Tải bản đầy đủ (.pdf) (71 trang)

Pháp luật bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tại việt nam hhững vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (905.98 KB, 71 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

HỒ THỊ NGỌC ÁNH

PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM
NGHỀ NGHIỆP TẠI VIỆT NAM- NHỮNG VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thương mại

TP.HỒ CHÍ MINH – 2011


TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
--------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM
NGHỀ NGHIỆP TẠI VIỆT NAM- NHỮNG VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

SINH VIÊN THỰC HIỆN: HỒ THỊ NGỌC ÁNH
KHÓA: 32

MSSV: 3220002


GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THỊ THỦY

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2011


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của bản thân tơi, có sự hỗ trợ từ cơ
giáo hướng dẫn là TS.Nguyễn Thị Thủy. Trong khóa luận, tơi có sử dụng một số thơng tin,
đánh giá, nhận định của các tác giả khác và đều có chú thích nguồn gốc. Nếu phát hiện có
bất kỳ sự gian lận nào, tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả
khóa luận của mình.


Mục lục
Nội dung
Trang
Lời mở đầu.............................................................................................. 1
Chương I Những vấn đề lý luận chung về bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp
1.1.Sự hình thành của bảo hiểm và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp ... 4
1.2.Khái niệm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp ..................................... 7
1.2.1.Về thuật ngữ bảo hiểm ................................................................. 8
1.2.2.Trách nhiệm nghề nghiệp ............................................................ 9
1.2.3.Khái niệm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp ........................... 11
1.3.Đặc trưng của bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp............................. 12
1.3.1.Đối tượng bảo hiểm mang tính trừu tượng ................................. 12
1.3.2.Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp mang tính bắt buộc đối với
một số ngành nghề pháp luật quy đinh ...................................... 12
1.3.3.Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ thực hiện nghĩa vụ trả tiền khi có
u cầu địi bồi thường thiệt hại của người thứ ba..................... 13

1.3.4.Số tiền bảo hiểm thực chất thuộc về bên thứ ba ......................... 14
1.3.5.Tổn thất phải phát sinh từ hoạt động nghề nghiệp ...................... 14
1.3.6.Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp chủ yếu là bảo hiểm trách
nhiệm theo hợp đồng ................................................................ 15
1.3.7.Phương thức bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là phương thức
bảo hiểm có giới hạn................................................................. 16
1.3.8.Lỗi trong bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp ............................. 16
1.3.9.Thế quyền trong bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp .................. 19


Kết luận chương I ..................................................................................... 22
Chương II Quy định pháp luật Việt Nam về bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp
2.1.Cơ sở pháp lý đặt ra trách nhiệm nghề nghiệp ................................... 23
2.2.Đối tượng tham gia bảo hiểm và đối tượng được bảo hiểm ................ 25
2.2.1.Đối tượng tham gia bảo hiểm..................................................... 25
2.2.2.Đối tượng được bảo hiểm .......................................................... 25
2.3.Phạm vi bảo hiểm ................................................................................ 26
2.3.1.Phạm vi bảo hiểm ...................................................................... 27
2.3.2.Hạn mức trách nhiệm bảo hiểm và mức miễn thường ................ 29
2.4.Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp .................................... 30
2.4.1.Khái niệm .................................................................................. 30
2.4.2.Chủ thể hợp đồng ...................................................................... 31
2.4.2.1.Bên nhận bảo hiểm ..................................................... 31
2.4.2.2.Bên mua bảo hiểm ...................................................... 31
2.4.2.3.Bên thứ ba................................................................... 32
2.4.2.4.Mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm
bên nhận bảo hiểm và bên thứ ba................... 32
2.4.3.Hình thức hợp đồng ................................................................... 32
2.4.4.Đối tượng hợp đồng ................................................................... 33

2.4.5.Nội dung hợp đồng .................................................................... 34
2.4.6.Sự kiện bảo hiểm ....................................................................... 34
2.4.7.Phí bảo hiểm .............................................................................. 36
2.4.8.Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp ........ 36
2.4.8.1.Điều kiện có hiệu lực .................................................. 36


2.4.8.2.Thời hạn hiệu lực ........................................................ 38
2.4.8.3.Các trường hợp chấm dứt hiệu lực của hợp đồng ........ 39
2.5.Thủ tục giải quyết khiếu nại liên quan đến hợp đồng bảo hiểm ......... 41
Chương III Thực trạng áp dụng pháp luật bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp và một số kiến nghị hoàn thiện
3.1.sự cần thiết của bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp .......................... 42
3.2.Thực trạng áp dụng pháp luật bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tại
Việt Nam ................................................................................................... 44
3.2.1.Tổng quan thực trạng ................................................................. 44
3.2.2.Chủ thể mua bảo hiểm ............................................................... 45
3.2.2.1.Chủ thể mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
bắt buộc .................................................................................. 45
3.2.2.2.Chủ thể mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
tự nguyện ................................................................................ 47
3.2.3.Tình hình cung ứng sản phẩm bảo hiểm .................................... 48
3.3.Nguyên nhân ...................................................................................... 49
3.3.1.Sự bất cập của pháp luật ............................................................ 49
3.3.2.Thiếu hàng lang pháp lý
cho bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp ..................................... 50
3.3.3.Nguyên nhân khác ..................................................................... 51
3.3.3.1.Từ phía người tham gia bảo hiểm................................ 51
3.3.3.2.Từ phía nhà cung ứng sản phẩm bảo hiểm .................. 53
3.4.Một số kiến nghị hoàn thiện................................................................ 53

3.4.1.Sự cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo hiểm
trách nhiệm nghề nghiệp tại Việt Nam .............................................. 53


3.4.2.Một số kiến nghị xây dựng và hoàn thiện luật............................ 54
3.4.2.1.Hoàn thiện quy định pháp luật .................................... 54
3.4.2.2.Xây dựng hành hang pháp lý đặc thù cho quan hệ
bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp ........................................ 55
3.4.2.3.Xây dựng cơ chế dảm bảo thực thi .............................. 57
Kết luận ..................................................................................................... 59
Phụ lục I - Bản tóm lược hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
Phụ lục II - Giấy chứng nhận hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
Phụ lục III - Quy tắc bảo hiểm trách nhiệm nghiệp luật sư- Công ty cổ phần
bảo hiểm TP Hồ Chí Minh (Bảo Minh)


