Tải bản đầy đủ (.pdf) (76 trang)

Cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật bảo vệ môi trƣờng tại việt nam thực trạng và hƣớng hoàn thiện

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.45 MB, 76 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT THƢƠNG MẠI

HÀ THỊ MỸ HẠNH

CƠ CHẾ PHÁP LÝ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ
MÔI TRƢỜNG TẠI VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ
HƢỚNG HỒN THIỆN

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thương mại

TP. HỒ CHÍ MINH - 2011


TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƢƠNG MẠI




KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

CƠ CHẾ PHÁP LÝ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI
TRƢỜNG TẠI VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ HƢỚNG
HOÀN THIỆN

SINH VIÊN THỰC HIỆN

: HÀ THỊ MỸ HẠNH



KHÓA

: 3220068

: 32

MSSV

GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN

: Th.s VÕ TRUNG TÍN

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011


LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình. Các nhận
xét, đánh giá, kết luận trong nội dung khóa luận này là trung thực, chưa từng được
cơng bố trong cơng trình nghiên cứu nào khác. Các thơng tin tham khảo đều được trích
dẫn đầy đủ và chính xác.

TÁC GIẢ KHĨA LUẬN

HÀ THỊ MỸ HẠNH


LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy Võ Trung Tín - giáo viên đã nhiệt
tình hướng dẫn, giúp đỡ em hồn thành khóa luận tốt nghiệp này!

Xin chân thành cảm ơn các anh, chị luật sư trong Văn phòng Luật sư Minh Pháp
đã tạo điều kiện cho em học hỏi cũng như đóng góp ý kiến, thơng tin, tư liệu trong q
trình em viết khóa luận.
Xin được gửi lời cảm ơn những người bạn đã ủng hộ, đóng góp ý kiến cho em
trong khóa luận!

Sinh viên HÀ THỊ MỸ HẠNH


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
---------




Bảo vệ môi trường
Bộ luật dân sự 2005
Bộ luật hình sự 1999
Bộ Nơng nghiệp và Phát triển nông thôn

: BVMT
: BLDS 2005
: BLHS 1999
: Bộ NN & PTNT

 Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch
 Bộ Tài nguyên và Môi trường

: Bộ VH - TT – DL
: Bộ TN&MT








: BTTH
: CSMT
: QHXH
: Sở NN & PTNT
: Sở TN&MT

Bồi thường thiệt hại
Cảnh sát môi trường
Quan hệ xã hội
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Sở Tài ngun và Mơi trường

 Trách nhiệm hình sự
 Ủy ban nhân dân

: TNHS
: UBND


MỤC LỤC
------------

Trang

LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG ....................................................................... 5
1.1. Khái niệm, đặc điểm của cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật bảo vệ
môi trƣờng ....................................................................................................................... 5
1.1.1. Khái niệm về cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ................... 5
1.1.2. Đặc điểm của cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ................... 6
1.2. Nội dung của cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật bảo vệ môi trƣờng ............... 9
1.2.1. Thanh tra, kiểm tra nhà nước về bảo vệ môi trường .............................................. 9
1.2.2. Xử lý hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường…………………………......12
1.2.2.1. Trách nhiệm kỷ luật trong lĩnh vực môi trường ................................................ .13
1.2.2.2. Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực mơi trường………………………..…..13
1.2.2.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường………………......15
1.2.2.4. Trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực mơi trường................................................ .18
1.2.3. Giải quyết tranh chấp môi trường………………………………………………...19
CHƢƠNG 2: CƠ CHẾ PHÁP LÝ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI
TRƢỜNG – THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM ................................................................ 22
2.1. Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng ......... 22
2.1.1. Thành tựu trong công tác thanh tra, kiểm tra nhà nước về bảo vệ môi trường ...... 22
2.1.2. Hạn chế và nguyên nhân của công tác thanh tra, kiểm tra nhà nước về bảo vệ
môi trường ........................................................................................................................ 23
2.2. Thực trạng xử lý vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trƣờng ............................ 29


2.2.1. Thành tựu trong công tác xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ............. 29
2.2.2. Hạn chế và nguyên nhân trong công tác xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường ........................................................................................................................ 30
2.2.2.1. Bất cập trong trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực mơi trường ........................... 31
2.2.2.2. Bất cập trong chế tài bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật
bảo vệ môi trường gây ra ................................................................................................. 34

2.2.2.3. Bất cập trong trách nhiệm hành chính áp dụng trong lĩnh vực mơi trường ........ 39
2.3. Thực trạng công tác giải quyết tranh chấp mơi trƣờng ....................................... 41
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG HỒN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TẠI VIỆT NAM ................. 45
3.1. Những quan điểm và căn cứ cho sự điều chỉnh bằng cơ chế pháp lý
đối với việc bảo đảm thực hiện pháp luật bảo vệ môi trƣờng .................................... 45
3.1.1. Những quan điểm cho sự điều chỉnh bằng cơ chế pháp lý đối với
việc bảo đảm thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ....................................................... 45
3.1.2. Các căn cứ cho sự điều chỉnh bằng cơ chế pháp lý đối với việc thực hiện
pháp luật bảo vệ mơi trường ............................................................................................ 46
3.2. Phƣơng hƣớng và giải pháp hồn thiện cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật
bảo vệ mơi trƣờng tại Việt Nam ................................................................................... 47
3.2.1. Phương hướng hồn thiện cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật bảo vệ
mơi trường tại Việt Nam ................................................................................................... 48
3.2.2. Giải pháp hồn thiện cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường
tại Việt Nam ..................................................................................................................... 51
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 64


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ơ nhiễm môi trường hiện nay đang là vấn nạn của mọi quốc gia nói chung và Việt
Nam nói riêng. Tại Việt Nam vi phạm pháp luật mơi trường đang có xu hướng ngày càng
tăng; theo Cục Cảnh sát Môi trường (CSMT) thống kê, trong năm 2010 lực lượng CSMT
các cấp đã phát hiện trên 6.500 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT), so
với năm 2009 tăng 43%. Trong đó, có tới gần 22% số vụ là các hành vi xả nước thải, khí
thải độc hại chưa qua xử lý ra bên ngồi gây ơ nhiễm mơi trường; 19% số vụ vi phạm xâm
phạm nguồn tài nguyên, khoáng sản; 27% số vụ vi phạm không thực hiện đầy đủ nội dung
báo cáo đánh giá tác động môi trường... Lực lượng công an các cấp đã khởi tố 88 vụ, 106
đối tượng, xử lý hành chính 2.288 vụ1…Chưa hết, những vụ việc vi phạm này ngày càng

