Tải bản đầy đủ (.pdf) (98 trang)

Cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.76 MB, 98 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

TRƢƠNG THỊ KIỀU NGÂN

CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THƠNG TẠI
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC Ở ĐỊA PHƢƠNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THƠNG TẠI
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC Ở ĐỊA PHƢƠNG

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật hành chính
Mã số: 60.38.01.02

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Vũ Văn Nhiêm
Họ và Tên: Trƣơng Thị Kiều Ngân
Lớp: Cao học Luật Khóa 1 – Vĩnh Long

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn “Cơ chế một cửa, một cửa liên thơng tại cơ
quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng” là kết quả của quá trình nghiên cứu,
tổng hợp của bản thân tơi, nội dung, số liệu trong luận văn là trung thực và chưa


được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Vũ Văn Nhiêm.

Vĩnh Long, ngày 12 tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn

Trƣơng Thị Kiều Ngân


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TTHC
: Thủ tục hành chính
CCMC, CCMCLT : Cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông
UBND
: Ủy ban nhân dân


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn ............................................ 2
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu ........................................................... 5
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................... 6
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu ................................................... 6
6. Những đóng góp mới của luận văn ......................................................................... 7
7. Kết cấu của luận văn ................................................................................................. 7
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ................................................. 8
CƠ CHẾ MỘT CỬA, CƠ CHẾ MỘT CỬA LIÊN THƠNG TẠI CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC Ở ĐỊA PHƢƠNG....................................................... 8

1.1. Khái quát chung về cơ chế một cửa ..................................................................... 8
1.1.1. Khái niệm .......................................................................................................... 8
1.1.2. Bản chất .......................................................................................................... 10
1.1.3. Đặc điểm ......................................................................................................... 13
1.1.4. Lịch sử hình thành và phát triển ..................................................................... 14
1.1.5. Quy trình thực hiện cơ chế một cửa ................................................................ 15
1.2. Khái quát chung về cơ chế một cửa liên thông ................................................. 18
1.2.1. Khái niệm ........................................................................................................ 18
1.2.2. Bản chất ........................................................................................................... 19
1.2.3. Đặc điểm ......................................................................................................... 20
1.2.4. Lịch sử hình thành và phát triển ..................................................................... 21
1.2.5. Quy trình thực hiện cơ chế một cửa liên thông ............................................... 22
1.3. Nguyên tắc thực hiện, cơ quan và phạm vi áp dụng cơ chế một cửa, cơ chế
một cửa liên thông ....................................................................................................... 25
1.3.1. Nguyên tắc thực hiện ....................................................................................... 25
1.3.2. Cơ quan áp dụng ............................................................................................. 27
1.3.3. Phạm vi áp dụng.............................................................................................. 29
1.4. Chu trình làm việc tại nội bộ cơ quan hành chính nhà nƣớc ......................... 30
1.4.1. Khái niệm Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả................................................... 30


1.4.2. Vị trí của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả .................................................... 31
1.4.3. Diện tích làm việc, trang thiết bị của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ............. 31
1.4.4. Công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả .............................. 32
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ........................................................................................... 35
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CƠ CHẾ MỘT CỬA, CƠ CHẾ MỘT CỬA LIÊN
THƠNG TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC .............................. 36
Ở ĐỊA PHƢƠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN .............................. 36
2.1. Khái quát về các địa bàn khảo sát...................................................................... 36
2.1.1. Tỉnh Long An ................................................................................................... 36

2.1.2. Tỉnh Vĩnh Long ................................................................................................ 36
2.1.3. Tỉnh Đồng Tháp .............................................................................................. 36
2.2. Thực trạng cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại các địa bàn khảo
sát ................................................................................................................................... 37
2.2.1. Công bố thủ tục hành chính thực hiện theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa
liên thông ................................................................................................................... 37
2.2.2. Công khai thủ tục hành chính thực hiện theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa
liên thông ................................................................................................................... 41
2.2.3. Quyết định về thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông ............. 43
2.2.4. Quy chế hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả .............................. 45
2.2.5. Công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả .............................. 47
2.2.6. Diện tích, trang thiết bị làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả .............. 52
2.2.7. Quy trình thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông .................... 55
2.2.8. Kết quả giải quyết thủ tục hành chính khi áp dụng cơ chế một cửa, cơ chế một
cửa liên thông ............................................................................................................ 55
2.3. Nhận xét, đánh giá việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông
tại các địa bàn khảo sát ............................................................................................... 58
2.3.1. Ưu điểm ........................................................................................................... 58
2.3.2. Hạn chế, bất cập và nguyên nhân ................................................................... 60
2.4. Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thơng tại
các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng .................................................... 67


2.4.1. Ban hành Nghị định quy định về việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một
cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
67
2.4.2. Quy định bắt buộc hình thức cơng khai TTHC trên trang thông tin điện tử của
cơ quan thực hiện thủ tục hành chính ....................................................................... 69
2.4.3. Hình thành đội ngũ cơng chức chuyên nghiệp làm việc tại Bộ phận tiếp nhận
và trả kết quả ............................................................................................................. 70

2.4.4. Quy định rõ một số thủ tục hành chính khơng thực hiện theo cơ chế một cửa ...
................................................................................................................................... 71
2.4.5. Thực hiện công tác đánh giá mức độ hài lòng của người dân về việc thực hiện
cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông ............................................................... 71
2.4.6 Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho các cơ quan chuyên môn ..................... 72
2.4.7. Thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một
cửa liên thông ............................................................................................................ 72
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ........................................................................................... 73
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công cuộc cải cách hành chính giai đoạn 1991 - 2000 đã góp phần quan
trọng vào sự nghiệp đối mới và phát triển của đất nước. Tiếp tục quá trình đổi mới,
ngày 17/9/2001 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg
phê duyệt “Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 2010”. Trên cơ sở những kết quả đạt được khi thực hiện Chương trình tổng thể cải
cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010, ngày 08/11/2011 Chính phủ đã
ban hành Nghị quyết 30c/NQ-CP về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà
nước giai đoạn 2011 - 2020.
Một trong những nội dung trọng tâm trong các chương trình cải cách hành
chính ở trên là cải cách TTHC, đổi mới phương thức phục vụ của cơ quan nhà nước,
giảm sự phiền hà và hạn chế sự nhũng nhiễu của cán bộ, công chức khi giải quyết
TTHC cho người dân. Trước đây, khi chưa thực hiện CCMC, CCMCLT vấn đề giải
quyết TTHC của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương cịn nhiều hạn chế,
người dân khi thực hiện các thủ tục thường mất nhiều thời gian và phải làm việc trực
tiếp với các cán bộ, công chức nên thường bị trạng sách nhiễu. Hơn nữa giai đoạn
nước ta chuyển sang thời kỳ mở cửa đã nảy sinh nhiều thủ tục khác cần phải giải

