Tải bản đầy đủ (.pdf) (83 trang)

Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc trong GATT và thực tiễn bảo hộ trá hình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.82 MB, 83 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHUYÊN NGÀNH LUẬT QUỐC TẾ

NGUYÊN TẮC ĐỐI XỬ TỐI HUỆ QUỐC
TRONG GATT VÀ THỰC TIỄN BẢO HỘ
TRÁ HÌNH

SVTH

: NGUYỄN THỊ HỒNG LAM

KHÓA

: 36

GVHD

: TS. LÊ THỊ ÁNH NGUYỆT

MSSV: 1155050109

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan nội dung của khóa luận tốt nghiệp “Nguyên tắc đối xử tối
huệ quốc trong GATT và thực tiễn bảo hộ trá hình” là cơng trình nghiên cứu của


cá nhân tơi, dưới sự hướng dẫn tận tình của TS. Lê Thị Ánh Nguyệt thuộc trường
Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Mọi trích dẫn và tài liệu tham khảo mà tác giả sử
dụng đều có ghi rõ nguồn gốc, được thể hiện trong danh mục tài liệu tham khảo.
Các số liệu và kết quả có được trong khóa luận này là hồn tồn trung thực. Tơi xin
hồn tồn chịu trách nhiệm trước nhà trường về lời cam đoan này.

Người thực hiện đề tài

NGUYỄN THỊ HỒNG LAM


LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tác giả đã hồn thành khóa luận tốt
nghiệp với đề tài “Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc trong GATT và thực tiễn bảo
hộ trá hình”. Để hồn thành khóa luận, ngồi những nỗ lực của bản thân, tác giả đã
nhận được sự dạy bảo, động viên, giúp đỡ của q thầy cơ, gia đình và bạn bè.
Tác giả xin bày tỏ sự kính trọng và lịng biết ơn sâu sắc đến TS. Lê Thị Ánh
Nguyệt, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tác giả về phương pháp, lý luận và nội
dung trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Trong q trình thực hiện và trình bày khóa luận khơng thể tránh khỏi những
sai sót và hạn chế, do vậy, tác giả rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét, phê bình
của q thầy cơ và các bạn.


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AAA

Agriculture, Rural Development, Food and Drug Administration,
and Related Agencies Appropriations Act


CFZ

Colon Free Zone

DA

Ưu đãi thuế quan đặc biệt để chống sản xuất và buôn bán ma túy

ĐKKT

Điều khoản khả thể

DSU

Hiệp định về quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh
chấp của WTO

EC

Cộng đồng Châu Âu

EU

Liên minh Châu Âu

FSIS

Cơ quan kiểm dịch và an toàn thực phẩm Hoa Kỳ

GA


Ưu đãi thuế quan chung

GATT

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại của WTO

GSP

Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập

MFN

Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc

MVTO 1998

Motor Vehicles Tariff Order 1998

NAFTA

Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ

PPIA

Đạo luật kiểm dịch sản phẩm gia cầm

SPS

Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật của WTO


SROs

Special Remission Orders

USDA

Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ

WTO

Tổ chức thương mại thế giới


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN TẮC ĐỐI XỬ TỐI HUỆ QUỐC
TRONG GATT .......................................................................................................... 7
1. Lịch sử đàm phán về nguyên tắc đối xử tối huệ quốc trong GATT.............. 7
1.1 GATT 1947 ..................................................................................................... 7
1.2 GATT 1994 ..................................................................................................... 9
1.3 Vòng đàm phán Doha ................................................................................... 9
2. Nội dung của nguyên tắc đối xử tối huệ quốc ............................................... 10
2.1 Phạm vi áp dụng của nguyên tắc MFN...................................................... 11
2.2 Nghĩa vụ áp dụng nguyên tắc MFN ........................................................... 16
2.3 Một số ngoại lệ phổ biến của nguyên tắc MFN ......................................... 22
2.3.1 Khu vực mậu dịch tự do và liên minh thuế quan theo Điều XXIV GATT
1994 ................................................................................................................. 22
2.3.2 Quy chế đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các quốc gia đang phát
triển ................................................................................................................. 25

2.3.3 Ngoại lệ chung tại Điều XX GATT 1994 ............................................... 27
CHƢƠNG II. THỰC TIỄN BẢO HỘ TRÁ HÌNH CỦA NGUYÊN TẮC ĐỐI
XỬ TỐI HUỆ QUỐC THEO HIỆP ĐỊNH GATT 1994 ..................................... 32
1. Bảo hộ, bảo vệ và bảo hộ trá hình .................................................................. 32
2. Sự vi phạm theo luật (de jure) và trên thực tế (de facto) trong GATT ...... 36
2.1 Vi phạm theo luật (de jure) ......................................................................... 36
2.2 Vi phạm trên thực tế (de facto) ................................................................... 37
3. Sự vi phạm nguyên tắc MFN .......................................................................... 38


3.1 Bảo hộ trá hình từ sự vi phạm de jure nguyên tắc MFN qua vụ kiện Hoa
Kỳ - Một số biện pháp ảnh hưởng đến việc nhập khẩu gia cầm từ Trung
Quốc (WT/DS392/R) ......................................................................................... 39
3.1.1 Tóm tắt vụ kiện ....................................................................................... 39
3.1.2 Sự vi phạm de jure nguyên tắc MFN của biện pháp được nêu ra trong
vụ kiện và thực tiễn bảo hộ trá hình ............................................................... 43
3.2 Bảo hộ trá hình từ sự vi phạm de facto nguyên tắc MFN qua vụ kiện
Canada - Một số biện pháp ảnh hưởng đến ngành công nghiệp sản xuất ô tô
(WT/DS139/R, WT/DS142/R, WT/DS139/AB/R, WT/DS142/AB/R) .............. 49
3.2.1 Tóm tắt vụ kiện ....................................................................................... 49
3.2.2 Sự vi phạm de facto nguyên tắc MFN của biện pháp được nêu ra trong
vụ kiện và thực tiễn bảo hộ trá hình ............................................................... 53
3.3 Bảo hộ trá hình qua các ngoại lệ của nguyên tắc MFN ........................... 59
3.3.1 Khu vực mậu dịch tự do và liên minh thuế quan theo Điều XXIV GATT
1994 qua vụ kiện Canada - Một số biện pháp ảnh hưởng đến ngành công
nghiệp sản xuất ô tô (WT/DS139/R, WT/DS142/R, WT/DS139/AB/R,
WT/DS142/AB/R) ............................................................................................ 59
3.3.2 Quy chế đối xử đặc biệt và khác biệt giành cho các quốc gia đang phát
triển qua vụ kiện EC - Các điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan đối với các
nước đang phát triển (WT/DS246/R, WT/DS246/AB/R). ................................ 62

