Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng tại nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.33 MB, 86 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

CHĂN THA HIÊNG KHĂM PHIT

PHÁP LUẬT VỀ HỒN THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG TẠI NƢỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN
DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

CHĂN THA HIÊNG KHĂM PHIT

PHÁP LUẬT VỀ HỒN THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG TẠI NƢỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN
DÂN LÀO
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật kinh tế.
Mã số :60.38.50

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Vân

TP. HỒ CHÍ MINH , NĂM 2011



LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Chăn Tha Hiêng Khăm Phit – là tác giả Luận văn Thạc sỹ
Luật học với đề tài “Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng tại Nước Cộng
hịa dân chủ nhân dân Lào”. Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên
cứu của riêng tơi.
Những số liệu, dữ liệu, thơng tin trung thực; các trích dẫn, tham chiếu
đúng nguồn. Kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận văn này chưa
từng được công bố tại bất kỳ cơng trình khoa học nào khác.

CHĂN THA HIÊNG KHĂM PHIT


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CHDCND

Cộng hòa dân chủ nhân dân

CHXHCN

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

DN

Doanh nghiệp

EU

Europe (Châu Âu)


GTGT

Giá trị gia tăng

NSNN

Ngân sách nhà nước

SXKD

Sản xuất kinh doanh

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

TSCĐ

Tài sản cố định

TVA

Taxe sur la valeur ajoutee

VAT

Value added tax


MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG THEO PHÁP LUẬT CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 7
1.1 Khái quát chung về thuế giá trị gia tăng................................................. 7
1.1.1 Sự ra đời và phát triển của thuế giá trị gia tăng trên thế giới ........ 7
1.1.2 Những nội dung cơ bản của Luật thuế giá trị gia tăng ở Cộng
Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào ................................................................. 11
1.2 Hệ thống và điều kiện thực hiện thuế giá trị gia tăng ......................... 16
1.1.3 Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng .................................................... 16
1.1.4 Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng......................................... 17
1.1.5 Thời điểm xác định số thuế giá trị gia tăng ................................... 18
1.2 Bản chất và cơ sở pháp lý của việc hoàn thuế giá trị gia tăng ............ 19
1.2.1 Khái niệm hoàn thuế giá trị gia tăng ............................................. 19
1.2.2 Bản chất của việc hoàn thuế giá trị gia tăng ................................. 20
1.3 Nội dung pháp lý về hoàn thuế giá trị gia tăng theo pháp luật Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào ........................................................................... 21
1.3.1 Điều kiện về chủ thể ...................................................................... 21
1.3.2 Điều kiện về đối tượng chịu thuế ................................................... 25
1.3.3 Điều kiện về hóa đơn chứng từ ...................................................... 26
1.3.4 Quy trình hồn thuế giá trị gia tăng .............................................. 27
1.4 So sánh pháp luật về hồn thuế giá trị gia tăng của Cộng hịa dân
chủ nhân dân Lào và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam..................... 31
1.4.1 Về chủ thể hoàn thuế ...................................................................... 31
1.4.2 Về trình tự thủ tục hồn thuế ......................................................... 32
CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ
GIA TĂNG CỦA NƢỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN LÀO ............ 34


2.1 Biểu hiện của hành vi gian lận thuế giá trị gia tăng trong thực tiễn
áp dụng các quy định của pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng........... 34