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xuất phát từ nhu cầu phát triển khách quan của kinh tế xã hội mà bảo
hiểm đã ra đời từ rất lâu và tồn tại phát triển cho đến hôm nay. “Bảo hiểm là sự
chia sẻ rủi ro của một người hay của số ít người cho cả cộng đồng người có khả
năng gặp rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng đóng góp một số
tiền nhất định vào quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho những
thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do những rủi ro gây ra” (Định
nghĩa chính thức của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam trong giáo trình đào tạo đại lý
phi nhân thọ). Với ý nghĩa như vậy, ngày nay bảo hiểm đã xâm nhập vào hầu hết
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Có thể kể đến như bảo hiểm con người, bảo
hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự với cơ cấu các sản phẩm phong phú,
đa dạng. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là một loại hình bảo hiểm trách
nhiệm dân sự, xuất hiện vào khoảng thế kỉ thứ XIX, còn khá mới so với các loại

hình bảo hiểm khác. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp ra đời đã cung cấp
nguồn tài chính đáng kể, góp phần cho người cung cấp dịch vụ trong việc thực
hiện một cách đầy đủ trách nhiệm bồi thường cho khách hàng của họ trong
trường hợp do bất cẩn nghề nghiệp mà gây thiệt hại cho người sử dụng dịch vụ.
Tuy có vai trị quan trọng như vậy và đã được đưa ra trong Điều 8 Luật kinh
doanh bảo hiểm năm 2000 và một số luật khác như Luật luật sư, Luật chứng
khốn, Luật cơng chứng… với tư cách là một loại hình bảo hiểm bắt buộc nhưng
nhìn chung bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp vẫn là một thuật ngữ khá mới mẻ
với rất nhiều người Việt Nam. Điều này dẫn đến một thực trạng: tỷ trọng của loại
hình bảo hiểm này là khá nhỏ và trong khi ở nhiều nước, đặc biệt là các nước
phát triển, trong cơ cấu sản phẩm của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ,
cơ cấu sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bao giờ cũng là nhiều nhất
thì tại Việt Nam, theo nhận định, đánh giá của một số chuyên gia bảo hiểm để thị
trường bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp thực sự bùng nổ thì cần thêm ít nhất 5
năm nữa.
Đứng trước thực trạng như vậy, tác giả mong muốn góp thêm một góc
nhìn về vai trị của loại hình Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với con
người và xã hội, hệ thống một cách đầy đủ nhất các quy định của pháp luật có
liên quan, đưa ra nhận định tổng quan về thực trạng để từ đó đề xuất một số kiến
nghị nhằm hồn thiện pháp luật về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, để các
quy định của pháp luật bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đi vào thực tế một
cách dễ dàng và có hiệu quả.

1


Tác giả hi vọng rằng: loại hình bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp sẽ được
triển khai rộng khắp ở tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp, tất cả các thành phần kinh
tế trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể để phát huy hết giá trị đích thực và to
lớn của loại hình bảo hiểm này trong đời sống xã hội. Xuất phát từ lý do đó mà

tác giả chọn đề tài: “Pháp luật bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tại Việt NamNhững vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng” để nghiên cứu trong khuôn khổ và
phạm vi đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng do cịn có hạn chế về kiến thức, thời
gian,… nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự đóng góp ý kiến
từ các thầy cô, bạn bè và những người quan tâm đến đề tài để góp phần cho đề tài
được hồn thiện hơn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Luật kinh doanh bảo hiểm mới ra đời năm 2000 và lần đầu tiên pháp luật
đề cập đến loại hình bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Về mặt thực tiễn, loại
hình bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cũng chỉ mới được triển khai tại Việt
Nam trong khoảng năm năm trở lại đây. Vì thế mà hầu như chưa có một thống kê
chính thức nào về tình hình thị trường bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Hơn
thế nữa, pháp luật về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp nằm rải rác ở một số văn
bản pháp quy, và hầu như chỉ có điều khoản quy định về nghĩa vụ mua bảo hiểm
trách nhiệm nghề nghiệp của các chủ thể có liên quan. Về bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp, hiện nay có một số tài liệu:
-

Phần bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp kiến trúc sư, kỹ sư tư vấnGiáo trình Bảo hiểm- PGS.TS Nguyễn Văn Định chủ biên- Nhà xuất
bản đại học Kinh tế quốc dân.
- Bài viết Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
luật sư của TS.LS Phan Trung Hoài- Đoàn luật sư TPHCM.
Nhìn chung thì hiện nay các tài liệu đều tiếp cận bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp dưới góc độ của một ngành nghề cụ thể, chưa có một bài viết hay
cơng trình nào tiếp vận một cách tồn diện các vấn đề lý luận cũng như các vấn
đề pháp luật về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
3. Mục tiêu của khóa luận, nội dung nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là đưa ra cái nhìn khái quát về pháp luật bảo hiểm
trách nhiệm nghề nghiệp, đánh giá tổng quan tình hình áp dụng pháp luật bảo
hiểm trách nhiệm hiện nay để tìm hiểu nguyên nhân tại sao bảo hiểm trách nhiệm

nghề nghiệp vẫn còn xa lạ với rất nhiều người dân Việt Nam, trong đó có cả các
chủ thể thuộc phạm vi đối tượng bắt buộc mua bảo hiểm. Xuất phát từ mục tiêu
đó, khóa luận nghiên cứu những vấn đề sau:
2


-

Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận của bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp để đánh giá vai trò của loại hình bảo hiểm này đối với đời
sống xã hội cũng như phân biệt bảo hiểm trách nghiệm nghề nghiệp
với các loại hình bảo hiểm khác.
- Thứ hai: tìm hiểu các quy định pháp luật về bảo hiểm trách nghiệm
nghề nghiệp
- Thứ ba: Nhận định chung về thực trạng áp dụng pháp luật bảo hiểm
trách nhiệm nghề nghiệp, tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng để làm
cơ sở cho việc đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là các quy định hiện hành của pháp luật điều chỉnh về
bảo hiểm và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật hiện hành có liên
quan đến bảo hiểm và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
5. Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và pháp
luật Việt Nam cũng như thực tiễn xã hội, tác giả sử dụng phương pháp phân tích,
so sánh đối chiếu quy định pháp luật với thực tế cuộc sống, thống kê tình hình áp
dụng pháp luật để trên cơ sở đó sử dụng phương pháp tổng hợp với mục đích đưa
ra các nhận định, quan điểm và kiến nghị cho vấn đề nghiên cứu.
6. Bố cục khóa luận

Ngồi phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
được chia làm 3 chương
-

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp
Chương II: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp
Chương III: Thực tiễn áp dụng pháp luật bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp và một số kiến nghị hoàn thiện.

3


CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM
TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP
1.1.

Sự hình thành bảo hiểm và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
Trong cuộc sống, con người luôn có khả năng gặp rủi ro mọi lúc, mọi nơi.
Đó có thể là những rủi ro do thế giới khách quan tác động tạo ra như lũ lụt, hạn
hán, động đất… Hay cũng có thể là các rủi ro do yếu tố xã hội trong môi trường
sống của con người gây nên như trộm cắp, tai nạn, hỏa hoạn,… Trước những rủi
ro ln có thể ập đến bất cứ lúc nào, con người có nhu cầu bảo vệ mình thốt
khỏi các tổn thất do rủi ro mang lại bằng nhiều cách thức khác nhau. Tựu trung
lại, con người có thể:
-

Thực hiện các biện pháp kiểm sốt rủi ro như khơng tạo điều kiện cho rủi
ro xảy ra (chẳng hạn để tránh tai nạn giao thông, người ta hạn chế đi lại),

tiến hành các công việc nhằm giảm mức độ thiệt hại khi rủi ro ập đến (như
phòng cháy chữa cháy).

