Tải bản đầy đủ (.pdf) (73 trang)

Những vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh để hạn chế cạnh tranh theo luật cạnh tranh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (849.28 KB, 73 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI



TRẦN NGUYỄN TÂM HƯƠNG

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN
ĐẾN HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH HẠN
CHẾ CẠNH TRANH THEO LUẬT CẠNH TRANH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN
Chuyên Ngành : LUẬT THƯƠNG MẠI

TP. HỒ CHÍ MINH – 2009


TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN
HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH HẠN CHẾ CẠNH
TRANH THEO LUẬT CẠNH TRANH

SVTH : TRẦN NGUYỄN TÂM HƯƠNG
KHÓA : 30


MSSV : 3020054
GVHD : Th.S NGUYỄN VĂN HÙNG

TP. HỒ CHÍ MINH – 2009


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU: ................................................................................................... Trang 1
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG
VỊ TRÍ THỐNG LĨNH HẠN CHẾ CẠNH TRANH : ......................................... Trang 4
1.1 Khái niệm vị trí thống lĩnh: .............................................................. Trang 4
1.2 Khái niệm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hạn chế cạnh tranh:
............................................................................................................. Trang 10
1.3 Hậu quả của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh đối với nền kinh
tế, doanh nghiệp và người tiêu dùng: ................................................................. Trang 13
1.4 Sự cần thiết của việc kiểm soát đối với hành vi của các doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh: ................................................................... Trang 16
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ HÀNH
VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH HẠN CHẾ CẠNH TRANH TẠI
VIỆT NAM:Trang 19
2.1 Pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hạn chế cạnh tranh: ......... Trang 19
2.1.1 Khái quát pháp luật về hành vi hạn chế cạnh tranh: ....................... Trang 19
2.1.2 Căn cứ xác định doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí
thống lĩnh: .......................................................................................................... Trang 21
2.1.3 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh để hạn chế cạnh tranh: ....... Trang 25
2.1.3.1 Các yếu tố cấu thành hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh: ...... Trang 25
2.1.3.2 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh cụ thể: ......................... Trang 28
2.1.4 Chế tài đối với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh: ......................... Trang 46
2.2 Thực tiễn hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hạn chế cạnh tranh: .............. Trang 48
2.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm sốt hành vi lạm

dụng vị trí thống lĩnh: ........................................................................................ Trang 57
KẾT LUẬN: ...................................................................................................... Trang 61


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các luận cứ
và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai cơng bố trong bất
kỳ cơng trình nào khác.

Tác giả


LỜI MỞ ĐẦU

 Tính cấp thiết của đề tài:
Q trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp – nơi mà cạnh tranh còn xa
lạ và độc quyền là chủ yếu- sang nền kinh tế thị trường với các chính sách mở rộng
quyền tự do kinh doanh cũng như đa dạng các hình thức sở hữu, đã tạo điều kiện cho
cơ chế cạnh tranh được vận hành trong nền kinh tế Việt Nam. Cạnh tranh được xem là
quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, vấn đề khuyến khích cạnh tranh lành mạnh
và kiểm sốt độc quyền luôn được đặt ra trong các văn kiện Đại hội Đảng. Luật Cạnh
tranh 2004 được ban hành nhằm hướng đến xây dựng một mơi trường cạnh tranh cơng
bằng, bình đẳng. Sau bốn năm thực hiện đã nhận được không ít sự quan tâm cả về quy
định pháp luật lẫn thực tiễn áp dụng. Đặc biệt sau khi gia nhập Tổ chức thương mại
thế giới (WTO), càng thấy rõ sự cần thiết để có một hệ thống pháp luật nói chung và
pháp luật về cạnh tranh nói riêng phù hợp với giai đoạn tồn cầu hóa hiện nay.
Với nhiều chính sách thu hút, khuyến khích đầu tư, kết quả là hàng loạt các
doanh nghiệp nước ngoài lựa chọn đầu tư vào nước ta, trong đó nhiều doanh nghiệp có
lợi thế về tài chính, năng lực quản lý, khoa học cơng nghệ. Đây là những doanh nghiệp
có khả năng thống lĩnh thị trường rất lớn bên cạnh các doanh nghiệp thuộc khu vực

kinh tế Nhà nước. So với các hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh thì hậu quả mà hành
vi hạn chế cạnh tranh nguy hiểm hơn, hành vi hạn chế cạnh tranh sẽ phá vỡ cấu trúc và
tương quan thị trường, triệt tiêu động lực phát triển của nền kinh tế.1 Nên việc kiểm
soát các hành vi hạn chế cạnh tranh càng trở nên quan trọng. Do đó tác giả chọn đề tài
khóa luận của mình là “Những vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh để hạn chế cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh 2004”. Qua việc
nghiên cứu các vấn đề pháp lý và đối chiếu với thực tiễn, tác giả hi vọng có thể góp
phần nhỏ trong việc hoàn thiện hơn các quy định của Luật Cạnh tranh, cũng như để
Luật Cạnh tranh được thực thi một cách hiệu quả trên thực tế. Vì nếu kiểm sốt tốt
được hành vi hạn chế cạnh tranh sẽ đem lại lợi ích thiết thực cho nền kinh tế, khi mà vị

1

TS Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Ths Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb
Tư Pháp, Hà Nội, tr.238.

1


trí thống lĩnh thị trường ln là mục tiêu hướng đến của nhiều doanh nghiệp nhằm tìm
kiếm siêu lợi nhuận.

 Tình hình nghiên cứu:
Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hạn chế cạnh tranh là vấn đề đã dành được sự
quan tâm của khơng ít người nghiên cứu. “Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách
cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh” của Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Trung
Ương. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ về “ Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng
Luật Cạnh tranh” của Trường Đại Học Luật TP.HCM, năm 2001. Luận văn thạc sĩ luật
học “Pháp luật về chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền ở
Việt Nam –Thực trạng và so sánh với một số nước” của thạc sĩ Trần Hồng Nga, 2004.

Đề tài “Các giải pháp kiểm sốt độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh
trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở Việt Nam” của Viện Khoa Học Thị Trường
và Giá Cả. Đề tài nghiên cứu khoa học: “Pháp luật Việt Nam về lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường và vị trí độc quyền nhằm hạn chế cạnh tranh”, Trường Đại Học Luật
TP.HCM, 2005. Luận văn thạc sĩ luật học “ kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường, vị trí độc quyền theo Luật Cạnh tranh của Việt Nam” của thạc sĩ
Nguyễn Thị Phượng, 2007. Sách chuyên khảo như : “Tiến tới xây dựng pháp luật về
cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" của PGSTS Nguyễn Như Phát, và một số bài viết trong các tạp chí chuyên nghành và sách
chuyên khảo khác. Tuy nhiên đa số những cơng trình nghiên cứu này được tiếp cận ở
phạm vi rộng lớn hoặc một số cơng trình chỉ đi vào nghiên cứu một khía cạnh cụ thể
của hành vi, hoặc xem xét hành vi này cùng với hành vi hạn chế cạnh tranh khác. Do
thời gian nghiên cứu hạn hẹp, nên khóa luận này tác giả mong muốn tập trung xem xét
về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hạn chế cạnh tranh thơng qua việc tìm hiểu, phân
tích những quy định của pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó tác giả cịn tiếp cận những
biểu hiện của hành vi trên thực tế để biết về tác động của pháp luật, hiệu quả áp dụng
pháp luật trên thực tiễn. Qua khóa luận này, tác giả hi vọng sẽ có được những hiểu biết
rõ hơn về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hạn chế cạnh tranh.
 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này nghiên cứu những vấn đề pháp lý về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
hạn chế cạnh tranh đồng thời nghiên cứu về thực tiễn của hành vi, thông qua việc phân
2


tích những biểu hiện, những tác động của hành vi, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm
hồn thiện pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh.

 Phạm vi nghiên cứu:
Trong đề tài khóa luận này, tác giả không nghiên cứu tất cả các vấn đề về cạnh
tranh mà chỉ tập trung nghiên cứu về những quy định pháp luật cạnh tranh hiện hành
của Việt Nam liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hạn chế cạnh tranh.

