Tải bản đầy đủ (.pdf) (62 trang)

Pháp luật về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.27 MB, 62 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT THƢƠNG MẠI
-------------

TRƢƠNG THỊ HỒNG HOA

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
CỦA CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG
CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thƣơng mại

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012


TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT THƢƠNG MẠI
-------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI
CỦA CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG
CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRƢƠNG THỊ HỒNG HOA
KHÓA: 33 MSSV: 0855010073
GVHD: Th.s NGUYỄN HỒNG THÙY TRANG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012




LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan Khóa luận“Pháp luật về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số
trong công ty cổ phần ở Việt Nam” là cơng trình nghiên cứu do chính tơi thực hiện dưới
sự hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Hoàng Thùy Trang. Các số liệu và thơng tin trong
Khóa luận là trung thực.Các dữ liệu, quan điểm được trích dẫn đầy đủ, nếu khơng thuộc ý
tưởng hoặc kết quả tổng hợp của chính bản thân tơi.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 31tháng 7 năm 2012
TÁC GIẢ

Trương Thị Hồng Hoa


LỜI CẢM ƠN
Qua đây, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Thạc sĩ Nguyễn Hoàng
Thùy Trang, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong q trình viết Khóa luận.
Tác giả cũng chân thành cảm ơn gia đình và các bạn đã động viên và giúp đỡ để tác giả
hồn thành Khóa luận này.Do hạn chế về trình độ nghiên cứu, chắc chắn Khóa luận sẽ
khơng tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả kính mong nhận được ý kiến đóng góp của
thầy cơ và các bạn.Trân trọng cảm ơn!


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trong Khóa luận này, những từ sau đây được viết tắt như sau:
BKS:

Ban Kiểm sốt

CTCP:


Cơng ty cổ phần

ĐHĐCĐ:

Đại hội đồng cổ đông

HĐQT:

Hội đồng quản trị

LCK:

Luật Chứng khoán 2006

LDN:

Luật Doanh nghiệp

Nghị định 102:

Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của
Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của
Luật Doanh nghiệp 2005

OECD:

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

Quyết định 12:


Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính về ban hành Quy chế Quản trị
công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên sở giao
dịch chứng khoán/ trung tâm giao dịch chứng khoán

Quyết định 15:

Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/3/2007 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính về Điều lệ mẫu áp dụng cho
các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán/
trung tâm giao dịch chứng khoán

WB:

Ngân hàng thế giới


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 7
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ
PHẦN .................................................................................................................................... 5
1.1.

Khái niệm cổ đông thiểu số ..................................................................................... 5

1.2.

Sự cần thiết phải bảo vệ cổ đông thiểu số ............................................................... 9


1.3.

Lược sử pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số tại Việt Nam ..................................... 15

1.4.

Kinh nghiệm các nước trong việc bảo vệ cổ đông thiểu số .................................. 17

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ CÔNG
TY CỔ PHẦN VÀ HƢỚNG HOÀN THIỆN................................................................... 21
2.1. Bảo vệ cổ đông thiểu số tại cuộc họp ĐHĐCĐ......................................................... 21
2.1.1.

Quyền dự họp ĐHĐCĐ của cổ đông thiểu số: .............................................. 21

2.1.2. Quyền yêu cầu triệu tập, quyền triệu tập; quyền đưa thông tin vào nội dung,
chương trình họp và quyền phát biểu tại cuộc họp ĐHĐCĐ ....................................... 26
2.1.2.1 . Quyền yêu cầu triệu tập và quyền triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ ............... 26
2.1.2.2.
Quyền đưa thơng tin vào nội dung, chương trình họp và quyền phát biểu trong
cuộc họp ĐHĐCĐ ..................................................................................................... 29
2.1.3.

Điều kiện họp và tỉ lệ biểu quyết thông qua quyết định tại ĐHĐCĐ ............ 30

2.1.3.1.

Điều kiện hợp lệ tiến hành họp ............................................................... 30

2.1.3.2.


Tỉ lệ biểu quyết thông qua các quyết định của ĐHĐCĐ ........................ 31

2.2. Bảo vệ cổ đông thiểu số thông qua cơ chế bầu dồn phiếu và quyền đề cử người vào
HĐQT, BKS ..................................................................................................................... 33
2.2.1. Bảo vệ cổ đông thiểu số thông qua cơ chế bầu dồn phiếu .................................. 33
2.2.2. Cơ chế miễn nhiệm, bãi nhiệm và bầu bổ sung thành viên HĐQT ................... 36
2.3.

Bảo vệ cổ đông thiểu số thông qua quy định về quyền khởi kiện của cổ đơng .... 38

2.3.1.

Khái qt về hình thức kiện phái sinh ........................................................... 39

2.3.2.

Quyền khởi kiện của cổ đông theo pháp luật Việt Nam ................................ 40

2.3.2.1. Chủ thể được quyền khởi kiện ..................................................................... 40
2.3.2.2. Căn cứ khởi kiện và đối tượng bị khởi kiện ................................................ 42
2.3.2.3. Thủ tục khởi kiện ......................................................................................... 44
2.3.2.4.Trách nhiệm pháp lý của người bị kiện ........................................................ 45
2.3.2.5. Vấn đề chi phí khởi kiện .............................................................................. 46


KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO



1

PHẦN MỞ ĐẦU
 Lý do lựa chọn đề tài
Công ty cổ phần (CTCP) là hình thức tổ chức kinh doanh ra đời, tồn tại và phát
triển trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Sự hình thành và phát triển của
CTCP gắn liền với sự hình thành thị trường vốn và thị trường tiền tệ, là một loại hình
kinh doanh phổ biến hiện nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay
của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi
quốc gia phát triển1. Bằng những ưu thế vượt trội về khả năng huy động vốn, CTCP đã
khuyến khích được nhiều người tham gia vào hoạt động kinh doanh, huy động được
nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân, không để nguồn vốn bị “ứ đọng” nhiều trong công
chúng. Mặt khác, từ quy định của Luật DN, CTCP không chú trọng nhiều đến nhân thân
người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp, các cổ đơng khơng bắt buộc phải có
kiến thức về hoạt động kinh doanh, và khi cần họ có thể chuyển nhượng phần vốn góp
của mình cho người khác. Chính điều này đã tạo điều kiện thu hút nhiều nhà đầu tư tham
gia góp vốn vào CTCP. Đặc biệt đối với những CTCP có quy mơ lớn thì số lượng nhà
đầu tư tham gia vào công ty rất đông đảo, do đó xung đột về quyền lợi giữa các cổ đơng,
nhóm cổ đơng là khó tránh khỏi, mà trong đa số trường hợp phần lợi thế thường thuộc về
cổ đơng lớn. Trong hồn cảnh đó, vấn đề bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong
CTCP cần phải được đặt ra và được quan tâm hơn bao giờ hết.
Qua khảo sát tình hình nghiên cứu của các tác giả trước đây, tác giả nhận thấy đề
tài của Khóa luận khơng phải là cơng trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này. Trước đó
đã có khá nhiều những cơng trình nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số
trong CTCP:
 Nguyễn Thị Thúy Hằng (2009), Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong
cơng ty cổ phần, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật học, Đại học Luật TP
Hồ Chí Minh.
 Trần Quốc Hoài (2006), Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu
tư trên thị trường chứng khoán, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật

TP Hồ Chí Minh.
 Đỗ Tuấn Hùng (2010), Bảo vệ cổ đông thiểu số, Khóa luận tốt nghiệp cử
nhân Luật học, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh.

1

Nguyễn Ngọc Bích (2004), Luật Doanh nghiệp:Vốn và quản lý trong CTCP, NXB Trẻ, Hà Nội, tr.18.