quyết mà thực hiện theo phương pháp cũ khơng cịn thích hợp nữa. Nhằm tạo điều
kiện cho các tổ chức, công dân đến làm thủ tục và khắc phục những vấn đề nêu trên,
ngày 22/6/2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 93/QĐ-TTg về Quy
chế thực hiện CCMC, CCMCLT tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Trong thời gian qua, CCMC, CCMCLT đã góp phần làm thay đổi một bước
mối quan hệ giữa chính quyền và người dân, tổ chức theo hướng hành chính phục
vụ, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp khi đến giao dịch với cơ quan hành
chính, giảm được tình trạng cơng dân, tổ chức phải đi lại nhiều lần, gặp nhiều cơ
quan, nhiều cấp hành chính để giải quyết cơng việc. Thơng qua đó, tạo điều kiện để
chính quyền gần dân hơn, chống tệ quan liêu, hách dịch, cửa quyền trong đội ngũ
cán bộ, công chức. Việc triển khai CCMC, CCMCLT gắn liền với đơn giản hóa
TTHC, cải cách phương thức làm việc của cơ quan hành chính đã nâng cao tính
chuyên nghiệp, hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền địa phương. Để nâng
cao hơn nữa chất lượng thực hiện CCMC, CCMCLT, đáp ứng yêu cầu ngày càng


2
cao của người dân, doanh nghiệp, ngày 25/3/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành
Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg thay thế Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày
22/6/2007 về Quy chế thực hiện CCMC, CCMCLT tại cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương.
Tuy nhiên, trên thực tế CCMC, CCMCLT tại cơ quan hành chính nhà nước ở
địa phương cịn gặp nhiều khó khăn, chẳng hạn như Bộ phận tiếp nhận và trả kết
quả của cấp huyện tại nhiều nơi đã bị phân tán về các phịng chun mơn khơng
đúng với quy định... Do đó, trên thực tế CCMC, CCMCLT tại cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương cịn nhiều vấn đề cần làm rõ. Bên cạnh đó, trong q trình
thực hiện CCMC, CCMCLT còn xảy ra hiện tượng người dân bị “ngâm” hồ sơ hành
chính hoặc bị “làm khó” khi thực hiện TTHC. Như vậy, trong quá trình thực hiện
các cơ chế trên tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương còn bộc lộ nhiều bất
cập, nhưng những bất cập này chưa được làm rõ, chưa được đánh giá một cách

khách quan và toàn diện để hoàn thiện.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Cơ chế một cửa, cơ chế
một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông hiện nay đã được triển khai rộng
rãi tại các cơ quan hành chính nhà nước. Do đó, đã có khá nhiều cơng trình nghiên
cứu về vấn đề này trên một số phương diện khác nhau, cụ thể các bài viết như sau:
Nguyễn Thị Bích Ngân (2014), Bài viết “Việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa
liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương - Thực trạng và một số đề
xuất, kiến nghị” đăng trên trang http://kstthc.moj.gov.vn. Trong bài viết này, tác giả
đã tóm tắt kết quả của việc triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông
tại các cơ quan hành chính nhà nước địa phương, chỉ ra một số hạn chế, bất cập khi
triển khai cơ chế này, trong đó theo tác giả bất cập chủ yếu hiện nay là mơ hình một
cửa, một cửa liên thơng được tổ chức khơng thống nhất giữa các địa phương, vẫn
cịn tình trạng công chức những nhiễu, hạch sách người dân khi người dân làm thủ
tục, công chức của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả còn hạn chế về chuyên mơn
nghiệp vụ và khơng có động lực thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Trên cơ sở phân
tích ngun nhân của một số hạn chế, bất cập, tác giả đề xuất một số giải pháp để


3
hồn thiện cơ chế một cửa, một cửa liên thơng, trong đó có yêu cầu việc ban hành
một Quyết định mới thay thế Quyết định số 93/2007/TTg ngày 22/6/2007 về Quy
chế thực hiện CCMC, CCMCLT tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; Tạ
Thị Hải Yến (2014), Bài viết “Cần sớm hoàn thiện Dự thảo Quyết định thay thế
Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg về cơ chế một cửa, một cửa liên thông” đăng trên
trang http://kstthc.moj.gov.vn. Trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra những lý do để
chứng minh cho việc cần nhanh chóng ban hành Quyết định mới thay thế Quyết
định số 93/2007/QĐ-TTg. Tác giả cũng tiến hành việc phân tích và bình luận một

số quy định mới trong Dự thảo Quyết định thay thế Quyết định số 93/2007/QĐTTg, trong đó đáng chú ý là những phân tích của tác giả về nội hàm của khái niệm
CCMC, CCMCLT; về vị trí, tổ chức, hoạt động, biên chế và tên gọi của Bộ phận
tiếp nhận và trả kết quả; về những TTHC cần áp dụng cơ chế một cửa liên thơng...
Trên cơ sở những phân tích của mình, tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế một
số quy định trong Dự thảo mới về Quyết định ban hành quy chế về cơ chế một cửa,
một cửa liên thông; Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước (2009), Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả cơ chế “Một cửa”
tại xã, phường, thị trấn” do TS. Nguyễn Thị Minh Tâm làm chủ nhiệm đề tài. Đề
tài đã làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng cơ chế “một cửa” tại
cơ quan hành chính nhà nước ở cấp xã, đồng thời để xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả việc thực hiện cơ chế này. Tuy nhiên, đề tài chỉ dừng lại ở việc nghiên
cứu cơ chế một cửa áp dụng tại cấp xã mà chưa đề cập đến mơ hình một cửa liên
thơng; Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên Huế (2013), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh
“Xây dựng mơ hình thí điểm thống nhất tổ chức, tiếp nhận giải quyết TTHC theo cơ
chế một cửa cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”. Trong cơng
trình này, các tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và đề xuất các giải pháp nhằm
đưa mơ hình một cửa vận hành theo hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008
cho cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, cơng trình mới
chỉ dừng lại về việc nghiên cứu cơ chế một cửa ở cấp huyện và cấp xã, mà chưa đề
cập đến cơ chế một cửa liên thông; Trương Đắc Linh (2007), Bài viết “Một dấu
trong cơ chế một cửa một dấu của chính quyền quận huyện thành phố Hồ Chí
Minh: Ý tưởng đột phá nhưng thực hiện nửa vời, trái pháp luật và không khả thi”
đăng trên Tạp chí Khoa học Pháp lý số 6 (12/2007). Trong cơng trình này, tác giả đã
chỉ ra những hạn chế trong việc áp dụng cơ chế một cửa, một dấu ở thành phố Hồ
Chí Minh, chỉ ra những cơ sở lý luận và pháp lý để chứng minh tính trái pháp luật