2.1.1 Kê khống hàng hóa dịch vụ đầu vào để làm tăng thuế giá trị gia
tăng đầu vào và được hồn thuế ............................................................. 35
2.1.2 Khơng phân bổ thuế giá trị gia tăng đầu vào cho hàng hóa, dịch
vụ khơng chịu thuế giá trị gia tăng ......................................................... 36
2.1.3 Mua bán hóa đơn giá trị gia tăng .................................................. 37
2.1.4 Hoàn thuế khống ........................................................................... 41
2.2 Tác hại của hành vi gian lận thuế giá trị gia tăng ................................ 43
2.2.1 Thất thu cho ngân sách nhà nước .................................................. 43
2.2.2 Mất trật tự an ninh xã hội .............................................................. 47
2.3 Nguyên nhân phát sinh hành vi gian lận thuế giá trị gia tăng ............ 49
2.3.1 Những thành tựu đạt được ............................................................. 52
2.3.2 Những tồn tại và hạn chế ............................................................... 53
CHƢƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KHẤU TRỪ VÀ HOÀN
THUẾ GTGT CỦA CHDCND LÀO TỪ NHỮNG THỰC TIỄN CỦA
CHXHCN VIỆT NAM .................................................................................. 55
3.1 Sửa đổi mức thuế suất và đối tƣợng không chịu thuế ......................... 56
3.2 Tăng cƣờng cơng tác quản lý, sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng ........ 58
3.2.1 Hoàn thiện văn bản pháp luật về hoá đơn ..................................... 60
3.2.2 Tăng cường ứng dụng cơng nghệ thơng tin vào quản lý hóa đơn,
có chức năng tự động kiểm tra chéo hóa đơn chứng từ theo kê khai của
doanh nghiệp ........................................................................................... 61
3.2.3 Kiểm soát chặt chẽ thủ tục mua hoá đơn lần đầu .......................... 62
3.2.4 Khuyến khích sử dụng nhiều hơn nữa hình thức hóa đơn do doanh
nghiệp tự in.............................................................................................. 63
3.2.5 Tăng cường thanh tra, kiểm tra cơ sở kinh doanh ......................... 64
3.3 Đẩy mạnh tuyên truyền để nâng cao ý thức pháp luật của công dân,
tổ chức ............................................................................................................ 66


3.4 Tăng mức phạt đối với các hành vi vi phạm ........................................ 69

3.5 Tăng cƣờng phối hợp với các cơ quan quản lý liên quan ................... 69
3.5.1 Với cơ quan đăng ký kinh doanh.................................................... 69
3.5.2 Với cơ quan công an, hải quan ...................................................... 70
3.5.3 Với ngân hàng ................................................................................ 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75


LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thuế là nguồn thu rất quan trọng, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng thu
ngân sách Nhà nước. Ngày nay với xu thế tồn cầu hóa nền kinh tế thế giới,
hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế khu vực là một vấn đề bức thiết mang
tính tất yếu khách quan đối với tất cả các quốc gia. Vì vậy, vai trị của thuế
ngày nay không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo nguồn thu để phục vụ cho nhu
cầu chi tiêu của Nhà nước, mà còn đảm bảo vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh
tế, thúc đẩy kinh tế quốc gia ngày càng phát triển.
Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay, Nước
Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào phải minh bạch hóa các chính sách pháp
luật nói chung và luật thuế nói riêng. Mặt khác, Đảng và Nhà nước Lào cũng
đã xác định chủ trương là phải xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, nhằm tiến tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội cơng bằng, dân
chủ, văn minh.
Vì vậy chính sách thuế đã được cải cách, sửa đổi cho phù hợp với xu
hướng này. Nhằm khuyến khích người dân mạnh dạn đầu tư vốn vào hoạt
động sản xuất, khuyến khích các cơ sở kinh doanh mở rộng sản xuất…Bộ
Tài chính đã kiến nghị Quốc hội ban hành Luật Thuế giá trị gia tăng thay
cho thuế doanh thu nhằm khắc phục những nhược điểm của 2 Luật thuế này.
Những chính sách nhằm khuyến khích các cơ sở mạnh dạn đầu tư, tăng khả
năng cạnh tranh và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Thuế giá trị gia tăng (Thuế GTGT) đánh vào giá trị tăng thêm trong

từng khâu của quá trình sản xuất nên khơng bị đánh thuế trùng lặp, thúc đẩy
được sự chun mơn hóa trong sản xuất. Được hồn thuế GTGT trong
trường hợp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ; đầu tư tài sản cố định có giá trị
lớn… đã khuyến khích được xuất khẩu phát triển, góp phần khuyến khích
mạnh mẽ đầu tư, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh với hiệu quả ngày
càng cao. Trong quá trình áp dụng, bên cạnh những ưu điểm vốn có, công
tác quản lý thuế của cán bộ ngành cũng gặp khơng ít khó khăn. Do một số
đối tượng lợi dụng những kẽ hở do cơ chế thơng thống và có nhiều ưu đãi
1