Tiếp cận các trường hợp trong thực tiễn mang bản chất hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh hạn chế cạnh tranh. Trên cơ sở đó nêu lên một số kiến nghị nhằm hồn thiện pháp
luật cạnh tranhhơn nữa.
 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu để thực hiện đề tài này dựa trên phép duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng với các phương pháp phân tích, phương
pháp so sánh, phương pháp tổng hợp,...nhằm hoàn thiện và đạt được mục đích mà đề
tài đã đặt ra.
 Kết cấu của đề tài:
Lời nói đầu
Phần nội dung gồm hai chương :
Chương I

: Những vấn đề lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hạn

chế cạnh tranh
Chương II

: Thực trạng pháp luật và thực tiễn về hành vi lạm dụng vị trí

thống lĩnh để hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam
Kết luận
Tài liệu tham khảo.

3


CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ
THỐNG LĨNH HẠN CHẾ CẠNH TRANH
1.1 Khái niệm vị trí thống lĩnh:

Luật Cạnh tranh khơng đưa ra khái niệm về vị trí thống lĩnh thị trường mà chỉ
đưa ra những căn cứ để xác định doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống
lĩnh. Vị trí thống lĩnh thị trường được hiểu là địa vị của một doanh nghiệp, nhóm
doanh nghiệp, nhờ đó doanh nghiệp có khả năng kiểm soát được thị trường. Án lệ của
Pháp cho rằng vị trí thống lĩnh được hiểu là “ khả năng đối mặt với đối thủ cạnh tranh
thực tế”, và “doanh nghiệp được coi là chiếm lĩnh một vị trí ưu thế trên thị trường khi
nắm giữ thị phần ưu thế trên thị trường so với các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh
khác2. Luật Cạnh tranh Ấn Độ năm 2002 định nghĩa: “vị trí thống lĩnh là một vị trí có
sức mạnh, do một doanh nghiệp nắm giữ cho phép doanh nghiệp đó hoạt động độc lập
với các lực lượng cạnh tranh áp đảo khác trên thị trường, hoặc gây ảnh hưởng đối với
các đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng hoặc thị trường liên quan của doanh nghiệp
theo mong muốn của doanh nghiệp đó”.3 Để nói về vị trí thống lĩnh hay độc quyền,
khơng phải tất cả các nước đều có cách gọi giống nhau. Chẳng hạn cường quốc về
cạnh tranh như Hoa Kỳ sử dụng thuật ngữ là “vị trí độc quyền” mà khơng là “vị trí
thống lĩnh”. Pháp luật cạnh tranh Hoa Kỳ cũng khơng quy định thế nào là vị trí độc
quyền, nhưng trong các án lệ Tòa án của nước này xác định vị trí độc quyền là quyền
kiểm sốt giá cả thị trường hoặc loại trừ cạnh tranh… Luật Cạnh tranh của ta tương
đồng với pháp luật của Pháp và Liên Minh Châu Âu trong cách gọi “vị trí thống lĩnh”.
Dù cách gọi có khác nhau, cũng chỉ là sự đa dạng về mặt thuật ngữ bởi chúng đều chỉ
về những doanh nghiệp nắm “quyền lực thị trường”.
“Quyền lực thị trường”(market power) đây là khái niệm mang tính kinh tế, là
khả năng của một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp trong việc tác động đến
giá cả thị trường của một loại hàng hóa hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua4.Quyền lực
thị trường hình thành là do sự tích tụ tư bản hoặc do công quyền trao cho. Quyền lực
thị trường là năng lực ảnh hưởng đến giá cả, kiểm soát giá cả, chi phối giá cả theo ý
2

Ths Nguyễn Hữu Huyên (2004), Luật Cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu, NxbTư Pháp, Hà Nội,
tr.71.
3

PGS-TS Nguyễn Như Phát, Ths Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Phân tích và luận giải các qui định của Luật Cạnh
tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh vị trí độc quyền, Nxb Tư Pháp, tr.45.
4
David W. Pearce (1999), Từ điển kinh tế học hiện đại, Nxb Chính Trị Quốc Gia.

4


muốn của doanh nghiệp bán hàng hóa đó. Theo đó, khi một doanh nghiệp nâng giá bán
sản phẩm của mình thì lợi nhuận trên mỗi đơn vị sản phẩm bán được của doanh nghiệp
này sẽ tăng lên nhưng số lượng sản phẩm bán ra được chắn chắn sẽ giảm đi, nếu tổng
lợi nhuận tăng lên thì doanh nghiệp ấy được coi là có quyền lực thị trường tại mức giá
thị trường hiện tại khi các doanh nghiệp khác giữ nguyên giá bán sản phẩm5. Doanh
nghiệp nắm giữ quyền lực thị trường đem lại lợi thế cho doanh nghiệp trong quá trình
cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Theo tác giả doanh nghiệp có “quyền lực thị
trường” khơng chỉ dừng lại ở khả năng chi phối giá cả mà cịn có thể cả q trình phân
phối sản phẩm, thói quen tiêu dùng của khách hàng…Doanh nghiệp nắm được quyền
lực thị trường sẽ giữ vị trí khơng cân bằng trong quan hệ kinh doanh với các doanh
nghiệp khác.
Vị trí thống lĩnh có thể được tạo lập qua q trình tích lũy, tập trung tư bản
nhưng cũng có thể được trao cho bởi cơng quyền. Chính sách cạnh tranh được xây
dựng để khuyến khích cạnh tranh chứ khơng phải để trừng phạt các doanh nghiệp do
hoạt động hiệu quả hay quản lý tốt mà có được thị phần lớn thơng qua hành vi cạnh
tranh hợp pháp. Có thể thấy có nhiều quan điểm cịn khuyến khích doanh nghiệp tạo
lập vị trí thống lĩnh, tuy nó có thể gây ra sự khơng hiệu quả trong việc phân bố quyền
lực thị trường nhưng sự tập trung quyền lực trong tay một số ít doanh nghiệp tạo điều
kiện, tiền đề cho cơ chế “ hiệu quả kinh tế theo quy mô”6 hoạt động và đem lại lợi ích
trong hoạt động sáng tạo, hoạt động nghiên cứu và phát triển, là hoạt động tiền đề để
phát minh ra những sáng tạo công nghệ, sản phẩm quan trọng7. Theo tác giả, nếu
doanh nghiệp đạt được vị trí thống lĩnh bằng chính năng lực của mình khơng chỉ đem

lại lợi ích cho doanh nghiệp, mà cịn khiến các doanh nghiệp khác không ngừng đầu
tư, phát triển sản xuất để cạnh tranh với doanh nghiệp giữ vị trí thống lĩnh, và người
được lợi cuối cùng trong quá trình cạnh tranh lành mạnh ấy là người tiêu dùng. Bởi khi
5

Ths Nguyễn Văn Cương (2006), Tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh bất hợp pháp của một số nước và một số
bình luận về Luật Cạnh tranh của Việt Nam, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, tr.41.
6
Tính kinh tế theo quy mơ đặc trưng cho một quy trình sản xuất trong đó một sự tăng lên trong số lượng sản
phẩm sẽ làm giảm chi phí bình qn trên mỗi sản phẩm sản xuất ra. Với những chi phí cố định cao trong nhà
máy và máy móc, mức sàn xuất càng cao thì giá thành mỗi đơn vị sẽ càng thấp so với đầu vào cố định . Những xí
nghiệp lớn có thể sắp xếp việc chun mơn hóa lao đơng và máy móc như trong kỹ thuật sản xuất dây chuyền để
có thể nâng cao năng suất. Chỉ những xí nghiệp lớn mới có điều kiện chịu đựnhg chi phí cao về nghiên cứu và
phát triển. Tuy thế những yếu tố phi kỹ thuật cũng là quan trọng chẳng hạn khi mua các nguồn cho đầu vào với
khơi lượng lớn có thể được giảm giá từ người cung ứng (Phan Văn Bình, Nguyễn Văn Lập (1995),Từ Điển kinh
tế học, Nxb Giáo Dục)
7
Xem thêm Ths Nguyễn Văn Cương (2006), Tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh bất hợp pháp của một số nước và
một số bình luận về Luật Cạnh tranh của Việt Nam, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, tr.45.