3.3.3 Ngoại lệ chung theo Điều XX của GATT 1994 qua vụ kiện Hoa Kỳ Việc cấm nhập khẩu một số loại tôm và sản phẩm làm từ tôm (WT/DS58/R,
WT/DS58/AB/R). ............................................................................................. 66
KẾT LUẬN CHUNG .............................................................................................. 71
PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Hiện nay, thương mại quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại hàng
hóa, ngày càng đóng vai trị quan trọng trong sự phát triển kinh tế của một quốc gia.
Các quốc gia đều mong muốn đạt được những lợi ích nhất định trong thương mại
quốc tế. Tuy nhiên, trình độ phát triển kinh tế giữa các nước là khác nhau nên dễ
dẫn đến tình trạng “cá lớn nuốt cá bé”, hay sự phân biệt đối xử giữa các nước với
nhau. Vì vậy, sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới WTO với việc loại bỏ sự
phân biệt đối xử giữa các Thành viên, hướng đến mục tiêu tự do hóa thương mại
thật sự là một “sân chơi” phù hợp cho các quốc gia khi gia nhập vào tổ chức này.
Để đảm bảo cho việc thực hiện được những mục tiêu của mình thì WTO cũng đã
đặt ra rất nhiều nguyên tắc. Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất đó chính là
ngun tắc đối xử tối huệ quốc, một nguyên tắc có lịch sử lâu đời và có ý nghĩa vô
cùng quan trọng. Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc cùng với nguyên tắc đãi ngộ quốc
gia là hai công cụ hiệu quả để chống lại sự phân biệt đối xử giữa các Thành viên khi
tham gia vào thương mại quốc tế. Hơn nữa, nó cịn góp phần thúc đẩy cho sự tự do
hóa thương mại, mục tiêu mà WTO và các Thành viên hướng đến. Nguyên tắc đối
xử tối huệ quốc còn là một trong những trụ cột quan trọng hình thành nên Hiệp định
GATT từ GATT 1947 cho đến hiện nay là GATT 1994, và nó đã được quy định
ngay tại Điều I của Hiệp định. Nguyên tắc này tạo nên sự bình đẳng giữa các Thành
viên trong lĩnh vực thương mại hàng hóa. Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp của

WTO, những quy định của nguyên tắc MFN cũng đã được giải thích cụ thể và rõ
ràng hơn, phù hợp với bối cảnh và tạo thuận lợi cho việc áp dụng nguyên tắc. Việc
làm này cũng là cơ sở để giải quyết cho những vụ việc tương tự sau này. Cho nên sẽ
có nhiều vấn đề liên quan đến nguyên tắc MFN được giải thích và tất nhiên sẽ có
những vấn đề mới mà trước đây chưa được giải thích. Khi tìm hiểu được những giải
thích cụ thể này sẽ mang lại lợi ích rất nhiều. Ngồi ra, các ngun tắc thường có
những ngoại lệ nhất định, cho nên việc hiểu rõ về những ngoại lệ này cũng vô cùng
quan trọng. Việt Nam đã là thành viên của tổ chức WTO, trong những cam kết khi


2

gia nhập của Việt Nam cũng có cam kết về việc tuân thủ nguyên tắc MFN. Việc
hiểu rõ về nguyên tắc MFN, đặc biệt là những quy định của nguyên tắc này trong
GATT sẽ giúp cho Việt Nam thực hiện tốt những cam kết của mình đồng thời có
được những lợi ích do nguyên tắc này đem lại.
Trong thực tiễn hiện nay, một thực tế đang diễn ra và ảnh hưởng rất nhiều
đến lợi ích của các Thành viên đó là bảo hộ trá hình và vấn đề vi phạm nguyên tắc
MFN để bảo hộ trá hình là rất phổ biến. Ngoài ra, những ngoại lệ của nguyên tắc
MFN cũng đang bị lợi dụng để trở thành “vỏ bọc” hoàn hảo cho một sự bảo hộ trá
hình. Cùng với đó, bảo hộ trá hình hiện nay ngày càng phức tạp, khó phát hiện, đặc
biệt là khi nó được thực hiện bởi các quốc gia phát triển. Việt Nam cũng là một nạn
nhân của nhiều biện pháp bảo hộ trá hình từ một số quốc gia phát triển và chịu thiệt
hại rất lớn từ những bảo hộ trá hình này. Khi hiểu rõ được mối liên hệ giữa vi phạm
nguyên tắc MFN và bảo trá hình thì sẽ giúp cho việc phát hiện một sự bảo hộ trá
hình nhanh chóng, dễ dàng hơn, từ đó thực hiện việc khiếu nại để bảo vệ lợi ích.
Vì vậy, khi thực hiện khóa luận, tác giả đã chọn đề tài: “Nguyên tắc đối xử
tối huệ quốc trong GATT và thực tiễn bảo hộ trá hình” để nghiên cứu.
2. Mục tiêu và đối tƣợng nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu: Thứ nhất, trong nội dung khóa luận này, người viết

mong muốn trình bày được lịch sử đàm phán của nguyên tắc MFN trong GATT.
Đồng thời, phân tích rõ những nội dung của nguyên tắc MFN từ những quy định
trong GATT cũng như trong quá giải quyết tranh chấp của WTO. Một số ngoại lệ
tiêu biểu của nguyên tắc đối xử tối huệ quốc cũng được đề cập một cách cụ thể. Thứ
hai, thông qua những vụ kiện cụ thể có liên quan đến nguyên tắc MFN trong khn
khổ WTO, người viết sẽ phân tích để cho thấy được sự vi phạm nguyên tắc MFN,
cũng như thực tiễn bảo hộ trá hình hiện nay của nguyên tắc MFN theo Hiệp định
GATT 1994.


3

Đối tượng nghiên cứu trong khóa luận này đó là: Nguyên tắc đối xử tối huệ
trong GATT; và Thực tiễn bảo hộ trá hình của nguyên tắc đối xử tối huệ quốc theo
Hiệp định GATT 1994.
3. Tình hình nghiên cứu:
Trong q trình tìm hiểu tài liệu có liên quan đến đề tài, tác giả đã được biết đến
một số tài liệu nghiên cứu, phân tích có liên quan đến ngun tắc đối xử tối huệ
quốc. Các tài liệu đó bao gồm: Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình
Luật Thương mại quốc tế - Phần I, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, TP.
Hồ Chí Minh; Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Thương mại quốc tế,
NXB Công An Nhân Dân, Hà Nội; Mai Hồng Quỳ - Trần Việt Dũng (2005), Luật
Thương mại quốc tế, NXB Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh;
John H.Jackson (2001), The World Trading System: Law and Policy of
International Economic Relations, Phạm Viên Phương - Huỳnh Thanh Văn dịch,
NXB Thanh Niên; Bhala Raj (2006), Luật Thương mại quốc tế: Những vấn đề lý
luận và thực tiễn, NXB Tư Pháp, Hà Nội; Mai Hồng Quỳ - Lê Thị Ánh Nguyệt
(2012), Luật Tổ chức Thương mại thế giới: Tóm tắt và bình luận án, NXB Hồng
Đức - Hội Luật gia Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh; MUTRAP II - Dự án hỗ trợ
thương mại đa biên (Multilateral Trade Assistance Project) (2006), Hỏi đáp về WTO