2

 Nguyễn Hồng Thùy Trang (2008), Bảo vệ cổ đơng thiểu số trong công ty
cổ phần – So sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Anh, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh.
 Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2010), Bảo
vệ nhà đầu tư: Những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật doanh
nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ, mã số B 2007 – 10 – 06 .
 Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2010), Kỷ
yếu Hội thảo “Bảo vệ cổ đông: Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong
pháp luật doanh nghiệp Việt Nam”, ngày 08/5/2010.
Cùng nghiên cứu về đề tài bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số trong CTCP, nhưng
mỗi tác giả có cách tiếp cận khác nhau.Tác giả Trần Quốc Hoài chỉ tập trung nghiên cứu
vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khốn.Tác giả
Nguyễn Hồng Thùy Trang lại tiếp cận vấn đề trong sự so sánh, đối chiếu giữa pháp luật
Việt Nam và pháp luật Anh. Các khóa luận ở cấp độ cử nhân cũng đã đề cập đến vấn đề
bảo vệ cổ đông thiểu số theo những mục đích khác nhau. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ và Kỷ yếu Hội thảo do Khoa Luật Thương mại trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí
Minh thực hiện là những cơng trình nghiên cứu mang lại giá trị khoa học to lớn, đã phân
tích các vấn đề lý luận về bảo vệ cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu số, những hạn chế,

bất cập trong quy định của pháp luật doanh nghiệp và đã đưa ra những kiến nghị mang
tính định hướng cho cơng tác lập pháp. Một số kiến nghị của nhóm nghiên cứu đã được
tiếp thu và bổ sung vào quy định của pháp luật doanh nghiệp.
Ngồi ra cịn rất nhiều bài viết trên các báo, tạp chí đề cập đến một vài khía cạnh
nhỏ về vấn đề bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số.Tuy nhiên, những bài viết này chỉ
nghiên cứu vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số ở những nội dung riêng lẻ.Cùng với sự thay
đổi của thực tiễn khách quan, tác giả nhận thấy cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn nữa đề
tài này để bảo vệ tốt hơn quyền lợi cổ đông thiểu số, trên cơ sở tiếp thu những giá trị
khoa học đã có trước đó và đặt trong mối liên hệ với những yêu cầu của thực tiễn hiện
nay.
Với những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi
cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam” làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp Cử
nhân Luật học.


3

 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Thực hiện Khóa luận này, tác giả mong muốn phân tích những bất cập, hạn chế
của quy định pháp luật doanh nghiệp về họp ĐHĐCĐ, quyền khởi kiện của cổ đơng có
liên quan đến bảo vệ cổ đơng thiểu số và những khó khăn của cổ đơng khi thực hiện. Từ
đó, tác giả mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp về
bảo vệ cổđơng thiểu số.
Khóa luận sẽ cịn là tài liệu tham khảo, cung cấp kiến thức pháp lý nhất định cho
nhiều đối tượng khác nhau, đặc biệt là các cổ đông thiểu số, sinh viên luật và những ai
quan tâm đến vấn đề này.Từ đó, giúp các cổ đơng thiểu số cũng như doanh nghiệp tự bảo
vệ mình tốt hơn.
 Phạm vi nghiên cứu
Những cơng trình nghiên cứu trước đây đã trình bày tương đối đầy đủ về quy định
của pháp luật doanh nghiệpliên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của cổ đơng thiểu số. Vì

vậy, trong phạm vi Khóaluận này, tác giả sẽ khơng nghiên cứu tất cả những quy định của
pháp luật doanh nghiệp mà chỉ tập trung nghiên cứu các quy định về cuộc họp
ĐHĐCĐ,cơ chế bầu dồn phiếu và bãi miễn, bầu bổ sung thành viên HĐQT và thành viên
BKS, quyền khởi kiện của cổ đơng có liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông
thiểu số trong CTCP.
 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận sẽ đi sâu nghiên cứu, phân tích các quy định của Luật DN 2005 và các
văn bản pháp luật liên quan có quy định về họp ĐHĐCĐ và quyền khởi kiện của cổ đông
thể hiện sự bảo vệ cổ đơng thiểu số. Bên cạnh đó, một số nội dung liên quan đến bảo vệ
cổ đông thiểu số trong quy định pháp luật công ty của một số quốc gia cũng sẽ thuộc đối
tượng nghiên cứu của Khóa luận này.
 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận có mục đích trước hết nhằm giải quyết những vấn đề lý luận chung nhất
về cổ đông thiểu số, sự cần thiết phải bảo vệ cổ đơng thiểu số. Khóa luận tập trung phân
tích những quy định của pháp luật doanh nghiệp về cuộc họp ĐHĐCĐ, quyền khởi kiện
của cổ đông nhằm bảo vệ cổ đơng thiểu số; bình luận những quy định này trên cơ sở lý
luận và thực tiễn để tìm ra những ưu điểm và những hạn chế liên quan đến bảo vệ cổ
đơng thiểu số. Nội dung Khóa luận cũng có sự so sánh, đối chiếu giữa pháp luật doanh
nghiệp Việt Nam và pháp luật công ty một số nước trên thế giới về vấn đề bảo vệ cổ đông
thiểu số. Từ đó tạo điều kiện cho việc hồn thiện pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số Việt
Nam trên cơ sở tiếp thu những quy định tiến bộ từ pháp luật các nước này.


4

 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện Khóa luận, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, chứng
minh, so sánh dựa trên nền tảng tư duy của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy
vật lịch sử của khoa học Mác – Lênin. Theo đó:
Trong chương 1, phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để làm

rõ khái niệm cổ đông thiểu số và sự cần thiết phải bảo vệ cổ đông thiểu
số và sự phát triển của pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số tại Việt Nam.
- Trong chương 2, phương pháp phân tích, chứng minh, so sánh được sử
dụng khi phân tích những quy định của pháp luật doanh nghiệp Việt
Nam hiện hành về họp ĐHĐCĐ và những khó khăn của cổ đơng khi
thực hiện quyền khởi kiện người quản lý công ty trên cơ sở so sánh với
pháp luật một số quốc gia trên thế giới.
 Bố cục của đề tài
Nhằm thể hiện nội dung nghiên cứu một cách có hệ thống và khoa học, tác giả đã
xây dựng bố cục của Khóa luận theo trình tự như sau :
-

Phần mở đầu
Chƣơng 1.Tổng quan về bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần.
Chƣơng 2.Thực trạng pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần và hướng
hoàn thiện.
Kết luận


5

Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ
TRONG CƠNG TY CỔ PHẦN

Khái niệm cổ đơng thiểu số
Là loại hình doanh nghiệp đối vốn, CTCP được thành lập từ sự liên kết của các
thành viên dựa trên quan hệ góp vốn.Tuy nhiên, khơng giống như các loại hình doanh
nghiệp khác, vốn điều lệ của CTCP được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ
phần. Bằng hành vi góp vốn vào cơng ty thơng qua việc mua ít nhất một cổ phần đã phát

hành, nhà đầu tư lúc này sẽ trở thành cổ đông của công ty. Như vậy, xét về địa vị pháp lý
thì tất cả cổ đơng trong CTCP đều là những người chủ sở hữu của cơng ty, có các quyền
và nghĩa vụ ngang nhau theo quy định pháp luật doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế hoạt
động quản trị công ty vẫn luôn tồn tại những xung đột về quyền lợi giữa các cổ
đơng/nhóm cổ đơng, mà về cơ bản có thể chia làm hai nhóm: cổ đông đa số -“ những
người nắm giữ phần vốn đáng kể trong cơng ty, có thể thu gom phiếu để thao túng công
ty”2 - và cổ đông thiểu số, và trong mối quan hệ này, bên yếu thế hơn vẫn ln là các cổ
đơng thiểu số. Vì vậy, cần thiết phải xác định khái niệm cổ đông thiểu số để từ đó tạo cơ
sở cho việc xây dựng khung pháp lýphù hợp với nhóm cổ đơng này.
Trước hết, cần khẳng định rằng, trên thực tế còn tồn tại khá nhiều quan điểm khác
nhau về khái niệm cổ đông thiểu số. Mặc dù đặt ra vấn đề phải bảo vệ cổ đông thiểu số,
nhưng pháp luật doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa hề có một khái niệm chung, thống
nhất về cổ đơng thiểu số3. Vì vậy, trong phạm vi Khóa luận này, tác giả vẫn muốn trình
bày về khái niệm cổ đông thiểu số nhằm tạo sự khoa học và thống nhất trong nội dung
Khóa luận.
Luật DN2005 khơng có định nghĩa trực tiếp và rõ ràng về cổ đông thiểu sốmà chỉ
có quy định về nhóm cổ đơng sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn
liên tục ít nhất sáu tháng có một số quyền khác với cổ đông phổ thông4, đồng thời, Luật
DN2005 cũng quy định tỉ lệ 5% tổng số cổ phần phổ thông là điều kiện để cổ đông được
tham gia vào HĐQT5. Các văn bản pháp lý liên quan đến Luật DN 2005 như Luật Chứng
1.1.