5


đó vị trí thống lĩnh có thể đưa lại tiết giảm chi phí, hiệu quả cao hơn các doanh nghiệp
khác vì họ có cơng nghệ, nguồn lực mạnh về tài chính, nhân lực. Nhưng cũng cần phải
có cơ chế giám sát phù hợp đối với các doanh nghiệp giữ vị trí thống lĩnh nhằm ngăn
chặn hành vi lạm dụng quyền lực thị trường của những doanh nghiệp này.
Vị trí thống lĩnh mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi thế, đặc biệt trong việc tìm
kiếm lợi nhuận. Quyền lực thị trường là điều mà tất cả doanh nghiệp tham gia kinh
doanh đều muốn đạt được. Bởi khi đó, các doanh nghiệp có thể tìm kiếm được lợi

nhuận đáng kể. Nhưng một khi có quyền lực trong tay có thể dẫn đến doanh nghiệp
thực hiện những hành vi tác động tiêu cực đến quá trình cạnh tranh trên thị trường,
như vậy sẽ đưa tới những hậu quả không mong muốn. Việc xác định sức mạnh thị
trường là điều phức tạp và phải được tiến hành dưới sự hỗ trợ của các công cụ kinh tế
Thị trường liên quan:
Cạnh tranh chỉ tồn tại trong thị trường liên quan. Việc xác định thị trường liên
quan được xem như nội dung quan trọng khi xem xét vị trí thống lĩnh của một hay một
nhóm doanh nghiệp, cũng như hành vi lạm dụng xuất phát từ những doanh nghiệp đó.
Bởi xác định có hành vi lạm dụng của một doanh nghiệp thống lĩnh hay không phải đặt
hành vi đó trong một thị trường cụ thể. Mặc dù nhận biết được ý nghĩa của việc xác
định thị trường liên quan nhưng để thực hiện thì khơng hề đơn giản. Pháp luật cạnh
tranhViệt Nam quy định: “thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan
và thị trường địa lý liên quan”8. Xác định thị trường liên quan sản phẩm liên quan và
địa lý liên quan cho thấy tồn tại của sự thống lĩnh.
Theo khoản 1 điều 3 Luật Cạnh tranh, “thị trường sản phẩm liên quan là thị
trường của những hàng hóa dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử
dụng và giá cả”. Thuật ngữ “có thể thay thế nhau” được hiểu dưới góc độ người tiêu
dùng và góc độ người sản xuất. Dưới góc độ người tiêu dùng sản phẩm có khả năng
thay thế nhau là những sản phẩm có mức giá chênh lệch nhau khơng q nhiều, có
chất lượng như nhau. Ở góc độ người tiêu dùng thì yếu tố giá cả ln đóng vai trị hết
sức quan trọng. Giữa những sản phẩm trong cùng thị trường liên quan ln có sự cạnh
tranh lẫn nhau để giành lấy sự lựa chọn của người tiêu dùng. Cịn góc độ người sản
xuất khả năng thay thế “là khả năng doanh nghiệp đang sản xuất, phân phối một hàng
hóa, dịch vụ chuyển sang sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ khác trong một
khoảng thời gian ngắn và khơng có sự tăng lên đáng kể về chi phí trong bối cảnh có
8

Khoản 1, điều 3, Luật Cạnh tranh 2004.

6



sự tăng lên về giá của hàng hóa, dich vụ khác đó”9 . Đối với các nhà sản xuất tạo ra
sản phẩm có ít sự khác biệt nhất trong q trình sản xuất với các sản phẩm trước đó và
đảm bảo có một mức tăng giá nhất định thì có thể thay thế được cho sản phẩm trước
đó. Tuy nhiên theo qui định tại khoản 6, điều 4 Nghị định 116/2005/NĐ-CP khả năng
thay thế về cung chỉ được xem xét như một phương pháp hỗ trợ khi xác định thuộc
tính “có thể thay thế nhau”. Pháp luật cạnh tranhcủa Liên Minh Châu Âu thì lại rất
xem trọng vai trị của khả năng thay thế về cung trong xác định thị trường liên quan.
Trong vụ việc Continential Can ( Tòa án tư pháp của Liên Minh Châu Âu ngày 21
tháng 2 năm 1973, Continential Can), Tòa án tư pháp của Liên Minh Châu Âu đã hủy
quyết định của Ủy Ban Châu Âu vì đã khơng xem xét yếu tố này10. Đánh giá khả năng
thay thế về cung có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định năng lực cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp. Khả năng thay thế một cách hợp lý trong sản xuất địi hỏi những
người sản xuất khác có thể chuyển đổi việc sản xuất trong một thời gian ngắn khơng
gặp rào cản và khơng làm tăng chí phí đầu tư. Vì việc phân tích khả năng thay thế về
cung là khá phức tạp nên hiện nay việc đánh giá cung chỉ được xem xét như một cơ sở
bổ sung cho kết quả phân tích từ phía cầu để xác định quyền lực thị trường. Tuy nhiên
thị trường được cấu thành bởi cầu và cung, do đó khi xem xét chúng ta nên kết hợp
trong mối quan hệ với khả năng thay thế về cầu và khả năng thay thế về cung.
Theo quy định pháp luật thì khả năng thay thế nhau được xem xét chủ yếu dựa
trên trên ba tiêu chí: đặc tính, mục đích sử dụng, giá cả. Các nhà sản xuất ln tìm
cách để dị biệt hóa sản phẩm của mình để phù hợp nhu cầu tiêu
dùng11. Mặc dù giới hạn ở ba tiêu chí, nhưng để tìm kiếm những sản phẩm có thể thay
thế được nhau hồn tồn là việc khó. Do đó pháp luật cạnh tranhcũng quy định những
sản phẩm có khả năng thay thế cho nhau khi có nhiều tính chất giống nhau mà khơng
địi hỏi phải hồn tồn giống nhau.

9


Điều 6, Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15-09-2005 qui định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh 2004

10

Trích theo báo cáo của hội đồng cạnh tranh Cộng Hòa Pháp năm 2001, Mục 2, Chương III, Thiên I-thị trường
liên quan, tài liệu hội thảo, Hà Nội.
11
PGS-TS Nguyễn Như Phát, Ths Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Phân tích và luận giải các qui định của Luật Cạnh
tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh vị trí độc quyền, Nxb Tư Pháp, tr. 20.

7


Ba tiêu chí trên cũng được chi tiết hóa trong Nghị định 116/2005/ NĐ-CP, theo
đó tại điểm a, khoản 5, điều 4 của Nghị định: “thuộc tính có thể thay thế cho nhau của
hàng hóa về đặc tính nếu hàng hóa, dịch vụ đó có nhiều tính chất về vật lý, hóa học,
tính năng kỹ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng và khả năng hấp thụ giống
nhau”. Nhưng để xác định sản phẩm này có thể thay thế cho sản phẩm khác hay khơng
thì phải xét khả năng có thể thay thế nhau trên cả ba yếu tố.
Hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế được cho nhau về mục đích sử
dụng nếu mục đích sử dụng của hàng hóa giống nhau. Mục đích sử dụng ở đây được
hiểu là mục đích sử dụng chủ yếu, bởi các nhà sản xuất sẽ ln tìm cách dị biệt hóa
sản phẩm của mình dẫn đến sản phẩm có thể có cùng lúc nhiều cơng dụng khác nhau.
Chẳng hạn trên thị trường điện thoại di dộng hiện nay rất đa dạng, điện thoại không
chỉ dừng lại ở chức năng nghe nói thơng thường nữa mà kèm theo nhiều chức năng
khác như: nghe nhạc, xem phim, chụp ảnh…nhưng mục đích sử dụng chủ yếu của điện
thoại di dộng vẫn là để nghe và gọi. Mục đích sử dụng này xuất phát từ phía người tiêu
dùng vì họ chính là người sử dụng sản phẩm. Vì thế khi phân tích yếu tố liên quan đến
mục đích sử dụng các cơ quan có thẩm quyền nên nhìn nhận dưới góc độ người tiêu
dùng12. Vì khi muốn đánh giá phản ứng của người tiêu dùng nên dựa trên quan điểm

của người tiêu dùng.
Nếu sản phẩm chỉ thỏa mãn về hai yếu tố đặc tính và mục đích sử dụng, thì chưa
đủ để kết luận có thể thay thế nhau mà cịn phải xem xét đến yếu tố giá cả. Tại điểm c,
khoản 5, điều 4 Nghị định 116/2005/NĐ-CP qui định:
Hàng hóa dịch vụ được coi là có thể thay thế được cho nhau về giá cả nếu
trên 50% của một lượng mẫu ngẫu nhiên 1000 người tiêu dùng sinh sống
tại khu vực địa lý liên quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng hóa,
dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hóa, dịch vụ mà
họ đang sử dụng hoặc có ý sử dụng trong trường hợp giá của hàng hóa,
dịch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong 06 tháng liên tiếp.
Như vậy, khi một sản phẩm nào đó tăng giá mà người tiêu dùng chuyển sang
hoặc có ý định chuyển sang sử dụng một sản phẩm khác, thì hai sản phẩm đó được
xem là có thể thay thế nhau. Tiêu chí về khả năng thay thế về giá phụ thuộc chủ yếu
vào nhu cầu, phản ứng của người tiêu dùng. Khi xem xét khả năng thay thế của một
12

PGS-TS Nguyễn Như Phát, Ths Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Phân tích và luận giải các qui định của Luật Cạnh
tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh vị trí độc quyền, Nxb Tư Pháp, tr. 23.