-

Sử dụng các biện pháp tài trợ rủi ro: bao gồm tự bảo hiểm (chấp nhận rủi
ro) và bảo hiểm.

Có thể khẳng định: trong các biện pháp con người đã áp dụng thì bảo hiểm
là biện pháp có hiệu quả nhất. Khi thực hiện việc bảo hiểm, con người có thể tiến
hành chuyển giao rủi ro, đổi cái không chắc chắn của mình là khả năng xảy ra
các tổn thất lấy cái chắc chắn là không bị thiệt hại về tài chính khi rủi ro xảy đến.
Hơn thế nữa, bảo hiểm không chỉ thuần túy là sự chuyển giao, sự chia sẻ rủi ro
mà còn là sự giảm thiểu rủi ro, giảm thiểu tổn thất thơng qua chương trình quản
lý rủi ro được phối hợp giữa các cá nhân, các tổ chức kinh tế- xã hội với các tổ
chức bảo hiểm1.
Do xuất phát từ nhu cầu bảo vệ bản thân tránh khỏi các tổn thất về tính
mạng, sức khỏe, tài sản mà các biện pháp như đã đề cập ở trên hình thành cùng
lúc với sự xuất hiện của con người. Chưa ai có thể chắc chắn bảo hiểm thực sự
xuất hiện từ khi nào, nhưng có thể khẳng định những ý tưởng về bảo hiểm và bảo
hiểm đã trải qua các giai đoạn phát triển từ thấp đến cao như sau:
-

Dự trữ thuần túy: vào thời kì mà con người biết chăn ni, trồng trọt thì
con người cũng đã nhận thức được lợi ích và thực hiện việc dự trữ lương
thực đề phòng khi mất mùa, chiến tranh…

1

Trường Đại học Kinh tế quốc dân (chủ biên PGS.TS Nguyễn Văn Định) (2010), “Giáo trình bảo hiểm”,

NXB Đại học Kinh tế quốc dân, tr.9.

4


-

Cho vay lãi suất cao: hệ thống cho vay lãi suất cao ra đời cùng với sự mở
rộng giao thương buôn bán giữa các vùng, các châu lục. Các thương gia
có nhu cầu sẽ được vay một số vốn với lãi suất khá cao. Nếu không may
tàu thuyền gặp nạn hay hàng hóa bị mất trong q trình vận chuyển thì
thương gia khơng phải hồn lại khoản tiền vay. Ngược lại phải trả đầy đủ
khoản vay gốc. Hệ thống này cịn chưa hồn thiện ở chỗ lãi suất cho vay
q cao (có khi lên đến 40%) và phải trả trước. Trong lịch sử, đáng chú ý
là hệ thống vay mượn lãi suất cao để mua và vận chuyển hàng hóa ở
Babylon (khoảng l.700 năm TCN) và AThen (khoảng 500 năm TCN). Bên
cạnh đó, nếu khơng may rủi ro xảy ra mà tàu thuyền cũng thiệt hại thì tổn
thất vẫn rất lớn do khơng có cam kết hay thỏa thuận bù đắp.

-

Thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm:. Giao thương buôn bán giữa các vùng
càng lúc càng phát triển, nhất là buôn bán xuyên châu lục trở nên mạnh
mẽ hơn bao giờ hết. Đồng thời với những đội tàu buôn bán thuận lợi và
trở về với sự giàu có là những đội tàu khơng hồn thành chuyến đi hoặc
khơng trở về do gặp các rủi ro trên đường vận chuyển như thiên tai, cướp
biển. Từ đó mà các nhà bn có nhu cầu san sẻ, chia nhỏ rủi ro để cùng
nhau gánh chịu tổn thất. Họ thực hiện việc này bằng cách tạo nên chuyến
hàng cổ phần. Tức là chuyến hàng do nhiều người cùng chung vốn vào,
khi rủi ro thì họ chỉ mất đi số tiền mà mình đã đóng góp. Tuy nhiên hình

thức cổ phần này cũng khơng được thực hiện rộng rãi do mất thời gian kêu
gọi góp cổ phần và không tránh khỏi tranh chấp về tỉ lệ hưởng lợi nhuận
cũng như gánh chịu tổn thất. Một phương thức khác nữa là các nhà buôn
sẽ trả cho một người một khoản tiền nhất định, đổi lại nhà buôn sẽ nhận
được một cam kết gánh chịu tổn thất trong trường hợp có rủi ro xảy ra.
Đây là một thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm- trách nhiệm bồi thường cho
những tổn thất. Nhà buôn là người được bảo hiểm. Người đứng ra cam kết
là người bảo hiểm. Khoản tiền trả cho cam kết là phí bảo hiểm. Ban đầu,
khi xảy ra tổn thất, những người nhận bảo hiểm đôi khi phải bán tất cả các
tài sản của mình để chi trả. Dần dần hình thành nên việc cùng hợp tác, góp
vốn vào để thành lập ra một cơng ty bảo hiểm, xuất hiện việc xem xét,
thẩm định trước khi đưa ra thỏa thuận bảo hiểm để vừa đảm bảo khả năng
chi trả cho các tổn thất vừa có được lợi nhuận.

Bảo hiểm với hình thức vừa đề cập ở trên có tên gọi là bảo hiểm hàng hải.
Bảo hiểm hàng hải được xem là xuất phát điểm của ngành bảo hiểm. Hợp đồng
bảo hiểm được cho là đầu tiên là hợp đồng được ký kết giữa thương gia, chủ tàu

5


với nhà bảo hiểm có ghi ngày 23/10/1347 tại Genor, Italia2. Sau bảo hiểm hàng
hải, lần lượt các loại bảo hiểm khác ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của
xã hội loài người như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hỏa hoạn… Các mốc son
đánh dấu sự ra đời của các loại hình bảo hiểm này là Hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ lần đầu được kí tại Anh năm 1538 và sự ra đời của công ty bảo hiểm hỏa
hoạn đầu tiên trên thế giới vào năm 1670 do ông Rarbon, một công dân Anh
thành lập. Tiếp sau đó, khi mà cuộc cách mạng cơng nghiệp lần thứ hai bắt đầu
khoảng năm 1850, kinh tế xã hội phát triển lên một tầm cao mới thì nhiều ngành
nghề ra đời và phát triển ở quy mô lớn, chất lượng phục vụ vượt trội đồng thời