4
và tính khơng khả thi của cơ chế này. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải
pháp nhằm hoàn thiện cơ chế một cửa, một dấu. Tuy nhiên, thời điểm mà tác giả

nghiên cứu thành phố Hồ Chí Minh chưa trình khai cơ chế một cửa liên thông nên
tác giả chưa luận giải về cơ chế này; Trần Văn Tuấn (2010), Bài viết “Cải cách
TTHC và cơ chế một cửa, một cửa liên thông” đăng trên Tạp chí Cộng sản số 6
(198). Tác giả đã trình bày một cách khái quát về quá trình cải cách hành chính tại
Việt Nam, nêu thực trạng cải cách TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thơng
từ khi có Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg. Trong bài viết, tác giả cũng chỉ ra một số
hạn chế và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế một cửa, một cửa liên
thơng tại cơ quan hành chính nhà nước; Vũ Thành Nam (2006), “Xây dựng mơ hình
TTHC một cửa liên thông trong lĩnh vực thu hút đầu tư từ thực tiễn tỉnh Bình
Phước”, Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính cơng - Học viện Hành chính Quốc
gia. Trong cơng trình này tác giả đã chỉ ra những cơ sở cho việc áp dụng mơ hình
một cửa liên thơng để hỗ trợ các nhà đầu tư trong việc thực hiện các TTHC về đầu
tư. Tuy nhiên, cơng trình này chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu cách thức giải
quyết TTHC theo mơ hình một cửa liên thơng đối với một lĩnh vực cụ thể; Nguyễn
Phương Bắc (2006), “Mơ hình một cửa trong giải quyết TTHC tại UBND thành phố
Cà Mau - thực trạng và giải pháp đổi mới”, Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính
cơng - Học viện Hành chính Quốc gia. Trong cơng trình này tác giả đã làm rõ nhiều
nội dung về việc giải quyết TTHC trên địa bàn thành phố Cà Mau, đề tài đã chỉ ra
một cách tổng quá việc giải quyết TTHC theo mơ hình mới, nhưng cơng trình này
cũng chỉ mới dừng lại ở việc đề cập đến cơ chế một cửa và không đề cập đến cơ chế
một cửa liên thông; Phạm Huy Thông (2008), “Cơ chế một cửa liên thông tại thành
phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ luật học - Đại học luật thành phố Hồ Chí
Minh. Trong cơng trình này tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về cơ
chế một cửa liên thơng: khái niệm, vai trị và các ngun tắc của TTHC; khái niệm
và sự cần thiết của cơ chế một cửa, cơ chế liên thông. Tác giả cũng khái quát và
phân tích thực tế áp dụng cơ chế một cửa liên thông tại các sở, ngành và quận,
huyện của thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở những những ưu điểm và hạn chế mà
tác giả đã phân tích trong phần thực trạng, tác giả đã đề xuất một số định hướng và
giải pháp hồn thiện mơ hình cơ chế liên thơng theo hướng xây dựng nền hành
chính hiện đại; Nguyễn Đức Vượng (2010), “Nâng cao hiệu quả cơ chế một cửa

trong cơng tác quản lý hành chính nhà nước tại UBND cấp phường trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công - Học viện


5
Hành chính Quốc gia. Trong cơng trình này tác giả đã làm rõ thực trạng việc giải
quyết TTHC tại UBND phường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó
tác giả đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả việc thực hiện cơ chế một cửa. Tuy
nhiên, cũng giống các cơng trình trước, đề tài này chỉ mới đề cập đến cơ chế một
cửa tại cấp xã mà chưa đề cập đến cơ chế một cửa liên thông, và cũng chưa đề cập
đến cơ chế này tại cấp huyện và cấp tỉnh. Nhìn chung, đã có khá nhiều cơng trình
nghiên cứu về CCMC, CCMCLT tại các cơ quan hành chính nhà nước. Các cơng
trình này đã đề cập và phân tích nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn của cơ hai cơ
chế trên trong giải quyết TTHC cho người dân. Tuy nhiên, các công trình này hoặc
chỉ nghiên cứu cơ chế một cửa, hoặc chỉ nghiên cứu cơ chế một cửa liên thông và
phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở một cấp hành chính, hoặc chỉ là một cơ quan
hành chính nhà nước cụ thể. Vì vậy, những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế
một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương chưa
được đề cập và phân tích một cách có hệ thống. Mặt khác, các cơng trình nghiên
cứu ở trên đã được thực hiện từ lâu, trong khi thực tiễn về cơ chế này đã thay đổi rất
nhiều so với trước đây, do đó nhiều phân tích, luận giải của các tác giả đã khơng
cịn phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Như vậy, đề tài “CCMC, CCMCLT tại các cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương” là khơng trùng lặp với các cơng trình đã
cơng bố trước đó và cần thiết để quan tâm đầu tư nghiên cứu.
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là CCMC, CCMCLT tại các cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Cụm từ “cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương” trong đề tài được

dùng để chỉ các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (không bao gồm cơ
quan của Trung ương được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương) áp dụng
CCMC, CCMCLT theo quy định tại Quy chế thực hiện CCMC, CCMCLT tại cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương (ban hành kèm theo Quyết định số
09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ), gồm: cơ quan chun
mơn thuộc UBND cấp tỉnh; UBND cấp huyện; UBND cấp xã. Đề tài này nghiên
cứu CCMC, CCMCLT trong giai đoạn 2012 - 2015.Đề tài nghiên cứu thực tiễn tại


6
một số cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trên địa bàn: tỉnh Long An; tỉnh
Vĩnh Long; tỉnh Đồng Tháp.
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng các biện pháp nhằm góp phần
hồn thiện CCMC, CCMCLT tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
4.1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có một số nhiệm vụ cụ thể:
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý về CCMC,
CCMCLT áp dụng tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Thứ hai, đánh giá thực trạng áp dụng CCMC, CCMCLT tại các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương được khảo sát.
Thứ ba, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện CCMC, CCMCLT tại các ơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1.1Phương pháp luận
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận là
chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác-Lênin.
5.1.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp hệ thống: Phương pháp hệ thống được sử dụng khi tác giả phân
tích tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn trong Phần mở đầu.
Phương pháp tổng hợp, phân tích: Phương pháp tổng hợp, phân tích được sử
dụng trong việc tổng hợp, phân tích quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng
CCMC, CCMCLT tại các cơ quan được khảo sát áp dụng tại Chương 1 và Chương 2.
Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng trong việc thống kê
kết quả hoạt động tại các bộ phận tiếp nhận và trả kết quả áp dụng tại Chương 2.


7
Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Phương pháp nghiên cứu lịch sử được sử
dụng khi nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của CCMC, CCMCLT áp dụng
tại Chương 1.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Thứ nhất, luận văn làm rõ những vấn đề lý luận và pháp lý về CCMC,
CCMCLT tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Thứ hai, luận văn phản ánh thực trạng áp dụng CCMC, CCMCLT tại một số
cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; đánh giá những thành tựu cũng như
những hạn chế còn tồn tại của thực trạng và tìm ra được những nguyên nhân cơ bản
của những hạn chế đó.
Thứ ba, luận văn đề xuất một số giải pháp có thể được sử dụng để hồn thiện
các quy định của pháp luật và thực tế áp dụng CCMC, CCMCLT tại các cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chính của luận văn được kết cấu thành 2 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý về CCMC, CCMCLT tại các cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương.
Chương 2. Thực trạng CCMC, CCMCLT tại các cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương và một số giải pháp hoàn thiện.