8


hàng hóa, dịch vụ nhất định thì có thể gặp phải rào cản, chẳng hạn thói quen tiêu dùng
của khách hàng. Họ quen sử dụng một sản phẩm nào đó trong thời gian dài và sẽ dành
tình cảm nhất định cho sản phẩm đó. Khi có sự tăng giá nhưng trong khả năng tài
chính họ vẫn tiếp tục sử dụng sản phẩm cũ mà khơng tìm đến sản phẩm thay thế.
Ngồi các yếu tố trên thì yếu tố chủ quan của người tiêu dùng cũng chi phối nhu
cầu tiêu dùng như: sở thích, thị hiếu.. có thể thấy thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực thời
trang và mỹ phẩm. Như vậy có thể dẫn đến việc xác định thị trường liên quan sẽ thiếu
chính xác. Sự phản ứng của khách hàng sẽ kéo theo việc xác định thị trường liên quan

thu hẹp hoặc mở rộng phạm vi. Sự khác biệt giữa Luật Canh Tranh Việt Nam và ở Hoa
Kỳ và Cộng Hòa Pháp là trong khi Luật Cạnh tranh của Hoa Kỳ và Cộng Hòa Pháp lại
qui định theo hướng khống chế mức tối đa và tối thiểu cho việc tăng giá, theo đó mức
tăng giá hợp lý có thể dao động từ 5%-10% và thời gian tăng giá bán là một năm13 còn
Luật Cạnh tranh của ta quy định mức tối thiểu 10% mà không giới hạn mức tối đa.
Thị trường sản phẩm liên quan có thể được xác định là thị trường của một loại
sản phẩm đặc thù hoặc một nhóm các sản phẩm đặc thù14. Như vậy khi xem xét những
sản phẩm liên quan trong trường hợp nhóm các sản phẩm đặc thù ta phải xem thêm thị
trường của những sản phẩm bổ trợ. Giữa những sản phẩm có sự đồng bộ với nhau, thị
trường riêng giữa các sản phẩm này có mối quan hệ với nhau. Tìm hiểu thị trường các
sản phẩm bổ trợ bên cạnh thị trường của sản phẩm đang cần xem xét, giúp đảm bảo
được sự chính xác và đầy đủ trong việc xác định một hành vi vi phạm cụ thể.
Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng
hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự
khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận15. Xác định thị trường địa lý liên quan là sự
đánh giá khả năng thay thế từ cầu. Có thể có nhiều thị trường địa lý liên quan đối với
cùng một loại sản phẩm. Thị trường liên quan ở đây là khu vực địa lý nơi có sự tương
tự về các điều kiện cạnh tranh như: chi phí vận chuyển, thời gian vận chyển hoặc có sự
hiện diện của rào cản gia nhập thị trường giữa các điểm trong phạm vi vùng hoặc giữa
vùng này và vùng khác. Khu vực địa lý đó được xác định theo những căn cứ sau:

13

Trích theo báo cáo của hội đồng cạnh tranh Cộng Hòa Pháp năm 2001, Mục 2, Chương III, Thiên 1. Xem TS
Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Ths Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb Tư
Pháp, Hà Nội, tr.247.
14
Điều 5 Nghị định 116/2005/NĐ-CP
15
Khoản 1, Điều 3 Luật Cạnh Tranh 2004


9


a) khu vực địa lý có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp tham gia phân phối
sản phẩm liên quan; b) cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp khác đóng trên
khu vực địa lý lân cận đủ gần với khu vực địa lý vừa nêu để có thể tham gia
phân phối sản phẩm liên quan trên khu vực địa lý đó; c) chi phí vận chuyển
trong khu vực địa lý đó; d) thời gian vận chuyển hàng hóa, cung ứng dịch
vụ trong khu vực địa lý đó; đ) rào cản gia nhập thị trường16.
Theo qui định của pháp luật chi phí vận chuyển và thời gian vận chuyển làm giá
tăng không quá 10% (mức tối đa). Nếu người đang sử dụng sản phẩm tại một địa điểm
nhất định chuyển sang mua sản phẩm tương tự tại địa điểm khác, khi có sự tăng đáng
kể về giá trong thời gian nhất định thì chúng được xem là có cùng thị trường địa lý liên
quan. Nhưng khi xem xét thị trường địa lý liên quan nên chú ý về chi phí và thời gian
đi lại giữa các địa điểm đó. Bởi khi thay đổi địa điểm sử dụng sản phẩm này sang địa
điểm khác chỉ vì giá thì người tiêu dùng sẽ có sự so sánh giữa chi phí phát sinh và thời
gian cho việc đi lại và sự tăng lên của giá sản phẩm. Nếu họ chấp nhận được thì các
địa điểm đó được coi là cùng khu vực mà các sản phẩm có thể thay thế được cho
nhau17. Mục đích của xác định thị trường liên quan để xác định vị trí thống lĩnh của
một doanh nghiệp cùng với các đối thủ cạnh tranh trên thực tế và tiềm năng.
Như đã đề cập, việc xác định thị trường liên quan có vai trị rất quan trọng. Vì
vậy khi xác định thị trường liên quan địi hỏi phải có sự chính xác. Bởi sự gia tăng nhu
cầu của người sử dụng sản phẩm tại địa điểm nhất định, một sản phẩm nhất định trong
thị trường liên quan có thể đến từ nhiều lý do: đó có thể do sự tác động từ một tin đồn,
biến động thị trường, hay thay đổi thói quen tiêu dùng …. Việc xác định thị trường
liên quan là quá trình hết sức phức tạp. Khi xác định thị trường liên quan được chính
xác thì mới có thể xác định chính xác có hay khơng sự tồn tại vị trí thống lĩnh, hành vi
lạm dụng vị trí thống lĩnh.
1.2 Khái niệm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hạn chế cạnh tranh:

Kết quả của quá trình cạnh tranh, doanh nghiệp chiến thắng sẽ ngày càng lớn
mạnh hơn, dần dần nắm trong tay quyền lực thị trường và vươn lên thành doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh. Khi đó doanh nghiệp có thể sẽ thực hiện các hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh nhằm thu lợi nhuận tối đa. Quyền lực thị trường càng lớn thì
16

Khoản 2, Điều 7, Nghị định 116/2005/NĐ-CP
PGS-TS Nguyễn Như Phát, Ths Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Phân tích và luận giải các qui định của Luật Cạnh
tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh vị trí độc quyền, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, tr.31.
17