(Questions and Answers on WTO), Hà Nội; Trần Thị Thùy Dương (2008), “Việc áp
dụng các quy định trong pháp luật WTO liên quan đến phân biệt đối xử - Kinh
nghiệm của các quốc gia ASEAN”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (03)…Cùng với
nhiều bài viết được đăng trên các Website như Jacqueline D. Krikorian, “Canada và
WTO: Quản lý đa cấp, hoạch định chính sách cơng và vụ kiện về Hiệp định Ơ tơ lên
WTO”, [http://www.trungtamwto.vn/wto/nghien-cuu-vu-viec/canada-va-wto-quanly-da-cap-hoach-dinh-chinh-sach-cong-va-vu-kien-ve-hiep],

cập

nhật

ngày

11/6/2015.
Những tài liệu trên đã đề cập đến những nội dung cơ bản của nguyên tắc
MFN không chỉ trong lĩnh vực thương mại hàng hóa mà cịn trong thương mại dịch


4

vụ và sở hữu trí tuệ, cùng với những vụ kiện trong WTO có liên quan đến nguyên
tắc này. Tuy nhiên, những tài liệu trên vẫn chưa cập nhật hết những giải thích của
Ban hội thẩm, Cơ quan Phúc thẩm trong q trình giải quyết các tranh chấp có liên
quan đến nguyên tắc MFN. Hơn nữa, bảo hộ trá hình đang là một thực trạng phổ
biến hiện nay trong thương mại quốc tế nói chung và lĩnh vực thương mại hàng hóa
nói riêng, là một vấn đề thường đặt ra trong các cuộc đàm phán giữa các nước. Việc
vi phạm nguyên tắc MFN cũng là một trong những “công cụ” hiệu quả để thực hiện
cho một sự bảo hộ trá hình, nhưng vẫn chưa có một nghiên cứu riêng biệt nào liên
quan đến nguyên tắc đối xử tối huệ quốc trong GATT và thực tiễn bảo hộ trá hình
của nguyên tắc này hiện nay. Vì vậy, “Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc trong

GATT và thực tiễn bảo hộ trá hình” là một hướng đi mới và mang tính ứng dụng.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Thứ nhất, sau vòng đàm phán Urugoay, nguyên tắc đối xử tối huệ quốc hiện
nay không chỉ được quy định trong lĩnh vực thương mại hàng hóa mà nó cịn được
quy định trong thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, trong phạm vi khóa
luận của mình, tác giả chỉ tập trung vào lĩnh vực thương mại hàng hóa và cụ thể là
những quy định về nguyên tắc MFN theo GATT.
Thứ hai, nguyên tắc đối xử tối huệ quốc đã được quy định trong GATT 1947
và hiện nay là GATT 1994. Tuy nhiên, trong phần phân tích về nội dung của
nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, tác giả sẽ chỉ phân tích dựa trên những quy định
trong Hiệp định GATT năm 1994. Tương tự, đối với phần thực tiễn bảo hộ trá hình
của nguyên tắc MFN, tác giả cũng theo Hiệp định GATT 1994.
Thứ ba, những vụ kiện được viện dẫn trong khóa luận này là những vụ kiện
trong khn khổ WTO, tức là ở giai đoạn từ năm 1995 cho đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Trong q trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tác giả đã sử dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu, bao gồm:


5

- Những phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để
nghiên cứu các vấn đề vừa tồn diện, vừa cụ thể, mang tính có hệ thống, đồng thời
đảm bảo tính logic của vấn đề nghiên cứu.
- Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp so sánh lịch
sử, phương pháp liệt kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp…để phân
tích vấn đề, đánh giá và rút ra kết luận.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài:
Tác giả hy vọng với những phân tích được đưa ra trong khóa luận này sẽ góp
phần tạo nên một cái nhìn sâu sắc hơn về nguyên tắc đối xử tối huệ quốc trong

GATT. Thơng qua việc phân tích một số vụ kiện cụ thể đã được giải quyết bởi Cơ
quan giải quyết tranh chấp của WTO có liên quan đến sự vi phạm nguyên tắc MFN
và bảo hộ trá hình, có thể cho thấy được một “bức tranh” tổng quát về thực tiễn bảo
hộ trá hình của nguyên tắc này hiện nay. Đặc biệt là khi Việt Nam cũng là nạn nhân
của nhiều biện pháp bảo hộ trá hình của một số nước phát triển. Đồng thời, có thể
nhận thấy những xu hướng bảo hộ trá hình.
7. Bố cục của khóa luận:
Ngồi các phần như Phần mở đầu, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo và
Kết luận chung thì khóa luận được chia là 02 chương như sau:
Chương I. Tổng quan về nguyên tắc đối xử tối huệ trong GATT. Trong
chương này, tác giả sẽ nghiên cứu lịch sử đàm phán về nguyên tắc đối xử tối huệ
quốc trong GATT. Đồng thời, đi sâu phân tích để làm rõ nội dung của nguyên tắc
đối xử tối huệ quốc thông qua những quy định hiện hành trong GATT 1994.
Chương II. Thực tiễn bảo hộ trá hình của nguyên tắc đối xử tối huệ quốc theo
Hiệp định GATT 1994. Ở chương này, trước hết tác giả phân tích các khái niệm
“bảo hộ”, “bảo vệ” và “bảo hộ trá hình”, cũng như mối liên hệ gữa các khái niệm
này. Tiếp theo đó, tác giả sẽ phân tích về sự vi phạm theo luật (de jure) và trên thực
tế (de facto) trong GATT. Cuối cùng, thơng qua việc phân tích một số vụ kiện trong


6

khuôn khổ của WTO để cho thấy sự vi phạm nguyên tắc MFN và thực tiễn bảo hộ
trá hình.


7

CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN TẮC ĐỐI XỬ TỐI HUỆ QUỐC
TRONG GATT

1. Lịch sử đàm phán về nguyên tắc đối xử tối huệ quốc trong GATT
1.1 GATT 1947
Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (Most - Favoured - Nation Treatment MFN) đã được hình thành và tồn tại trong nhiều thế kỷ, chủ yếu được quy định
trong các hiệp định thương mại song phương và đóng một vai trị quan trọng trong
những hiệp định này. Chính vì tầm quan trọng của nó mà nguyên tắc MFN cũng
được ghi nhận trong GATT 1947, là một trong những nguyên tắc cốt lõi. Nhưng
trước khi những quy định của nguyên tắc MFN trong GATT 1947 được các bên
thông qua và ký kết vào ngày 30/10/1947 tại Geneva, đã có rất nhiều quan điểm
khác nhau được đưa ra cho việc xây dựng những quy định của nguyên tắc MFN
trong GATT 1947. Theo Đề nghị cho một Liên minh thương mại quốc tế sau thời
hậu Chiến tranh thế giới lần thứ II, đã có những quy định về việc loại trừ sự phân
biệt đối xử trong thương mại quốc tế. Cụ thể, “Những thành viên của Liên minh
thương mại (Commercial Union) sẽ cam kết không áp dụng ưu tiên hoặc những ưu
đãi về giá đối với bất cứ thành viên khác của Liên minh mà không áp dụng cho tất
cả thành viên, ngoại trừ những ưu tiên giữa các thành viên thuộc nhóm các quốc gia
được thừa nhận về mặt địa lý và chính trị. Cho phép sự phân biệt đối xử với các
quốc gia không phải là thành viên của Liên minh thương mại. Nó cũng cho phép sự
phân biệt đối xử ở một mức độ xác định, vừa phải của nhóm các quốc gia được
cơng nhận về mặt địa lý và chính trị”. Những thành viên của Liên minh thương mại
sẽ bắt buộc phải cấp cho sản phẩm của thành viên khác của Liên minh giá ưu đãi
như họ đã cấp cho “sản phẩm tương tự” (“similar produce”) có nguồn gốc từ bất kỳ
quốc gia nào khơng phải là thành viên1. Có thể thấy đây là những quy định gần như
tạo nền tảng cho việc xây dựng nguyên tắc MFN sau này. Nó đã đề cập đến vấn đề
1

James Meade, “A Proposal for an International Commercial Union”,
[http://www.worldtradelaw.net/document.php?id=misc/Proposal%20for%20International%20Commercial%2
0Union.pdf], cập nhật ngày 06/7/2015.