tinh vi và hiện đại, tính chất nguy hiểm tăng lên gấp bội, điển hình như vụ Cơng ty cổ
phần hữu hạn Vedan Việt Nam (Vedan), Cơng ty Tung kuang (Tung kuang)…
Ơ nhiễm môi trường làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Trong
thời điểm vừa qua, chúng ta thấy xuất hiện khá nhiều các “làng ung thư”, có thể kể đến
như “làng ung thư” Thạch Khê (Phú Thọ), “làng ung thư” Thủy Nguyên (Hải Phòng)…
Theo các chuyên gia, đằng sau những “làng ung thư” đó là sự hiện hữu của sự ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng2, các thành phần môi trường bị hủy hoại, môi trường đất, nước bị
ô nhiễm bởi các chất sắt, chì kẽm, các chất gây hại như mangan, asen đều vượt quá tiêu
chuẩn cho phép…
Ô nhiễm môi trường là kết quả của nhiều nguyên nhân, trong đó hoạt động sản xuất
kinh doanh đóng vai trị quan trọng. Hiện nay, nước ta có 192 khu cơng nghiệp thì có tới
70% khu cơng nghiệp vi phạm pháp luật BVMT (chưa xây dựng hệ thống xử lý chất
thải)3.
Những thống kê trên chỉ phần nào phản ánh được bức tranh tồn cảnh về hiện trạng
mơi trường hiện nay. Trước thực trạng đó, một câu hỏi nhức nhối đặt ra là vai trị của pháp
luật mơi trường cũng như trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường thể
hiện như thế nào trong những trường hợp này? Có thể nói, trong thời gian qua nhà nước ta
ban hành khá nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh về môi trường, theo thống kê có khoảng

1

http://nguoibaovequyenloi.com/User/ThongTin_ChiTiet.aspx?MaTT=110412021
http://www.ykhoanet.com/binhluan/nguyenvantuan/090107_nguyenvantuan_langungthu.htm
3
http://dantri.com.vn/c76/s76-235767/70-khu-cong-nghiep-vi-pham-luat-moi-truong.htm
2

1



300 văn bản4. Điều đó cho thấy, luật chúng ta không thiếu vấn đề là công tác thực hiện
luật chưa hiệu quả do chúng ta chưa thiết lập được một cơ chế pháp lý hữu hiệu nhằm bảo
đảm cho những văn bản này được thực hiện, cụ thể là công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi
phạm và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực môi trường. Bên cạnh đó, một phần cịn do
các chủ thể trong xã hội chưa ý thức được tầm quan trọng của công tác BVMT; cơng tác
quản lý nhà nước về mơi trường cịn yếu kém, chưa có sự phối hợp hài hịa.
Tính đến thời điểm hiện nay, chúng ta đã có hơn 17 năm kinh nghiệm trong xây
dựng và thực hiện pháp luật về BVMT đồng nghĩa với những quy định về thanh tra, kiểm
tra nhà nước về BVMT, xử lý vi phạm pháp luật BVMT, giải quyết tranh chấp môi trường
dần được hoàn thiện. Tuy nhiên, những quy định này đang bộc lộ những hạn chế, thiếu
sót, hầu hết cịn mang tính chung chung, được quy định tản mạn trong nhiều văn bản, có
những quy định chưa thực sự thống nhất. Cùng đó, hoạt động xử lý vi phạm cũng như giải
quyết tranh chấp môi trường thực hiện chưa triệt để, các hình thức chế tài cịn q nhẹ
biểu hiện ở hình thức, mức xử lý chưa cao đặc biệt trong trách nhiệm hành chính và trách
nhiệm hình sự (TNHS). Hơn nữa, thực tiễn giải quyết lại khơng nhiều do đó khi “đụng”
phải những vụ việc trên sẽ không tránh khỏi lúng túng. Vì vậy, để bảo đảm cho hoạt động
thực thi pháp luật BVMT có hiệu quả cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện
các quy định pháp luật về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh
chấp trong lĩnh vực môi trường.
Trước nhu cầu cấp thiết đó, tác giả chọn đề tài “Cơ chế pháp lý thực hiện pháp
luật bảo vệ môi trƣờng tại Việt Nam - Thực trạng và hƣớng hoàn thiện” làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Thơng qua cơng trình nghiên cứu, tác giả tiến hành tìm hiểu những quy định pháp lý
hiện hành về thanh tra, kiểm tra nhà nước về BVMT, xử lý vi phạm pháp luật BVMT và
giải quyết tranh chấp môi trường cũng như thực trạng thi hành trên thực tế với mục đích
nhằm tìm ra những điểm cịn thiếu sót, bất cập. Trên cơ sở đó, tác giả cố gắng trong khả
năng của mình đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần xây dựng các quy định về thanh
tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật, giải quyết tranh chấp về mơi trường phù hợp với
thực tiễn và hồn thiện hơn.


4

http://nguoibaovequyenloi.com/User/ThongTin_Chitiet.aspx?MaTT=110410003

2


3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu những qui định về thanh tra, kiểm tra nhà nước về
BVMT, xử lý vi phạm pháp luật BVMT, giải quyết tranh chấp mơi trường trong Luật
BVMT hiện hành. Ngồi ra, trong phạm vi đề tài tác giả còn liên hệ đến một số vụ việc
xảy ra trên thực tế nhằm làm rõ hơn vấn đề đang nghiên cứu. Trong một số nội dung, tác
giả có sử dụng và kết hợp thơng tin giữa các sách báo, tạp chí liên quan đến vấn đề nghiên
cứu giúp làm sáng tỏ và tăng thêm tính phong phú cho bài luận của mình.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật BVMT là một nội dung khá rộng, với khả năng
còn hạn chế về mặt kiến thức lý luận, thực tiễn, vì thế tác giả chưa thể đi sâu tìm hiểu về
tồn bộ nội dung này. Vì vậy, trong phạm vi của khóa luận tác giả tập trung vào nghiên
cứu, tìm hiểu cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật về BVMT ở khía cạnh là các cơ chế
pháp lý, cụ thể là “Cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật BVMT tại Việt Nam – thực
trạng và hƣớng hồn thiện” trong đó nghiên cứu ba nhóm biện pháp cơ bản sau:
- Thanh tra, kiểm tra nhà nước trong lĩnh vực môi trường
- Xử lý hành vi vi phạm pháp luật BVMT
- Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực mơi trường
Ngồi ra, trong nội dung nghiên cứu tác giả có đề cập đến một số qui định pháp luật
khác có liên quan cùng một số vụ việc để phân tích, lý giải, chứng minh song mục đích chỉ
nhằm bổ trợ cho việc làm sáng tỏ vấn đề đang nghiên cứu.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Trong q trình thực hiện khóa luận, phương pháp nghiên cứu mà tác giả sử dụng
chủ yếu: Phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lênin; Phương pháp phân
tích, tổng hợp; Phương pháp thống kê; Phương pháp diễn dịch – qui nạp. trong một số
trường hợp tác giả có sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp liệt kê, so sánh,
đối chiếu và trích dẫn.