10


mức độ nguy hiểm của hành vi lạm dụng càng cao. Luật Cạnh tranh của Liên Minh
Châu Âu không đưa ra định nghĩa về lạm dụng vị trí thống lĩnh. Mà trong quá trình xét
xử những vụ việc trên thực tiễn Tòa án Châu Âu đã đưa ra cách hiểu về “lạm dụng” là:
hành vi ứng xử của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, nơi mà kết quả của
việc định làm đã hiện diện, làm cho mức độ cạnh tranh bị yếu đi và hoàn toàn dựa vào
những phương thức khác nhau về điều kiện cạnh tranh thơng thường trong hàng hóa,
hoặc dịch vụ, căn cứ vào hành vi của những chủ thể thương mại tác động cản trở mức
độ cạnh tranh đang tồn tại trên thị trường hoặc sự tăng trưởng cạnh tranh18. Luật Cạnh
tranh 2004 chưa đưa ra được khái niệm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh là gì mà chỉ
đưa ra khái niệm về hạn chế cạnh tranh nói chung. Trong quá trình xây dựng Luật
Cạnh tranh, khái niệm về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn
chế cạnh tranh được dự định mô tả là các hành vi vi phạm có khả năng và nhằm mục
đích duy trì, củng cố vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của doanh nghiệp thực hiện
hành vi. Sau này cách tiếp cận của đạo luật được thay đổi theo hướng xây dựng khái
niệm chung về hành vi cạnh tranh, đồng thời cố gắng liệt kê, mô tả cụ thể từng hành vi
cụ thể.19 Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh là một trong những hành vi hạn chế cạnh

tranh, xét về biểu hiện: hành vi được thực hiện bởi chủ thể có vị trí thống lĩnh, dấu
hiệu về hậu quả là khả năng làm giảm, làm sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị
trường. Từ quy định của luật có thể hình thành cách hiều về hành vi lạm dụng là: hành
vi nhằm hạn chế cạnh tranh, được quy định trong luật do doanh nghiệp hoặc nhóm
doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thực hiện để duy trì vị trí thống của mình, làm giảm,
sai lệch và cản trở cạnh tranh trên thị trường. Bộ quy tắc mẫu về cạnh tranh của Liên
Hiệp Quốc thì có định nghĩa: “hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, và độc quyền để hạn
chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc
độc quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó thường bằng cách hạn chế
khả năng gia nhập thị trường và hạn chế quá mức cạnh tranh”20.
Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là hành vi khai thác sức mạnh thị
trường một cách thái quá nhằm đạt được mục đích hạn chế cạnh tranh, loại bỏ đối thủ,
thu lợi bất chính. Hành vi lạm dụng chỉ có thể được thực hiện sau khi doanh nghiệp đã
18

Xem Valentine korah (2000), EC competition law and practice-seventh, Hard publishing, tr. 107.

19

TS Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Ths Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb
Tư Pháp, Hà Nội, tr.236.
20
Hoàng Xuân Bắc, Bộ quy tắc mẫu về cạnh tranh của Liên Hiệp Quốc, Tổ chức và phát triển Liên Hợp Quốc,
Luật mẫu về cạnh tranh, tiếng việt, tr. 52.

11


có vị trí thống lĩnh rồi. Pháp luật cạnh tranhkhơng nhằm ngăn cản việc tạo lập vị trí
thống lĩnh bằng con đường hợp pháp mà hướng đến xử lý hành vi lạm dụng vị trí

thống lĩnh để cản trở cạnh tranh, bóp méo thị trường. Chúng ta phải nhìn nhận rằng,
nếu một doanh nghiệp ở vị trí thống lĩnh thì chưa bị xem là vi phạm. Bởi không phải
bao giờ chủ thể giữ vị trí thống lĩnh cũng có xu hướng thực hiện hành vi lạm dụng để
hạn chế cạnh tranh. Luật Cạnh tranh Canada cho rằng bản thân việc một doanh nghiệp
thống lĩnh và có quyền lực thị trường chưa đủ để đảm bảo cho sự can thiệp của Luật
Cạnh tranh. Bản thân vị trí thống lĩnh tự thân nó khơng bị cấm, chỉ khi doanh nghiệp
sử dụng một cách lạm dụng vị trí thống lĩnh đó để loại bỏ đối thủ cạnh tranh, thơng
qua đó làm sai lệch, biến dạng quy Luật Cạnh tranh trên thị trường thì hành vi đó mới
bị xem xét xử lý21. Do đó cần khuyến khích việc tạo lập vị trí thống lĩnh, tuy nhiên
ranh giới từ vị trí thống lĩnh đến hành vi lạm dụng rất mong manh. Doanh nghiệp luôn
cố duy trì vị trí thống lĩnh của mình càng lâu càng tốt nên có thể thực hiện hành vi lạm
dụng để hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên cơ chế giám sát các doanh nghiệp có vị trí
thống lĩnh của nước ta hiện nay, chưa thực sự phát huy được hiệu quả. Đây sẽ là khó
khăn lớn cho chúng ta trong việc xác định hành vi lạm dụng và xử lý nó. Để xem xét
một hành vi cụ thể của một doanh nghiệp có vi phạm những quy định về lạm dụng vị
trí hay khơng thì cần đánh giá hành vi đó trong hoán cảnh và cấu trức thị trường cụ thể
Pháp luật các nước đều xây dựng cho mình khái niệm về hành vi hạn chế cạnh
tranh, chẳng hạn Luật Thương Mại lành mạnh và những quy định về độc quyền của
Hàn Quốc qui định : “hành vi gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể là hành vi gây
ảnh hưởng hoặc được coi là gây ảnh hưởng tới giá cả, khối lượng, chất lượng và các
điều kiện nhất định dựa trên ý kiến của một doanh nghiệp nhất định hay hiệp hội
thương mại nhất định và kết quả là làm giảm cạnh tranh trên một thị trường thương
mại nhất định”22. Luật Cạnh tranh lành mạnh của Croatia qui định: “kiềm hãm cạnh
tranh tự do là sự ngăn cản hạn chế công việc của thương nhân hoặc là sự ngăn cản, hạn
chế công việc của thương nhân liên quan đến việc mua bán hàng hóa và dịch vụ trên
thị trường”23. Trong bộ quy tắc mẫu về cạnh tranh của Liên Hiệp Quốc: “hành vi hạn
chế kinh doanh là những hành vi hay ứng xử của doanh nghiệp, thông qua sự sáp nhập
21

Ths Nguyễn Hữu Huyên (2004), Luật Cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu, NxbTư Pháp, Hà Nội,

tr.73.
22

Khoản 8, điều 2 luật thương mại và những qui định về độc quyền của Hàn Quốc.

23

Điều 6, Luật Cạnh tranh lành mạnh Crotia.

12


hay lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hạn chế khả năng tiếp cận thị trường, hay tạo
ra các sức ép cạnh tranh quá mức, gây ra hay sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến
thương mại quốc tế, đặc biệt là thương mại của những nước đang phát triển và sự phát
triển kinh tế của những nước này, bởi những thỏa thuận hay dàn xếp chính thức, phi
chính thức, bằng văn bản chung hay không bằng văn bản giữa các doanh nghiệp có
cùng lợi thế thị trường”24. Ban hội thẩm WTO căn cứ vào nghĩa của thuật ngữ theo từ
điển và căn cứ vào Pháp luật cạnh tranhcủa các thành viên WTO, các khuyến nghị, các
thảo luận về pháp luật cạnh tranhcủa các tổ chức quốc tế, mục đích qui định về pháp
luật cạnh tranhtrong tài liệu tham chiếu đã có khái niệm: “hành vi hạn chế cạnh tranh
phải được hiểu là các hành vi làm giảm cạnh tranh trên thị trường, bao gồm các thỏa
thuận về giá theo chiều ngang ( giữa các đối thủ cạnh tranh và thỏa thuận phân chia thị
trường)”. Đối với các điều khoản bắt buộc về ngăn chăn hạn chế cạnh tranh, các quốc
gia thành viên WTO phải có nghĩa vụ tích cực điều tra và ngăn chặn sự tồn tại các
hành vi của các doanh nghiệp hạn chế cạnh tranh. Quốc gia thành viên sẽ vi phạm
nghĩa vụ này khi biết sự tồn tại của những hành vi đó nhưng khơng loại bỏ chúng.25
Luật Cạnh tranh cũng đưa ra khái niệm tại khoản 3, điều 3 về hành vi hạn chế
cạnh tranh : “hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai
lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh

tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung
kinh tế”. Như vậy, từ khái niệm trên có thể thấy hành vi hạn chế cạnh tranh được thực
hiện bởi doanh nghiệp, hậu quả là làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường
từ đó thiết lập quyền lực thị trường cho doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp thực
hiện hành vi. Theo tác giả khái niệm trên nên bổ sung thêm về mặt chủ thể hành vi là
“doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp” thì sẽ bao qt hơn. Vì khi thực hiện hành vi
cạnh tranh thì khơng chỉ là doanh nghiệp mà có thể là một nhóm các doanh nghiệp như
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh…
Khi cạnh tranh cao độ sẽ làm xuất hiện các doanh nghiệp có khả năng khống chế
thị trường. Các doanh nghiệp có khả năng này là các doanh nghiệp nắm trong tay
quyền lực thị trường. Hành vi hạn chế cạnh tranh ln hướng đến hình thành sức mạnh