8

“sản phẩm tương tự”. Tuy nhiên, ở đây có những quy định rõ ràng cho phép sự
phân biệt đối xử với các quốc gia không là thành viên của Liên minh.
Trong Bản thảo cho Hiến chương của Tổ chức thương mại quốc tế vào tháng
9/1946, nguyên tắc MFN được quy định tại Điều 8 của Bản thảo. Những quy định
tại đoạn đầu của Điều 8.1 trong Bản thảo này về cơ bản là giống với những quy
định tại Điều I:1 của GATT 1947 (trong văn kiện chính thức). Với các vấn đề như
phạm vi áp dụng của nguyên tắc MFN; “lợi thế, ưu đãi, đặc quyền hay quyền miễn
trừ”; “sản phẩm tương tự”; và vấn đề áp dụng lợi thế “ngay lập tức và vô điều kiện”
cho tất cả thành viên khác, khơng cịn là “có điều kiện” như trong các Hiệp định
thương mại song phương. Các bản dự thảo sau này của GATT 1947 cũng đều quy
định về những vấn đề này. Ở Bản thảo này khơng cịn quy định cho phép sự phân
biệt đối xử đối với các quốc gia khơng là thành viên của Tổ chức. Ngồi ra, trong
Điều 8:1 còn quy định những ưu đãi trong đoạn đầu cũng sẽ được áp dụng bởi
Thành viên có những hợp đồng chính phủ cho những việc cơng, ở khía cạnh này,
mỗi thành viên sẽ áp dụng sự đối xử công bằng và hợp lý đối với thương mại của
thành viên khác2.
Để đi đến được Văn kiện cuối cùng của GATT 1947 được các bên ký kết vào
ngày 30/10/1947, đã có nhiều bản dự thảo cho việc xây dựng GATT 1947, cũng
như cho nguyên tắc MFN, bao gồm: Bản dự thảo London vào tháng 11/1946; Bản
dự thảo của phái đoàn Hoa Kỳ ngày 07/02/1947; Bản dự thảo ngày 15/02/1947; Bản
dự thảo New York ngày 05/3/1947; Bản dự thảo ngày 24/7/1947; Bản dự thảo
Geneva ngày 30/8/1947; Bản dự thảo ngày 10/9/1947; Bản dự thảo ngày 13/9/1947;
Bản dự thảo ngày 04/10/19473. Trong Hiệp định GATT 1947, cịn quy định mỗi
nước có quyền tuyên bố không áp dụng tất cả các điều khoản trong hiệp định đối
2

Tuy nhiên, ở những bản thảo sau này của GATT 1947, vấn đề này khơng cịn được quy định trong điều
khoản về nguyên tắc MFN nữa, xem thêm U.S State Department Proposal, “Suggested Charter for an

International Trade Organization of the United Nations”,

[http://www.worldtradelaw.net/document.php?id=misc/Suggested%20Charter.pdf], cập nhật ngày
06/7/2015.
3

http://www.worldtradelaw.net/static.php?type=public&page=gatttexts, ngày 06/7/2015.


9

với một nước thành viên khác. Đối với nguyên tắc MFN là trường hợp không áp
dụng nguyên tắc MFN đối với Cuba mặc dù Cuba cũng là một Thành viên.
1.2 GATT 1994
Hiệp định GATT 1994 là một Hiệp định đa biên nằm trong “cam kết trọn
gói” mà một quốc gia muốn trở thành thành viên của WTO phải cam kết thực hiện.
Những quy định trong Hiệp định GATT 1994 là một sự kế thừa những quy định của
Hiệp định GATT 1947. Nguyên tắc MFN tại Điều I:1 của GATT 1994 cũng là sự kế
thừa quy định tại Điều I:1 của GATT 1947. Tuy nhiên, vì GATT 1947 và GATT
1994 ra đời trong những bối cảnh khác nhau nên việc giải thích những quy định của
nguyên tắc MFN của GATT 1994 đang được Ban hội thẩm cũng như Cơ quan Phúc
thẩm thơng qua q trình giải quyết những vụ tranh chấp có liên quan đã đưa ra
những giải thích cụ thể hơn.
1.3 Nguyên tắc MFN tại vòng đàm phán Doha
Vòng đàm phán Doha là vòng đàm phán mới nhất kể từ vòng đàm phán lịch
sử Urugoay. Vòng đàm phán Doha được khởi động tại Hội nghị Bộ trưởng WTO
lần thứ 04 được tổ chức tại Doha, Quatar vào tháng 11/2001. Tuy nhiên, cho đến
hiện nay thì vịng đàm phán này vẫn chưa kết thúc. Nó đang bị bế tắc khi có rất
nhiều vấn đề không được sự đồng ý của tất cả Thành viên. Những lĩnh vực được
đàm phán trong vòng này bao gồm: (i) tiếp cận thị trường hàng phi nông nghiệp

(NAMA); (ii) nông nghiệp; (iii) dịch vụ; (iv) các vấn đề về quy tắc; (v) sở hữu trí
tuệ; (vi) thuận lợi hóa thương mại; (vii) thương mại - mơi trường và (viii) thương
mại phát triển4.
Vịng đàm phán này khơng đàm phán về nội dung tại Điều I của GATT năm
1994, nhưng có đề cập về một số ngoại lệ của nguyên tắc MFN. Cụ thể, đó là Hiệp
định thương mại khu vực. Trong những quy định của GATT 1994 thì hiệp định
thương mại khu vực phải đáp ứng những điều kiện nhất định, nhưng việc giải thích
4

MUTRAP III, “Tổng quan về vòng đàm phán Doha”, [http://www.trungtamwto.vn/wto/tinh-hinh-damphan/tong-quan-ve-vong-dam-phan-do-ha], cập nhật ngày 15/7/2015.