8
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ
CƠ CHẾ MỘT CỬA, CƠ CHẾ MỘT CỬA LIÊN THÔNG TẠI CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC Ở ĐỊA PHƢƠNG

1.1. Khái quát chung về cơ chế một cửa
1.1.1. Khái niệm
Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt thì “cơ chế” được hiểu là “cách thức
theo đó một q trình thực hiện”1. Cịn theo Từ điển Le Petit Larousse (1999) thì cơ
chế (mécanisme) là “cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào
nhau”2. Như vậy, có thể hiểu “cơ chế” là cách thức hoạt động của hai hay nhiều chủ
thể liên quan trong hoạt động giải quyết các công việc chung. Trên cơ sở cách hiểu
về khái niệm “cơ chế”, chúng ta có thể làm rõ được khái niệm “cơ chế một cửa”.
Tuy nhiên, nếu ghép một cách máy móc cụm từ “cơ chế” với cụm từ “một cửa”3 thì
khơng thể giải thích và rất tối nghĩa.
Để hiểu được khái niệm “cơ chế một cửa”, chúng ta phải đặt nó trong bối
cảnh của cơng cuộc cải cách nói chung, cải cách TTHC nói riêng trong thời gian
qua của Chính phủ Việt Nam4. Theo đó, hiểu một cách đơn giản nhất, ở Việt Nam
trước đây và cả hiện nay trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước tồn tại rất
nhiều loại TTHC và mỗi loại TTHC trong đó thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều
cơ quan hành chính nhà nước. Do đó, khi cần “thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ của
mình”, các cá nhân, tổ chức phải liên hệ và gặp gỡ với rất nhiều cơ quan, cán bộ,
công chức nhà nước. Điều này gây mất nhiều thời gian, phiền hà và thậm chí là sự
lúng túng cho các cá nhân, tổ chức cần thực hiện TTHC, đồng thời việc này cũng
tạo “điều kiện thuận lợi” cho một số cán bộ, cơng chức hạch sách, nhũng nhiễu, vịi
vĩnh người dân. Rõ ràng điều này là không phù hợp với một Nhà nước của dân, do
dân và vì dân như Việt Nam chúng ta. Đứng trước thực trạng này, Chính phủ Việt
Nam đã tiến hành cải cách nền hành chính với nhiều nội dung khác nhau, trong đó

có nội dung xây dựng một chính quyền biết “phục vụ” người dân, và để thể hiện

1

Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, tr.214.
Dẫn lại từ website: https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipedia (Truy cập 27/6/2016).
3
Cụm từ “một cửa” không được Từ điển tiếng Việt định nghĩa, nó có nghĩa trực ngơn là “một cái cửa”.
4
Về lịch sử hình thành và phát triển của “cơ chế một cửa” sẽ được đề cập ở một mục riêng.
2


9
điều đó, trước mắt chính quyền phải nhận “khó khăn” về cho mình, tạo “thuận lợi”
tối đa cho người dân.
Chính vì lẽ trên, ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện khái niệm “cơ chế một cửa”
trong giải quyết TTHC cho người dân. Theo đó, tại các cơ quan hành chính nhà
nước sẽ thiết lập một bộ phận có tên gọi là “Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả”, bộ
phận này có nhiệm vụ “hướng dẫn TTHC, tiếp nhận hồ sơ của cá nhân, tổ chức để
chuyển đến các cơ quan chun mơn hoặc cấp có thẩm quyền giải quyết và nhận,
trả kết quả cho cá nhân, tổ chức”5. Như vậy, người dân khi cần liên hệ với cơ quan
nhà nước để thực hiện TTHC chỉ cần phải liên hệ với một đầu mối là Bộ phận tiếp
nhận và trả kết quả tại cơ quan hành chính nhà nước, bộ phận này là nơi tiếp xúc
đầu tiên và cũng là cuối cùng của người dân đối với cơ quan hành chính nhà nước.
Về cơ bản khái niệm “cơ chế một cửa” có thể hiểu như trên. Cách hiểu này
cũng được tìm thấy trong một số cơng trình nghiên cứu, chẳng hạn “cơ chế một cửa
được hiểu là phương thức thực hiện TTHC cho cá nhân, tổ chức thông qua một đầu
mối tiếp nhận và trả kết quả giải quyết TTHC”6. Tuy nhiên, theo quy định của pháp
luật thì nội hàm của khái niệm “cơ chế một cửa” không được hiểu như trên. Theo đó,

“cơ chế một cửa là cách thức giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức thuộc trách
nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước trong việc công khai
hướng dẫn TTHC, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một
đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính nhà nước”7.
Như vậy, theo quy định của pháp luật thì “cơ chế một cửa” được hiểu không
chỉ là việc tiếp nhận và trả kết quả của việc thực hiện TTHC cho người dân thơng
qua một đầu mối có tên là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, mà quan trọng hơn việc
thực hiện TTHC đó chỉ thuộc thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước.
Nội hàm của khái niệm “cơ chế một cửa” theo định nghĩa của pháp luật so với cách
hiểu thông thường chỉ khác ở một điểm là TTHC được thực hiện trong “cơ chế một
cửa” chỉ thuộc thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước. Thực chất, việc
định nghĩa như thế nhằm phân biệt với một khái niệm có liên quan khác, đó là khái
5

Thủ tướng Chính phủ (2015), Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương (ban hành kèm theo Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của
Thủ tướng Chính phủ), khoản 1 Điều 2.
6
Tạ Thị Hải Yến (2014), Cần sớm hoàn thiện Dự thảo Quyết định thay thế Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg
về cơ chế một cửa, một cửa liên thơng,
website: http://kstthc.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/ (27/6/2016)
7
Thủ tướng Chính phủ (2015), tlđd 5, khoản 1 Điều 1.