3


5. Ý nghĩa khoa học và giá trị thƣc tiễn của việc nghiên cứu
Qua nghiên cứu các qui định pháp luật là nền tảng bảo đảm cho pháp luật BVMT
được thực hiện, so sánh đối chiếu với thực trạng thực thi trên thực tế, tác giả mong muốn
cung cấp cái nhìn khách quan cho người đọc về thực trạng mơi trường hiện nay, góp phần
nâng cao ý thức BVMT của mọi chủ thể trong xã hội, đảm bảo nguyên tắc “Pháp chế xã
hội chủ nghĩa”.
Mặc dù, tác giả đã cố gắng trong khả năng của mình nhưng do cịn hạn chế về mặt
kiến thức nên khóa luận sẽ khơng tránh khỏi những thiếu sót, tuy vậy, với kết quả nghiên
cứu đạt được, tác giả hy vọng rằng, khóa luận sẽ có giá trị tham khảo nhất định cho những
ai quan tâm đến vấn đề đang nghiên cứu, cho các bạn sinh viên khi chọn đề tài nghiên cứu
khoa học, tiểu luận, khóa luận tốt nghiệp.
6. Bố cục của khóa luận
Khóa luận bao gồm ba phần:
-

Phần mở đầu

-

Phần nội dung: gồm 03 chương:


+ Chương 1: Khái quát chung về cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật bảo vệ môi
trường.
+ Chương 2: Cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường – Thực tiễn tại
Việt Nam.
+ Chương 3: Phương hướng hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật bảo vệ
môi trường tại Việt Nam.
-

Phần kết luận

4


CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CƠ CHẾ
PHÁP LÝ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm của cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật bảo vệ môi trƣờng
1.1.1.

Khái niệm cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật bảo vệ môi trƣờng

Sự xuất hiện của nhà nước cùng với sự ra đời của pháp luật là một bước tiến lớn
trong lịch sử nhân loại, hai sự kiện này được xem là gắn liền với nhau, có nhà nước mới có
pháp luật và đến lượt mình pháp luật là cơng cụ bổ trợ hữu ích cho nhà nước thực hiện
chức năng quản lý xã hội. Tuy nhiên, vai trị của pháp luật tại mỗi quốc gia có phát huy
được tối đa hiệu quả hay không lại phụ thuộc vào cách thức tổ chức cũng như các biện
pháp đảm bảo cho việc thực hiện chúng hay còn gọi là cơ chế bảo đảm cho các quy định
của pháp luật được thực hiện.
Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù văn bản pháp luật về môi trường không phải là ít
nhưng tình trạng vi phạm pháp luật BVMT vẫn gia tăng. Trong những năm qua, con số sai

phạm về pháp luật môi trường bị phát hiện và xử lý tăng lên đáng kể, có những vụ đặc biệt
nghiêm trọng gây bức xúc kéo dài trong dư luận như vụ Vedan xả thải chưa qua xử lý ra
môi trường gây hậu quả nghiêm trọng…
Như vậy, rõ ràng chúng ta đang còn thiếu một cơ chế pháp lý hữu hiệu làm nền tảng
bảo đảm cho những quy định của pháp luật BVMT đi vào thực tiễn.
“Cơ chế” là thuật ngữ được chuyển ngữ từ từ “mescanisme” của tiếng Pháp, có nghĩa
là cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc nhau. Theo Từ điển Tiếng
Việt, “cơ chế ” được hiểu là “cách thức mà theo đó một qui trình được thực hiện” 5. Dù
được hiểu dưới nhiều nghĩa khác nhau, song một cách chung nhất, cơ chế được hiểu là
cách thức, biện pháp làm cơ sở để cho một quá trình được thực hiện.
Cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật là những qui định để cơ quan chức năng thực
hiện từ việc đề ra chính sách pháp luật đến việc đề ra các biện pháp nhằm đảm bảo thực thi
các chủ trương, chính sách, pháp luật trong thực tế cũng như kiểm tra, giám sát, xử lý
trong việc thực hiện các qui định của pháp luật nhịp nhàng, đồng bộ.

5

Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB Phương Đông, Hà Nội, tr.194-915-743-931.

5


Cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật giữ vai trò quan trọng, là nền tảng để triển khai,
thực hiện nghiêm những quy định pháp luật, đường lối, chính sách do cơ quan nhà nước
ban hành đồng thời cũng là cơ sở cho hoạt động xây dựng luật, đề ra các chủ trương, chính
sách.
Trong lĩnh vực mơi trường, cơ chế pháp lý đảm bảo cho pháp luật BVMT được thực
hiện lại càng trở nên quan trọng. Bởi lẽ, cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật BVMT được
hiểu là toàn bộ quy định của pháp luật về hình thức, cách thức, quy trình để các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền đề ra các chính sách pháp luật đến việc đưa ra các biện pháp

nhằm tổ chức bảo đảm cho việc thực hiện các qui định của pháp luật BVMT trên thực tế.
Theo cách hiểu trên, cấu thành của cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật BVMT gồm
hai bộ phận: thứ nhất, là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc
đưa ra các chính sách pháp luật về môi trường; thứ hai, là hoạt động của cơ quan nhà nước
trong việc đưa ra các biện pháp nhằm tổ chức đảm bảo cho việc thực hiện các quy định
của pháp luật BVMT trên thực tế. Cả hai hoạt động này đều phải dựa trên các quy định
của pháp luật để thực hiện. Tuy nhiên, trong nội dung đề tài, tác giả chỉ đề cập đến cơ chế
pháp lý thực hiện pháp luật BVMT ở khía cạnh thứ hai trong đó tập trung chủ yếu vào các
cơ chế mang tính pháp lý.
1.1.2. Đặc điểm của cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật bảo vệ môi trƣờng
1.1.2.1. Thanh tra, kiểm tra nhà nước về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật bảo
vệ môi trường, giải quyết tranh chấp môi trường là hoạt động mang tính quyền lực nhà
nước
Tính quyền lực nhà nước được thể hiện thơng qua tính nhà nước và tính cưỡng chế.
Cụ thể, pháp luật BVMT do nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của nhà nước, do đó, bản
thân chúng chứa đựng những tư tưởng, quan điểm chính trị pháp lý của nhà nước trong
việc điều chỉnh các quan hệ xã hội (QHXH) phát sinh trong lĩnh vực môi trường. Vì vậy,
chúng sẽ mang tính nhà nước. Tính cưỡng chế được thể hiện, khi nhà nước đã ban hành ra
các quy phạm này - chúng trở thành các quy tắc xử sự chung quy định các quyền, nghĩa vụ
của các chủ thể liên quan tham gia vào các QHXH mà quy phạm mơi trường điều chỉnh.
Khi đó, buộc các chủ thể trong điều kiện, hồn cảnh nhất định có trách nhiệm và nghĩa vụ
phải thực hiện nếu không sẽ phải chịu chế tài luật định. Tức nhà nước đã thừa nhận trách
nhiệm bảo vệ và bảo đảm cho chúng được thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Chẳng hạn,
hoạt động thanh tra, kiểm tra chấp hành quy định của Luật BVMT do cơ quan nhà nước có
6


thẩm quyền thực hiện, đối tượng bị thanh tra, kiểm tra phải tuân thủ các yêu cầu của chủ
thể có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra (yêu cầu hợp pháp) nếu khơng sẽ gánh chịu hậu quả
bất lợi về mình.