24

Điểm 1, mục B, Bộ quy tắc mẫu về cạnh tranh của Liên Hiệp Quốc

25

http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&id=331:cvhcct&catid=1
18:ctc20075&Itemid=110

13


thị trường tác động làm cản trở thị trường, bóp méo, biến dạng thị trường26. Nếu như
hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh ảnh hưởng chủ yếu đến đối thủ cạnh
tranh thì hành vi hạn chế cạnh tranh ảnh hưởng đến nền kinh tế, các doanh nghiệp
khác, cả người tiêu dùng. Pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh như một mảng quan
trọng của pháp luật cạnh tranh. Trong xu thế ngày nay, hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh hạn chế cạnh tranh sẽ ngày càng phổ biến và tinh vi hơn, bởi khơng ít doanh

nghiệp muốn trở thành vị trí thống lĩnh để chi phối thị trường hướng đến siêu lợi
nhuận
1.3 Hậu quả của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh đối với nền kinh tế, doanh
nghiệp và người tiêu dùng.
Cạnh tranh được xem là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, hành vi cản trở,
hạn chế cạnh tranh là đi ngược lại quy định pháp luật, đạo đức kinh doanh. Khi chủ thể
tham gia cạnh tranh nắm trong tay quyền lực thị trường lớn thì khó tránh khỏi các chủ
thể này có những hành vi tác động tiêu cực lên quá trình cạnh tranh. Và những hành vi
này có thể sẽ phá vỡ cấu trúc và tương quan thị trường, triệt tiêu cạnh tranh. Khi trong
thị trường có sự tồn tại của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thì chịu ảnh hưởng
khơng chỉ là các doanh nghiệp, mà cịn cả nền kinh tế và người tiêu dùng
Nền kinh tế sẽ phát triển nhanh, mạnh khi trên thị trường có sự cạnh tranh lành
mạnh. Trong quá trình sản xuất, quá trình tích lũy tư bản sẽ xuất hiện những doanh
nghiệp nắm trong tay quyền lực thị trường và trở thành doanh nghiệp có vị trí thống
lĩnh. Khi những doanh nghiệp này có hành vi hạn chế cạnh tranh thì sự ảnh hưởng cho
nền kinh tế là không nhỏ. Thị trường sẽ bị bóp méo, q trình sản xuất phân phối sản
phẩm bị chi phối, cạnh tranh bị suy giảm, sự phát triển khoa học công nghệ bị cản trở.
Trong khi cạnh tranh đang là động lực phát triển của nền kinh tế, các doanh nghiệp
đều có cơ hội như nhau trong một mơi trường cạnh tranh lành mạnh. Từ đó mỗi doanh
nghiệp không ngừng nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện sản phẩm của mình để thu
hút tiêu dùng trong nước và cả nước ngoài. Tạo điều kiện cho các giao dịch kinh tế
diễn ra sôi động hơn đem lại nguồn lợi cho nền kinh tế, cho đất nước. Khi nền kinh tế
phát triển ổn định, bền vững, sẽ thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư từ nước ngồi hình
26

TS Lê Danh Vĩnh, Hồng Xn Bắc, Ths Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb
Tư Pháp, Hà Nội, tr.50.

14



thành nên bức tranh kinh tế sôi động. Một nền kinh tế muốn đi lên và phát triển thì
khơng thể thiếu cạnh tranh. Vai trị của cạnh tranh ln được nhấn mạnh trong nền
kinh tế thị trường. Nhưng khi hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh xảy ra nó sẽ gây hạn
chế cạnh tranh, làm mức độ cạnh tranh yếu đi, từ đó cản trở sự duy trì và phát triển của
cạnh tranh. Điều đó đồng nghĩa nó đang kiềm hãm sự phát triển của nền kinh tế.
Không giống như hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi hạn chế cạnh
tranh không chỉ gây ảnh hưởng đến một đối thủ cạnh tranh cụ thể, mà nó cịn gây ảnh
hưởng đến tồn bộ các doanh nghiệp cịn lại. Khi giữ vị trí thống lĩnh, doanh nghiệp
thực hiện hành vi lạm dụng ưu thế của mình sẽ gây khơng ít khó khăn cho các doanh
nghiệp nhỏ. Khi doanh nghiệp đang chiếm giữ vị trí thống lĩnh đồng nghĩa doanh
nghiệp đó đang sở hữu cho mình nguồn vốn mạnh, khoa học kỹ thuật vượt trội hơn so
với các doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp lợi dụng ưu thế đó để chèn ép làm cho các
doanh nghiệp hiện có, các doanh nghiệp mới không thể tham gia thị trường do gặp
phải sự cản trở, từ đó kiếm lợi cho bản thân. Như vậy trên thị trường các doanh nghiệp
khơng cịn được hưởng sự bình đẳng nữa, và các doanh nghiệp khác cũng mất hẳn sự
chủ động khi tham gia các giao dịch với các doanh nghiệp thống lĩnh này. Chịu ảnh
hưởng mạnh mẽ nhất có lẽ là các doanh nghiệp nhỏ, vốn hạn hẹp và sức cạnh tranh
yếu. Do đó có thể dẫn đến hậu quả là phá sản hàng loạt của các doanh nghiệp nhỏ, yếu
vì sản xuất bị đình trệ, sản phẩm không thể cạnh tranh với các sản phẩm, dịch vụ từ
các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh. Nếu sự phá sản này xuất phát từ năng lực của
doanh nghiệp như: không thể hiểu và thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, khơng chịu đầu tư
cải tiến sản phẩm, thì đó chỉ là quy luật đào thải trong nền kinh tế. Nhưng nếu xuất
phát từ hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh cạnh tranh thì cần phải được xem xét.
Trong điều kiện tồn cầu hóa, trong giai đoạn mà nước ta đã trở thành thành viên
WTO, sự thu hút đầu tư nước ngoài nhiều, hệ quả là ngày càng đơng hơn các tập đồn
kinh tế lớn, mạnh về vốn, kỹ thuật, và kinh nghiệm gia nhập thị trường Việt Nam. Đó
là dấu hiệu đáng mừng song cạnh tranh sẽ được đẩy cao và gay gắt hơn. Không chỉ
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước, mà còn giữa doanh nghiệp trong nước
với doanh nghiệp nước ngoài. Những doanh nghiệp nước ngồi là những doanh nghiệp

có khả năng thống lĩnh thị trường rất lớn, vì vậy khó tránh khỏi hành vi lạm dụng vị trí
đó để chi phối thị trường gây tổn hại cho các doanh nghiệp trong nước. Trong khi đó
nước ta với các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại chiếm ưu thế, chiếm trên 90% trong tổng
số các doanh nghiệp. Do đó cạnh tranh với các tập đồn lớn của nước ngồi là điều
khơng hề dễ. Nếu có sự lạm dụng ưu thế để hạn chế cạnh tranh thì chịu hậu quả nặng