10
niệm “cơ chế một cửa liên thơng”8. Do đó, trong luận văn này nội hàm của khái
niệm “cơ chế một cửa” được hiểu theo quy định của pháp luật đã được dẫn chiếu ở
trên đây.
1.1.2. Bản chất

Bản chất của cơ chế một cửa là nhằm giảm bớt các thủ tục hành chính rườm
rà và khơng cần thiết, tập trung giải quyết các dịch vụ hành chính vào một đầu mối
thống nhất để tiện lợi cho người dân và các tổ chức khi có u cầu giải quyết cơng
việc mà nhà nước cần quản lý. Người dân và tổ chức khi có yêu cầu liên hệ với cơ
quan nhà nước, chỉ cần đến một nơi nhất định để nộp các hồ sơ cần thiết theo sự
hướng dẫn của các cơ quan chức năng và nhận kết quả giải quyết của các cơ quan
có thẩm quyền tại nơi đã tiếp nhận hồ sơ. Về phía cơ quan hành chính nhà nước,
việc thiết lập quy trình giải quyết cơng việc trong thực tế tùy thuộc vào điều kiện cụ
thể của các cơ quan. Vấn đề là làm thế nào để giải quyết hợp lý, nhanh chóng các
u cầu của cơng dân, khơng đùn đẩy lẫn nhau, không kéo dài một cách vô lý để
làm mất lòng tin của tổ chức, cá nhân đối với cơ quan hành chính nhà nước.
Gắn với cơ chế một cửa chính là việc cơng khai hóa, minh bạch hóa các quy
định về thủ tục hành chính, giảm phiền hà, giảm đáng kể thời gian chờ đợi cho
người dân, cho doanh nghiệp. Trách nhiệm của cán bộ, công chức được nâng cao,
góp phần đổi mới cơ bản mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với người
dân, chuyển dần từ cơ chế xin - cho sang cơ chế phục vụ của các cơ quan hành
chính nhà nước. Cụ thể, trong cơ chế một cửa, người dân và doanh nghiệp không
phải đi lại nhiều, chỉ cần đến “một cửa” là công việc sẽ được giải quyết. Chẳng hạn
như hồ sơ liên quan đến quyền sử dụng đất thì chỉ cần đến gặp bộ phận của UBND
cấp xã thì sẽ được giải quyết mà không cần phải đi qua nhiều “ngách” như trước
đây. Cơ chế một cửa kết hợp với việc ứng dụng công nghệ thông tin giúp người
dân, cũng như cán bộ, công chức kiểm tra việc giải quyết thủ tục hành chính một
cách thuận tiện, đơn giản thơng qua hệ thống máy vi tính, phần mềm tra cứu thủ tục
và thời gian giải quyết hồ sơ. Việc thực hiện cơ chế một cửa cũng gắn với việc xác
lập lại trật tự, kỷ cương trong quản lý thu phí và lệ phí. Theo đó, việc cơng khai và
minh bạch nguyên tắc thu, mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng đối với các
loại phí, lệ phí tại bộ phận một cửa của cơ quan hành chính các cấp sẽ tạo thuận lợi
8

Là một cách thức tiếp cận khác của một khái niệm có nghĩa rộng hơn là “mơ hình một cửa”.



11
cho người dân khi đến làm thủ tục tại bộ phận một cửa, điều này cũng giúp tránh
được tình trạng cán bộ, cơng chức giải quyết thủ tục hành chính tự ý thu thêm phí
của người dân, doanh nghiệp nhằm mục đích trục lợi cá nhân. Việc thực hiện cơ chế
một cửa đi kèm với yêu cầu rà soát, đơn giản hóa và cơng khai các thủ tục hành
chính, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc giải quyết cơng việc
hành chính của người dân, doanh nghiệp đúng quy định của pháp luật.
Trên thực tế, trước khi triển khai thực hiện cơ chế một cửa thì việc giải quyết
thủ tục hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước tồn tại một số vấn đề. Cụ
thể, bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian; chức năng nhiệm không rõ ràng,
trùng lắp, chồng chéo, những việc nào mang lại “lợi ích” thì nhiều cơ quan tranh
nhau đề làm, nhưng cũng có những việc tuy rất quan trọng, song khơng mang lại
nhiều “lợi ích” nên các cơ quan đùn đẩy nhau; phân cấp quản lý, phân công trách
nhiệm, xác định thẩm quyền giữa các ngành, các cấp, giữa tập thể và cá nhân người
đứng đầu ở từng cơ quan, từng cấp chính quyền thiếu rõ ràng, cụ thể đã làm cho bộ
máy hoạt động trì trệ, kém hiệu quả. Nhiều loại thủ tục, phí, lệ phí khơng rõ ràng,
rườm rà, chưa được luật hóa, khơng được cơng khai và thực hiện thống nhất giữa
các ngành, các cấp; một số cơ quan, địa phương tự đặt ra nhiều loại thủ tục, phí, lệ
phí riêng hoặc bắt buộc người dân phải thực hiện các nghĩa vụ khác mới giải quyết
thủ tục hành chính, gây phiền hà, lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức của nhân
dân. Cán bộ, công chức thụ lý hồ sơ cũng là người trực tiếp giải quyết hồ sơ, thời
gian giải quyết cho từng loại thủ tục chưa được quy định cụ thể, không được công
khai rõ ràng nên dễ xảy ra tình trạng nhũng nhiễu, quan liêu, hách dịch đối với
người dân. Xuất phát từ sự khó khăn, phức tạp trong việc giải quyết thủ tục hành
chính, đã xuất hiện nạn “cị hồ sơ”, cị hồ sơ phát triển rất mạnh, gần như lĩnh vực
nào cũng có, gây ra nhiều tác động tiêu cực trong mối quan hệ giữa nhà nước và
công dân, biến việc thực hiện thủ tục hành chính thành đặc quyền, đặc lợi của một
số cán bộ, công chức, đồng thời là nguồn thu nhập chính cho các “cị hồ sơ”. Việc

tiếp và giải quyết các yêu cầu, kiến nghị của người dân thiếu công khai, dân chủ,
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dân không được quan tâm đúng mức, đã
dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài, đơng người, vượt cấp tạo nên sự bất ổn về xã
hội, khiến cho mối quan hệ giữa người dân và chính quyền ở một số địa phương rơi
vào tình trạng căng thẳng, thậm chí là “đối đầu”, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng
để chống phá nhà nước.


12
Trước những vấn đề nêu trên, việc tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để khắc
phúc những hạn chế trong cơng tác giải quyết thủ tục hành chính đã dẫn đến việc ra
đời của cơ chế một cửa, như là một cách thức làm việc mới của các cơ quan hành
chính nhà nước trong mối quan hệ với người dân. Thực tế, việc triển khai thực hiện
cơ chế một cửa nằm trong một vấn đề rộng lớn hơn, căn bản hơn, đó là vấn đề cải
cách cách thức cung cấp dịch vụ công trong khu vực công. Lịch sử cải cách hành
chính của các nước trên thế giới đã tạo ra nhiều cách tư duy mới về nhà nước, về
hành chính nhà nước, cũng như hoạt động cung cấp dịch vụ công của các cơ quan
nhà nước. Cải cách cách thức cung cấp dịch vụ công trong khu vực công là một quá
trình phức tạp, bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó có nguyên
nhân từ sự thách thức của hoạt động cung cấp dịch vụ từ khu vực tư mang lại nhiều
hiệu quả hơn so với các hoạt động cung cấp dịch vụ công từ khu vực nhà nước.
Người dân đòi hỏi Nhà nước phải cải cách cách thức cung cấp dịch vụ cơng của
chính Nhà nước.
Bản chất của cơ chế một cửa khi được triển khai nhằm hướng đến việc cơng
dân, tổ chức khi có u cầu giải quyết thủ tục hành chính chỉ phải đến một nơi, một
đầu mối duy nhất của cơ quan hành chính nhà nước để được giải quyết. Khắc phục
những hạn chế, yếu kém của cách thức cung cấp dịch vụ công truyền thống trước
đây. Cụ thể: Hạn chế phiền hà (do phải đi lại nhiều lần, đến nhiều cơ quan, đơn vị
có liên quan làm tốn nhiều thời gian, cơng sức) đối với công dân, tổ chức khi liên hệ
giải quyết thủ tục hành chính; góp phần phịng chống tệ quan liêu, tham nhũng,