1.1.2.2. Thanh tra, kiểm tra nhà nước về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật bảo
vệ môi trường, giải quyết tranh chấp môi trường được quy định trong văn bản quy phạm
pháp luật
Cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật BVMT được nhà nước quy định trong các văn
bản quy phạm pháp luật về môi trường chuyên ngành hoặc có liên quan. Những văn bản
pháp luật này tạo nền tảng pháp lý căn bản cho Luật BVMT và các văn bản có liên quan
được thi hành. Do được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật nên những quy định
trên mang tính quy phạm rõ ràng. Có nghĩa, những quy định này trở thành những khuôn
mẫu, chuẩn mực, là khung pháp lý được xác định cụ thể, rõ ràng, thể hiện giới hạn cần
thiết cho các chủ thể trong xã hội có thể xử sự một cách tự do trong khung pháp lý đó. Và
khi vượt ra khung pháp lý đó là đã “phạm luật” và cần phải xử lý. Đây là tiêu chuẩn để xác
định giới hạn và đánh giá hành vi của con người, xét tính hợp pháp hay khơng hợp pháp
của hành vi của các bên.
Không thể phủ nhận tầm quan trọng của việc quy định hoạt động thanh tra, kiểm tra
nhà nước về BVMT, xử lý vi phạm pháp luật BVMT, giải quyết tranh chấp môi trường
trong các văn bản quy phạm pháp luật vì khi đó chúng trở thành quy tắc xử sự chung, có
hiệu lực trên phạm vi rộng (hiệu lực về không gian, thời gian và đối tượng). Đồng thời,
các quy phạm này được nhà nước làm ra nên bản thân nó đã mang quyền lực nhà nước
(đặc điểm đầu tiên), được nhà nước chính thức thừa nhận vì vậy sẽ có tính “trội” hơn so
với các quy phạm xã hội khác, tất yếu việc thực thi chúng sẽ khả thi hơn. Và lẽ dĩ nhiên,
quy định của pháp luật BVMT cũng sẽ được đảm bảo thực hiện hơn trên nền tảng cơ sở
pháp lý đó.
1.1.2.3. Thanh tra, kiểm tra nhà nước về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật bảo
vệ môi trường, giải quyết tranh chấp môi trường nhằm đảm bảo cho quy định của pháp
luật bảo vệ môi trường được thực hiện trên thực tế
Khi nhà nước ban hành luật, bên cạnh những quy định mới ban hành điều cần thiết là
cần phải có cơ chế để đảm bảo cho những quy định đó được triển khai thực hiện vào thực
tế. Bởi vì, một văn bản pháp luật dù hoàn thiện đến đâu nhưng nếu khơng có cơ chế hữu
hiệu bảo đảm cho chúng được thực thi thì cũng chỉ là “luật nằm trên giấy” và việc ban
7



hành đó dường như khơng có ý nghĩa. Vì vậy, có thể thấy trong bất kỳ văn bản pháp luật
nào, ngồi những quy định khung cịn có thêm những quy định mang tính chất là phương
pháp, cách thức để thực thi chúng. Đơn giản như những quy định xác định trách nhiệm tổ
chức triển khai những quy định trong văn bản quy phạm pháp luật, các chế tài áp dụng cho
các chủ thể vi phạm…
Trong lĩnh vực môi trường cũng không ngoại lệ, hầu hết, những văn bản được ban
hành đều chứa đựng những quy định để thực hiện đạo luật đó. Điển hình, Luật BVMT
2005 đã dành hai chương XIII, XIV để ghi nhận các quy định với tính chất là bảo đảm cho
việc thực hiện Luật BVMT có hiệu quả. Đó là các quy định về trách nhiệm của các cơ
quan có thẩm quyền, các tổ chức chính trị trong quản lý về BVMT (từ Điều 121 cho đến
Điều 124); các quy định về hoạt động thanh tra, kiểm tra nhà nước về BVMT, xử lý hành
vi vi phạm pháp luật BVMT, giải quyết tranh chấp môi trường, và trách nhiệm BTTH của
chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật BVMT (từ Điều 125 đến Điều 134). Hoặc trong các
văn bản pháp luật chuyên ngành về môi trường (Luật tài nguyên thủy sản, Luật bảo vệ và
phát triển rừng…) cũng có những quy định với tính chất tương tự.
Xét cho cùng, từ các hoạt động thanh tra, kiểm tra cho đến hoạt động xử lý vi phạm
pháp luật môi trường, giải quyết tranh chấp môi trường, BTTH về môi trường hay khiếu
nại, tố cáo về môi trường tuy nội dung khác nhau song đều nhằm phát hiện, ngăn ngừa, xử
lý nghiêm chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật BVMT, tháo gỡ những mâu thuẫn lợi ích
giữa các bên, đảm bảo chấp hành luật về BVMT... Mặt khác, cịn tạo tính răn đe đối với
chính những chủ thể bị xử lý, sâu xa hơn là cho cả những chủ thể có ý định vi phạm.
1.1.2.4. Thanh tra, kiểm tra nhà nước về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật bảo
vệ môi trường, giải quyết tranh chấp mơi trường được tiến hành theo trình tự, thủ tục luật
định
Được coi là đặc điểm nằm trong giai đoạn cuối cùng của công tác thực hiện pháp luật
(giai đoạn áp dụng pháp luật), thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật, giải quyết tranh
chấp môi trường hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo sẽ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
áp dụng theo một trình tự, thủ tục nhất định. Riêng một phần trong thủ tục yêu cầu giải

quyết tranh chấp môi trường, yêu cầu BTTH, khiếu nại, tố cáo còn là quyền của một bên
là tổ chức, cá nhân trong xã hội. Tuy nhiên, khi thực hiện những quyền này những chủ thể
đó bắt buộc phải thực hiện theo những thủ tục luật định. Vì việc áp dụng pháp luật ảnh
hưởng tới quyền, lợi ích của các chủ thể bị áp dụng (có lợi hoặc bất lợi) do đó khi áp dụng
pháp luật (thực hiện hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm…trong lĩnh vực môi
8


trường) cần phải tuân theo những hình thức và thủ tục luật định, một phần tạo sự chặt chẽ
giữa các khâu, q trình giải quyết, đảm bảo sự vơ tư, khách quan. Mặt khác, tạo sự thống
nhất trong các hoạt động này cũng như trong quản lý nhà nước về môi trường, tránh sự tùy
tiện để nhũng nhiễu tổ chức, cá nhân có liên quan, quyền lợi của các bên sẽ được bảo đảm
nếu những quy định trên được luật hóa rõ ràng.
1.2.