2

Phạm Duy Nghĩa (2006), Giáo trình Luật kinh tế, Tập 1: Luật Doanh nghiệp: Tình huống, Phân tích, Bình luận,
NXB ĐHQG Hà Nội, tr.101-102.
3
Nguyễn Thị Thúy Hằng (2010), Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong CTCP, Khóa luận cử nhân Luật học,
Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tr.7.
4

Khoản 2 Điều 79 Luật DN 2005.
5
Điều 110.1.b Luật DN 2005.


6

khốn 2006, Luật các Tổ chức tín dụng 2010 cũng chỉ xác định khái niệm “cổ đông lớn”
mà không đề cập đến khái niệm “cổ đông thiểu số” hay “cổ đơng nhỏ”. Điều 4.26 Luật
các tổ chức tín dụng 2010 quy định rằng: “Cổ đơng lớncủa tổ chức tín dụng cổ phần là cổ
đông sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ
chức tín dụng cổ phần đó”.Tuy nhiên, khái niệm cổ đông lớn ở đây chỉ áp dụng đối với
các CTCP hoạt động trong các lĩnh vực tín dụng- tiền tệ, nói cách khác là các tổ chức tín
dụng.Tương tự như Luật các tổ chức tín dụng, Khoản 29 Điều 6 Luật Chứng khốn 2006
cũng quy định: “Cổ đơng lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% số cổ
phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành.”.Như vậy, Luật Chứng khoán 2006 và
Luật các Tổ chức tín dụng 2010 đã đưa ra con số 5% để xác định ranh giới giữa cổ đông
đa số và cổ đông thiểu số. Vấn đề đặt ra ở đây là, nếu coi 5% là ranh giới để xác định hai
nhóm cổ đơng trên, thì theo phương pháp loại trừ, ta có thể suy ra cổ đơng thiểu số là cổ
đơng sở hữu dưới 5% cổ phần có quyền biểu quyết của cơng ty khơng ?
Như vậy, có thể thấy việc xác định cổ đông thiểu số là cổ đông như thế nào vẫn
chưa được quy định rõ ràng trong pháp luật doanh nghiệp. Những quy định nêu trên chỉ
đề cập khái niệm cổ đông lớn và được áp dụng cho những CTCP đặc thù. Khái niệm “đa
số” hay “thiểu số” theo quan điểm của nhà làm luật khơng phải dựa trên số lượng cổ đơng
nhiều hay ít trong công ty, mà dựa vào số cổ phần nắm giữ. CTCP là loại hình doanh
nghiệp đối vốn, cho nên người nào góp nhiều vốn hơn thì người đó sẽ có nhiều phiếu
biểu quyết hơn so với những cổ đơng khác6, do đó khả năng chi phối đến cơng ty và khả
năng hưởng lợi tức từ số cổ phần nắm giữ của họ cũng sẽ cao hơn. Nếu theo cách hiểu
này thì cổ đơng thiểu số được hiểu là những cổ đơng sở hữu ít vốn, một tỉ lệ nhỏ số cổ
phần có quyền biểu quyết trong CTCP. Việc xác định cổ đông sở hữu tỉ lệ bao nhiêu cổ

phần để được coi là cổ đơng thiểu số,như đã trình bày trên đây, đều không được pháp luật
quy định rõ ràng. Tỉ lệ 5% cũng chỉ là con số tượng trưng ước lệ mà Luật Chứng khoán
và Luật các Tổ chức tín dụng xác định để ghi nhận các quyền lợi của cổ đơng lớn chứ bản
thân nó cũng chưa phản ánh đầy đủ về bản chất của cổ đông lớn, cổ đông thiểu số là như
thế nào7. Cũng cần nói thêm rằng, tỉ lệ 10%, 5% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết
theo Luật DN2005 hoặc theoLuật Chứng khốn, Luật các Tổ chức tín dụng khơng phải là
tỉ lệ nhỏ trong các CTCP, đặc biệt là các công ty đại chúng. Bởi chúng ta biết, ở các
6

Thực tế là nhiều người chấp nhận bị hạn chế một số quyền so với cổ đông phổ thông để được sở hữu cổ phần ưu đãi
biểu quyết nhằm có “tiếng nói” hơn khi biểu quyết các vấn đề quan trọng trong công ty.
Về cổ phần ưu đãi biểu quyết, xem Điều 81 Luật DN. Xem thêm Bùi Xuân Hải (2009), “Bảo vệ cổ đông: Mấy vấn
đề lý luận và thực tiễn trong Luật Doanh nghiệp 2005”, Tạp chí Khoa học pháp lý (01), tr.23-30
7
Lê Văn Qua (2008), Pháp luật về bảo vệ quyền lợi cổ đơng thiểu số trong CTCP, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân
Luật học, ĐH Luật TP.HCM, tr.9.


7

CTCP hiện nay vốn điều lệ đều rất lớn.Ví dụ: tỷ lệ sở hữu 0,1% cổ phần trong công ty
PVFC Land đã là 500 triệu đồng; tỷ lệ 5% của CTCP nhựa Bình Minh là hơn 7 tỷ
đồng8.Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận thấy rằng cổ đơng thiểu số hay cổ đơng ít vốn
thường chính là các cổ đơng hay nhóm cổ đơng nắm giữ phần vốn ít ỏi trong công ty kéo
theo quyền quyết định các vấn đề trong công ty của họ cũng sẽ bị hạn chế. Chính đặc
điểm này của cổ đơng thiểu số mà họ dễ bị các cổ đông lớn - thường là những người nắm
hầu hết vốn trong công ty - chèn ép, xâm phạm đến quyền lợi của họ.Cổ đông thiểu số ở
đây được xem xét dưới khía cạnh giá trị phần vốn góp của họ trong cơng ty.Đây mới
chính là vấn đề quyết định vì số lượng cổ đơng trong CTCP có thể thay đổi, mỗi cơng ty
lại có số lượng cổ đơng khác nhau.Điều đó có nghĩa là, càng sở hữu càng nhiều cổ phần

thì cổ đơng càng có tiếng nói quyết định trong cơng ty, càng có khả năng quản lý, điều
hành cơng ty nhiều hơn.Do đó, “nếu cổ đông nhỏ không bị chèn ép bởi những cổ đông
lớn thì bản thân phần vốn góp ít ỏi trong cơng ty cũng sẽ làm cho họ bị hạn chế về quyền
lợi, đặc biệt là quyền quyết định và quyền hưởng lợi tức”9.Vì vậy, vấn đề bảo vệ quyền
lợi của cổ đông thiểu số cần phải được đặt ra.
Tuy nhiên, nếu tiếp cận vấn đề ở một khía cạnh khác, cổ đông thiểu số không chỉ
là những người nắm giữ số vốn nhỏ trong CTCP mà còn ở khả năng tham gia quản lý
cơng ty của những người này.Bởi vì, “nếu khơng tính đến khả năng kiểm sốt cơng ty thì
bản thân số lượng cổ phần không thể xác định được vị trí của cổ đơng là cổ đơng thiểu số
hay cổ đơng đa số”10. Giả sử một CTCP có 91 cổ đơng, trong đó có 1 cổ đơng nắm 10%
cổ phần của cơng ty, 90 cổ đơng cịn lại mỗi người nắm giữ 1% cổ phần của công ty. Vậy
các cổ đơng nắm giữ 1% cổ phần có phải là cổ đông thiểu số hay không và cổ đông nắm
giữ 10% cổ phần kia có phải là cổ đơng lớn ? Xét về tỉ lệ vốn trong cơng ty thì vấn đề đã
rõ, nhưng nếu xét về khả năng chi phối cơng ty trong việc ra các quyết định thì chưa hẳn.
Nếu tất cả các cổ đông nắm giữ 1% cổ phần nói trên tập hợp nhau lại thì tỉ lệ cổ phần họ
nắm giữ tại công ty lên đến 90%, đây là tỉ lệ đủ để thông qua mọi quyết định trong cơng
ty. Khi đó cổ đơng nắm giữ 10% cổ phần sẽ khơng cịn quyết định được vấn đề nào của
công ty nữa, nghĩa là khả năng chi phối công ty của họ - những người nắm giữ số cổ phần
rất lớn so với từng cổ đông riêng lẻ - đã bị hạn chế. Lúc này, chính cổ đông nắm giữ 10%
8

Trương Vĩnh Xuân, “Quyền dự họp đại hội cổ đông của cổ đông nhỏ CTCP hiện nay”,Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
điện tử. Tại http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/quyen-du-hop-111ai-hoi-co-111ong-cua-co-111ong-nhocong-ty-co-phan-hien-nay, truy cập ngày 2/6/2012.
9
Lê Văn Qua, tlđd, tr.9.
10
Nguyễn Hoàng Thùy Trang (2008), Bảo vệ cổ đông thiểu số trong CTCP – So sánh giữa pháp luật Việt Nam và
pháp luật Vương quốc Anh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, ĐH Luật TP.HCM, tr.12.