hách dịch của cán bộ, công chức; phân công, phân cấp rõ ràng thẩm quyền, trách
nhiệm của từng cấp, từng cơ quan, từng cán bộ, công chức trong q trình giải
quyết thủ tục hành chính; khắc phục tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ,
sắp xếp lại bộ máy, tổ chúc theo hướng gọn, nhẹ, đổi mới phương thức hoạt động
của bộ máy, của cơ quan hành chính nhà nước, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước;
nâng cao kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp, tinh thần và thái độ
phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức; thực hiện việc hiện đại hóa cơng sở, trụ sở
làm việc của cơ quan hành chính nhà nước.
Theo quy định của Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên
thơng tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương năm 2015, cũng như các
quy chế trước đây thì việc cung cấp dịch vụ cơng theo cơ chế một cửa gắn liền với
cụm từ “bộ phận tiếp nhận và trả kết quả”. Bộ phận này đóng vai trị như là “nhà


13
cung cấp dịch vụ công một cửa”. Mọi thủ tục được giải quyết “đằng sau”, “bên
trong” nội bộ của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước mà cơng dân, tổ chức
khơng cần quan tâm nó diễn ra như thế nào. Với bản chất của cơ chế một cửa như
đã tìm hiểu cho thấy, điều kiện tiên quyết đề có thể thành công trong việc áp dụng
cơ chế này là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải cải cách hệ thống thủ tục
hành chính có liên quan đến việc cung cấp dịch vụ công chức công dân, tổ chức. Rõ
ràng đây vừa là điều kiện, nhưng cũng là thách thức lớn cho Việt Nam chúng ta với
một hệ thống thủ tục hành chính đồ sộ như hiện nay. Thực tế thời gian qua, nhận
thức được vấn đề này, Chính phủ Việt Nam đã quan tâm đẩy mạnh cơng tác kiểm
sốt thủ tục hành chính.
1.1.3. Đặc điểm
Như đã đề cập, cơ chế một cửa “nói chung” được hình thành trong quá trình
thực hiện mục tiêu cải cách TTHC, nhằm thay thế cho cơ chế nhiều cửa trong quá
trình giải quyết TTHC. Qua việc định nghĩa khái niệm cơ chế một cửa, chúng ta có
thể nhận thấy một số đặc điểm chủ yếu của cơ chế một cửa như sau:

Thứ nhất, cơ chế một cửa là cách thức giải quyết công việc cho các cá nhân,
tổ chức của cơ quan hành chính nhà nước tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và
trả kết quả (hay còn gọi là Bộ phận một cửa).
Thứ hai, trong cơ chế này, khi cá nhân, tổ chức có u cầu giải quyết cơng
việc hoặc hồ sơ TTHC thì chỉ cần liên hệ với một nơi duy nhất, đó là Bộ phận tiếp
nhận và trả kết quả. Thay vì trước đây khi chưa có cơ chế một cửa, các cá nhân, tổ
chức khi có nhu cầu giải quyết công việc hoặc hồ sơ TTHC phải đến liên hệ tại
nhiều cơ quan nhà nước khác nhau, thì nay chỉ cần đến Bộ phận tiếp nhận và trả kết
quả. Điều này giúp giảm thời gian và chi phí đi lại của các cá nhân, tổ chức, đồng
thời nó cũng giúp hạn chế tình trạng nhũng nhiễu của cán bộ, cơng chức giải quyết
hồ sơ hành chính.
Thứ ba, cơ chế một cửa là cơ chế mà trong đó hồ sơ TTHC mà cá nhân, tổ
chức đề nghị giải quyết được cơ quan hành chính nhà nước tiếp nhận tại một đầu
mối và việc phối hợp giải quyết hồ sơ TTHC thuộc trách nhiệm của cơ quan hành
chính nhà nước. Khi có kết quả giải quyết hồ sơ TTHC thì cá nhân, tổ chức cũng chỉ
cần liên hệ tại một đầu mối duy nhất là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ
quan hành chính nhà nước.


14
Thứ tư, cơ chế một cửa được áp dụng khi việc giải quyết công việc của cá
nhân, tổ chức chỉ thuộc trách nhiệm, thẩm quyền giải quyết của một cơ quan hành
chính nhà nước. Nếu việc giải quyết cơng việc của cá nhân, tổ chức thuộc trách
nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước thì khơng áp dụng cơ
chế một cửa, thay vào đó sẽ áp dụng cơ chế một cửa liên thơng.
1.1.4. Lịch sử hình thành và phát triển
Cơ chế một cửa về việc thực hiện TTHC trong giải quyết công việc cho cá
nhân, tổ chức được đề ra lần đầu tiên trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Quyết định số 366/HĐBT ngày 07/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
phủ) ban hành chế độ thẩm định các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cơ