nhằm khuyến khích đầu tư, kích thích sản xuất phát triển đã dùng mọi thủ
đoạn gian lận tinh vi để trốn thuế. Đặc biệt là Thuế GTGT, với cơ chế tính
thuế theo phương pháp khấu trừ nhằm khắc phục được nhược điểm đánh
thuế trùng lặp, khuyến khích các cơ sở mạnh dạn đầu tư, đẩy mạnh xuất
khẩu… nhưng đây cũng chính là kẽ hở để cho các đối tượng nộp thuế gian
lận, trốn thuế với mục đích làm giảm tiền thuế phải nộp vào ngân sách nhà
nước hoặc chiếm dụng tiền của ngân sách thơng qua cơ chế hồn thuế. Vấn
đề nổi cộm và cấp thiết hiện nay là gian lận về việc mua bán hóa đơn; hóa
đơn giả; mua bán khống, xuất khẩu khống và nhiều thủ đoạn gian lận khác
qua mặt cán bộ ngành thuế.
Thuế GTGT tự thân là một sắc thuế tiên tiến được áp dụng rộng rãi và
thành công ở nhiều quốc gia trên thế giới. Với bản chất là loại thuế chỉ đánh
trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên Thuế GTGT được
khẳng định như một loại thuế có độ chính xác, hợp lý, khoa học và công
bằng hơn thuế doanh thu, khắc phục được hiện tượng thuế chồng lên thuế.
Đồng thời Thuế GTGT cịn khẳng định ưu điểm của mình trong khuyến
khích hoạt động xuất khẩu, khuyến khích đầu tư và góp phần thực hiện cơng
bằng xã hội trong thuế.
Tuy ra đời sau các sắc thuế khác nhưng tính đến nay Thuế GTGT đã

trở thành một sắc thuế cơ bản, đạt được những thành tựu đáng kể, làm tăng
thu ngân sách nhà nước (NSNN).
Luật Thuế GTGT có vai trị rất quan trọng đối với mọi Nhà nước.
Luật Thuế GTGT không chỉ là cơ sở để Nhà nước huy động các nguồn lực
tài trợ cho hoạt động chi thường xuyên mà cịn là cơng cụ quan trọng để Nhà
nước thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Một hệ thống thuế tốt, hợp lý sẽ
có tác động tích cực đến q trình tăng trưởng kinh tế, khuyến khích thu hút
đầu tư của các thành phần kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
tích cực. Ngược lại, một hệ thống thuế được hoạch định và xây dựng thiếu
căn cứ khoa học và thực tiễn, không phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế
xã hội trong từng giai đoạn sẽ là một lực cản không nhỏ cho việc thực hiện
các chủ trương chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước. Vì thế, việc hồn
2


thiện hệ thống chính sách thuế nói chung và hồn Thuế GTGT nói riêng ln
là mối quan tâm hàng đầu của mọi nhà nước.
Ở CHDCND Lào, luật Thuế GTGT đã góp phần khơng nhỏ vào việc
huy động các nguồn tài chính cho NSNN, đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà
nước và bước đầu đã phát huy được vai trò công cụ thực hiện các mục tiêu
kinh tế vĩ mô. Trong những năm tổ chức thực hiện Luật Thuế GTGT đã trải
qua nhiều lần sửa đổi bổ sung và không ngừng được hoàn thiện. Nhưng
trước yêu cầu phát triển đồng bộ nền kinh tế thị trường, khuyến khích
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng cường thu hút đầu tư nước ngồi, đảm bảo
cơng bằng về nghĩa vụ đóng thuế và phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực, thì Thuế GTGT ở Lào cịn có mặt hạn chế nhất định
như: giữa các sắc thuế chưa tác động hỗ trợ lẫn nhau một cách có hiệu quả,
trong từng sắc thuế còn chứa đựng nhiều mục tiêu của các chính sách xã hội,
các quy định về thuế vẫn cịn nằm trong các Luật khác nhau, chính sách về
ưu đãi chưa có mục tiêu rõ ràng, quy định thuế suất còn thiếu căn cứ khoa