8

cổ phần lại là cổ đông thiểu số, là đối tượng cần được bảo vệ quyền lợi.Như vậy, một cổ
đông tuy nắm giữ tỉ lệ cổ phần rất nhỏ nhưng nếu họ vẫn có khả năng ảnh hưởng đến các
quyết định của cơng ty thì cũng khơng thể xem họ là cổ đông thiểu số.Tuy nhiên, nếu
những cổ đông sở hữu ít cổ phần này tập hợp lại tạo thành nhóm cổ đơng và có những
quyền của nhóm cổ đơng theo quy định tại Điều 79.3 Luật DN2005 thì lúc này những cổ
đông này không được xem là cổ đông thiểu số, bởi vì thơng qua nhóm cổ đơng họ đã
tham gia vào quá trình ra các quyết định của cơng ty, nói cách khác là họ đã tham gia vào
hoạt động quản lý và kiểm sốt cơng ty.
Như vậy, nói đến cổ đơng thiểu số, chúng ta khơng thể chỉ dựa trên giá trị cổ phần
nhất định mà còn phải xem xét đến khả năng chi phối công ty của cổ đông. Khi tham gia
mua cổ phần và trở thành cổ đơng của CTCP, cổ đơng phải có các quyền tham gia quản
lý, kiểm soát các hoạt động của cơng ty, vì qua đó mới thể hiện được tư cách chủ sở hữu
của cổ đông. Nhưng,“một sự thật hiển nhiên là không phải tất cả các cổ đông/thành viên
trong cơng ty đều có các quyền lợi ngang nhau, đều có khả năng chi phối, tham gia hoạt
động quản lý, kiểm sốt cơng ty giống nhau”11. Ngun nhân là do giá trị cổ phần trong
công ty mà mỗi cổ đông nắm giữ là khác nhau. Người nào góp nhiều vốn đồng nghĩa với
khả năng chịu nhiều rủi ro hơn, do đó, thường những cổ đơng lớn sẽ ln có cơ hội để
thâu tóm quyền lực vào tay mình, và đương nhiên, cổ đơng thiểu số - với số vốn ít ỏi
trong tay - thì họ khơng thể có được tiếng nói trong việc tham gia quản lý, kiểm sốt cơng
ty. Họ thực sự là những ông chủ “thấp cổ bé họng”.
Từ những phân tích trên đây, có thể nhận thấy,việc đưa ra một khái niệm chung,
thống nhất về cổ đông thiểu số là điều không mấy dễ dàng. Tuy nhiên, khi đề cập đến
khái niệm cổ đông thiểu số trong CTCP thì phải xét ở nhiều yếu tố mà trước hết là tỉ lệ cổ
phần nắm giữ, sau đó là khả năng chi phối công ty – khả năng biểu quyết để thông qua
các vấn đề tại công ty. Dù tiếp cận ở góc độ nào thì cũng cần có sựkết hợp các yếu tố này
và xem xét trong từng mối quan hệ cụ thể để có thể có được khái niệm tương đối về cổ
đơng thiểu số.Có thể hiểu cổ đông thiểu số là những cổ đông chỉ nắm giữ một số ít cổ
phần trong cơng ty và với số cổ phần đó họ khơng có khả năng tham gia vào hoạt động

quản lý, điều hành cơng ty.Đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến quyền lợi của cổ
đơng thiểu số bị xâm phạm, và từ đó cũng đặt ra vấn đề bảo vệ quyền lợi của cổ đông
thiểu số.
11

Bùi Xuân Hải (2009), “Bảo vệ cổ đông: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn trong Luật Doanh nghiệp 2005”, Tạp chí
Khoa học pháp lý (01), tr.23-30.


9

Sự cần thiết phải bảo vệ cổ đông thiểu số
Bảo vệ cổ đông thiểu số là một trong những vấn đề trung tâm của quản trị công ty
và là nội dung quan trọng khi xây dựng pháp luật doanh nghiệp. Trước thực trạng quyền
lợi của cổ đông thiểu số đang bị xâm phạm nghiêm trọng như hiện nay, vai trò của các
công cụ pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số càng trở nên cấp thiết.
Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số bằng công cụ pháp luật thể hiện ở
những góc độ sau đây:
 Thứ nhất,cổ đơng thiểu số ln có nguy cơ bị xâm phạm quyền lợi bởi các cổ đông
lớn trong công ty
Mặc dù Luật DN2005 đã quy định rõ ràng “mỗi cổ phần của cùng một loại đều
tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau”, nhưng thực tế,
khơng phải tất cả cổ đơng đều có các quyền lợi thống nhất với nhau, đều có khả năng chi
phối, tham gia hoạt động quản lý, kiểm sốt cơng ty giống nhau12.Với tỉ lệ sở hữu cổ
phần lớn cùng với khả năng chi phối cơng ty, cổ đơng lớn ln có cơ hội để chèn ép cổ
đơng thiểu số.
1.2.

Cổ đơng lớn có thể chèn ép cổ đông nhỏ bằng nhiều cách thức khác nhau, nhưng
một trong những cách thức thường được sử dụng công khai là thông qua lá phiếu biểu

quyết tại ĐHĐCĐ.Như đã phân tích, cổ đơng thiểu số vì nắm giữ phần vốn góp nhỏ bé
nên họ khó có khả năng tham gia vào hoạt động quản lý và kiểm soát cơng ty. Với quy
định “mỗi cổ đơng phổ thơng có một phiếu biểu quyết”13, về mặt lý luận đã tạo ra sự bình
đẳng giữa các cổ đơng, nhưng trên thực tế, các cổ đông lớn với số phiếu biểu quyết áp
đảo đã có thể thơng qua tất cả quyết định quan trọng của ĐHĐCĐ và dễ dàng bỏ qua
quyền lợi của cổ đông thiểu số. Chúng ta biết rằng, giữa các cổ đơng dù có bất đồng hay
xung đột quan điểm về những vấn đề phát sinh liên quan đến hoạt động của cơng ty hoặc
về quyền lợi, thì cuối cùng vấn đề đều được giải quyết thông qua phiếu biểu quyết tại
ĐHĐCĐ. Lúc này, các cổ đông lớn sẽ sử dụng ưu thế của mình để có thể chi phối đến
việc ra các quyết định của công ty.Bởi lẽ, cơ chế thông qua quyết định tại ĐHĐCĐ là
theo nguyên tắc đa số phiếu. Khi đó, cho dù cổ đơng thiểu số có những ý kiến bất đồng
với các cổ đơng lớn cịn lại thì họ cũng khơng cịn cách nào khác là phải phục tùng quyết
định đó14.Cổ đơng lớn có thể lợi dụng ưu thế của mình khi thơng qua Nghị quyết
12

Khoa Luật Thương mại, ĐH Luật TP. HCM (2010), “Bảo vệ nhà đầu tư: Những vấn đề lý luận và thực tiễn của
pháp luật doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”, Báo cáo tổng kết công trình nghiên cứu khoa học cấp
Bộ, mã số B2007-10-06, tr.21.
13
Điều 79.1 Luật DN 2005
14
Điều 27.1 Nghị định 102/2010/NĐ-CP.