chế “một cửa” và “một cửa tại chỗ” đã trở thành nguyên tắc trong hoạt động của các
Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất từ đó đến nay. Trên cơ sở những kết
quả ban đầu trong việc áp dụng cơ chế một cửa trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước
ngoài, đã thể hiện được ý nghĩa tích cực của cơng tác cải cách TTHC, Chính phủ đã
ban hành Nghị quyết số 38/CP ngày 04/5/1994 về cải cách một bước TTHC, mà
mục tiêu quan trọng là hướng đến việc giải quyết tốt hơn công việc của cá nhân, tổ
chức, đặc biệt là các doanh nghiệp. Thực hiện nội dung Nghị quyết 38/CP, từ năm
1995 nhiều địa phương đã tiến hành thí điểm thực hiện áp dụng cơ chế một cửa
trong giải quyết cơng việc cá nhân, tổ chức theo mơ hình “Một cửa” hoặc “Một cửa,
một dấu”. Địa phương đi đầu cả nước trong việc xây dựng và áp dụng cơ chế này là
thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 27/9/1995, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã trình Thủ tướng Chính
phủ cơng văn số 2853/UB-NCVX kèm theo đề án về việc xin thí điểm tổ chức hoạt
động của UBND quận, huyện theo cơ chế “một cửa, một dấu” tại UBND Quận 1,
Quận 5 và huyện Củ Chi. Ngày 30/10/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành thông
báo số 6194/CCHC đồng ý nội dung đề án kèm theo Công văn số 2853/UB-NCVX
của UBND thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 18/10/1996, Thành ủy thành phố Hồ Chí
Minh ban hành Chỉ thị số 04/CT-TU về việc thực hiện cải cách hànhThực tiễn đã chứng minh việc thực hiện 2 cơ chế này đã mang lại rất nhiều kết quả
khả quan, góp phần lấy lại niềm tin của người dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự
quản lý của Nhà nước, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt là
lĩnh vực đầu tư. Như vậy, chúng ta cần phải tạo ra một hành lang pháp lý chặt chẽ
cho việc thực hiện CCMC, CCMCLT, mà trước hết cần cho nó một cơ sở pháp lý
đủ tầm. Thực tiễn thực hiện CCMC, CCMCLT nếu nói một cách chính thức cũng
đã trải qua được hơn 12 năm, cịn nếu nói khơng chính thức thì cũng đã được hơn
20 năm. Do đó, chúng ta có đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc ban hành một
văn bản có giá trị pháp lý cao hơn trên cơ sở tổng kết kết quả thực hiện 3 Quyết
định của Thủ tướng Chính phủ mà chúng tơi đã đề cập ở trên.
Với một số lý do cơ bản trên, chúng tôi kiến nghị Bộ Nội vụ cần sớm Dự
thảo Nghị định quy định về việc thực hiện CCMC, CCMCLT tại cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương. Nội dung chính của Nghị định có thể được phát triển

trên cơ sở những nội dung của Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg, trong đó theo
chúng tơi có một số vấn đề sau đây cần được làm rõ thêm trong Nghị định. Cụ thể:
Thứ nhất, cần làm rõ nội hàm của khái niệm CCMC, CCMCLT tại cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương. Theo đó, có thể giải thích theo hướng sau: (i)
Cơ chế một cửa tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là phương thức
thực hiện TTHC cho cá nhân, tổ chức thông qua duy nhất một đầu mối tiếp nhận và
trả kết quả giải quyết TTHC; (ii) Cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương là phương thức thực hiện TTHC cho cá nhân, tổ chức thông
qua duy nhất một đầu mối tiếp nhận và trả kết quả giải quyết đối với TTHC hoặc
nhóm TTHC thuộc trách nhiệm, thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan hành
chính nhà nước.
Thứ hai, quy định rõ vị trí, tổ chức hoạt động, biên chế và tên gọi của Bộ
phận tiếp nhận và trả kết quả. Theo chúng tôi: (i) Về tên gọi chúng ta cần nghiên
cứu để đặt lại tên, vì khi gọi chung là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả là đầu mối
thực hiện chức năng của CCMC, CCMCLT chưa bao quát hết các tên gọi đang
được thực hiện trên thực tế mà bản chất cũng thực hiện đầu mối tiếp nhận và trả kết
quả như Trung tâm hành chính cơng ở cấp tỉnh, cấp huyện, mơ hình một cửa điện
tử; (ii) Về vị trí, tổ chức và biên chế công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả


69
kết quả, đối với cấp tỉnh cần xác định đây là cơng chức thuộc Văn phịng Sở, đối
với cấp huyện cần xác định đây là cơng chức thuộc Văn phịng Hội đồng nhân dân
và UBND cấp huyện82. Có thể giữ nguyên vị trí của Bộ phận tiếp nhận và trả kết
quả như quy định hiện nay trong Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ. Cơ cấu tổ chức gồm Trưởng Bộ phận (có thể có Phó Trưởng Bộ phận)
và các công chức trực tiếp thực hiện việc tiếp nhận và hồn trả hồ sơ.
Thứ ba, về diện tích và trang thiết bị làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả
kết quả. Theo đó, Nghị định quy định diện tích tối thiểu của Bộ phận tiếp nhận và trả
kết quả để các địa phương linh hoạt áp dụng. Mặt khác, khi Bộ phận tiếp nhận và trả

kết quả được ứng dụng công nghệ thông tin, trang thiết bị hiện đại thì người dân có
thể nộp hồ sơ qua mạng, quy định về diện tích tối thiểu lúc này sẽ khơng thực sự phù
hợp. Vì vậy, cần cân nhắc để quy định vấn đề này cho phù hợp với từng loại hình.
Thứ tƣ, về những TTHC thực hiện theo CCMC, CCMCLT. Nghị định cần
quy định rõ các TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của một cửa quan hành chính
nhà nước ở địa phương đều áp dụng cơ chế một cửa (trừ một số TTHC đặc thù).
Đối với cơ chế một cửa liên thơng, Nghị định có thể quy định giới hạn tối thiểu các
lĩnh vực phải thực hiện theo cơ chế này, đồng thời giao cho Bộ Nội vụ quy định và
hướng dẫn chi tiết vấn đề này. Nghị định cũng cần quy định rõ nội dung thực hiện
theo cơ chế một cửa liên thơng trong đó quy định rõ nội dung công việc, trách nhiệm
thực hiện, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị tham gia thực hiện giải quyết thủ
tục cho cá nhân, tổ chức theo cơ chế một cửa liên thông.
2.4.2. Quy định bắt buộc hình thức cơng khai TTHC trên trang thơng tin điện
tử của cơ quan thực hiện thủ tục hành chính
Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP về kiểm
sốt TTHC thì việc cơng khai TTHC trên trang thông tin điện tử của cơ quan thực
hiện TTHC chỉ là một hình thức mang tính lựa chọn bên cạnh những hình thức
khác. Trong thực tế, như đã phân tích, việc công khai TTHC trên trang thông tin
điện tử mang lại rất nhiều hiệu quả so với hình thức truyền thống và mang tính thủ
cơng là niêm yết tại trụ sở cơ quan giải quyết TTHC. Theo đó, chúng ta có thể có
hai phương án sau: Phương án 1, quy định tất cả các TTHC thuộc thẩm quyền giải
82

Chấm dứt tình trạng cơng chức được phân cơng từ các phịng ban chuyên môn đến làm việc tại đây gây
nên nhiều sự phức tạp không cần thiết mà chúng tôi đã phân tích, đồng thời đảm bảo tách bạch cơng việc tiếp
nhận và hồn trả hồ sơ với cơng việc giải quyết hồ sơ.