Nội dung của cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật bảo vệ môi trƣờng

1.2.1. Thanh tra, kiểm tra nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng
Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về môi trường, hoạt động thanh tra, kiểm tra phải
được coi là hoạt động tất yếu, vì nó góp phần khơng nhỏ vào việc phát hiện kịp thời những
hành vi vi phạm pháp luật về môi trường để có hướng xử lý phù hợp, đặc biệt trong giai
đoạn hiện nay khi vi phạm pháp luật môi trường đang diễn biến phức tạp. Hiện nay, thanh
tra, kiểm tra trong lĩnh vực mơi trường được thể chế hóa tại Điều 125, Điều 126 – Luật
BVMT, cùng nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan6.
Thanh tra, kiểm tra nhà nước về BVMT đều mang tính quyền lực nhà nước, được
thực hiện theo ý chí đơn phương của bên thanh tra, kiểm tra trên cơ sở quy định của pháp
luật mà khơng cần có sự đồng ý của bên bị thanh tra, kiểm tra. Khi tiến hành thanh tra,
kiểm tra có quyền yêu cầu bên bị thanh tra, kiểm tra phải cung cấp các hồ sơ, giấy tờ, tài
liệu phục vụ cho hoạt động thanh tra, kiểm tra, nếu khơng chấp hành hoặc có hành động
cản trở việc thanh tra, kiểm tra thì sẽ bị xử lý nghiêm…Những hoạt động này được tiến

hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm kiểm tra, xem xét việc chấp hành pháp
luật về môi trường, và mang một số đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, về chủ thể của hoạt động thanh tra, kiểm tra nhà nước về bảo vệ môi
trường
Chủ thể có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra khá đa dạng, có sự phân cơng, phân nhiệm
rõ ràng, tùy đối tượng, nội dung mà chủ thể thanh tra, kiểm tra được xác định khác nhau:
thanh tra, kiểm tra bảo vệ tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản sẽ do
thanh tra và cơ quan thuộc Bộ TN&MT và Sở TN&MT đảm trách; trong lĩnh vực tài
nguyên rừng và tài nguyên thủy sản việc thanh tra sẽ do thanh tra Bộ NN&PTNT và thanh
tra Sở NN&PTNT thực hiện, việc kiểm tra sẽ do cơ quan Kiểm lâm thuộc Bộ NN&PTNT
6

Luật thanh tra 2010
Nghị định số 35/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tài nguyên và Môi trường
Nghị định số 100/2007/NĐ-CP về thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra

9


thực hiện; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về di tích lịch sử
văn hóa và danh lam thắng cảnh do thanh tra, cơ quan thuộc Bộ VH-TD-TT và Sở VHTD-TT tiến hành. Ngoài ra, trách nhiệm thanh tra, kiểm tra nhà nước về BVMT còn được
giao cho UBND cấp huyện, riêng đối với kiểm tra còn được giao cho cả UBND cấp xã
thực hiện theo chức năng và thẩm quyền quản lý của mình7.
Để tăng cường hiệu quả cũng như thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện chức năng,
nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra nhà nước về BVMT, nhà nước yêu cầu các cơ quan có liên
quan phải có trách nhiệm giúp đỡ, phối hợp với các chủ thể có thẩm quyền kiểm tra, thanh
tra8. Bên cạnh đó, luật cịn quy định cần phải trang bị các công cụ, phương tiện cần thiết,
chi nguồn ngân sách nhà nước nhằm hỗ trợ cho lực lượng này khi thực hiện công vụ9.
Mặc dù khung pháp lý quy định chức năng, thẩm quyền của kiểm tra, thanh tra
BVMT tách bạch và rõ ràng như vậy song để thực hiện có hiệu quả cần phải có sự phối

hợp nhịp nhàng, tạo cơ chế linh hoạt, thống nhất giữa các cơ quan, chủ thể này trong hoạt
động quản lý nhà nước về môi trường.
Thứ hai, nội dung, mục đích của hoạt động kiểm tra, thanh tra nhà nước bảo vệ môi
trường
Thanh tra, và kiểm tra nhà nước về BVMT là hai hoạt động khác nhau, song đều
hướng đến mục tiêu chung là kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về BVMT
cũng như các quy định có liên quan của các tổ chức, cá nhân có hoạt động ảnh hưởng đến
mơi trường.
Ngồi ra, thanh tra nhà nước về BVMT, còn thực hiện nhiệm vụ xác định và lập báo
cáo về các sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường để cơ quan có
thẩm quyền giải quyết; cuối cùng là giúp các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
tố cáo, tranh chấp trong lĩnh vực mơi trường.
Trong q trình kiểm tra, bên cạnh việc kiểm tra là xác nhận hiện trạng của sự việc
cần kiểm tra. Khi kiểm tra không đặt ra mục tiêu là xử lý hành vi vi phạm, do đó nếu phát
hiện có sự vi phạm thì chỉ tiến hành lập biên bản vi phạm hoặc báo cáo cơ quan có thẩm
quyền xử lý.
7

Điểm d, điểm đ khoản 1 Điều 126- Luật BVMT 2005.
Điều 4 - Nghị định số 35/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tài nguyên và Môi trường
9
Khoản 1 Điều 125- Luật BVMT 2005
Điều 23, Điều 24 - Nghị định số 35/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tài nguyên và Môi trường
8

10


Thứ ba, thẩm quyền của chủ thể kiểm tra, thanh tra nhà nước về bảo vệ môi trường
Quyền hạn của chủ thể thanh tra nhà nước về BVMT khi tiến hành thanh tra được