10

ĐHĐCĐ chỉ có lợi cho những cổ đơng lớn và người quản lý, chẳng hạn: phát hành cổ
phiếu thưởng vô nguyên tắc, chọn cổ đông chiến lược nhưng thực chất là bán rẻ cổ phiếu
cho cổ đông “chiến lược” là những người thân quen, để dành quỹ khen thưởng, phúc lợi
quá lớn cho người quản lý và nhân viên…Thực tế đã xảy ra khơng ít vụ việc cổ đơng lớn

lạm dụng quyền biểu quyết dành cho mình quyền mua cổ phần mới nhiều hơn với mức
giá ưu đãi hơn khi công ty phát hành cổ phần mới đã gây bất bình cho cổ đơng thiểu
số.Tiêu biểu như phương án phát hành cổ phiếu mới để tăng vốn điều lệ của Công ty cổ
phần vận tải xăng dầu VITACO theo cách bất bình đẳng: ưu ái cho Tổng cơng ty xăng
dầu Việt Nam (Petrolimex) - cổ đông chiếm 51% vốn - được mua cổ phiếu mới với giá
thấp hơn 2,5 lần so với các cổ đơng khác. Trước đó, tại Cơng ty cổ phần vận tải xăng dầu
VIPCO (niêm yết tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán TP.HCM), sau khi kết thúc Đại
hội cổ đông thường niên, nhiều cổ đông nhỏ của công ty này ra về cũng với tâm trạng
"sôi sùng sục" tương tự như cổ đông của Công ty VITACO. Theo phương án phát hành
mới được thông qua, VIPCO sẽ phát hành 178,8 tỉ đồng mệnh giá cổ phiếu để tăng vốn
điều lệ, trong đó Petrolimex được mua 51% số lượng phát hành mới (9,1188 triệu cổ
phiếu) tương ứng với tỷ lệ 51% cổ phiếu mà đơn vị này đang nắm giữ tại VIPCO. Giá
mua mà cổ đông nắm 51% cổ phiếu là 15.000 đồng/cổ phiếu (gấp 1,5 lần mệnh giá). Các
cổ đơng khác được mua phần cịn lại (8,7612 triệu cổ phiếu) theo tỷ lệ 50:21 (sở hữu 50
cổ phiếu được mua thêm 21 cổ phiếu) với giá là 40.000 đồng/cổ phiếu (gấp 4 lần so với
mệnh giá). Như vậy, giá mua của các cổ đông nhỏ cao gấp 2,67 lần so với giá mua của
"đại cổ đông" là Petrolimex15. Những phương án phát hành cổ phiếu được cho là “kỳ
cục” như vậy nhưng vẫn được thông qua tại ĐHĐCĐ, vì cổ đơng thiểu số đến tận ngày
họp ĐHĐCĐ mới nhận được phương án phát hành mới này và bản thân số cổ phần nhỏ
bé mà nhóm cổ đông này nắm giữ không thể đạt đủ tỉ lệ hợp lệ để bác bỏ. Do đó, mặc dù
biết rõ quyền lợi của mình đang bị xâm phạm một cách công khai, nhưng cổ đông thiểu
số cũng không thể làm gì được, khi mà tiếng nói của họ hầu như không được tôn trọng và
lá phiếu của họ khi thông qua Nghị quyết của ĐHĐCĐ chẳng có ý nghĩa gì so với số cổ
phần mà các cổ đông lớn đang nắm giữ. Như vậy,với số phiếu biểu quyết “thiểu số” trong
các cuộc họp ĐHĐCĐ, cổ đơng thiểu số ln có khả năng bị chèn ép quyền lợi từ phía
các cổ đông lớn, những người nắm số phiếu áp đảo trong cơng ty.
Ngồi ra, các cổ đơng lớn cịn có thể tự mình thiết lập bộ máy quản lý điều hành
trong cơng ty, qua đó có thể chi phối đến hoạt động của công ty và trực tiếp hoặc gián
15


http://vietbao.vn/Kinh-te/Nhung-phuong-an-phat-hanh-co-phieu-ky-cuc/45233033/91/, truy cập ngày 4/6/2012.


11

tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi cổ đông thiểu số.Chúng ta biết rằng, với phương thức bầu
dồn phiếu, cổ đông nào sở hữu càng nhiều cổ phần thì càng có nhiều cơ hội để đề cử
người mà mình tín nhiệm vào HĐQT/BKS. Các cổ đơng lớn, như đã phân tích, với số cổ
phần chiếm đa số trong công ty nên khả năng họ đề cử người vào các cơ quan quản lý
cũng cao hơn cổ đông thiểu số, và trong đa số trường hợp thì thành phần HĐQT/BKS chủ
yếu là đại diện của các cổ đông lớn trong CTCP. Hơn nữa, cơ chế thông qua quyết định
trong HĐQT là theo nguyên tắc quá bán được tính dựa trên số thành viên dự họp, nên cổ
đơng thiểu số nếu có thành viên đại diện trong những cơ quan này thì đó vẫn là đại diện
“thiểu số”, quyền lợi của cổ đông thiểu số vẫn có thể bị các cổ đơng đa số bỏ qua.
Như vậy, có thể thấy rằng, trong CTCP, cổ đơng thiểu số ln ln có khả năng bị
chèn ép quyền lợi từ phía các cổ đơng lớn trong cơng ty. Với số cổ phần ít ỏi trong tay,
kéo theo đó là sự hạn chế khả năng tham gia quản lý điều hành cơng ty, do đó quyền lợi
của cổ đông thiểu số rất dễ bị các cổ đông có vốn lớn xâm phạm. Bởi lẽ, như đã phân tích
ở trên, với số cổ phần lớn hơn, “các cổ đơng lớn và thành viên lớn có quyền và khả năng
áp đặt ý chí của mình trong việc ra các quyết định của công ty, thiết lập bộ máy quản lý,
điều hành của cơng ty theo ý muốn của mình và từ đó, có thể gây phương hại trực tiếp
hoặc gián tiếp đến lợi ích cổ đơng nhỏ”16. Điều này đặt ra vấn đề phải bảo vệ cổ đông
thiểu số trước sự chèn ép, lạm dụng quyền lực của các cổ đông lớn.
 Hai là, cổ đông thiểu số cần được bảo vệ trước người quản lý công ty
Sự tách bạch về quyền sở hữu và quyền quản lý là một đặc trưng trong quản trị
công ty. Do sự tách biệt này mà những người quản lý, điều hành công ty chứ không phải
là các cổ đông – những người chủ thực sự của công ty, mới là những người trực tiếp kiểm
sốt mọi hoạt động của cơng ty17.Với những ưu việt của mình, CTCP dễ dàng huy động
được một số lượng rất lớn cổ đông. Tuy nhiên, phần lớn những nhà đầu tư này lại ít am
hiểu về hoạt động kinh doanh cũng như khơng có khả năng trực tiếp tham gia quản lý

công ty. Mặt khác, với số lượng cổ đông lên đến hàng ngàn, hàng vạn, đặc biệt là trong
các cơng ty niêm yết, thì cơng ty khó có thể tiến hành có hiệu quả hoạt động kinh doanh
nếu như tất cả cổ đông cùng tham gia quản lý, điều hành cơng ty. Do đó, cần thiết phải có
một cơ quan đại diện để thực hiện. Lý thuyết về đại diện trong công ty chỉ ra rằng, nếu cả
hai bên trong mối quan hệ đại diện đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để
tin rằng người quản lý công ty sẽ khơng ln hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ,
tức các cổ đông và công ty. Với khả năng kiểm sốt cơng ty, những người quản lý chắc
16

Bùi Xuân Hải, tlđd 14, tr.27.
Nguyễn Hoàng Thùy Trang (2011), “Quyền khởi kiện phái sinh của cổ đông công ty cổ phần theo pháp luật Anh
và bài học đối với Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (05), tr.36-42
17