học, chưa thể hiện rõ sự tương hợp với đường lối hội nhập kinh tế quốc tế và
khu vực. Những hạn chế này đã gây ra tình trạng thất thu thuế trên diện rộng
và làm giảm đáng kể hiệu quả hoạt động quản lý Thuế GTGT đối với những
nhà sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Sau hơn 4 năm thực hiện, bên cạnh những
kết quả đạt được, Luật Thuế GTGT đã bộc lộ những bất cập nhất định, đặc
biệt là những qui định về khấu trừ và hoàn Thuế GTGT.
Điều này đã gây thiệt hại không nhỏ cho NSNN, đang đặt ra nhiều vấn
đề cần giải quyết cho các cơ quan hữu quan, nhất là ngành thuế. Cho nên,
cần phải có những giải pháp thiết thực ngăn chặn những hành vi gian lận này
và những biện pháp xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm, nhằm đảm
bảo nguồn thu, tránh thất thoát cho NSNN, đem lại nhiều lợi ích cho tồn xã
hội. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Pháp luật về
hoàn thuế giá trị gia tăng tại Nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào”
làm Luận văn Thạc sỹ Luật học.

3


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, việc hồn thiện cơng tác quản lý luật thuế
là một nhu cầu thiết yếu khách quan nhằm tập trung đủ và kịp thời nguồn thu
cho NSNN. Hiện nay số lượng các cơng trình nghiên cứu khoa học về vấn
đề quản lý Thuế GTGT còn hiếm, chủ yếu chỉ tập trung vào những vấn đề
thuộc về chính sách Thuế GTGT. Ở Việt Nam, vấn đề này đã có nhiều cơng
trình nghiên cứu khoa học chẳng hạn một số cơng trình nghiên cứu khoa học
đã được công bố trên báo, tạp chí, website như: Một số vấn đề pháp lý về
hồn Thuế GTGT của T.S Nguyễn Văn Vân và Th.s Nguyễn Thị Thủy-ĐH
Luật Tp. Hồ Chí Minh, Nguyên nhân và giải pháp khắc phục hiện tượng
gian lận trong khấu trừ và hoàn Thuế GTGT của T.S Nguyễn Ngọc HùngĐH Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh, Khấu trừ và hồn Thuế GTGT-Thực trạng và
những giải pháp hoàn thiện của Th.s Trần Hải Hiệp-Phó trưởng khoa Tài

chính Nhà nước-ĐH Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh....
Cịn ở CHDCND Lào, vấn đề nói trên là vấn đề mới mẻ nên các cơng
trình nghiên cứu khoa học rất hiếm hoi, ngoài các luật và các quy định khác
của Nhà nước cũng đã có một số cơng trình nghiên cứu khoa học như sau:
Nâng cao hiệu quả quản lý thuế ở CHDCND Lào, Phanxay Thammasith,
Luận văn thạc sĩ kinh tế 2008; Giải pháp hoàn thiện thuế gián thu ở
CHDCND Lào, Manophap Phonevantha, Luận văn thạc sĩ kinh tế 2009.
Các cơng trình nghiên cứu trên tập trung vào phân tích thực trạng và
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong cơng tác quản lý, chưa đi sâu phân
tích các vấn đề pháp lý về hồn Thuế GTGT. Có thể khẳng định rằng đây là
cơng trình đầu tiên nghiên cứu thực hiện và có những kiến nghị về hồn
Thuế GTGT tại Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
3. Mục đích, đối tƣợng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài:
Mục đích của việc nghiên cứu thực hiện đề tài này là đề xuất các giải
pháp đảm bảo tính khả thi của Luật Thuế GTGT, đặc biệt là hoạt động hoàn
Thuế GTGT một cách hợp lý nhằm chống thất thu NSNN Trên cơ sở hệ
thống hóa các quy định của luật thuế, đặc biệt là luật Thuế GTGT, sau khi
4


phân tích các quy định trong việc thực hiện thời gian qua và nêu bật những
cơ hội và thách thức đối với thời gian sắp tới, luận văn đề xuất những hướng
hoàn thiện hoàn Thuế GTGT trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu
vực nhằm làm hài hòa giữa các sắc thuế quốc gia với quốc tế và khu vực.
Mặt khác tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đối
với hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…, đảm bảo được nguồn thu của
NSNN.
3.2 Đối tượng, giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài:
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật

hiện hành về hoàn Thuế GTGT. Đối tượng nghiên cứu của luận văn cịn
phân tích và so sánh một số qui định trong pháp luật Thuế GTGT về việc
hoàn thuế..
Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài: Để phù hợp với mục đích nghiên
cứu, luận văn lấy vấn đề hoàn thuế giá trị gia tăng và vấn đề quản lý Thuế
GTGT làm đối tượng nghiên cứu. Đây là một vấn đề lớn và phức tạp nên
trong phạm vi luận văn, tác giả không đề cập đến tồn bộ các giải pháp
nhằm hồn thiện triệt để cơng tác chống thất thu thuế mà chỉ đề cập đến
những giải pháp cơ bản phù hợp với thực tiễn quản lý hiện nay và phù hợp
với mục đích của luận văn.
4. Các phƣơng pháp tiến hành nghiên cứu
Đề tài dựa trên phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa Mác- Lênin
về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các quan điểm của Đảng và Nhà nước
Lào về Thuế GTGT cũng được đặc biệt lưu ý khi nghiên cứu luận văn này.
Ngồi ra, luận văn cịn áp dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp như:
phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp đối
chiếu, so sánh,... Để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu.
5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Với việc đề ra mục đích rõ ràng, xác định đối tượng và phạm vi
nghiên cứu cụ thể, sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học, luận văn cố
gắng đưa ra các vấn đề thực tiễn nhằm khẳng định việc hoàn thuế giá trị gia
5


tăng là một cơng việc khó khăn và phức tạp. Để quản lý Thuế GTGT hiệu
quả và tránh gian lận Thuế GTGT để chiếm đoạt tiền thuế.
Luận văn cũng cố gắng đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật
tăng cường cơng tác quản lý về khấu trừ và hồn Thuế GTGT nhằm ngăn
chặn hiện tượng trốn thuế, làm thiệt hại cho khoản thu NSNN.
6. Kết cấu của luận văn:

Luận văn gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận. Nội dung
cơ bản của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hoàn thuế và quy trình
hồn thuế giá trị gia tăng;
Chương 2: Đánh giá thực trạng hoàn thuế giá trị gia tăng của Lào
và so sánh với Việt Nam.
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện hoàn thuế giá trị gia tăng của Lào
từ những thực tiễn Việt Nam.

6


CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG THEO PHÁP LUẬT CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
1.1 Khái quát chung về thuế giá trị gia tăng
1.1.1 Sự ra đời và phát triển của thuế giá trị gia tăng trên thế giới
Thuế giá trị gia tăng có nguồn gốc từ thuế doanh thu. Thuế doanh thu
được áp dụng ở nước Pháp năm 1917. Thời kỳ đó người ta chỉ đánh thuế ở
giai đoạn cuối cùng của quá trình lưu thơng hàng hóa với thuế suất 0,2%.
Năm 1920 người ta đưa ra loại thuế loại thuế doanh thu đánh vào từng khâu
của quá trình sản xuất. Trên thực tế cách đánh thuế này đã phát sinh nhiều
bất lợi là từ quá trình sản xuất ra sản phẩm càng qua nhiều khâu thì phải chịu
thuế cao ( tức là thuế chồng thuế ). Để khắc phục năm 1936 Pháp đã cải cách
và quyết định hình thức thuế doanh thu theo hình thức đánh thuế một lần vào
cơng đoạn cuối cùng của q trình sản xuất ( hàng hóa đưa vào lưu thông lần
đầu ). Như vậy, việc đánh thuế độc lập với độ dài của quá trình sản xuất,
khắc phục được hiện tượng thuế chồng thuế. Tuy nhiên làm phát sinh điều
bất lợi là việc thu thuế của nhà nước bị chậm trễ vì chỉ khi hàng hóa được
đưa vào lưu thơng lần đầu thì nhà nước mới thu được thuế.
Năm 1948 thuế doanh thu tiếp tục được hoàn thiện trên cơ sở đánh

thuế từng công đoạn của quá trình sản xuất và tính thuế phải nộp ở giai đoạn
sau được trừ thuế ở giai đoạn trước nhưng gây thất thu cho nhà nước. Để
tránh được việc dồn thuế, lúc đầu thuế này chỉ áp dụng đối với hoạt động sản
xuất công nghiệp với thuế suất đồng loạt là 20% và chỉ được khấu trừ thuế ở
khâu trước đối với nguyên vật liệu.
Đến năm 1954 Pháp cho áp dụng thí điểm việc đánh thuế một lần vào
khâu sản xuất mà người Pháp gọi là La taxe sur la valeur ajoutee (gọi tắt là
TVA), người Mỹ gọi là Value added tax (gọi tắt là VAT)-dịch ra tiếng Lào
tương đồng với tiếng Việt là thuế giá trị tăng thêm hay là thuế giá trị gia tăng
(GTGT). Sau nhiều lần cải cách, bổ sung, hồn thiện Thuế GTGT được áp
dụng chính thức tại nước Pháp vào ngày 01/01/1968, bao gồm thêm trong