quy định theo pháp luật về thanh tra10 và các văn bản hướng dẫn về thanh tra BVMT11.
Tựu chung lại, khi tiến hành thanh tra, chủ thể thanh tra có quyền chủ yếu sau: yêu
cầu đối tượng được thanh tra cung cấp các tài liệu, thông tin liên quan đến vấn đề thanh
tra; lập biên bản về sự vi phạm; tạm đình chỉ hoặc kiến nghị cơ quan chủ thể có thẩm
quyền đình chỉ việc làm đang tiến hành thanh tra nếu xét thấy việc làm này gây thiệt hại
đến lợi ích cũa nhà nước, cơ quan, tổ chức cá nhân; kết luận về sự việc được thanh tra; xử
lý hành vi vi phạm pháp luật BVMT theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực mơi trường.
Khi tiến hành thanh tra BVMT, chủ thể thanh tra được quyền xử lý hành vi vi phạm
pháp luật BVMT theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính, đây là một điểm khác biệt
với hoạt động kiểm tra chấp hành pháp luật về BVMT. Vì, trong quá trình kiểm tra chủ thể
kiểm tra khơng có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm. Như vậy, quyền hạn của chủ thể
thanh tra rộng hơn chủ thể kiểm tra BVMT.
Thứ tư, hình thức thanh tra, kiểm tra nhà nước về bảo vệ môi trường
Thanh tra, kiểm tra nhà nước về BVMT được thực hiện dưới hai hình thức, thanh tra,
kiểm tra định kỳ và thanh tra, kiểm tra đột xuất. Trong đó, hoạt động thanh tra, kiểm tra
định kỳ được thực hiện theo chương trình kế hoạch đã được phê duyệt, khi thanh tra, kiểm
tra chỉ được kiểm tra theo những nội dung đã phê duyệt. Mục đích chủ yếu nhằm kiểm tra,
xem xét việc chấp hành quy định của pháp luật BVMT của các cơ sở sản xuất kinh doanh
có ảnh hưởng tới môi trường như kiểm tra điều kiện để tiến hành các hoạt động xử lý chất
thải nguy hại, vận chuyển chất thải, đủ điều kiện để cấp giấy phép về môi trường hay
không…làm căn cứ tiến hành cấp phép hoạt động. Thông thường, thanh tra, kiểm tra nhà
nước về BVMT được thực hiện không quá 02 lần/năm đối với một cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ trừ trường hợp doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm hoặc bị tố cáo có hành vi
vi phạm pháp luật BVMT thì mật độ kiểm tra có thể nhiều hơn12. Mục đích của quy định
này nhằm kiểm tra, giám sát tình hình chấp hành pháp luật BVMT cũng như kiểm sốt chủ
thể có hành vi vi phạm, buộc thực hiện đúng quy định pháp luật BVMT. Đối với hoạt
10

Luật thanh tra 2010;

Nghị định số 35/2009/NĐ-CP Về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tài nguyên và Môi trường
11
Khoản 2 – Điều 125-Luật BVMT 2005
12
Khoản 3 Điều 126- Luật BVMT 2005

11


động thanh tra, kiểm tra đột xuất chỉ thực hiện khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có
dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do
thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về môi trường giao.
Thứ năm, trình tự, thủ tục thanh tra, kiểm tra nhà nước về bảo vệ môi trường
Thanh tra, kiểm tra nhà nước về BVMT được tiến hành theo trình tự, thủ tục luật
định. Để tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm tra định kỳ, cần phải trải qua rất nhiều thủ tục
như phải ra quyết định thành lập Đoàn thanh tra, kiểm tra; phải xây dựng chương trình, kế
hoạch, nội dung sẽ thanh tra, kiểm tra trước, sau đó là rất nhiều thủ tục khác mà Đoàn
thanh tra cần phải thực hiện để thực hiện thanh tra, kiểm tra đúng luật. Trước khi tiến hành
thanh tra, kiểm tra các Đoàn thanh tra, kiểm tra phải thơng báo trước ít nhất 03 ngày cho
đối tượng thanh tra, kiểm tra. Cuối cùng, sau khi có kết quả kiểm tra cần phải tổ chức đánh
giá kết quả kiểm tra đó đồng thời tổ chức thực hiện quyết định về kết quả kiểm tra.
Ngược lại, thủ tục thanh tra, kiểm đột xuất không cần phải báo trước cho chủ thể bị
thanh tra về cả thời gian và nội dung thanh tra, kiểm tra do đó không những giảm được
phần lớn những nhược điểm của hoạt động thanh tra, kiểm tra định kỳ mà còn đạt hiệu quả
khá cao. Vì trong trường hợp này sự chủ động đối phó với lực lượng thanh tra, kiểm tra
của doanh nghiệp ít hơn (có thể là khơng có) so với thanh tra, kiểm tra định kỳ.
Hiện nay, công tác thanh tra, kiểm tra về BVMT thường được thực hiện và có thể nói
là có hiệu quả khi được tiến hành trên cơ sở những thông tin phản ánh qua hình thức khiếu
nại, tố cáo của người dân như khiếu nại hành vi vi phạm pháp luật về BVMT của tổ chức,
cá nhân khác…Trên cơ sở thông tin người dân cung cấp, phản ánh công tác thanh tra,

kiểm tra được thực hiện nhờ đó hàng loạt cơ sở gây ơ nhiễm môi trường được đưa ra ánh
sáng. Với tầm quan trọng đó, Luật BVMT đã thừa nhận khiếu nại, tố cáo về môi trường là
một quyền quan trọng của tổ chức, cá nhân trong xã hội13.
1.2.2. Xử lý hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trƣờng
Vi phạm pháp luật BVMT hiện nay rất đa dạng và phổ biến, vì vậy cần thiết phải xử
lý những hành vi này nhằm đảm bảo thiết chế nhà nước, răn đe các đối tượng có biểu hiện
thiếu tơn trọng pháp luật, phát huy vai trị và tính hiệu quả trong cơng tác thực thi pháp
luật BVMT. Mặt khác, còn giúp các cơ quan quản lý môi trường phát hiện ra những điểm
bất hợp lý trong các quy định của pháp luật từ đó có hướng điều chỉnh cho phù hợp với
yêu cầu của cuộc sống. Luật BVMT 2005 không quy định chế tài cụ thể cho từng hành vi
13

Khoản 1, khoản 2 Điều 128- Luật BVMT 2005

12


vi phạm mà chỉ quy định một cách chung chung, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà
chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật môi trường phải chịu trách nhiệm kỷ luật,
trách nhiệm hành chính, trách nhiệm BTTH (trách nhiệm dân sự) hay TNHS14.
1.2.2.1. Trách nhiệm kỷ luật trong lĩnh vực môi trường
Trách nhiệm kỷ luật sẽ do cơ quan, tổ chức nơi có người vi phạm pháp luật BVMT
áp dụng cho cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình khi vi phạm. Như vậy, đối
tượng của trách nhiệm kỷ luật chỉ là những người thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về môi trường như người đứng đầu tổ chức, cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ quyền
hạn có hành vi vi phạm pháp luật BVMT15. Việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức được
thực hiện theo quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008 cùng các văn bản pháp luật
có liên quan trên cơ sở các nguyên tắc: khách quan, cơng bằng, nghiêm minh, đúng trình
tự và thủ tục…(Nghị định 35/2005/NĐ-CP và Nghị định 34/2011/NĐ-CP về xử lý kỷ luật
cán bộ, công chức). Trách nhiệm kỷ luật được áp dụng một cách độc lập với trách nhiệm