kéo theo nhiều thiệt hại phát sinh từ đó, con người lại nảy sinh nhu cầu bảo hiểm
cho các trách nhiệm pháp lý của mình. Bảo hiểm trách nhiệm ra đời. Hình thức
bảo hiểm trách nhiệm cơng cộng (hay cịn gọi là bảo hiểm trách nhiệm chung) là
một trong những hình thức bảo hiểm trách nhiệm ra đời sớm nhất. Sau đó là bảo
hiểm trách nhiệm chủ thầu xây dựng, bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm, bảo hiểm
trách nhiệm nghề nghiệp…
Về cơ sở pháp lý, có thể coi chiếu dụ Barcelona năm 1435 là văn bản pháp
luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ bảo hiểm. Sau đó là sắc lệnh Philippe de
Bourgogne năm 1458, những sắc lệnh của Brugos năm 1537, Biville năm 1552
và Amsterdam năm 1558.
Đến thế kỉ thứ XVI-XVII cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa thì hoạt động bảo hiểm mới thực sự phát triển một cách rộng rãi.
Mở đường cho sự phát triển này là Luật 1601 của Anh thời nữ hoàng Elizabeth,
chỉ dụ 1681 của Pháp do vua Louis ban hành.
Bảo hiểm Việt Nam
So với bảo hiểm thế giới thì bảo hiểm Việt Nam ra đời khá muộn. Ngày
17/12/1964, Thủ tướng Chính phủ kí quyết định thành lập tổng cơng ty bảo hiểm
Việt Nam, gọi tắt là Bảo Việt. Ngày 15/01/1965, Bảo Việt chính thức đi vào hoạt
động. Tuy nhiên, do điều kiện khó khăn của chiến tranh nên hoạt động của Bảo
Việt chưa phát triển. Ngồi trụ sở tại Hà Nội thì Bảo Việt chỉ có chi nhánh tại
Hải Phịng và chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa, xuất nhập
khẩu, bảo hiểm thân tàu.Tỉ lệ tái bảo hiểm cho nước ngoài (chủ yếu là cho Trung
Quốc, Ba Lan) tương đối cao. Như vậy, ở giai đoạn này, Bảo Việt độc quyền
kinh doanh bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm chưa đa dạng, chỉ có khoảng 20 sản
phẩm bảo hiểm phi nhân thọ. Mãi cho đến năm 1993, sau khi Chính phủ ban
2

Trường Đại học Kinh tế quốc dân (chủ biên PGS.TS Nguyễn Văn Định) (2010), “Giáo trình bảo hiểm”,
NXB Đại học Kinh tế quốc dân, tr.13.


6


hành Nghị định 100/1993/NĐ-CP thì ngành bảo hiểm Việt nam mới bắt đầu
mang hơi thở thị trường. Nghị định 100 cho phép các cơng ty với các hình thức
và thành phần kinh tế khác nhau kinh doanh bảo hiểm. Quy định đó tạo tiền đề
cho sự ra đời của rất nhiều doanh nghiệp bảo hiểm, phá vỡ tính độc quyền của
bảo hiểm Bảo Việt như Bảo Minh (1994); Pjico, Bảo Long (19950; PVI, VIA
(1996), …vv.
Khi có sự tham gia vào thị trường bảo hiểm của rất nhiều công ty với
nhiều hình thức cũng như thành phần kinh tế thì hoạt động kinh doanh bảo hiểm
trở nên sôi động hơn, đa dạng hơn và có sự cạnh tranh quyết liệt hơn. Thực tế đặt
ra yêu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm bằng công cụ pháp luật. Và
ngày 09/12/2000, Quốc hội khóa X, kỳ họp 8 đã ban hành Luật kinh doanh bảo
hiểm- Văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh toàn diện lĩnh vực bảo hiểm. Luật có
hiệu lực thi hành từ 01/04/2001.
Riêng về lĩnh vực bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp thì trong Luật kinh
doanh bảo hiểm năm 2000, tại Điều 8 có quy định loại hình bảo hiểm bắt buộc
đối với hoạt động tư vấn pháp luật và môi giới bảo hiểm. Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2010 vẫn giữ nguyên quy định này.
Sau Luật Kinh doanh bảo hiểm, lần lượt Luật Luật sư, Luật Công chứng,
Luật Xây dựng, Luật Chứng khoán… ra đời quy định trách nhiệm mua bảo hiểm
của các chủ thể hoạt động nghề nghiệp thuộc phạm vi quy định.
Có thể nhận định rằng: mặc dù ra đời muộn so với bảo hiểm thế giới,
nhưng bảo hiểm Việt Nam nói chung và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp nói
riêng đã và đang có những bước tiến để bắt kịp xu thế phát triển của bảo hiểm
toàn cầu. Và pháp luật Việt Nam đang từng bước có những điều chỉnh nhằm tạo
ra hành lang pháp lý ổn định, vững chắc cho sự phát triển này.
1.2. Khái niệm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
Trải qua quá trình phát triển lâu dài, bảo hiểm ngày nay tồn tại hết sức đa

dạng, phong phú. Nếu căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, chúng ta có được các
loại hình bảo hiểm khác nhau. Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm có thể chia bảo
hiểm ra thành bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm. Bảo
hiểm trách nhiệm bao gồm bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới với
người thứ ba, bảo hiểm trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển trong ngành
hàng không dân dụng, bảo hiểm trách nhiệm công cộng, bảo hiểm trách nhiệm
sản phẩm, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp,…

7


1.2.1. Về thuật ngữ bảo hiểm
Hiện nay vẫn tồn tại nhiều cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ bảo
hiểm.
Theo Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam: “Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi
ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả
năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền
nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên
trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra”.
Theo giáo sư Hemard: “Bảo hiểm là một nghiệp vụ, qua đó, một bên là
người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền (phí bảo hiểm hay đóng góp
bảo hiểm) cho chính mình hoặc cho bên thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro
xảy ra, sẽ được trả một khoản tiền bồi thường từ một bên khác là người bảo
hiểm”3.
Tác giả Nguyễn Vũ Hoàng định nghĩa: “Bảo hiểm là sự cam kết bồi
thường của người bảo hiểm đối với người được bảo hiểm về những thiệt hại mất
mát của đối tượng được bảo hiểm do một rủi ro đã thỏa thuận gây ra, với điều
kiện người được bảo hiểm đã mua bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp
một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm”4
Cịn theo PGS.TS Nguyễn Văn Định: “Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ

tài chính, thơng qua đó một cá nhân hay một tổ chức có quyền được hưởng bồi
thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm nếu rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra nhờ vào
khoản đóng góp phí bảo hiểm cho mình hay cho người thứ ba. Khoản tiền bồi
thường chi trả này do một tổ chức đảm nhận, tổ chức này có trách nhiệm trước
rủi ro hay sự kiện bảo hiểm và bù trừ chúng theo quy luật thống kê”5
Mỗi định nghĩa đứng ở một góc độ tiếp cận để đưa ra khái niệm về bảo
hiểm. Tất nhiên sẽ là rất khó để tìm kiếm một định nghĩa bảo hiểm cho nhiều góc
nhìn khác nhau tương ứng với các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế xã
hội. Tuy thế, nhận thấy rằng mặc dù khác nhau nhưng các định nghĩa đều gặp
nhau và phần nào lột tả bản chất của bảo hiểm ở rủi ro, sự chuyển giao rủi ro, phí
bảo hiểm và nghĩa vụ trả tiền, bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm. Có thể
khái quát khái niệm bảo hiểm một cách dễ hiểu bằng sơ đồ sau đây:
3
Trường Đại học Kinh tế quốc dân (chủ biên PGS.TS Nguyễn Văn Định) (2010), “Giáo trình bảo hiểm”,
NXB Đại học Kinh tế quốc dân, tr.10.
4
Nguyễn Vũ Hồng, “Những khía cạnh kinh tế và pháp luật về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng
đường biển trong thương mại quốc tế”, 2001, NXB. Chính trị quốc gia.
5
Trường Đại học Kinh tế quốc dân (chủ biên PGS.TS Nguyễn Văn Định) (2010), “Giáo trình bảo hiểm”,
NXB Đại học Kinh tế quốc dân, tr.11.

