với lý do, yêu cầu của anh Châu là không có căn cứ nên việc hủy giấy chứng
nhận cũng khơng thực hiện, Tòa án Tây Ninh trả hồ sơ cho Tòa án Gò Dầu giải
quyết theo thẩm quyền.
Căn cứ quy định tại Điều 34 BLTTDS 2015 thì thẩm quyền của Tòa án giải
quyết VADS được xác định theo quy định tương ứng của Luật Tố tụng hành chính.
Trong thời gian qua, giữa Tịa án và Viện kiểm sát đã có văn vản hướng dẫn về
thẩm quyền giải quyết đối với vụ án dân sự có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Tuy nhiên nội dung hướng dẫn giữa hai ngành còn nhiều điểm chưa
thống nhất. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giải quyết án cũng như
những người làm công tác giải quyết án của Tịa án và Viện kiểm sát chưa thật sự
quyết đốn, còn do dự, băn khoăn trong việc thực thi các quy định của pháp luật15.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được xem là quyết định hành chính, là đối
tượng khởi kiện của vụ án hành chính16. Trong trường hợp trên, đương sự có yêu

cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được hiểu rằng đó là u cầu hủy
quyết định hành chính. Quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện thì
TAND cấp tỉnh mới có quyền hủy. Trong trường hợp trên, Tịa án thụ lý, giải quyết
vụ án cũng được Tòa án cấp trên hướng dẫn nếu có căn cứ rõ ràng, chắc chắn sẽ hủy
quyết định hành chính thì mới được chuyển vụ án đến TAND cấp tỉnh. Như vậy, tác
giả hiểu được rằng TAND cấp tỉnh nếu đồng ý thụ lý và giải quyết vụ án thì quyết
định hành chính trong vụ án đó chắc chắn sẽ bị hủy và ngược lại. Việc quyết định
hành chính có bị hủy hay khơng thì chỉ khi bản án hoặc quyết định có hiệu lực thì
mới chắc chắn được điều này. Mối quan hệ giữa Tòa án cấp tỉnh với Tòa án cấp
huyện tại nước ta là mối quan hệ theo chiều dọc, Tòa án cấp huyện chịu sự quản lý,
chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp của Tòa án cấp tỉnh nên vấn đề chuyển vụ án theo cấp
Tịa án trên thực tế có một số khó khăn nhất định, điển hình là trong hai trường hợp
tác giả nêu trên.

15

Vũ Thị Thu (2018), Vướng mắc về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với VADS có yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 14/2018, trang 54, 56.
16
Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của TAND tối cao về một số vấn đề về tố tụng hành chính,
tố tụng dân sự.


×