12

chắn sẽ ln có xu hướng tư lợi và khơng đủ siêng năng, mẫn cán, và có thể tìm kiếm các
lợi ích cá nhân cho mình hay cho người thứ ba của mình chứ khơng phải cho cơng ty18.
Bên cạnh đó, từ những quy định của pháp luật doanh nghiệp, có thể thấy những
người quản lý cơng ty ở Việt Nam đã được trao khá nhiều quyền hạn19. Với nhiều chức
danh khác nhau như thành viên HĐQT, Giám đốc/Tổng Giám đốc và những chức danh
quản lý khác theo quy định tại Điều lệ cơng ty, pháp luật cịn cho phép một người có thể
vừa làm Chủ tịch HĐQT vừa kiêm chức Giám đốc/Tổng Giám đốc20. Chính cơ cấu quyền
lực tập trung đó đã tạo điều kiện cho những người quản lý khả năng thâu tóm hết quyền
lựctrong cơng ty và từ đó nguy cơ lạm dụng quyền lực để tư lợi là rất lớn. Chúng ta biết
rằng, những người quản lý công ty không chỉ là người đại diện theo pháp luật của cơng ty
mà cịn là đại diện cho cổ đơng/nhóm cổ đơng tham gia quản lý, điều hành công ty,
nhưng các cổ đông thiểu số với số cổ phần ít ỏi trong tay thì khả năng họ có được đại
diện trong cơ quan quản lý công ty là rất thấp. Chính vì vậy, những người quản lý cơng ty

thường là những đại diện cho cổ đông lớn, họ thường quen biết nhau và dễ dàng lập phe
cánh trong cơng ty.Với khả năng thâu tóm quyền lực trong tay, những người quản lý có
rất nhiều cách thức, thủ đoạn để có thể tư lợi từ doanh nghiệp, những cách thức này có
thể diễn ra cơng khai hay bí mật, chẳng hạn thông qua các giao dịch, hợp đồng với những
người có liên quan (cịn được gọi là giao dịch tư lợi), tiến hành các giao dịch nội
gián...Tham gia mua cổ phần của công ty, điều mà cổ đông mong muốn là giá trị tăng lên
của cổ phiếu mà họ đang nắm giữ.Tuy nhiên, giá trị cổ phiếu lại phụ thuộc rất nhiều vào
khả năng điều hành, quản lý công ty cũng như sự trung thành và cẩn trọng của những
người quản lý. Nếu người quản lý điều hành công ty không hiệu quả do sự bất cẩn hay
lạm dụng quyền lực để tư lợi, dẫn đến công ty bị thua lỗ hoặc phá sản thì người bị thiệt
hại đầu tiên vẫn là những chủ nhân thực sự của công ty – các cổ đơng – cịn bản thân
những người quản lý, vốn là những người lao động trong công ty, vẫn được ưu tiên thanh
toán các khoản tiền lương, phụ cấp21.
Qua phân tích trên đây, có thể thấy rằng, xuất phát từ bản chất tự nhiên của quan
hệ đại diện mà người quản lý cơng ty ln có khả năng lạm dụng quyền lực để tư lợi cho
mình, và do đó các cổ đơng của cơng ty ln phải đối mặt với nhiều rủi ro có thể xảy ra
do hành vi vi phạm của những người quản lý công ty gây ra. Sự tồn tại của những quy
18

Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật cơng ty Việt Nam”,Tạp chí Khoa học
pháp lý, (04), tr.11-18.
19
Điều 108.2, Điều 116.3 Luật DN 2005.
20
Điều 111.1 Luật DN 2005.
21
Điều 37 Luật Phá sản 2004.


13


định nhằm bảo vệ cổ đông thiểu số trước những người quản lý cơng ty là cần thiết và có ý
nghĩa trong việc ngăn chặn và hạn chế những thiệt hại có thể xẩy ra đối với cơng ty và cổ
đông thiểu số.Bởi lẽ, “quyền lực của cổ đông thiểu số không thể trông cậy vào quy định
của bản điều lệ công ty hay điều lệ mẫu.Cũng chẳng thể hi vọng vào sự tự giác, lòng quân
tử hay đạo đức của những người quản lý cơng ty.Chính Nhà nước phải bằng pháp luật đặt
ra những nguyên tắc, quy định nhằm tạo điều kiện cho cổ đông thiểu số thực hiện có hiệu
quả các quyền lợi của mình, tạo cho họ chỗ đứng và tiếng nói nhất định trong cơng
ty”22.Chính vì vậy, việc bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông, mà đặc biệt là cổ đông thiểu
số, trước những người quản lý công ty là nhu cầu tất yếu trong pháp luật doanh nghiệp.
 Thứ ba, bảo vệ tốt quyền lợi cổ đông thiểu số sẽ đảm bảo sự phát triển bền vững
của CTCP và tạo môi trường kinh doanh lành mạnh để thu hút đầu tư
Là loại hình cơng ty phát triển phổ biến nhất trên thế giới bởi quy mô lớn, hiệu quả
hoạt động và khả năng thu hút vốn mạnh mẽ cho nền kinh tế, có thể thấy được vai trò
quan trọng của CTCP. Và để tạo nên những đặc điểm vượt trội đó của CTCP, khơng thể
khơng nói đến sự đóng góp của các cổ đơng thiểu số. Bởi vì, CTCP, cũng như các loại
hình doanh nghiệp khác, đều được hình thành từ hành vi góp vốn của các nhà đầu tư. Tuy
nhiên, với ưu thế vượt trội về khả năng huy động vốn thông qua hoạt động phát hành
chứng khoán các loại23, CTCP đã tập trung được một nguồn vốn rất lớn còn nhàn rỗi
trong xã hội để tái đầu tư sản xuất.CTCP có thể phát hành cổ phiếu ngay từ khi thành lập
và cả trong quá trình kinh doanh.Bằng việc mua cổ phiếu, cổ đơng sẽ đóng góp phần vốn
của mình cho cơng ty.Tham gia mua cổ phiếu, cổ đơng khơng mong muốn gì hơn là được
lợi nhuận từ việc chia cổ tức. Xuất phát từ quy định của Luật DN 2005, thành phần cổ
đơng của CTCP rất đa dạng, họ có thể là những nhà kinh doanh, người lao động làm công
ăn lương, viên chức, sinh viên…Về mặt lý luận cũng như thực tế, cổ đông thiểu số
thường chiếm tỉ lệ đa số về mặt số lượng trong các CTCP, đặc biệt là các CTCP đại
chúng24, tuy nhiên tỉ lệ vốn góp của họ thì lại khá khiêm tốn so với các cổ đơng lớn. Phần
vốn mà cổ đơng thiểu số đóng góp tuy khơng nhiều nhưng vơ cùng quan trọng vì đã làm
phong phú thêm nguồn vốn cho các CTCP. Các cổ đơng lớn có thể dùng chính số vốn lớn
22


Bùi Xn Hải (2010), “Bảo vệ cổ đông thiểu số: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”,Tham luận Kỷ yếu Hội thảo
“Bảo vệ cổ đông: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam”, ngày 08/5/2010, tr.113.
23
Khoản 3 Điều 77 Luật DN 2005: CTCP được phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.
24
Khoản 1 Điều 25 Luật CK: Công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong ba loại hình sau đây:
a) Cơng ty đã thực hiện cháo bán cổ phiếu ra cơng chúng;
b) Cơng ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở GDCK hoặc Trung tâm GDCK;
c) Cơng ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khốn chun nghiệp
và có vốn điều lệ đã góp từ mười tỉ đồng Việt Nam trở lên.


14

của mình để mang lại lợi nhuận cho chính họ và đưa nền kinh tế phát triển, nhưng nếu chỉ
có những “đại gia” này trên sân chơi thì thực tế đã chứng minh “họ không phải là số
đông đủ để giúp nền kinh tế vận hành và phát triển tốt nhất nếu khơng có sự đồng lịng
sát cánh của những cổ đông thiểu số”25.Cũng như các cổ đông đã tham gia mua cổ phiếu
của CTCP, cổ đông thiểu số cũng là đồng chủ sở hữu của công ty.Tuy nhiên, nếu xét
riêng từng cổ đơng thì các cổ đơng thiểu số được xem là những ông chủ “thấp cổ bé
họng”, họ khơng có được sự tơn trọng cần thiết và tiếng nói của họ ít có giá trị trong các
quyết sách của CTCP. Họ cũng là những người đóng góp tài chính vào doanh nghiệp, tuy
nhiên quyền lợi của họ thường không được bảo vệ khiến cho những “ông chủ nhỏ” này
thường bị thiệt thịi khi bị những “ơng chủ lớn” chi phối. Một khi quyền lợi của cổ đông
thiểu số khơng được đảm bảo thì chắc chắn họ sẽ chuyển sang đầu tư ở các lĩnh vực khác
an toàn hơn như đầu tư bất động sản, gửi tiết kiệm tại các ngân hàng. Như một quy luật
tự nhiên, phải bảo vệ được quyền lợi cho cổ đơng thiểu số thì họ mới yên tâm bỏ vốn đầu
tư vào công ty, đó chính là điểm mấu chốt để đảm bảo sự hình thành và phát triển bền
vững của CTCP.