70
quyết của cơ quan nào (bao gồm cả TTHC thực hiện theo cơ chế một cửa liên

thông) phải được đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan đó; Phương án 2,
quy định các tỉnh thành lập một trang web chung, tương tự trang web
https://motcua.longan.gov.vn/ của tỉnh Long An, trên đó đăng tải tồn bộ các TTHC
thuộc thẩm quyền giải quyết của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương. Một TTHC được cơng bố phải có đầy đủ các thơng tin quy định tại
khoản 2 Điều 8 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP về kiểm sốt TTHC.
Vấn đề này có thể đưa quy định bằng một trong hai cách sau: Một là, sửa
đổi, bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 13 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định
số 09/2015/QĐ-TTg như sau: “Công khai các quy định, TTHC đầy đủ, thường
xuyên, rõ ràng, dễ tiếp cận, dễ khai thác, sử dụng theo quy định. Niêm yết TTHC tại
trụ sở và đăng tải trên cổng thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị trực tiếp giải
quyết TTHC là hình thức cơng khai bắt buộc...”; Hai là, sửa đổi quy định tại Điều
17 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số
48/2013/NĐ-CP) như sau: “Ngồi hình thức cơng khai bắt buộc trên Cơ sở dữ liệu
quốc gia về TTHC, niêm yết tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp giải quyết TTHC và
đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị này, việc công khai TTHC
có thể thực hiện theo một hoặc các hình thức sau đây:....”.
2.4.3. Hình thành đội ngũ cơng chức chun nghiệp làm việc tại Bộ phận tiếp
nhận và trả kết quả
Việc hình thành đội ngũ cơng chức chun nghiệp tại Bộ phận tiếp nhận và
trả kết quả phải đáp ứng được 3 yêu cầu cơ bản sau đây: Một là, khơng được làm
tăng biên chế trong cơ quan hành chính nhà nước, không mâu thuẫn với xu hướng
tin giản biên chế; Hai là, đảm bảo sự độc lập giữa công chức tiếp nhận hồ sơ và cơ
quan, đơn vị giải quyết hồ sơ; Ba là, công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và
trả kết quả phải có chuyên môn phù hợp, am hiểu các quy định về TTHC, có kỹ
năng giao tiếp với người dân. Như vậy, theo chúng tơi việc hình thành đội ngũ cơng
chức chun nghiệp, độc lập với cơ quan, đơn vị giải quyết TTHC cần có một lộ
trình phù hợp, theo đó, trước mắt UBND cấp tỉnh cần có quy định cụ thể về việc
thiết lập Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, khẳng định vị trí pháp lý của Bộ phận này
trong cơ quan hành chính nhà nước, đồng thời quy định công chức hiện đang làm

việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả: đối với các sở thuộc biên chế của Văn
phòng Sở; đối với các huyện thuộc biên chế của Văn phòng Hội đồng nhân dân và


71
UBND cấp huyện; đối với các xã giữ nguyên như hiện nay. Khi đã xác định rõ vị trí
của cơng chức tại Bộ phận này, cần quy định rõ công chức được hưởng lương theo
vị trí ngạch bậc cụ thể của mình theo quy định, đồng thời hưởng thêm khoản hỗ trợ
mà hiện nay các tỉnh đang áp dụng, nhưng sẽ phải điều chỉnh tăng lên chứ không
quá thấp như hiện nay. Trong khuôn khổ của luận văn tôi chỉ dừng lại ở đây mà
không đề cập thêm.
2.4.4. Quy định rõ một số thủ tục hành chính khơng thực hiện theo cơ chế
một cửa
Thực tế, tại cấp xã, hoặc cấp huyện đối với một số hồ sơ có thể giải quyết
nhanh chóng tại các cơ quan, cơng chức chun mơn nhưng vẫn bị kéo dài thời gian
không cần thiết do phải thực hiện theo quy định trình một cửa như: thủ tục chứng
thực sao y, đăng ký khai sinh, khai tử, xác nhận hộ khẩu... (cấp xã); cấp bản sao
giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch, cấp lại bản chính giấy khai sinh, đăng ký và xóa thế
chấp quyền sử dụng đất để vay vốn (cấp huyện)... Hoặc một số lĩnh vực theo quy
định của pháp luật cần phải có sự chứng kiến trực tiếp của cơng chức chun môn
như: đăng ký kết hôn, chứng thực hợp đồng đất đai (cấp xã), chứng thực hợp đồng
dân sự (cấp huyện) thì người dân phải ký trước mặt cơng chức Tư pháp - Hộ tịch
cấp xã, Trưởng Phịng Tư pháp, cơng chức chuyên trách thuộc Phòng Tư pháp cấp
huyện, nên nếu thực hiện theo cơ chế một cửa, công chức không được tiếp xúc với
bộ phận chun mơn thì sẽ trái với các quy định chuyên ngành.
2.4.5. Thực hiện công tác đánh giá mức độ hài lòng của người dân về việc
thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thơng
Các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện CCMC, CCMCLT phải tiến
hành việc đo lường sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan
hành chính nhà nước nhằm đánh giá khách quan chất lượng cung cấp dịch vụ hành

chính cơng của mình. Nội dung đánh giá có thể tập trung vào các vấn đề sau: Một
là, đánh giá chất lượng cung cấp thơng tin về dịch vụ hành chính và cơ sở vật chất
tại nơi cung cấp dịch vụ hành chính; Hai là, đánh giá chất lượng TTHC, gồm sự
công khai, minh bạch của TTHC, sự đơn giản, dễ hiểu của quy định TTHC, sự
thuận tiện trong quy trình thực hiện TTHC; Ba là, đánh giá về sự phục vụ của công
chức, gồm đánh giá thái độ, năng lực của công chức; Bốn là, đánh giá kết quả giải


72
quyết TTHC, gồm thời gian giải quyết thủ tục, chi phí mà người dân phải bỏ ra,
việc tiếp nhận sự phản ảnh, kiến nghị của người dân về quy định hành chính...
Cách đánh giá này cũng là một trong các biện pháp để thúc đẩy cơng chức
tận tình, hịa nhã hơn với các cá nhân, tổ chức đến giao dịch với cơ quan hành chính
nhà nước.
2.4.6 Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho các cơ quan chuyên môn
Chẳng hạn như việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông ở
địa phương sẽ do Sở Nội vụ chịu trách nhiệm kiểm tra giám sát việc thực hiện. Do
trực tiếp phụ trách nên Sở Nội vụ cần phải có được thẩm quyền giải quyết, xử lý
những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện, như vậy sẽ đảm bảo được
thời gian, hiệu quả công việc, trong khi nếu phải chờ ý kiến chỉ đạo giải quyết của
Ủy ban nhân dân tỉnh thì sẽ khơng đảm bảo được thời gian và tiến độ thực hiện.
2.4.7. Thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ
chế một cửa liên thông
Qua khảo sát thực tiễn tại 3 tỉnh cho thấy, không phải tỉnh nào cũng nghiêm
túc thực hiện các quy định của pháp luật về việc thực hiện CCMC, CCMCLT. Tình
trạng chung hiện nay là sau một thời gian triển khai rầm rộ theo “phong trào” thì
hiện nay nhiều nơi, nhiều cơ quan khơng cịn quan tâm đến việc thực hiện 2 cơ chế
này, đây cũng là một trong các lý do khiến cho tính “hình thức” trong việc thực hiện
CCMC, CCMCLT tại nhiều cơ quan.



×