10

những từ ngữ trong quy định này đã gây ra rất nhiều tranh cãi. Cho nên, các cuộc
đàm phán được thực hiện nhằm mục đích “làm rõ và nâng cao những kỷ luật, những
thủ tục theo những quy định hiện hành đang áp dụng cho những hiệp định thương
mại khu vực”5. Ngồi ra, vịng đàm phán Doha cũng tiến hành đàm phán về những
ưu đãi dành cho những Thành viên là quốc gia kém phát triển nhất; sự đối xử đặc
biệt và khác biệt dành cho Thành viên là các quốc gia đang phát triển6.
2. Nội dung của nguyên tắc đối xử tối huệ quốc
Nguyên tắc MFN đã là “cột trụ trung tâm của chính sách thương mại trong
nhiều thế kỷ”7 vì nó đã góp phần tạo nên một “sân chơi bình đẳng” (level playing
field8) cho các thành viên của Hiệp định GATT. Theo Điều I:1 của GATT 1994:
“Với mọi khoản thuế quan và khoản thu thuộc bất cứ loại nào nhằm vào hay
có liên hệ tới nhập khẩu và xuất khẩu hoặc đánh vào các khoản chuyển khoản để
thanh toán hàng xuất nhập khẩu, hay phương thức đánh thuế hoặc áp dụng phụ thu
nêu trên, hay với mọi luật lệ hay thủ tục trong xuất nhập khẩu và liên quan tới mọi
nội dung đã được nêu tại khoản 2 và khoản 4 của Điều III, mọi lợi thế, biệt đãi, đặc
quyền hay quyền miễn trừ được bất kỳ bên ký kết nào dành cho bất cứ một sản

phẩm có xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ một nước nào khác sẽ được áp dụng
cho sản phẩm tương tự có xuất xứ từ hay giao tới mọi bên ký kết khác ngay lập tức
và một cách không điều kiện”.
Ngồi ra, có nhiều điều khoản khác của GATT cũng quy định về nguyên tắc MFN
như đoạn 2, 5, 6 Điều V về hàng quá cảnh; đoạn 1 Điều IX về nhãn hiệu xuất xứ;
đoạn 1 Điều XIII về hạn chế về số lượng; đoạn 1 Điều XVII về thương mại nhà
nước…Tuy những từ ngữ được sử dụng tại các điều khoản này khơng giống nhau
nhưng có thể thấy những quy định này theo một cơng thức. Đó là “địi hỏi hàng hóa

5

https://www.wto.org/english/tratop_e/dda_e/dohaexplained_e.htm#regional, cập nhật ngày 06/7/2015.
https://www.wto.org/english/tratop_e/dda_e/dohaexplained_e.htm#ldc, cập nhật ngày 15/7/2015.
7
John H.Jackson (2001), “The World Trading System”: Law and Policy of International Economic
Relations, Phạm Viên Phương - Huỳnh Thanh Văn dịch, NXB Thanh Niên, TP. Hồ Chí Minh, tr. 220.
8
John H.Jackson, Sđd [07], tr. 43.
6


11

của bất kỳ bên ký kết nào cũng phải được hưởng chế độ “không kém ưu đãi hơn” so
với chế độ dành cho bất kỳ bên ký kết nào khác”9.
2.1 Phạm vi áp dụng của nguyên tắc MFN
Thứ nhất, nguyên tắc MFN được áp dụng đối với những đối tượng thuộc
phạm vi chi phối của mình. Đối tượng chi phối của nguyên tắc MFN đã được thể
hiện ở phần đầu của Điều I:1 GATT 1994. Cụ thể hơn, nó bao gồm:
“(i) Thuế quan;

(ii) Các khoản phí có liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu;
(iii) Phương pháp đánh thuế và các khoản phí liên quan đến hoạt động xuất
nhập khẩu;
(iv) Các quy tắc và thủ tục liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu;
(v) Các loại thuế và phí trong nước đánh vào hàng nhập khẩu và luật, quy
định, những yêu cầu có ảnh hưởng tới việc bán hàng nhập khẩu”10.
Có thể thấy, Điều I:1 GATT 1994 đã liệt kê cụ thể các biện pháp thuộc đối
tượng chi phối của nguyên tắc MFN. Các đối tượng chi phối của nguyên tắc MFN
được quy định tại Điều I:1 GATT 1994 hầu hết là các luật lệ và thủ tục có liên quan
đến nhập khẩu hoặc xuất khẩu. Vấn đề này cũng đã được giải thích rõ hơn trong
thực tiễn giải quyết các tranh chấp trong WTO có liên quan đến Điều I:1 GATT
1994. Trong Báo cáo Ban hội thẩm trong vụ kiện EC - Cơ chế nhập khẩu, kinh
doanh và phân phối sản phẩm chuối III, Ban hội thẩm đã giải thích quy định của
Điều I:1 GATT trong khía cạnh “những luật lệ và thủ tục có liên quan đến nhập
khẩu” (đã được giải thích một cách rộng rãi qua thực tế) còn bao gồm các quy định
liên quan đến việc phân bổ hạn ngạch thuế quan và các thủ tục cấp phép nhập khẩu,
các loại quy tắc thực hiện11. Những yêu cầu kê khai nhập khẩu đặc biệt, lệ phí hợp
9

Bhala Raj (2006), Luật Thương mại quốc tế: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB. Tư Pháp, Hà Nội, tr.
239.
10
Mai Hồng Quỳ - Trần Việt Dũng (2012), Luật Thương mại quốc tế, NXB Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí
Minh, TP. Hồ Chí Minh, tr. 87.
11
Đoạn 7.107 và 7.189 Báo cáo của Ban hội thẩm, EC - Bananas III.


12


pháp hóa bổ sung và những yêu cầu tuân thủ theo thủ tục hải quan cũng là “những
luật lệ và thủ tục có liên quan đến nhập khẩu”. Đó là những giải thích được Ban hội
thẩm đưa ra trong vụ tranh chấp Colombia - Giá chỉ định và hạn chế cảng nhập
cảnh (WT/DS366/R). Ở vụ kiện Hoa Kỳ - Một số biện pháp ảnh hưởng đến việc
nhập khẩu gia cầm từ Trung Quốc (Nguyên đơn: Trung Quốc), Ban hội thẩm đã kết
luận rằng “liên quan đến nhập khẩu” được dùng trong Điều I:1 GATT 1994 không
chỉ bao gồm các biện pháp liên quan trực tiếp đến quá trình nhập khẩu mà cịn bao
gồm các biện pháp khác có liên quan đến các khía cạnh của việc nhập khẩu của một
sản phẩm hoặc có ảnh hưởng đến nhập khẩu thực tế12. Như vậy, “những luật lệ và
thủ tục có liên quan đến nhập khẩu” đã được giải thích ở phạm vi rộng hơn, khơng
những các biện pháp có liên quan trực tiếp đến nhập khẩu một sản phẩm mà cịn có
những biện pháp gián tiếp ảnh hưởng đến nhập khẩu, cũng như những biện pháp có
ảnh hưởng đến nhập khẩu trên thực tế. “Các loại thuế và phí trong nước đánh vào
hàng nhập khẩu và luật, quy định, những yêu cầu có ảnh hưởng tới việc bán hàng
nhập khẩu” được nêu ở trên thực chất chính là những nội dung được quy định tại
khoản 2 và khoản 4 Điều III mà đã được đề cập tại Điều I:1 GATT 1994. Có thể
thấy Điều I:1 GATT 1994 chỉ đề cập đến khoản 2 và khoản 4 Điều III mà không đề
cập thêm các khoản khác của Điều này, cho nên nó chỉ bao gồm những nội dung
pháp lý được quy định tại hai khoản này.
Thứ hai, nguyên tắc MFN được áp dụng cho “sản phẩm tương tự” (like
products), hay “hàng hóa tương tự”. Việc xác định tính “tượng tự” (likeness) của
sản phẩm có ý nghĩa vơ cùng quan trọng, bởi vì đây là một trong ba vấn đề được
xem xét để kiểm tra liệu rằng một biện pháp cụ thể có vi phạm nguyên tắc MFN hay
không. Hơn nữa, việc xác định tính “tương tự” giúp tránh trường hợp các Thành
viên khẳng định tính khác biệt của một số sản phẩm nhằm giảm hoặc bóp méo
phạm vi của các cam kết thương mại của mình và từ đó, làm giảm sự ảnh hưởng của

12

Đoạn 7.410 Báo cáo của Ban hội thẩm, US - Poultry (China).