BTTH.
Theo Luật cán bộ, cơng chức 2008 quy định các hình thức kỷ luật có khiển trách,
cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm, hạ bậc lương, giáng chức, buộc thơi việc, trong đó hình
thức kỷ luật được áp dụng cho cán bộ được quy định riêng tại khoản 1 Điều 78 bao gồm:
khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm và đối với công chức được quy định tại khoản
1 Điều 79, gồm: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thơi
việc.
1.2.2.2. Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực mơi trường
Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực mơi trường sẽ do các cơ quan quản lý nhà
nước hay nhà chức trách có thẩm quyền trong lĩnh vực mơi trường áp dụng đối với các tổ
chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính về mơi trường gây hậu quả nhưng chưa đến
mức xử lý hình sự.
Cơ sở pháp lý để áp dụng trách nhiệm hành chính là dựa trên Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính năm 2002 được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh năm 2007, 2008, Nghị
định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT,
các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực tài nguyên cụ thể như:
Nghị định 159/2007/NĐ- CP ngày 30/10/2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
14
15

Điều 127- Luật BVMT 2005
Khoản 2- Điều 127- Luật BVMT 2005

13


vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Nghị định 150/2004/NĐ-CP ngày
29/7/2004 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khống sản và được sửa
đổi, bổ sung bằng Nghị định 77/2007/NĐ-CP…
Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, theo quy định của

pháp luật16 có thể là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh
vực mơi trường khơng phân biệt cá nhân, tổ chức trong hay ngồi nước, nếu có vi phạm
hành chính trong lĩnh vực BVMT trên lãnh thổ Việt Nam (trừ trường hợp Điều ước quốc
tế mà Việt Nam tham gia có quy định khác) thì đều bị xử lý theo luật định. Cá nhân có thể
là người chưa thành niên (từ đủ 14 tuổi trở lên cũng là đối tượng của loại trách nhiệm này
khi có sự vi phạm) song hình thức phạt sẽ được giảm nhẹ hơn so với chủ thể vi phạm
khác.
Hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT cụ thể được quy định
tại Nghị định 117/2009/NĐ-CP có:
Một, hình thức xử phạt chính17: cảnh cáo hoặc phạt tiền, trong đó cảnh cáo chủ yếu
áp dụng với vi phạm nhỏ, lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với mọi hành vi
vi phạm hành chính do chủ thể thực hiện là người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 16
tuổi thực hiện và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục.
Mức phạt tiền được quy định mức tối thiểu 100.000 đồng, tối đa 500.000.000 đồng
cho một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT. Đây được xem là biện pháp
đánh vào lợi ích kinh tế của chủ thể vi phạm, nên phạt tiền là công cụ hữu hiệu đem lại
hiệu quả tích cực trong cơng tác đấu tranh phịng ngừa vi phạm hành chính trong lĩnh vực
mơi trường.
Hai, hình thức xử phạt bổ sung18: Ngồi hình phạt chính, tùy tính chất, mức độ vi
phạm chủ thể vi phạm cịn có thể bị áp dụng hình thức phạt bổ sung như tước quyền sử
dụng đối với Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường, Giấy phép hành nghề vận
chuyển và xử lý chất thải nguy hại…
Ba, biện pháp khắc phục hậu quả khác 19: Bên cạnh hai hình thức xử phạt trên
những biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002
sửa đổi, bổ sung và Nghị định 117/2009/NĐ-CP cùng các văn bản pháp luật có liên quan
16

Điều 2 Nghị định 117/2009/NĐ-CP
Khoản 1- Điều 3 Nghị định 117/2009/NĐ-CP
18

Khoản 2 – Điều 3 Nghị định 117/NĐ-CP
19
Khoản 3 – Điều 3 Nghị định 117/NĐ-CP
17

14


như buộc thực hiện biện pháp giảm thiểu tiếng ồn, độ rung, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn,
quy chuẩn kỹ thuật mơi trường…cịn có thể được áp dụng đối với chủ thể vi phạm.
Hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả chỉ được áp dụng kèm
theo hình phạt chính chứ khơng áp dụng độc lập. Bên cạnh đó, tùy trường hợp mà có thể
áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính khác như giáo dục tại xã phường thị trấn, đưa
vào cơ sở giáo dưỡng…nhằm đấu tranh phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật BVMT.
Thực tế mà nói, hiện nay vi phạm hành chính trong lĩnh vực mơi trường đang diễn
phổ biến, hậu quả để lại khá nặng nề, môi trường bị ơ nhiễm, suy thối mơi trường nghiêm
trọng. Vì thế, cơng tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện, xử lý hành vi vi phạm cần được tiến
hành nghiêm túc, triệt để, nhằm mục đích hạn chế, tiến tới loại bỏ hành vi vi phạm, đảm
bảo cho môi trường được trong lành.
1.2.2.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường
Quyền khởi kiện yêu cầu BTTH do hành vi vi phạm pháp luật BVMT gây ra là
quyền và nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan tổ chức đã được pháp luật Việt Nam thừa nhận,
đáp ứng nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”.
Theo quy định của pháp luật, người có hành vi vi phạm pháp luật BVMT mà gây
thiệt hại cho người khác thì ngồi việc bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy
định pháp luật còn phải bồi thường theo quy định của pháp luật - nhằm buộc chủ thể có
hành vi gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất về vật chất,
tinh thần hoặc cả hai cho bên bị thiệt hại, cụ thể trường hợp này là trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng.
Trách nhiệm BTTH được Luật BVMT 2005 quy định: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân

gây ơ nhiễm, suy thối mơi trường có trách nhiệm khắc phục, BTTH và chịu các trách
nhiệm khác theo quy định của pháp luật20; Tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường trường hợp có thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ
của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc gây ơ
nhiễm mơi trường thì cịn phải BTTH theo quy định tại Mục 2 Chương XIV của Luật
BVMT hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự 21; Tổ chức, cá nhân có hành vi gây ơ nhiễm

20
21

Khoản 5 Điều 4 – Luật BVMT 2005
Điểm d khoản 1 Điều 49 – Luật BVMT 2005

15


mơi trường cịn phải có trách nhiệm BTTH theo quy định của Luật BVMT và các quy định
khác của pháp luật có liên quan22.
Trách nhiệm BTTH trong lĩnh vực mơi trường cũng phải tuân theo nguyên tắc BTTH
tại Điều 605 – BLDS 2005 “Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên
có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc
thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác.Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do
lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.
Khi mức bồi thường khơng cịn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây
thiệt hại có quyền yêu cầu Tồ án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi
mức bồi thường”.
Ở một phạm vi rộng hơn, trong khuân khổ các cam kết quốc tế, trách nhiệm BTTH
về môi trường được xác định trong nhiều Điều ước quốc tế song phương và đa phương
như Công ước viên 1963 về trách nhiệm dân sự đối với những tổn hại về hạt nhân; Công