15


nề nhất cũng sẽ là những doanh nghiệp nhỏ này. Khi mà các tập đoàn kinh tế nước
ngoài với khả năng tài chính lớn hoặc sự hỗ trợ tài chính ln có ý muốn chiếm thị
phần của các doanh nghiệp nhỏ bé của Việt Nam. Do đó các doanh nghiệp trong nước
phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của chính mình, phải hiểu rõ thị
trường cần gì để đáp ứng các nhu cầu một cách tốt nhất, phải tận dụng lợi thế cạnh
tranh mà mình đang có.
Trong mơi trường cạnh tranh, người tiêu dùng đóng vai trị quan trọng, sự lựa
chọn của người tiêu dùng là yếu tố quyết định sự tồn tại của của doanh nghiệp. Bất kỳ
doanh nghiệp nào khi kinh doanh cũng hướng đến người tiêu dùng, cụ thể là nhu cầu
của người tiêu dùng. Tìm hiểu, xem xét người tiêu dùng muốn gì và cần gì để định
hướng cho quá trình sản xuất, phân phối của doanh nghiệp mình. Nên khi xuất hiện
hành vi lạm dụng của những chủ thể giữ vị trí thống lĩnh thì lợi ích của người tiêu
dùng sẽ bị đe dọa. Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh tác động đến giá sản phẩm, đến sự
phân phối sản phẩm làm cho khách hàng bị thiệt hại. Khách hàng bị bóc lột một phần
thu nhập, khi đó quan hệ giữa người bán và người mua khơng cịn bình đẳng nữa. Như
đã nói phần trên, hành vi lạm dụng làm cho các doanh nghiệp khác không thể gia nhập
thị trường, hoặc bị loại bỏ bởi hành vi bất bình đẳng trong cạnh tranh. Hậu quả là
doanh nghiệp khác đó bị thua lỗ, phá sản. Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến
bản thân các doanh nghiệp mà còn gián tiếp ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu
dùng. Hàng hóa sẽ kém phong phú hơn, không thỏa mãn được yêu cầu, lựa chọn của
người tiêu dùng, vì những sản phẩm của những doanh nghiệp trên không thể đến tay

người tiêu dùng. Khơng chỉ dừng lại ở đó, các doanh nghiệp thống lĩnh cịn có thể hạn
chế sản xuất, gây khan hiếm giả tạo hay cản trở sự phát triển khoa học kỹ thuật. Người
tiêu dùng sẽ không được thụ hưởng những sản phẩm có áp dụng thành quả của khoa
học cơng nghệ, kỹ thuật mới nhất mà đáng ra họ có quyền được hưởng. Người tiêu
dùng còn phải trả mức giá cao hơn so với giá thực tế của hàng hóa, dịch vụ. Như vậy
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hạn chế cạnh tranh đã khiến cho người tiêu dùng
khơng được đối xử bình đẳng. Hành vi này là đi ngược lại với cạnh tranh, nó ảnh
hưởng tới quyền được thỏa mãn nhu cầu cơ bản, quyền được lựa chọn của người tiêu
dùng…
Như vậy, tác động của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh là rộng, khơng dừng lại
đối với doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nó mà cịn cho cả nền kinh tế và lợi ích
của người tiêu dùng. Do đó nhu cầu kiểm sốt hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường hạn chế cạnh tranh là hết sức cần thiết.

16


1.3 Sự cần thiết của việc kiểm soát đối với hành vi của các doanh nghiệp có vị trí
thống lĩnh:
Như những tác động của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh đã đề cập ở phần trên,
để ngăn chặn hậu quả xảy ra cho nền kinh tế, cho cộng đồng các doanh nghiệp, cho
người tiêu dùng thì địi hỏi phải có sự kiểm sốt và dần đi đến loại bỏ hành vi này. Nếu
trong nền kinh tế thị trường q tự do khơng có sự can thiệp của Nhà nước sẽ dẫn đến
mất cân đối giữa các ngành, các vùng, mất ổn cho nền kinh tế. Để kiểm soát tốt nhất,
hiệu quả nhất hành vi này khơng gì khác chính bằng cơng cụ pháp luật.
Trong nền kinh tế ln có nhiều doanh nghiệp quy mơ lớn nhỏ khác nhau, để tồn
tại, tìm kiếm lợi nhuận tối đa trong quá trình cạnh tranh khó tránh khỏi những hành vi
phản cạnh tranh. Có thể Luật Cạnh tranh cũng như các quy định về chống hành vi hạn
chế cạnh tranh đã xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới từ rất sớm nhằm chống lại
những doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thực hiện những hành vi hạn chế cạnh tranh.

Nhu cầu kiểm soát cạnh tranh là quan điểm sớm được chấp nhận tại Pháp. Luật ngày
2/7/1963 (sửa đổi năm 1967) qui định về hành vi lạm dụng vị trí ưu thế và chống bán
phá giá được ban hành tại Pháp.27 Hoa Kỳ với đạo luật Clayton (1914) điều tiết các
vấn đề về giá, điều khoản độc quyền ..v..v..28. Nhu cầu kiểm sốt đối với doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh ln được đặt ra ở những nước đã hoặc đang xây dựng nền kinh tế
thị trường.
Tại Việt Nam Nhà nước giữ vai trò là chủ thể quản lý xã hội, đảm bảo xây dựng
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với mơi trường kinh
doanh bình đẳng, công bằng. Hiện nay hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh đã và đang
xảy ra ngày càng nhiều ở các nước trên thế giới và ngay ở nước ta. Trước khi có Luật
Cạnh tranh, vấn đề vị trí thống lĩnh thị trường chưa được quy định rõ ràng và cụ thể
trong một văn bản pháp luật nào. Tuy nhiên đã có những hành vi mang dấu hiệu của
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh diễn ra trên thực tế. Việc ghi nhận, điều chỉnh hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trong Luật Cạnh tranh 2004 là sự cần thiết, và là mong
muốn của toàn xã hội.

27

Ths Nguyễn Hữu Huyên (2004), Luật Cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu, NxbTư Pháp, Hà
Nội,tr.69.
28
Ths Nguyễn Hữu Huyên (2004), Luật Cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu, NxbTư Pháp, Hà Nội,
tr.30.

17


Sự kiểm sốt của Nhà nước càng có ý nghĩa lớn trong giai đoạn hiện nay, khi mà
doanh nghiệp trong nước quy mô vừa và nhỏ, năng lực cạnh tranh chưa đủ mạnh, số
lượng các hộ kinh doanh cá thể tuy rất lớn nhưng quy mô và phạm vi kinh doanh là rất

cũng nhỏ, hẹp. Với các chính sách mở cửa thị trường thu hút đầu tư nước ngoài được
ghi nhận trong : Hiến Pháp 1992, Luật Đầu tư nước ngồi, Luật Doanh nghiệp… Sự
cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam không chỉ diễn ra trên thị trường trong nước mà
cịn trên cả thị trường quốc tế, khơng chỉ giữa hàng hóa Việt Nam với nhau mà cả với
hàng nhập khẩu, không chỉ giữa doanh nghiệp Nhà nước với doanh nghiệp tư nhân
Việt Nam mà còn cạnh tranh với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi. Sự xuất
hiện của các thương hiệu lớn có uy tín ở nước ngoài trên thị trường Việt Nam. Những
tập đoàn với tiềm lực về tài chính, kỹ thuật, kinh nghiệm ln có khả năng nắm giữ vị
trí thống lĩnh thị trường sẽ dẫn đến cạnh tranh trở nên gay gắt hơn. Khi đó có thể làm
xuất hiện những doanh nghiệp, tập đồn không ngừng ngại thực hiện hành vi vi phạm
để cản trở cạnh tranh. Nhà nước cần có cơ chế giám sát hợp lý đối với các doanh
nghiệp đang giữ vị trí thống lĩnh trong các ngành nghề, các lĩnh vực. . Vì khi doanh
nghiệp đạt được vị trí thống lĩnh rồi dễ dẫn đến thực hiện những hành vi lạm dụng
nhằm duy trì vị trí thống lĩnh mà mình có được và tìm kiếm siêu lợi nhuận.
Khi Nhà nước kiểm sốt tốt hành vi của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh
phần nào giúp cho các doanh nghiệp yên tâm hơn trong hoạt động kinh doanh của
mình, từ đó tập trung sản xuất đầu tư cải tiến kỹ thuật tạo ra những sản phẩm có chất
lượng cao, mẫu mã đẹp. Khơng chỉ giúp các doanh nghiệp mà cịn đảm bảo được
quyền lợi của người tiêu dùng, giúp họ có thể thụ hưởng được những hàng hóa, dịch
vụ tốt nhất với mức giá hợp lý nhất. Qua đó tạo điều kiện cho các giao dịch mua bán
trên thị trường diễn ra sơi nổi hơn, kích thích kinh tế phát triển. Ngồi ra, việc ghi
nhận hành vi này cịn tạo cơ cở pháp lý để chống lại các hành vi phản cạnh tranh,
khuyến khích mọi người cùng chung tay bảo vệ nền cạnh tranh lành mạnh.
Việc xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh đã thể hiện mong muốn xây dựng
môi trường cạnh tranh công bằng, tạo ra sự cân đối về lợi ích giữa các doanh nghiệp,
qua đó còn bảo vệ người tiêu dùng và đặc biệt hướng đến nền kinh tế thị trường phát
triển ổn định. Tuy nhiên trong q trình kiểm sốt hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh,
sự can thiệp của Nhà nước cũng phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của nền kinh
tế thị trường29. Trong xu thế hội nhập, các hành vi này sẽ ngày càng xuất hiện nhiều,
29


TS Đặng Vũ Huân (2004), Pháp luật về kiểm soát và chống cạnh tranh khơng lành mạnh, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.