8


Phí bảo hiểm
Rủi ro

Người tham gia bảo
hiểm/ Người được

bảo hiểm/ Người
thụ hưởng

HĐBH

HĐBH
Đối tượng bảo
hiểm

Doanh nghiệp bảo
hiểm

Thiệt hại

Trả tiền/Bồi thường

1.2.2. Trách nhiệm nghề nghiệp
Trách nhiệm nghề nghiệp là một loại hình trách nhiệm dân sự. Mặc dù là
một trong những vấn đề quan trọng của pháp luật dân sự nhưng trách nhiệm dân
sự là gì và có những đặc điểm như thế nào đơi lúc vẫn chưa được hiểu thống
nhất. Ví như giáo trình Luật Dân sự Tập II- Đại học luật Hà Nội6 chia trách
nhiệm dân sự thành hai loại là trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ và trách
nhiệm bồi thường thiệt hại, hay một số nhầm lẫn trong việc coi phạt vi phạm là
một loại trách nhiệm dân sự,… Cần nói rõ trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ
cũng như phạt vi phạm đều không phải là một loại trách nhiệm dân sự. Đó chỉ là
sự thực hiện đúng nghĩa vụ đáng ra đã phải thực hiện, nhưng ở một thời điểm
khác, còn phạt vi phạm chỉ là một thỏa thuận đảm bảo cho việc thực hiện đúng
hợp đồng. Trong bài viết “Trách nhiệm dân sự và chế định bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng trong BLDS 2005” đăng trên tạp chí Khoa học pháp lý năm
2006, TS Phạm Kim Anh đã đưa ra định nghĩa: “trách nhiệm dân sự là một loại

6

Giáo trình Luật Dân sự Tập II (2009), Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân.

9


chế tài được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự kéo theo sự tước
đoạt quyền hoặc áp đặt nghĩa vụ bổ sung đối với người vi phạm nhằm mục đích
khơi phục tình trang ban đầu về tài sản, nhân thân cho người bị vi phạm”.7
Cũng chung quan điểm với TS Phạm Kim Anh, nhưng TS Ngô Huy
Cương- Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội trong “Trách nhiệm dân sự- So
sánh và phê phán” lại thể hiện ý kiến của mình bằng việc đưa ra các đặc điểm cơ
bản của trách nhiệm dân sự (sau khi đã xem xét một cách kĩ lưỡng các quy định
pháp luật Việt Nam cũng như Pháp luật La Mã và tham khảo quan điểm của các
học giả nước ngoài):
-

Trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý, nhằm mục đích xác
lập các chế tài cụ thể.
- Trách nhiệm dân sự không phải là một sự trừng phạt mà là một biện pháp
buộc người có hành vi vi phạm pháp luật vào nghĩa vụ bồi thường cho
người bị tổn hại do hành vi đó gây ra. Trách nhiệm dân sự khác với trách
nhiệm hình sự ở chỗ trong khi trách nhiệm hình sự tập trung chú ý vào
hành vi thì trách nhiệm dân sự lại tập trung chú ý đến hậu quả. Chính vì
vậy, dù có hành vi vi phạm nhưng khơng có thiệt hại thì cũng khơng dẫn
tới nghĩa vụ bồi thường.
- Trách nhiệm dân sự được phân chia thành trách nhiệm dân sự trong hợp
đồng và trách nhiệm dân sự ngồi hợp đồng.8
Chúng tơi muốn thống nhất cách hiểu về trách nhiệm dân sự trong đề tài

này theo cách đưa ra khái niệm và đặc điểm như hai tác giả trên. Tiếp đó, cần nói
thêm rằng, xét trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự, trách nhiệm dân sự không
phải là một loại chế tài chung chung như định nghĩa đã đưa ra nữa mà được xác
định cụ thể là trách nhiệm bồi thường bằng tiền cho những thiệt hại mà người
được bảo hiểm gây ra hoặc sự vận hành, hoạt động của tài sản thuộc quyền sở
hữu, chiếm hữu sử dụng của người được bảo hiểm gây ra cho người thứ ba. Theo
NQ03/2006 của Hội đồng thẩm phán Tịa án nhân dân tối cao thì trách nhiệm bồi
thường thiệt hại phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau:
-

Có hành vi trái pháp luật: là những xử sự cụ thể của con người được thể
hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy đinh của
pháp luật.

-

Có thiệt hại thực tế xảy ra:

7

TS Phạm Kim Anh (2006), “trách nhiệm dân sự và chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong
BLDS 2005- Thực trạng và hướng hồn thiện”, Tạp chí khoa học pháp lý.
8
TS Ngô Huy Cương (2009), “Trách nhiệm dân sự- So sánh và phê phán,
thongtinphphapluatdansu.wordpress.com.

10


Thiệt hại là những thay đổi, làm biến dạng tình trạng ban đầu của các

quyền và lợi ích đươc pháp luật bảo vệ. Thiệt hại là tiền đề của trách
nhiệm bồi thường thiệt hại bởi mục đích của chế tài bồi thường là khơi
phục lại tình trạng trước khi xảy ra thiệt hại.
Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.
-

Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế:
thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược
lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại.

-

Có lỗi: lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại

Từ những lập luận trên, nhìn dưới góc độ bảo hiểm, có thể kết luận: trách
nhiệm nghề nghiệp là trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người gây ra thiệt hại
đối với người bị thiệt hại cho các tổn thất phát sinh từ sự bất cẩn trong q trình
thực hiện chun mơn nghiệp vụ.
1.2.3. Khái niệm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
Xuất phát từ việc trách nhiệm nghề nghiệp là một loại trách nhiệm dân sự
nên bảo hiểm trách nhiệm dân sự bao gồm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
Hiểu đơn giản và ngắn gọn nhất bảo hiểm trách nhiệm dân sự là bảo hiểm cho
phần nghĩa vụ dân sự của người được bảo hiểm với người thứ ba.
Về bảo hiểm trách hiệm nghề nghiệp, trong tiếng Anh, người ta sử dụng
một trong các thuật ngữ sau:
-