Bên cạnh đó, trong giai đoạn hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay, việc quốc gia
chỉ dựa vào nguồn vốn đầu tư trong nước thôi là chưa đủ, mà cần thiết phải có sự thu hút
vốn đầu tư từ nước ngồi. Để làm tốt yêu cầu đó, điều cốt yếu là quốc gia phải xây dựng
một môi trường kinh doanh an tồn và bình đẳng giữa các nhà đầu tư, từ đó tạo được sức
hấp dẫn cho hoạt động thu hút vốn đầu tư. Bởi lẽ, không một nhà đầu tư nào muốn bỏ
vốn vào một doanh nghiệp nếu như họ không nhận được sự bảo đảm tốt về quyền lợi.
Như đã phân tích ở phần trước, cổ đơng thiểu số luôn chiếm số lượng lớn trong công ty
và thành phần cổ đơng thiểu số cũng rất đa dạng, có thể là nhà đầu tư trong nước hay nhà
đầu tư nước ngồi, do đó việc đưa ra chiến lược bảo vệ tốt cổ đông thiểu số sẽ là sự đảm
bảo cho khả năng huy động vốn trong nước và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài. Trong
các nghiên cứu của mình, WB đã nhấn mạnh tới mối quan hệ rất rõ ràng giữa đầu tư nước
ngoài, bao gồm cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp, và mức độ bảo vệ nhà đầu tư của nước
tiếp nhận đầu tư26. Vì vậy, trong các báo cáo hàng năm về môi trường kinh doanh do
Ngân hàng thế giới (WB) và Tổ chức Tài chính thế giới (IFC) tiến hành, một trong mười
tiêu chí được đưa ra để đánh giá mức độ hấp dẫn của của mơi trường kinh doanh chính là
mức độ bảo vệ nhà đầu tư (Protecting Investor Index).Quốc gia nào có chỉ số bảo vệ nhà
đầu tư càng cao chứng tỏ sức hấp dẫn của môi trường kinh doanh của quốc gia đó.Nhìn
25

Đỗ Tuấn Hùng (2010), Bảo vệ cổ đơng thiểu số, Khóa luận cử nhân Luật, ĐH Luật TP.HCM, tr.14.
Xem báo cáo của World Bank, tại http://www.worldbank.org/en/news/2010/12/12/shareholder-rightstransparency-key-capital-market-development-new-wb-report, truy cập ngày 08/6/2012.
26


15

lại thực trạng bảo vệ nhà đầu tư của Việt Nam còn quá thấp như hiện nay khi mà chúng ta
luôn bị xếp “đội sổ” và tụt hạng liên tiếp trong các báo cáo hàng năm của WB27.Với một
chỉ số bảo vệ cổ đông quá thấp như vậy, chắc chắn sẽ là một rào cản trong quá trình thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi của Việt Nam.Có thể khẳng định rằng, một khi quyền

lợi của cổ đông thiểu số còn chưa được bảo vệ đúng mức như hiện naythì khó có thể nói
mơi trường kinh doanh của Việt Nam có sự đột phá trong đánh giá của các tổ chức nước
ngồi.Do đó, cần thiết phải có cơ chế bảo vệ nhà đầu tư nói chung, cổ đơng thiểu số nói
riêng, nhằm tạo mơi trường đầu tư an tồn và bình đẳng, giúp cho quá trình thu hút vốn
đầu tư từ nước ngồi tốt hơn.
Qua phân tích trên đây, có thể thấy cổ đơng thiểu số đóng một vai trò quan trọng
trong việc huy động vốn cho nền kinh tế thơng qua việc góp vốn vào các CTCP. Bảo vệ
tốt nhà đầu tư sẽ làm tăng quy mô đầu tư và số lượng nhà đầu tư cũng sẽ tăng nhanh.
Chính vì vậy, pháp luật phải có những cơ chế hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu
tư, đặc biệt là các cổ đông thiểu số.Thực hiện tốt yêu cầu này là yếu tố quan trọng nhằm
đảm bảo cho sự phát triển bền vững của CTCP, đảm bảo tính hấp dẫn của nó đối với các
nhà đầu tư nhỏ lẻ và tạo môi trường đầu tư lành mạnh để thu hút đầu tư.
Tóm lại, trong mục này, tác giả đã cố gắng phân tích tính cấp thiết của việc bảo vệ
cổ đơng thiểu số, từ đó đặt ra vấn đề phải bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số bằng
công cụ pháp luật.Tuy nhiên, việc bảo vệ cổ đông thiểu số được đặt ra không phải để trao
cho họ các quyền năng và vị thế như cổ đơng lớn, mà để giúp họ có thể thực hiện được
quyền cổ đông mà pháp luật đã quy định cho họ. Nói cách khác, “pháp luật phải có sự
cân bằng tế nhị giữa một bên là việc bảo đảm hoạt động hợp pháp của công ty khỏi sự
cản trở phiền hà của cổ đông thiểu số và một bên là hạn chế những hành động bất công
và sai trái mà cổ đơng lớn có thể sử dụng để phục vụ lợi ích riêng mà gây thiệt hại đến lợi
ích chính đáng của cổ đông thiểu số”28.
1.3. Lƣợc sử pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số tại Việt Nam
Trong hơn hai mươi năm qua, pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số tại Việt Nam đã
có sự phát triển đáng kể thể hiện ở số lượng văn bản được ban hành và các cơ chế bảo vệ.
Bắt đầu từ Luật Công ty 1990 với những quy định sơ khai về công ty trách nhiệm hữu
hạn và CTCP, cổ đông đã được trao những quyền lợi cơ bản đầu tiên, đó là quyền nhận
27

http://www.baomoi.com/VN-tut-8-hang-trong-bao-cao-Moi-truong-kinh-doanh-2012/45/7218054.epi, truy cập
ngày 15/5/2012.

http://vneconomy.vn/20100909051351486P0C9920/moi-truong-kinh-doanh-tai-viet-nam-xep-hang-11-tu-duoilen.htm, truy cập ngày 15/5/2012.
28

Nguyễn Hoàng Thùy Trang, tlđd 13, tr.18-19.


16

cổ tức, quyền tham dự ĐHĐCĐ.Luật Công ty 1990 lần đầu tiên cũng đã đề cập đến
quyền yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ của nhóm cổ đơng29.Tuy nhiên, những nội dung này chỉ
đề cập một cách khái quát và trên thực tế với những quy định ít ỏi này, cổ đơng thiểu số
khó bảo vệ được quyền lợi của mình.
Trước u cầu của công cuộc đổi mới cùng với sự phát triển của điều kiện kinh tế
xă hội và pháp lý cũng như nhu cầu bảo vệ cổ đông, Quốc hội đã ban hành những văn
bản pháp luật mới điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp và môi trường kinh doanh.Luật
DN 1999 ra đời đã cụ thể hóa những điều khoản sơ khai của Luật Công ty 1990 khi quy
định khá chi tiết về mơ hình CTCP cũng như quy chế pháp lý của cổ đông, và cũng lần
đầu tiên nguyên tắc đối xử công bằng giữa các cổ đông được đề cập30. Ngoài việc tiếp tục
ghi nhận những quyền cổ đông đã được quy định trong Luật Công ty 1990, Luật DN
1999 đã bổ sung một số quyền năng khá quan trọng trong việc giúp cổ đơng thiểu số có
thể bảo vệ quyền lợi của mình. Những quy định về quyền của nhóm cổ đơng thiểu số
được quyền đề cử người vào HĐQT, BKS; quyền tự mình triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ
trong một số trường hợp, quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần…lần đầu tiên được ghi
nhận trong pháp luật doanh nghiệp về cơ bản đã thể hiện sự quan tâm của nhà làm luật
đối với cổ đông thiểu số. Bên cạnh đó, quy định về điều kiện hợp lệ tiến hành cuộc họp
ĐHĐCĐ, tỉ lệ biểu quyết thông qua các quyết định tại cuộc họp cũng như quyền yêu cầu
hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ là những bổ sung quan trọng trong nội dung pháp luật về
bảo vệ cổ đông thiểu số31.
Luật DN 2005 ra đời là một thành tựu quan trọng trong hoạt động lập pháp của
Việt Nam, đã thể hiện những tiến bộ nhất định trong việc bảo vệ cổ đông thiểu số so với