18


diễn ra mạnh mẽ hơn, tinh vi hơn. Những nước đang phát triển như chúng ta cũng bị
những hành vi hạn chế cạnh tranh làm tổn hại khơng kém gì những nước phát triển.
Nếu kiểm soát tốt hành vi hạn chế cạnh tranh nói chung cũng như hành vi lạm dụng vị
trí thống lĩnh thị trường nói riêng sẽ giúp chúng ta xây dựng được nền kinh tế thị
trường thực sự năng động hơn trong tương lai. Do đó yêu cầu đặt ra đối với pháp luật
cạnh tranh, đặc biệt là chế định liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh cũng
phải ngày càng được hồn thiện hơn để phù hợp với thực tiễn.
Kết luận chương 1:
Trong chương này tác giả đi vào những vấn đề lý luận về hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh, đồng thời có sự liên hệ với pháp luật một số nước để thấy được sự giống và
sự khác biệt của pháp luật nước ta so với một số nước đó. Quan điểm của Nhà nước ta
là không cấm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh mà cấm các hành vi lạm dụng xuất phát
từ vị trí thống lĩnh có được của các doanh nghiệp. Tuy khơng cấm doanh nghiệp có vị
trí thống lĩnh nhưng cũng cần có cơ chế giám sát phù hợp để tránh hình thành những
doanh nghiệp nắm quyền lực quá lớn. Cấm các hành vi lạm dụng xuất phát từ mong
muốn xây dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng. Bởi hậu quả mà
những hành vi lạm dụng để lại là không nhỏ. Chương này tác giả cũng đã phân tích
những hậu quả mà hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh gây ra. Từ những hậu quả đó để
biết về mức độ tác động và ảnh hưởng của các hành vi này cho nền kinh tế, cho cộng
đồng doanh nghiệp, cho người tiêu dùng . Để ngăn chặn hậu quả xảy có thể xảy ra trên
thực tế thì việc kiểm sốt hành vi lạm dụng và thậm chí ngay cả khi doanh nghiệp đạt
được vị trí thống lĩnh là cần thiết. Từ sự tiếp cận những lý luận chung để có sự hiểu
biết khái quát về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hạn chế cạnh tranh trước khi đi vào

phân tích pháp luật cạnh tranhcủa Việt Nam và thực tiễn của hành vi.

19


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ HÀNH VI
LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH
TRANH TẠI VIỆT NAM.
2.1 Pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hạn chế cạnh tranh
2.1.1 Khái quát pháp luật về hành vi hạn chế cạnh tranh:
Nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế là điều kiện cho cạnh tranh
tồn tại. Chính sách cạnh tranh là một bộ phận quan trọng, nền tảng pháp lý cho một
nền kinh tế thị trường. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt
Nam tháng 12 năm 1986, với việc thừa nhận kinh tế nhiều thành phần và chuyển đổi từ
cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là bước
ngoặc cho sự hình thành cơ chế cạnh tranh tại Việt Nam. Song cho đến 2004 Luật
Cạnh tranh mới được ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2005, và được qui
định chi tiết một số điều bởi Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15-09-2005. Luật canh
tranh 2004 gồm có 6 chương, 123 điều. Luật Cạnh tranh được xem là văn bản có ý
nghĩa quan trọng, tạo hành lang và công cụ pháp lý để kiểm soát, chống lại các hành vi
hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh. Khác biệt so với Hoa Kỳ, sự phát
triển mạnh mẽ của nền kinh tế, ổn định trong đầu tư nên chính sách cạnh tranh của
Hoa Kỳ tập trung vào tăng phúc lợi cho người tiêu dùng và bảo vệ quá trình cạnh
tranh, tăng hiệu quả kinh tế. 30 Đối với Việt Nam, thị trường còn khá non trẻ, các thiết
chế của thị trường chưa hình thành đầy đủ và chưa đồng bộ, do đó chính sác cạnh
tranh cịn tập trung vào việc xây dựng thị trường cạnh tranh thực sự và hình thành các
thiết chế cần thiết để duy trì và bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Luật Cạnh tranh của nước ta được xây dựng là kết quả của quá trình tham khảo,
nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm từ các nước có nền cạnh tranh phát triển, đồng thời
trên cơ sở xem xét thực trạng các doanh nghiệp Việt Nam. Khác với nhiều nước, Việt

Nam ban hành một đạo luật chung quy định hành vi liên quan đến cạnh tranh: cạnh
tranh không lành mạnh, hạn chế cạnh tranh, chứ không nằm trong nhiều đạo luật như
một số nước khác như : Đức, Trung Quốc… Trong pháp luật cạnh tranh hiện nay có
thể chia thành hai mảng chính : pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và
pháp luật về hành vi hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên các hành vi hạn chế cạnh tranh
dường như được sự quan tâm nhiều hơn từ các nhà lập pháp, các nhà nghiên cứu. Có lẽ
30

TS Lê Danh Vĩnh, Hồng Xn Bắc, Ths Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb
Tư Pháp, Hà Nội, tr.59-60.

20


xuất phát từ sự phức tạp của hành vi hạn chế cạnh tranh và tính nguy hiểm của nó.
Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh tập trung bảo vệ cơ cấu và thiết chế thị trường
bằng thái độ nghiêm khắc của công quyền. Cho đến nay Luật Cạnh tranh đã có hiệu
lực được bốn năm nhưng số lượng văn bản hướng dẫn thi hành cũng rất khiêm tốn.
Những quy định chi tiết liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh chủ yếu có thể tìm
thấy trong Nghị định 116/2005/NĐ-CP. Tuy nhiên Nghị định này vẫn chưa thể làm rõ
được hết những vấn đề mà luật cịn bỏ ngỏ. Ngồi Luật Cạnh tranh là nguồn điều
chỉnh chủ yếu thì một số vấn đề liên quan đến hạn chế cạnh tranh cũng được quy định
rải rác trong một số văn bản khác như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng
khoán, Luật Tổ chức tín dụng…
Hành vi hạn chế cạnh tranh theo pháp luật cạnh tranhViệt Nam hiện nay gồm có:
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh; lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền; tập trung
kinh tế được quy định tại chương 2 Luật Cạnh tranh 2004. Theo đó Luật Cạnh tranh đã
đưa ra khái niệm chung về hạn chế cạnh tranh và liệt kê từng hành vi cụ thể cùng
những biểu hiện của các hành vi hạn chế cạnh tranh kể trên. Từng hành vi cụ thể trong
nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh thì có những đặc điểm riêng và tác động khác nhau.

Tuy nhiên, giữa các hành vi hạn chế cạnh tranh cũng có mối liên hệ nhất định, chẳng
hạn như: tập trung kinh tế là một trong những ngun nhân hình thành nên vị trí thống
lĩnh, vị trí độc quyền. Vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền đều để chỉ những doanh
nghiệp nắm giữ quyền lực thị trường nên hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh và vị trí
độc quyền cũng có nhiều biểu hiện giống nhau, cụ thể quy định tại điều 13 Luật Cạnh
tranh đã liệt kê sáu hành vi vi phạm bị cấm dành cho cả trường hợp lạm dụng vị trí độc
quyền lẫn vị trí thống lĩnh. Nhưng ảnh hưởng mà hành vi lạm dụng vị trí độc quyền
gây ra lớn hơn và sâu sắc hơn so với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh.
Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hạn chế cạnh tranh là một biểu hiện của hành
vi hạn chế cạnh tranh mà trong khóa luận này tác giả sẽ tập trung phân tích. Có thể
nhận thấy những vấn đề liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường về
cơ bản mới được quy định tai mục 2 Luật Cạnh tranh 2004. Những văn bản trước đây
hầu như không quy định cụ thể mà chỉ đề cập tới một cách khái quát và sơ lược. Như
trong Pháp lệnh Bưu Chính, Viễn Thông 25/5/2002 là văn bản đầu tiên đề cập đến vấn
đề “doanh nghiệp chiếm thị phần không chế”, “doanh nghiệp chiếm giữ trên 30% thị

21


×