Professional Liability Insurance
Professional Indemnity Insurance.
Hoặc là

- Errors and Emissions Insurance
Mỗi tên tiếng Anh thể hiện được một góc bản chất của bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp. Đó là bảo hiểm cho trách nhiệm của một ngành nghề cụ thể,
bảo hiểm cho sự bồi thường dân sự phát sinh từ trách nhiệm nghề nghiệp, bảo
hiểm cho sai sót, sơ suất, nhầm lẫn trong chuyên môn nghiệp vụ của nghề nghiệp
đó.
Căn cứ vào khái niệm bảo hiểm trách nhiệm dân sự và quy định của pháp
luật về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, có thể đưa ra khái niệm chung nhất về
bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp như sau:
Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là loại hình bảo hiểm theo đó doanh
nghiệp bảo hiểm tiến hành thu phí của người mua bảo hiểm và cam kết gánh chịu
11


phần trách nhiệm dân sự phát sinh từ sự bất cẩn trong chuyên môn nghề nghiệp
của bên được bảo hiểm đối với bên thứ ba theo cách thức và phạm vi mức độ đã
được doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thỏa thuận trong hợp đồng
bảo hiểm.
Hiện nay, theo pháp luật Việt Nam, nhóm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bao
gồm:
- BHTNNN Luật sư
- BHTNNN môi giới bảo hiểm
- BHTNNN công chứng
- BHTNNN nhà thầu khảo sát xây dựng
- BHTNNN nhà thầu thiết kế xây dựng cơng trình
- BHTNNN nhà thầu giám sát thi công xây dựng công trình
- BHTNNN cho cơng ty chứng khốn
- BHTNNN cho cơng ty kiểm tốn
- BHTNNN cho doanh nghiệp thẩm định giá
Ngồi ra, các doanh nghiệp bảo hiểm còn thiết kế sản phẩm BHTNNN bác sĩ.

1.3. Đặc trưng của bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
1.3.1. Đối tượng bảo hiểm mang tính trừu tượng
Đối tượng bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự nói chung và bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp nói riêng mang tính trừu tượng. Đối tượng bảo
hiểm cụ thể ở đây là phần trách nhiệm dân sự hay nghĩa vụ bồi thường cho các
thiệt hại mà người được bảo hiểm gây ra cho bên thứ ba. Không giống như bảo
hiểm tài sản có đối tượng bảo hiểm là các tài sản hiện hữu trong không gian, đối
tượng bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp khơng nhìn thấy được,
không thể cảm nhận được bằng các giác quan của con người. Hơn thế nữa, tại
thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm chưa tồn tại, cả người
tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm đều chưa thể xác đinh được người
được bảo hiểm sẽ có trách nhiệm bồi thường cho đối tượng cụ thể nào, mức bồi
thường là bao nhiêu. Nó sẽ chỉ hình thành trong tương lai khi có các sự kiện xảy
ra trong phạm vi bảo hiểm làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
người được bảo hiểm.
1.3.2. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp mang tính chất bắt buộc đối với một số
ngành nghề quy định
Thông thường, bảo hiểm thương mại đều là bảo hiểm tự nguyện. Việc có
tham gia vào quan hệ bảo hiểm hay không là tùy thuộc vào nhận thức của các cá
nhân, tổ chức có liên quan. Nhưng một khi nguy cơ rủi ro không chỉ ảnh hưởng
đến một hay một số đối tượng cụ thể mà ảnh hưởng đến lợi ích chung của tồn
bộ xã hội hoặc là để đảm bảo cho sự an toàn của các chủ thể trước nguy cơ tổn
12


hại nghiệm trọng về tài chính thì pháp luật sẽ quy định nghĩa vụ phải mua bảo
hiểm của các chủ thể liên quan ấy. Rõ ràng rằng, bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp đóng vai trị hết sức to lớn khơng chỉ đối với người bị thiệt hại mà còn
cho chủ thể gây thiệt hại và các cá nhân khác trong xã hội. Bởi hoạt động cung
cấp dịch vụ của các chủ thể này đe dọa gây thiệt hại rất lớn về tài chính, vượt

khỏi khả năng kiểm sốt của các bên liên quan. Ở một số nước trên thế giới, bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là bắt buộc đối với:
- Ở Pháp: Luật sư, Kiến trúc sư, chủ thầu xây dựng, kiểm tốn viên, cơng
chứng viên, đại lý bảo hiểm.
- Ở Đức: kiến trúc sư, công chứng viên, thám tử, chủ thể hoạt động tư vấn
thuế, kiểm toán.
- Ở Ma Cao: bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của đại lý du lịch9
Ở Việt Nam, trong các văn bản pháp luật hiện hành như Luật kinh doanh
bảo hiểm, Luật luật sư, Luật công chứng,…các đối tượng sau là các đối tượng bắt
buộc phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp:
- Tổ chức hành nghề luật sư (Điều 40, 52,73 Luật Luật sư)
- Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm (Điều 8 Luật Kinh doanh bảo hiểm)
- Văn phịng cơng chứng (Điều 32 Luật Công chứng)
- Nhà thầu khảo sát xây dựng, nhà thầu thiết kế xây dựng, nhà thầu giám sát
thi công xây dựng (Điều 51, 58, 90 Luật Xây dựng)
1.3.3. Doanh nghiệp chỉ thực hiện nghĩa vụ trả tiền khi có yêu cầu đòi bồi
thường của người thứ ba
Doanh nghiệp bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm với bên mua bảo
hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm
trả tiền cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy
ra sự kiện bảo hiểm. Trong bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, doanh nghiệp bảo
hiểm sẽ trả cho người được bảo hiểm số tiền mà người được bảo hiểm phải bồi
thường cho người bị thiệt hại (tất nhiên là trong hạn mức bảo hiểm đã giao kết).
Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có nghĩa vụ trả tiền khi có u
cầu địi bồi thường của người thứ ba (người bị thiệt hại).Được phép hiểu rằng khi
xảy ra sự kiện bảo hiểm, tức người đựợc bảo hiểm trong khi thực hiện hoạt động
chuyên môn nghiệp vụ gây thiệt hại cho đối tượng phục vụ hay bên thứ ba khác
và phát sinh trách nhiệm bồi thường, nhưng nếu người bị thiệt hại khơng có u
cầu địi bồi thường thì xét trong quan hệ bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm khơng
có nghĩa vụ trả tiền cho người được bảo hiểm. Vì thực chất, người được bảo hiểm

khơng có tổn thất cần bù đắp.