Luật Cơng ty 1990 và Luật DN 1999.Có thể nói rằng, đến Luật DN 2005 thì quy định về
các quyền của cổ đơng Việt Nam đã có sự tương đồng với quy định của các nước
khác.Về cơ bản, Luật DN 2005 vẫn giữ ngun mơ hình CTCP theo tinh thần của Luật
DN 1999, tuy nhiên cũng đã có những bổ sung quan trọng để phù hợp điều kiện kinh tế xã hội và nhu cầu cấp thiết của việc bảo vệ cổ đông thiểu số. Một trong những nội dung
thể hiện sự bảo vệ mạnh mẽ cổ đông thiểu số trong CTCP theo Luật DN 2005 chính là
việc nâng cao túc số điều kiện họp và thông qua quyết định của ĐHĐCĐ so với Luật DN
1999. Ngoài ra, quy định việc bầu thành viên HĐQT, thành viên BKS phải tiến hành theo
29

Điều 8 Luật Công ty 1990.
Điều 52.5 Luật DN 1999. Xem thêm Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) và Tổ chức hợp tác phát
triển Đức (GTZ) (2008), Quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam, Quy định của pháp luật, hiệu lực thực tế và vấn đề,
Hà Nội, tr.9.
31
Xem các Điều 53, 64, 71, 79 Luật DN 1999.
30


17

phương thức bầu dồn phiếu đã có tác dụng nhất định trong việc giúp các cổ đông thiểu số
liên kết với nhau để cùng bảo vệ quyền lợi cho mình. Ngày 01/10/2010, Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 102/2010/NĐ-CP, đánh dấu một bước tiến mới trong việc bảo vệ
cổ đông thiểu số trong CTCP, khi đã bổ sung cho cổ đông một quyền quan trọng chưa
được ghi nhận trong Luật DN – quyền khởi kiện người quản lý khi họ có hành vi sai
phạm trong điều hành cơng ty. Với sự bổ sung quan trọng này, các nhà lập pháp Việt
Nam đã kịp thời đáp ứng khuyến nghị của các tổ chức quốc tế về mở rộng quyền khởi
kiện của cổ đông. Sự bổ sung này là dấu hiệu rõ ràng của trào lưu tố tụng cổ đông ở các
nước Đông Á đến Việt Nam32.
Như vậy, sự phát triển của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam trải qua nhiều giai

đoạn và ở mỗi giai đoạn đều có sự tiếp thu những nội dung trước đó. Và qua mỗi giai
đoạn, quyền của cổ đông thiểu số đã được mở rộng và ngày càng hoàn chỉnh hơn.Tuy
nhiên, thực tiễn thi hành pháp luật đã bộc lộ khá nhiều bất cập, quyền lợi cổ đông thiểu số
vẫn chưa thực sự được bảo vệ như mong muốn của nhà làm luật. Những nội dung cụ thể
sẽ được tác giả phân tích trong chương 2 của Khóa luận.
1.4. Kinh nghiệm các nƣớc trong việc bảo vệ cổ đông thiểu số
Xây dựng một khung pháp lý hồn thiện giúp cổ đơng thiểu số tự bảo vệ quyền lợi
của mình địi hỏi sự đầu tư nghiêm túc về nhiều mặt.Trong đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu
pháp luật nước ngoài và tiếp nhận những kinh nghiệm tiến bộ là một trong những yêu cầu
quan trọng. Trong phạm vi mục này, tác giả khái quát những kinh nghiệm của pháp luật
các nước về vấn đề bảo vệ cổ đơng thiểu số, có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của
Khóa luận mà tác giả đã đề cập. Đây sẽ là những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có
thể vận dụng để xây dựng pháp luật cơng ty ngày một hồn thiện hơn.
Trước hết, đó là pháp luật nước ngoài đảm bảo tối đa quyền dự họp ĐHĐCĐ của
cổ đơng bằng nhiều hình thức tổ chức cuộc họp mà khơng giới hạn ở hình thức họp trực
tiếp.Quyền dự họp ĐHĐCĐ là một trong những quyền cơ bản của cổ đông được pháp
luật hầu hết quốc gia thừa nhận và ln khuyến khích các cơng ty tạo điều kiện thuận lợi
cho cổ đông thực hiện quyền dự họp.Vấn đề này càng trở nên bức bách trong những công
ty niêm yết, nơi có số lượng cổ đơng lên tới hàng ngàn vạn. Rõ ràng, nếu chỉ quy định
hình thức họp trực tiếp thì sẽ rất khó khăn cho các cơng ty và khó đảm bảo được quyền
dự họp của cổ đông thiểu số. Một giải pháp đã được áp dụng ở các nước thành viên EU
đó là cho phép các công ty niêm yết được tổ chức họp ĐHĐCĐ bằng phương tiện điện tử
như truyền trực tiếp, kết nối trực tiếp hai chiều, cho phép cổ đông biểu quyết trước hoặc
32

Quách Thúy Quỳnh (2012), “Về chế định kiện phái sinh”, Tạp chí Luật học, (03), tr.46-55.


18


trong khi họp mà khơng cần có mặt. Trước thực trạng cổ đông thiểu số bị hạn chế quyền
dự họp ĐHĐCĐ như hiện nay, việc làm phong phú thêm các hình thức họp ĐHĐCĐ đây
có thể là một giải pháp hợp lý mà Việt Nam có thể tiếp thu và quy định trong pháp luật
doanh nghiệp nhằm giảm bớt gánh nặng cho các công ty mỗi lần tổ chức họp ĐHĐCĐ.
Một kinh nghiệm khác trong việc bảo vệ cổ đông thiểu số được quy định trong
pháp luật các nước, đó chính là trao cho cổ đơng quyền khởi kiện phái sinh. Một trong
những nguyên nhân của thực trạng Việt Nam luôn bị đánh giá thấp trong các báo cáo
hàng năm về môi trường kinh doanh là do sự thiếu vắng các cơ chế cho phép cổ đông
khởi kiện người quản lý khi những người này có hành vi vi phạm nghĩa vụ người quản lý.
Với những quy định hợp lý về thủ tục khởi kiện, trách nhiệm pháp lý của người bị kiện
và đặc biệt là vấn đề chi phí khởi kiện, hình thức kiện phái sinh sẽ là một cơ chế bảo vệ
cổ đông khá hiệu quả, đồng thời sẽ là cơng cụ mang tính chất răn đe, phịng ngừa đối với
người quản lý trong quá trình thi hành nhiệm vụ. Và với hình thức khởi kiện này, cần
khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của cơ quan tư pháp và thi hành án trong việc hỗ
trợ cổ đông thực hiện quyền khởi kiện. Kinh nghiệm ở Anh cho thấy, với sự tham gia đặc
biệt của tòa án trong giai đoạn đầu của vụ kiện, nhằm đảm bảo hạn chế những vụ kiện
khơng có cơ sở ngay từ đầu, hạn chế thiệt hại cho công ty và quyền lợi của cổ đơng. Theo
cách thức đó, kiện phái sinh được xem là một cơ chế dự phòng (fail – safe mechanism)
hơn là một vũ khí được cổ đơng lựa chọn đầu tiên33.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đang ở những bước đi đầu tiên, nhà đầu tư
thường hành xử theo tâm lý đám đơng, vì vậy thường bị dẫn dắt bởi vơ số những tin đồn.
Trong hồn cảnh đó, vấn đề minh bạch thông tin, tăng cường quyền tiếp cận thông tin
cho cổ đông trong công ty, đặc biệt là các công ty niêm yết là yêu cầu cấp thiết. Ở nhiều
nước trên thế giới, vấn đề minh bạch thông tin được thực hiện khá triệt để với sự kiểm
soát chặt chẽ của nhà nước. Đơn cử như trường hợp của CHLB Đức. Chính phủ Đức đã
thành lập một ủy ban nghiên cứu và tư vấn về quản trị công ty. Dựa trên kết quả của ủy
ban này, năm 2002 nhà nước đã ban hành một đạo luật về minh bạch và buộc công khai
thông tin đối với các cơng ty cổ phần niêm yết. Đạo luật này có tên gọi là Transparenz und Publizitọtsgesetz (TransPuG). Theo đạo luật này, hàng năm các công ty niêm yết
phải công bố báo cáo tuân thủ hoặc không tuân thủ với các ngun tắc quản trị cơng ty do
Chính phủ ban hành từ năm 2002. Ngoài ra, nhằm tăng cường trách nhiệm của người có

nghĩa vụ cung cấp thơng tin, pháp luật cịn quy định người quản trị cơng ty phải chịu
33

Nguyễn Hoàng Thùy Trang (2011), “Quyền khởi kiện phái sinh của cổ đông công ty cổ phần theo pháp luật Anh
và bài học đối với Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (05), tr.36-42.


×