ước về trách nhiệm dân sự đối với những tổn thất ô nhiễm biển do dầu (sửa đổi
1992)…hay trong các tuyên bố về môi trường như: Tuyên bố của Liên hợp quốc về Môi
trường và Con người (Tuyên bố Stockholm), Môi trường và Phát triển (Tuyên bố Rio).
Những văn bản này là cơ sở pháp lý quan trọng cho người dân thực hiện quyền khởi
kiện yêu cầu BTTH của mình. Tuy nhiên, để thực hiện đúng, đầy đủ quyền khởi kiện yêu
cầu BTTH do hành vi vi phạm pháp luật BVMT gây ra còn cần phải đáp ứng điều kiện
tiến hành khởi kiện yêu cầu BTTH: phải có thiệt hại xảy ra; phải có hành vi trái pháp luật
BVMT; phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả xảy ra, phải
là mối quan hệ tất yếu – thiệt hại là kết quả tất yếu của hành vi trái luật. Vấn đề lỗi không
được đặt ra trong trách nhiệm BTTH cho người khác do hành vi làm ô nhiễm môi trường,
có nghĩa chủ thể gây ơ nhiễm mơi trường phải bồi thường ngay cả khi khơng có lỗi 23.
Trong những điều kiện trên, có thể thấy khó khăn nhất khi xác định thiệt hại do hành vi vi
phạm pháp luật BVMT gây ra và chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp
luật BVMT và thiệt hại xảy ra.
Trên thực tế cho thấy, xác định thiệt hại trong lĩnh vực mơi trường khơng đơn giản,
vì loại thiệt hại này thường khơng xảy ra ngay nên khó có thể xác định được một cách đầy

22
23

Điểm d khoản 3 Điều 93 – Luật BVMT 2005
Điều 624- Luật BVMT 2005

16


đủ tại thời điểm khởi kiện mà ít nhất phải đợi một khoảng thời gian sau đó. Thiệt hại do
hành vi vi phạm pháp luật BVMT gây ra bao gồm24:
Một, sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của mơi trường (thiệt hại cho các thành
phần mơi trường hay chính là thiệt hại cho môi trường tự nhiên). Chủ thể gánh chịu hậu

quả này thường là nhà nước và cộng đồng dân cư xuất phát từ việc môi trường không phải
là của riêng ai, là tài sản chung của cả cộng đồng.
Hai, thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của mơi trường.
Đây được coi là hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu tích của mơi trường. Loại
thiệt hại này thường gắn với các tổ chức, cá nhân.
Hai loại thiệt hại này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thiệt hại thứ hai là kết quả
của loại thiệt hại thứ nhất. Trong phạm vi đề tài, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu ở nội
dung yêu cầu khởi kiện đòi BTTH về tính mạng, sức khỏe, tài sản do hành vi vi phạm
pháp luật BVMT gây ra, là loại thiệt hại được người dân quan tâm chủ yếu.
Do BTTH về tính mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
do hành vi vi phạm pháp luật BVMT gây ra là trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng (trách
nhiệm dân sự), nên sẽ áp dụng các quy định của pháp luật dân sự về BTTH ngoài hợp
đồng để giải quyết.
Chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật BVMT và thiệt hại
xảy ra là yêu cầu tất yếu khi thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu BTTH trong lĩnh vực môi
trường. Vấn đề sẽ trở nên khó khăn và phức tạp nếu nguyên nhân gây ra thiệt hại đó được
thực hiện bởi nhiều chủ thể hoặc cịn có thể do các yếu tố khách quan khác (thời tiết, sâu
bệnh, dịch bệnh…). Việc chứng minh mối quan hệ nhân quả trong trường hợp này là rất
cần thiết nhưng khơng đơn giản.
Tóm lại, u cầu BTTH về mơi trường là một địi hỏi tất yếu xét từ góc độ của chủ
thể bị thiệt hại và từ góc độ quản lý nhà nước về mơi trường. Qua chế định bồi thường,
chủ thể có hành vi gây thiệt hại phải bù đắp cho bên bị thiệt hại (thơng thường giá trị bồi
thường được tính thành tiền), do đó, chủ thể này sẽ phải cân nhắc trước khi quyết định tác
động vào mơi trường (theo hướng tích cực hay tiêu cực). Vì vậy, cần thiết phải hồn thiện
hơn nữa quy định này để phát huy hiệu quả trong công tác BVMT trong tương lai.

24

Điều 130 – Luật BVMT 2005


17


1.2.2.4. Trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực mơi trường
TNHS trong lĩnh vực BVMT được đánh giá là nghiêm khắc nhất và có tính răn đe
cao đối với các chủ thể có hành vi vi phạm, có ý định vi phạm pháp luật BVMT. Tuy
nhiên, không phải hành vi vi phạm pháp luật BVMT nào cũng bị xử lý hình sự mà chỉ
những hành vi có tính nguy hiểm cao, xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường, gây ô
nhiễm môi trường, hủy hoại môi trường hoặc những hành vi đã bị xử lý hành chính song
tái phạm mới bị xử lý hình sự nếu được pháp luật hình sự quy định.
Bộ luật hình sự 1999 đã được sửa đổi, bổ sung (BLHS) của nước ta đã dành riêng
một Chương XVII để quy định về tội phạm môi trường với các tội danh: Tội gây ô nhiễm
môi trường (Điều 182); Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 182a);
Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường (Điều 182b); Tội đưa chất thải vào
lãnh thổ Việt Nam (Điều 185); Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (Điều
186); Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (Điều 187); Tội huỷ
hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 188); Tội huỷ hoại rừng (Điều 189); Tội vi phạm các quy
định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ
(Điều 190); Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 191); Tội
nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 191a).
Như vậy, TNHS trong lĩnh vực mơi trường chỉ phát sinh khi có tội phạm về môi
trường được thực hiện. Tội phạm môi trường được hiểu là những hành vi nguy hiểm cho
xã hội được luật hình sự quy định xâm hại đến các QHXH liên quan đến việc BVMT tự
nhiên, liên quan đến việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và việc đảm bảo an
ninh sinh thái với dân cư.
Cũng theo quy định của pháp luật hình sự, chỉ cá nhân là chủ thể của TNHS. Việc
pháp luật hình sự không quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm nói chung và tội
phạm mơi trường nói riêng là một bất cập hiện nay. Bởi lẽ, không thể chỉ lấy giáo dục,
phịng ngừa, hay phạt hành chính, truy thu bồi thường mà cần tính đến yếu tố hình sự hóa

tội phạm mơi trường, nếu khơng nhiều trường hợp phạm tội nghiêm trọng sẽ lọt lưới...
Bên cạnh đó, pháp luật hình sự cịn quy định đại đa số tội phạm mơi trường là cấu
thành vật chất, từ đó đặt ra vấn đề, muốn khẳng định tội phạm hoàn thành cần phải chứng
minh được hậu quả xảy ra trên thực tế. Ngoài ra, trong cấu thành của một số tội bắt buộc
cần phải có dấu hiệu đã bị xử lý hành chính là điều kiện cần để xử lý hình sự. Những quy
định này làm cho việc xử lý hình sự tội phạm về mơi trường trở nên khó khăn. Song điểm
18


×