9

Trường Đại học Kinh tế quốc dân (chủ biên PGS.TS Nguyễn Văn Định) (2010), “Giáo trình bảo hiểm”,
NXB Đại học Kinh tế quốc dân, tr.360

13


1.3.4. Số tiền bảo hiểm thực chất thuộc về bên thứ ba
Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự nói chung và bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp nói riêng, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ thực hiện nghĩa vụ trả tiền khi
có yêu cầu đòi bồi thường của người thứ ba. Khi người thứ ba địi bồi thường,
người được bảo hiểm có trách nhiệm trả khoản tiền đó. Để giảm thiểu hoặc tránh
khỏi sự tổn thất về mặt tài chính, họ tham gia vào quan hệ bảo hiểm với doanh
nghiêp bảo hiểm để chuyển giao một phần hoặc toàn bộ số tiền mà mình phải đền
bù cho bên thứ ba cho doanh nghiệp bảo hiểm theo hạn mức trách nhiệm bảo
hiểm mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, số tiền mà doanh
nghiệp bảo hiểm chi trả thực chất thuộc về bên thứ ba- bên gánh chịu thiệt hại
thực tế. Đặc điểm này khác biệt so với bảo hiểm tài sản. Trong bảo hiểm tài sản,
người được bảo hiểm đáng lẽ ra phải chịu mất mát do tài sản bị hư hỏng, tiêu hủy
nhưng bảo hiểm đã bù đắp cho họ. Tức là người được bảo hiểm là người có tổn
thất thực tế và cũng là người nhận số tiền bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm.
1.3.5. Tổn thất được bồi thường phải phát sinh từ hoạt động nghề nghiệp
Những người hành nghề chuyên môn phải thực hành công việc, thao tác
nghề nghiệp với sự cẩn thận và tay nghề đảm bảo yêu cầu chuyên môn. Tuy
nhiên, thực tế vì nhiều lý do vẫn có thể gây thiệt hại cho bên thứ ba từ những
hành động bất cẩn, những sai phạm hoặc thiếu sót trong q trình thực hiện các
cơng việc của mình. Và thiệt hại trong bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bắt


14


-

Lập hồ sơ mời thầu xây lắp và phân tích đánh giá hồ sơ dự thầu xây lắp

-

Lập và phân tích đánh giá hồ sơ mời thầu mua sắm vật tư thiết bị

-

Giám sát thi công xây dựng

-

Giám sát lắp đặt thiết bị

Ngồi các cơng việc chun mơn như đã nêu trên, doanh nghiệp bảo hiểm
không phải chịu trách nhiệm bảo hiểm với các thiệt hại phát sinh từ bất cứ một
hoạt động, hành vi nào khác của người được bảo hiểm.
1.3.6. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp chủ yếu là bảo hiểm trách nhiệm theo
hợp đồng
Trong mối quan hệ giữa người bảo hiểm, người được bảo hiểm và người
thứ ba, ta có thể có 2 trường hợp là bảo hiểm trách nhiệm trong hợp đồng và bảo
hiểm trách nhiệm ngoài hợp đồng.
-


Bảo hiểm trách nhiệm ngoài hợp đồng:
Trong quan hệ bảo hiểm này, chỉ tồn tại hợp đồng của hai chủ thể là người
bảo hiểm và người được bảo hiểm, giữa người được bảo hiểm và người thứ ba
chỉ là trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh theo quy định của pháp luật.
Người được bảo hiểm là người gây thiệt hại, còn người thứ ba ở đây là người bị
thiệt hại do những rủi ro được bảo hiểm gây ra.
- Bảo hiểm trách nhiệm theo hợp đồng
Quan hệ giữa ba bên được thể hiện trên cơ sở hai hợp đồng:

Người bị thiệt hại

Hợp đồng dịch vụ

Người gây thiệt
hại /Người được
bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm

Doanh nghiệp
bảo hiểm

Sở dĩ khẳng định bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp chủ yếu là bảo hiểm
trách nhiệm theo hợp đồng vì yếu tố bồi thường thiệt hại xảy ra trong quá trình
người được bảo hiểm thực hiện các hoạt động chuyên môn nghề nghiệp. Việc
tiến hành hoạt động chuyên môn nghề nghiệp dựa trên cơ sở hợp đồng đã giao
kết với đối tượng phục vụ. Trong quá trình thực hiện, do các nhân tố khách quan
và chủ quan mà gây thiệt hại cho đối tượng phục vụ. Từ đó làm phát sinh trách
nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và đồng thời phát sinh nghĩa vụ trả tiền
của doanh nghiệp bảo hiểm. Ví dụ về bảo hiểm trách nhiệm theo hợp đồng: một

tòa nhà cao tầng bị nứt và lún. Trong quá trình tìm hiểu nguyên nhân, người ta
15


biết được là do kỹ sư thiết kế đã không tính đến sự dịch chuyển và trượt của đất ở
khu vực này thường xuyên xảy ra ở mức độ lớn. Người kỹ sư phải chịu trách
nhiệm trong trường hợp này. Tất nhiên là bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo
hợp đồng không phủ nhận sự tồn tại của bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp ngoài
hợp đồng.
1.3.7. Phương thức bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là
phương thức bảo hiểm có giới hạn
Với loại hình bảo hiểm trách nhiệm, dựa vào trách nhiệm của nhà bảo
hiểm, ta có bảo hiểm có giới hạn và bảo hiểm khơng giới hạn. Bảo hiểm không
giới hạn thể hiện qua việc khi thiết lập hợp đồng bảo hiểm các bên khơng có thỏa
thuận cụ thể về số tiền chi trả của nhà bảo hiểm. Trong trường hợp như vậy, trách
nhiệm của người được bảo hiểm phát sinh bao nhiêu thì doanh nghiệp bảo hiểm
sẽ chi trả bấy nhiêu. Đối với bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, như phần trên
từng đề cập, sự bất cẩn trong chuyên môn nghiệp vụ của người được bảo hiểm có
thể dẫn đến những tổn thất rất lớn, khơng thể lường trước được. Ví dụ như một
kỹ sư khi thiết kế nhà đã khơng tính đến sự dịch chuyển và trượt thường xảy ra
của đất ở khu vực nơi cơng trình sắp xây dẫn đến tịa nhà cao tầng bị nứt, lún.
Thiệt hại trong tình huống này có thể sẽ lên đến hàng trăm tỉ đồng. Vì thế mà các
doanh nghiệp bảo hiểm thường giới hạn mức trách nhiệm của mình. Trong hợp
đồng doanh nghiệp bảo hiểm giới hạn mức trách nhiệm bằng cách ấn định trước
số tiền mà mình phải chi trả, thể hiện trong hợp đồng bằng điều khoản hạn mức
trách nhiệm. Ví dụ như trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp kiến
trúc sư, kỹ sư tư vấn trên cơ sở từng dự án hiện nay, hạn mức trách nhiệm bảo
hiểm tiêu chuẩn là 2.000.000.000/mỗi và mọi vụ tổn thất. Hay với một trường
hợp cụ thể: hạn mức trách nhiệm của Bảo Minh trong hợp đồng số
AD0224/09EF08043 kí với văn phịng cơng chứng Trung Tâm là