13

nguyên tắc MFN13. Tuy nhiên, trong hiệp định GATT không hề có một quy định cụ
thể nào về việc xác định như thế nào là “sản phẩm tương tự” để áp dụng nguyên tắc
MFN. Điều này đã tạo nên một trở ngại rất lớn cho việc áp dụng nguyên tắc. Hơn
nữa, trong hiệp định GATT, điều phức tạp ở đây là khái niệm “tương tự” không chỉ
được sử dụng ở một điều khoản mà là nhiều điều khoản khác nhau, cụ thể là Điều I
- Nguyên tắc MFN; Điều III (2, 4) - Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia; Điều VI (1.a và
1.b) - Thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng; Điều XIII - Áp dụng các hạn chế
số lượng một cách không phân biệt đối xử và Điều XIX (1) - Biện pháp khẩn cấp
đối với một số sản phẩm riêng biệt. Vì vậy mà việc xác định tính “tượng tự” là
khơng hề đơn giản và có thể nói, khái niệm “sản phẩm tương tự” được hiểu khơng
giống nhau trong những bối cảnh mà nó được sử dụng. Điều này cũng đã được thể
hiện trong một so sánh nổi tiếng được đưa ra bởi Cơ quan phúc thẩm trong vụ kiện
Nhật Bản - Thuế đối với đồ uống có cồn, theo đó: “Khái niệm “tương tự” mang tính
tương đối, nó làm liên tưởng tới hình ảnh của một cây đàn ac-cooc-đê-ông. Cây đàn
ac-cooc-đê-ông mang tên “tương tự” kéo dãn và thu hẹp lại tại những điểm khác
nhau tùy thuộc vào những quy định khác nhau của WTO được áp dụng. Việc cây
đàn ac-cooc-đê-ông kéo dãn tới một điểm nào đó được quyết định bởi quy định cụ
thể mà trong đó thuật ngữ “tương tự” được sử dụng, cũng như bối cảnh và các điều
kiện cụ thể của trường hợp mà quy định đó được áp dụng”14. Như vậy, việc xác
định “tính tương tự” của sản phẩm sẽ phụ thuộc vào bối cảnh mà nó được áp dụng.
Việc xác định hay phân tích “sản phẩm tương tự” trong bối cảnh nguyên tắc
MFN luôn luôn phải được thực hiện trên cơ sở từng trường hợp cụ thể (case-bycase)15. Phương pháp truyền thống thường được sử dụng để xác định “tính tương
tự” của sản phẩm là dựa trên phân tích một số tiêu chí và ở đây có bốn tiêu chí phổ
biến thường được áp dụng. Đó là:
13


Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Thương mại quốc tế - Phần I, NXB Hồng Đức Hội Luật gia Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr. 106.
14
“Trích theo Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Thương mại quốc tế - Phần I, NXB
Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr. 107 - 108”.
15
Đoạn 7. 424 Báo cáo của Ban hội thẩm, Hoa Kỳ - Một số biện pháp ảnh hưởng việc nhập khẩu gia cầm
của Trung Quốc.


14

(i) Thành phần, tính chất vật lý sản phẩm (bao gồm các yếu tố giúp xác định
xem liệu rằng một sản phẩm có phải là độc nhất hay khơng);
(ii) Tính năng sử dụng cuối cùng của sản phẩm (nếu như chỉ có một phần
nhỏ tính năng sử dụng cuối cùng của hai sản phẩm trùng nhau thì tiêu chí này kể
như khơng được đáp ứng16);
(iii) Thị hiếu và thói quen của người tiêu dùng (tiêu chí này phải được sử
dụng một cách thận trọng, bởi vì tính “tương tự” trong bối cảnh Điều I GATT
(nguyên tắc MFN) không giống như tính “có thể thay thế” trong bối cảnh Điều III.2
GATT (nguyên tắc đãi ngộ quốc gia)17);
(iv) Vị trí trên biểu thuế (tiêu chí này có độ chính xác khơng cao nhưng vẫn
có thể tham khảo).
Ngồi phương pháp truyền thống để phân tích “sản phẩm tương tự” được
nêu trên, trong vụ kiện Hoa Kỳ - Một số biện pháp ảnh hưởng đến việc nhập khẩu
gia cầm từ Trung Quốc, Ban hội thẩm đã để cập đến một cách tiếp cận khác cũng đã
được các Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm sử dụng để xác định tính tương tự
của sản phẩm. Đó chính là một sự “giả định”, theo giả thiết rằng hai sản phẩm
tương tự tồn tại trên thị trường khi một trong hai tình huống sau phát sinh: Trường
hợp đầu tiên liên quan đến sự phân biệt đối xử dựa trên nguồn gốc xuất xứ; và
trường hợp thứ hai là khi ở đây không thể tạo ra sản phẩm tương tự so sánh do một

lệnh cấm nhập khẩu (hoặc có thể là do một nguyên nhân khác). Với cách tiếp cận
trên, Ban hội thẩm trong vụ kiện này đã cho rằng “Hoa Kỳ (bị đơn) đã lập luận rằng
mức độ an toàn khác nhau của gia cầm Trung Quốc (nguyên đơn) so sánh với các
Thành viên WTO khác có thể có tác động vào việc phân tích các sản phẩm tương
tự. Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã không cung cấp bằng chứng cụ thể liên quan đến mức độ
an toàn khác nhau giữa các sản phẩm gia cầm từ Trung Quốc và Thành viên WTO
khác. Do đó, chúng tơi thấy khơng có lý do gì để khơng tiến hành với “giả thiết” sự

16
17

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Sđd [13], tr. 109.
Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Sđd [13], tr. 106.


15

phân tích sản phẩm tương tự và căn cứ vào sự xác định của chúng tôi để xác định
liệu rằng các sản phẩm được cho là “tương tự” bị phân biệt đối xử chỉ vì nguồn gốc,
xuất xứ của chúng”18. Như vậy, sẽ tồn tại một “giả thiết” về “sản phẩm tương tự”
khi có sự phân biệt đối xử dựa trên nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm và từ đó tiếp
tục xem xét các yếu tố khác để xác định biện pháp đó có vi phạm nguyên tắc MFN
hay khơng. Ngồi ra, trong vụ kiện Colombia - Giá chỉ định và hạn chế cảng nhập
cảnh, Ban hội thẩm trong vụ kiện này đã cho rằng đối với các biện pháp của vấn đề
tranh chấp có sự phân biệt đối xử một cách rõ ràng thì một phân tích đầy đủ về sản
phẩm tương tự là không cần thiết. Cụ thể, “Theo quan điểm của Ban hội thẩm,
không cần thiết phải thơng qua mội sự phân tích dài dịng để xác định liệu rằng vải
dệt, sản phẩm may mặc hay giày dép từ các nước khác là tượng tự với những sản
phẩm của Panama (nguyên đơn). Dựa trên những mục đích của biện pháp cảng nhập
cảnh19 (the ports of entry measure), bất kỳ vải dệt, sản phẩm may mặc hay giày dép