3.000.000.000/mỗi vụ tổn thất và trong suốt thời hạn bảo hiểm. Trong mọi
trường hợp thì doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm chi trả tối đa bằng số
tiền đã cam kết.
1.3.8. Lỗi trong bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
Lỗi là một trong các yếu tố cấu thành nên trách nhiệm dân sự bồi thường
thiệt hại. Chủ thể gây thiệt hại chịu trách nhiệm đối với lỗi cố ý và lỗi vô ý. Cố ý
gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình có khả năng
gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không
mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. Vô ý gây thiệt hại là trường hợp
một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù
phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của
mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có
thể ngăn chặn được10. Ngồi ra, pháp luật cịn dự liệu cả trường hợp dù khơng có
lỗi nhưng vẫn chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi pháp luật
10

Điều 308 Bộ luật Dân sự 2005

16


có quy định. Như bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (khoản
3 Điều 623 BLDS) hay do làm ô nhiễm môi trường (Điều 624 BLDS). Như vậy,
chủ thể gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vơ ý
hay thậm chí cả khi khơng có lỗi.
Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự, khi xét đến yếu tố lỗi làm phát sinh
trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm thì với bản chất là chỉ bảo hiểm rủi
ro nên phạm vi bảo hiểm chỉ bao gồm các thiệt hại do hành vi vô ý hay do các
trường hợp như nguồn nguy hiểm cao độ, cây cối, súc vật, nhà cửa, cơng trình
xây dựng gây nên, khơng bảo hiểm cho các thiệt hại phát sinh từ hành vi cố ý.

Như vậy, trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự, hành vi gây thiệt hại do lỗi vô ý và
không thuộc các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm đều được bồi thường.
Ví như bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới với người thứ ba, pháp
luật quy định chỉ loại trừ đối với trường hợp cố ý gây ra thiệt hại.
Đối với bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, trong các quy tắc bảo hiểm,
doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng thuật ngữ lỗi bất cẩn, sai sót do bất cẩn hay sơ
suất. Vậy, lỗi làm phát sinh thiệt hại trong bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp có
trùng khớp với lỗi làm phát sinh thiệt hại trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự
khơng? Hay có những đặc thù nào khác?
Bất cẩn là không cẩn thận, thiếu sự lưu tâm một cách cần thiết nhất cho
việc thực hiện hành vi. Sai sót là những khiếm khuyết khơng lớn trong công tác.
Sơ suất là không cẩn thận, không chú ý đúng mức để xảy ra sai sót11. Nghĩa là
người thực hiện hành vi không thấy trước được khả năng gây thiệt hại của hành
vi mà mình đang thực hiện, mặc dù trong trường hợp đó, pháp luật buộc họ phải
biết hoặc họ hồn tồn có thể biết trước được. Nếu sử dụng thuật ngữ lỗi vô ý
trong trường hợp này là khơng chính xác. Bởi theo khoản 2 Điều 308 BLDS
2005, được gọi là lỗi vô ý khi:
-

Không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại mặc dù
phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra.
- Thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho
rằng thiệt hại sẽ khơng xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Như vậy, lỗi theo cách xác định trong quy tắc bảo hiểm của các doanh
nghiệp bảo hiểm cũng là lỗi vô ý, nhưng không bao gồm trường hợp thấy trước
hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng nghĩ là khơng xảy ra hoặc có
thể ngăn chặn được.
Nghị định 103/2008 và Thông tư 126/2008 về bảo hiểm trách nhiệm dân
sự của chủ xe cơ giới với người thứ ba quy định doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được
11


Từ điển tiếng Việt trực tuyến http://vdict.com

17


loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong trường hợp chủ xe cơ giới cố ý gây ra thiệt
hại. Mọi hành vi gây thiệt hại do lỗi vô ý, nằm trong phạm vi bảo hiểm và không
thuộc các trường hợp loại trừ khác đều được doanh nghiệp bảo hiểm chi trả. Xét
tình huống một người điều khiển xe cơ giới vượt đèn đỏ và gây tai nạn làm tổn
hại đến sức khỏe và tài sản của người đi đường. Đối với hành vi và nhận thức về
khả năng gây thiệt hại của hành vi, bất cứ một người đi đường nào đều có thể
nhận thức được rằng đèn đỏ là lúc phải dừng lại, nếu vượt đèn đỏ sẽ có khả năng
đâm vào xe của người khác đang đến lượt đi nhưng họ vẫn cho rằng trường hợp
vượt đèn đỏ của họ sẽ khơng có khả năng gây tai nạn, gây thiệt hại hay họ quá tin
vào khả năng làm chủ tay lái của mình. Trong trách nhiệm dân sự bồi thường
thiệt hại, lỗi của người vượt đèn đỏ và gây tai nạn là lỗi vô ý, mà cụ thể hơn là vơ
ý vì q tự tin- tự tin là thiệt hại sẽ khơng xảy ra hay hồn tồn có thể ngăn chặn
được. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho chủ xe cơ giới số
tiền mà chủ xe cơ giới đã bồi thường hoặc sẽ bồi thường cho người bị thiệt hại.
Vậy bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp có nên như bảo hiểm trách nhiệm dân sự
nói chung là bảo hiểm cho tất cả các trách nhiệm nghề nghiệp phát sinh từ hành
vi có lỗi vơ ý khơng? Hay nên xây dựng lỗi như cách xác định lỗi theo quy tắc
bảo hiểm nêu trên?
Về nguyên tắc, bất cứ một hoạt động nghề nghiệp nào, khi thực hiện đều
cần phải có chun mơn, đều cần đến đạo đức nghề nghiệp và tinh thần trách
nhiệm. Chuyên môn cho phép người hoạt động nghề nghiệp nhận thấy được khả
năng gây thiệt hại của hành vi mà bản thân đang thực hiện. Còn đạo đức nghề
nghiệp và tinh thần trách nhiệm buộc họ trong những trường hợp đó khơng được
thực hiện hành vi chỉ vì nghĩ rằng thiệt hại khơng xảy ra hay có thể ngăn chặn

được. Hay nói khác đi là khơng được gây ra thiệt hại vì q tự tin. Trong phạm vi
nghề nghiệp, người thực hiện hoạt động huyên môn phải bằng mọi biện pháp để
hạn chế, loại bỏ khả năng tác động tiêu cực gây thiệt hại cho khách hàng. Nếu đã
theo đúng trách nhiệm nghề nghiệp mà vẫn có sơ suất làm thiệt hại đến đối tượng
phục vụ, thì có thể gọi đây là rủi ro nghề nghiệp, và phải nên được nhận sự cam
kết chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm. Do đó, lỗi trong bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp nên được hiểu theo hướng là lỗi bất cẩn, không thấy trước khả năng
gây thiệt hại của hành vi mặc dù họ phải biết hoặc có thể biết trước được, không
phải là lỗi vô ý chung chung như trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
1.3.9. Thế quyền trong bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
Thế quyền là việc doanh nghiệp bảo hiểm sau khi bồi thường cho người
được bảo hiểm được chuyển quyền từ người được bảo hiểm địi người thứ ba gây
thiệt hại bồi hồn. Thế quyền được xây dựng nhằm tránh sự làm giàu khơng
chính đáng từ bảo hiểm của các chủ thể trong xã hội và chỉ được áp dụng cho bảo

18


×