được nhập khẩu từ những lãnh thổ khác trừ Panama hay CFZ là sản phẩm tương tự
và nhất thiết sẽ được cho phép nhập cảnh ở 11 cửa khẩu ở Colombia mà không cần
đưa ra một tờ khai nhập khẩu trước, miễn là các sản phẩm này không luân chuyển
qua Panama hoặc CFZ trước khi đến Colombia”20. Trong trường hợp này, biện pháp
cảng nhập cảnh được áp dụng đối với các sản phẩm tương tự của các quốc gia và
vùng lãnh thổ nhưng loại trừ Panama hay CFZ và các sản phẩm được luân chuyển
qua Panama hoặc CFZ trước khi đến Colombia. Ở đây đã tồn tại một sự phân biệt
đối xử rõ ràng và Ban hội thẩm trong trường vụ kiện này đã cho rằng sản phẩm của
Panama hay CFZ cũng là sản phẩm tương tự mà không cần thiết phải có một sự
phân tích để xác định sản phẩm tương tự. Như vậy, bên cạnh phương pháp truyền
thống gồm các tiêu chí thường được sử dụng để xác định “sản phẩm tương tự” thì

18

Đoạn 7. 429 Báo cáo của Ban hội thẩm, Hoa Kỳ - Một số biện pháp ảnh hưởng đến việc nhập khẩu gia
cầm của Trung Quốc.
19
Theo biện pháp này, chỉ có các sản phẩm tương tự nhập khẩu từ Panama hay Colon Free Zone (CFZ), cũng
như hàng hóa xuất xứ ở nơi khác mà quá cảnh Panama hoặc CFZ trước khi đến Colombia mới bị yêu cầu
khai và hợp pháp nhập khẩu trước.
20
Đoạn 7.355 Báo cáo của Ban hội thẩm, Colombia - Giá chỉ định và hạn chế nhập cảnh.


16

cịn có những biện pháp khác, như những biện pháp đã được phân tích ở trên và
phải dựa trên cơ sở case-by-case.
2.2 Nghĩa vụ áp dụng nguyên tắc MFN
Theo quy định tại phần cuối của Điều I:1 của GATT 1994 thì khi một thành

viên của WTO dành “lợi thế, biệt đãi, đặc quyền hay quyền miễn trừ” cho bất cứ
một sản phẩm có xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ một quốc gia nào khác thì
cũng phải áp dụng “ngay lập tức và vô điều kiện” cho “sản phẩm tương tự” có xuất
xứ từ hay được giao tới bất kỳ thành viên WTO khác. Từ những quy định trên, nổi
lên hai vấn đề cần phải được phân tích để làm rõ, đó là (i) “lợi thế, biệt đãi, đặc
quyền hay quyền miễn trừ” được cấp bởi bất kỳ thành viên nào cho bất cứ một sản
phẩm có xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ quốc gia nào khác; và (ii) áp dụng
“ngay lập tức và vô điều kiện” cho sản phẩm tương tự có xuất xứ từ hay được giao
tới bất kỳ thành viên WTO khác.
Thứ nhất, trong vụ kiện EC - Cơ chế nhập khẩu, kinh doanh và phân phối
sản phẩm chuối, Ban hội thẩm đã đưa ra giải thích cụ thể về “lợi thế” được quy định
tại Điều I:1 của GATT 1994. Theo đó, “lợi thế” được hiểu là những thứ tạo nên
“những cơ hội nhập khẩu thuận lợi hơn” hay ảnh hưởng đến mối quan hệ thương
mại giữa các sản phẩm có nguồn gốc khác nhau21. Ngoài ra, ở vụ kiện Canada Một số biện pháp ảnh hưởng đến ngành công nghiệp sản xuất ơ tơ, thì Cơ quan
phúc thẩm đã nhấn mạnh những từ ngữ của Điều I:1 GATT 1994 thể hiện rằng
không phải một số lợi thế sẽ được áp dụng đối với các chủ thể thuộc phạm vi quy
định của điều này mà là “bất kỳ lợi thế nào”22. Như vậy, những quy định của Điều
I:1 GATT 1994 không cho phép việc chỉ có một số “lợi thế” nhất định dược áp
dụng mà nó phải là bất kỳ lợi thế nào. “Lợi thế” được áp dụng là không bị giới hạn.
“Lợi thế, biệt đãi, đặc quyền hay quyền miễn trừ” theo quy định tại Điều I:1 của
GATT 1994 cịn có thể là những biện pháp mà sẽ tạo nên cơ hội nhập khẩu thuận
21

Đoạn 7.239 Báo cáo của Ban hội thẩm, EC - Cơ chế nhập khẩu, kinh doanh và phân phối sản phẩm chuối.
Đoạn 84 Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm, Canada - Một số biện pháp ảnh hưởng đến ngành công nghiệp
sản xuất ô tô.
22


17


lợi hơn, liên quan đến việc phân bổ hạn ngạch thuế quan. Hoặc những biện pháp tạo
nên tính linh hoạt trong thủ tục nhập khẩu, liên quan đến việc tiếp cận với thủ tục
cấp giấy chứng nhận23.
Một thành viên có thể dành “lợi thế” cho bất cứ một sản phẩm có xuất xứ từ
hay được giao tới bất kỳ quốc gia nào khác. Vấn đề xuất xứ của sản phẩm ở đây sẽ
được xác định căn cứ vào quy chế xuất xứ (Rules of origin). Còn quốc gia được cấp
lợi thế ở đây có thể là thành viên của Hiệp định hoặc không là thành viên của Hiệp
định. Ở đây, khơng có một sự giới hạn nào về vấn đề này. Việc cấp lợi thế cho một
quốc gia không phải căn cứ vào việc xem xét tư cách thành viên của quốc gia đó và
khơng chỉ cấp riêng cho những thành viên của Hiệp định mà là bất kỳ quốc gia nào.
Điều này là khác so với vấn đề thứ hai được phân tích sau đây.
Thứ hai, nguyên tắc MFN phải được áp dụng “ngay lập tức và vô điều kiện”.
Điều này là một sự khác biệt lớn so với các điều khoản MFN trong các Hiệp định
song phương khi mà để nhận được sự đối xử MFN thì có thể đòi hỏi các điều kiện
bồi thường thương mại. Ở đây, “vô điều kiện” về bản chất không liên quan đến việc
cấp một lợi thế mà liên quan đến nghĩa vụ phải áp dụng cho sản phẩm tương tự của
tất cả Thành viên một lợi thế mà đã áp dụng cho bất kỳ sản phẩm có nguồn gốc,
xuất xứ từ bất cứ quốc gia nào. Mục đích của Điều I GATT là để đảm bảo đối xử tối
huệ quốc vô điều kiện24. Theo quan điểm của Ban hội thẩm trong vụ kiện Indonesia
- Một số biện pháp liên quan tới ngành sản xuất ô tô cũng như quan điểm của Cơ
quan phúc thẩm trong vụ Canada - Một số biện pháp liên quan tới ngành sản xuất ô
tô, áp dụng “ngay lập tức và vô điều kiện” nghĩa là việc cho hưởng ưu đãi không
tùy thuộc vào việc Thành viên cho hưởng có đạt được những ưu đãi mang tính có đi
có lại từ Thành viên thụ hưởng ưu đãi hoặc vào việc các điều kiện liên quan tới
hoàn cảnh hoặc hành vi của Thành viên này có được thỏa mãn hay không25. Đây là

23

https://www.wto.org/english/res_e/booksp_e/analytic_index_e/gatt1994_01_e.htm#article1, cập nhật ngày

11/5/2015.
24
Đoạn 10.22-10.25 Báo cáo của Ban hội thẩm (không được xem xét lại bởi Cơ quan phúc thẩm), Canada Một số biện pháp ảnh hưởng đến ngành công nghiệp sản xuất ô tô.
25
Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Sđd [13], tr. 112.


18

một sự giải thích cụ thể cho cụm từ “ngay lập tức và vơ điều kiện” và cách giải
thích này cũng đã được Ban hội thẩm hay Cơ quan phúc thẩm của các vụ kiện sau
này nhắc lại. Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp của WTO, có nhiều vụ kiện đã vi
phạm quy định về việc áp dụng “ngay lập tức và vô điều kiện” nguyên tắc MFN. Ở
vụ kiện Indonesia - Ơ tơ, việc miễn thuế nhập khẩu và thuế bán hàng đánh vào ô tô
thành phẩm được quy định tại Chương trình 1996 lại kèm theo điều kiện liên quan
tới giá trị nội địa. Kết quả là, trên thực tế chỉ có ơ tơ nhập từ Hàn Quốc chứ không
phải ô tô đến từ bất kỳ quốc gia nào khác có thể được hưởng ưu đãi trên. Tương tự
việc miễn thuế đối với linh kiện quy định tại Chương trình 1996 cũng kèm theo một
điều kiện là các linh kiện phải được sử dụng để lắp ráp ô tô nội địa. Trên thực tế, chỉ
có các linh kiện nhập khẩu từ Hàn Quốc mới được hưởng các ưu đãi vì mác ơ tơ nội
địa duy nhất của Indonesia được sản xuất nhờ liên doanh với hãng Kia của Hàn
Quốc26. Như vậy, những lợi thế về miễn thuế chỉ được áp dụng cho sản phẩm của
Hàn Quốc còn việc áp dụng những lợi thế như đã dành cho sản phẩm của Hàn Quốc
đối với các Thành viên khác của WTO còn phải kèm theo “một số điều kiện” đã
được quy định trong Chương trình năm 1996. Từ đó có thể thấy, Indonesia đã
khơng áp dụng lợi thế mà Indonesia đã dành cho Hàn Quốc một cách ngay lập tức
và vô điều kiện cho Thành viên khác của WTO theo như quy định tại Điều I:1
GATT 1994. Ban hội thẩm trong vụ kiện này cũng đưa ra kết luận rằng Chương
trình năm 1996 của Indonesia đã vi phạm những quy định của Điều I:1 GATT
199427. Một số vụ kiện khác cũng vi phạm quy định áp dụng “ngay lập tức và vô

điều kiện” của nguyên tắc MFN như: Vụ kiện EC - Các điều kiện hưởng ưu đãi thuế
quan đối với các nước đang phát triển, Ban hội thẩm cho rằng những ưu đãi thuế
quan theo Thỏa thuận về ma túy được áp dụng chỉ với điều kiện là các nước nhận
được đang phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng về ma túy, những ưu đãi
thuế quan đã không được áp dụng “vô điều kiện” cho các sản phẩm tương tự có
nguồn gốc từ tất cả Thành viên WTO khác theo Điều I:1 GATT 1994. Do đó, Ban
26

Trần Thị Thùy Dương (2008), “Việc áp dụng các quy định trong pháp luật WTO liên quan đến phân biệt
đối xử - Kinh nghiệm của các quốc gia ASEAN”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (03), tr. 47 - 48.
27
Đoạn 14.145-14.147 Báo cáo của Ban hội thẩm, Indonesia - Một số biện pháp liên quan tới ngành sản xuất
ô tô.


19

hội thẩm trong vụ kiện này đã kết luận rằng những ưu đãi về thuế theo The Drug
Arrangements vi phạm Điều I:1 GATT 199428. Ở vụ kiện Colombia - Giá chỉ định
và hạn chế cảng nhập cảnh, Ban hội thẩm cũng cho rằng lợi thế đã không được dành
“ngay lập tức và vô điều kiện” cho sản phẩm tương tự nhập khẩu từ Panama, bởi vì
một lợi thế cấp cho hàng hóa của thành viên khác thì lại khơng dành cho những sản
phẩm tương tự có nguồn gốc từ Panama vì những lý do liên quan đến nguồn gốc
của nó hoặc hành vi của Panama29.
Tuy nhiên, một vấn đề phát sinh là liệu rằng có loại trừ nào cho “vơ điều
kiện” hay nói cách khác ở đây có cho phép sự tồn tại của những điều kiện mà không
gây ra sự phân biệt đối xử giữa các sản phẩm dựa trên cơ sở nguồn gốc, xuất xứ của
chúng. Vấn đề này trong thực tiễn giải quyết tranh chấp WTO đã xuất hiện hai luồn
quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất được thể hiện trong vụ kiện EC - Các
điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan đối với các nước đang phát triển. Ở vụ kiện này,

Ban hội thẩm đã đưa ra quan điểm rằng “vô điều kiện” trong Điều I:1 GATT có một
ý nghĩa rộng hơn so với chỉ đơn giản là khơng địi hỏi đền bù, mà là “không bị giới
hạn bởi hoặc theo bất kỳ điều kiện”30. Như vậy, quan điểm thứ nhất cho rằng “vô
điều kiện” khơng được hiểu theo nghĩa hẹp là khơng địi hỏi đền bù mà phải hiểu
theo nghĩa rộng hơn là “không bị giới hạn bởi hoặc theo bất kỳ điều kiện”. Tức là,
theo quan điểm này không cho phép sự tồn tại của bất kỳ điều kiện nào cho dù diều
kiện đó khơng gây ra sự phân biệt đối xử giữa các sản phẩm dựa trên nguồn gốc,
xuất xứ. Quan điểm thứ hai được thể hiện trong vụ kiện Canada - Một số biện pháp
ảnh hưởng đến ngành công nghiệp sản xuất ơ tơ. Theo đó, “trên thực tế thành viên
WTO cho hưởng ưu đãi vẫn có thể đưa ra một số điều kiện, ngay cả khi các điều
kiện này không liên quan trực tiếp đến hàng hóa, nếu như chúng khơng tạo nên sự
phân biệt đối xử giữa hàng hóa tương tự có xuất xứ khác nhau”31. Quan điểm này
28

Đoạn 7.60 Báo cáo của Ban hội thẩm, EC - Các điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan đối với các nước đang
phát triển.
29
Đoạn 7.632-7.365 Báo cáo của Ban hội thẩm, Colombia - Giá chỉ định và hạn chế cảng nhập cảnh.
30
https://www.wto.org/english/res_e/booksp_e/analytic_index_e/gatt1994_01_e.htm#fnt57, cập nhật ngày
18/5/2015.
31
Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Sđd [13], tr. 113.


×