7


lĩnh vực bán lẻ hàng hóa và cung ứng dịch vụ thay cho thuế doanh thu có
nhiều nhược điểm.1
Ngày nay các quốc gia thuộc khối liên minh Châu Âu và một số
cường quốc kinh tế phát triển như Canada, Nhất Bản đã chính thức thực thi
Thuế GTGT tại tổ quốc mình. Các quốc gia khác cũng đang ở thời kỳ nghiên
cứu loại thuế này.
Đến năm 1996 đã có trên 100 quốc gia áp dụng Luật Thuế GTGT và ở
mỗi nước có tên gọi khác nhau như Pháp, Anh gọi là Thuế GTGT cịn
Canada, Singapo gọi là thuế doanh thu có khấu trừ.2 Tuy có nhiều tên gọi
nhưng về bản chất nó vẫn là loại thuế gián thu mà người tiêu dùng là người
trực tiếp chịu thuế và người kinh doanh là người nộp thay.
- Đối tượng nộp thuế:
Là các cá nhân, pháp nhân sản xuất kinh doanh, nhập khẩu hàng hóa,
dịch vụ. Tuy nhiên ở một số nước có quy định các trường hợp không phải
nộp Thuế GTGT như Đan Mạch nếu doanh thu của doanh nghiệp hàng năm

dưới 100.000 DKK, ở Indonesia quy định dưới 60.000 D, ở Canada quy định
dưới 30.000 CanD.
- Đối tượng chịu thuế:
Là những hàng hóa, dịch vụ được sản xuất trong nước cũng như hàng
hóa nhập khẩu. Đồng thời các nước cũng có quy định cụ thể những trường
hợp không chịu thuế như Pháp quy định: bán thuốc chữa bệnh, đồ cũ, một số
hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, nông-ngư nghiệp, xuất khẩu…; Ở Philippin
quy định: xuất khẩu, các hoạt động kinh doanh bán hay nhập khẩu các nông
sản, hải sản chưa sơ chế, bán phân bón, thuốc trừ sâu, hóa chất điều chế
thuốc trừ sâu, hạt giống, cây giống, ….
- Thuế suất:
Tùy theo đặc điểm kinh tế và mục tiêu đặt ra cho chính sách thuế mà
việc quy định thuế suất ở mỗi nước khác nhau. Một số nước áp dụng cơ chế
1

http://vi.wikipedia.org/wiki/VAT#Thu.E1.BA.BF_VAT_.E1.BB.9F_.C4.90an_M.E1.BA.A1ch.2C_Na_U
y_v.C3.A0_Th.E1.BB.A5y_.C4.90i.E1.BB.83n_.28MOMS.29
2
www.fetp.edu.vn/longcourse/0102/PubFin/.../Lecture03-VAT-V.ppt

8


Thuế GTGT có một thuế suất ( trừ thuế suất bằng 0% áp dụng phần lớn đối
với hàng hóa xuất khẩu và một số mặt hàng nội địa thiết yếu ).
Như ở Đan Mạch có mức thuế suất 22% đây cũng là nước có mức
thuế suất cao nhất; Nhật Bản 3%; và một số nước áp dụng cơ chế nhiều thuế
suất như Pháp có 5 thuế suất, Bỉ có tới 6 thuế suất.
Quản lý thuế:
* Đăng ký thuế:

Các cá nhân, pháp nhân thuộc đối tượng nộp Thuế GTGT phải thực
hiện việc đăng ký thuế, nhằm cho cơ quan thuế dễ kiểm tra theo dõi và số
đăng ký thuế là điều kiện cần thiết để thực hiện Thuế GTGT.
* Nộp thuế:
Đối tượng nộp thuế tự kê khai thuế và nộp thuế. Ở một số nước quy
định nếu doanh nghiệp nộp Thuế GTGT thì sử dụng hóa đơn có đặc thù
riêng và giá thanh toán được ghi cụ thể: doanh thu + Thuế GTGT. Ngược lại
các doanh nghiệp không đăng ký nộp thuế thì giá thanh tốn đã bao gồm
Thuế GTGT ( không được tách riêng phần Thuế GTGT ).
Thuế được nộp bằng tiền mặt hay chuyển khoản vào kho bạc thông
qua giấy nộp tiền; Hay nộp qua ngân hàng thương mại như các nước
Philippin, Columbia, Chile…; Hoặc nộp thuế qua bưu điện như Pháp, Thụy
Điển.3
* Hoàn thuế và khấu trừ thuế:
Nhằm khuyến khích các doanh nghiệp mở sổ theo dõi hóa đơn mua
bán đầy đủ, và địi hỏi cơng tác quản lý chứng từ chặt chẽ để thực hiện tốt
công tác ghi chép kế toán. Theo phương pháp này xét về mặt bản chất của
Thuế GTGT là xác định trên giá trị tăng thêm, cịn về hình thức chủ yếu thể
hiện qua ba bước:
+ Xác định giá trị gia tăng của doanh thu tính thuế đối với hàng hóa
bán ra và tiền thu về cung ứng dịch vụ.
+ Xác định số Thuế GTGT đã nộp của hàng hóa, dịch vụ mua vào
3

vi.wikipedia.org/wiki/VAT

9


+ Xác định số Thuế GTGT phải nộp ( chênh lệch thuế đầu vào và đầu

ra)
Về nguyên tắc những đối tượng nộp thuế được thực hiện việc kê khai
tính thuế theo phương pháp khấu trừ phải đảm bảo đầy đủ các quy định cần
thiết, phải chứng minh được toàn bộ giá thành của sản phẩm từ khi đưa vào
sản xuất đến thành phẩm tiêu thụ và căn cứ xác minh cho việc khấu trừ là
hóa đơn. Thụy Điển quy định trừ tiền thuế đã nộp phải được chứng thực
bằng số tiền thuế ghi trên hóa đơn mua hay một chứng từ tương đương;
trường hơp chứng từ mua vào có giá trị dưới 200 SEK hay mua từ người bán
lẻ thì cơ quan thuế khơng địi chứng từ của số thuế đã nộp, tuy nhiên người
mua phải có nghĩa vụ nộp thuế, phải tự ghi hóa đơn hay một chứng từ tương
đương để có cơ sở khấu trừ.
Thụy Điển và Pháp là nước áp dụng Thuế GTGT sớm, tỷ trọng VAT
chiếm trong tổng số thu ngân sách ngày càng tăng. Đồng thời số thất thu
hàng năm của Thụy Điển tỷ lệ thuận với nguồn thu về Thuế GTGT.
Một vấn đề cần nói trong việc hồn thuế và khấu trừ thuế là tài sản cố
định (TSCĐ). Đa số các nước cho rằng TSCĐ được mua về dùng trong các
hoạt động kinh doanh chưa phải là sản phẩm tiêu dùng. Nước Pháp quy định
việc xóa bỏ quyền được khấu trừ khi chuyển nhượng tài sản kinh doanh hay
ngừng hoạt động ( tài sản này khơng cịn sử dụng trong q trình hoạt động
kinh doanh). Theo nguyên tắc kế toán số thuế được khấu trừ đối với TSCĐ
thường lớn nên việc khấu trừ nó phải được phân bổ dần, nhưng về khấu trừ
thuế thì phải khấu trừ cho tất cả số thuế đã nộp trên hàng đầu vào; Ở Trung
Quốc khi áp dụng Thuế GTGT khơng cho trừ thuế đầu vào của hàng hóa
mua vào là TSCĐ.
Về khấu trừ thuế đối với vật tư, tiêu hao của sản phẩm tiêu thụ để đơn
giản thuận tiện cho việc kiểm tra tính thuế khấu trừ thường thì các áp dụng
hình thức khấu trừ thuế đã nộp của hàng hóa mua vào. Trường hợp vật tư
mua vào nếu khấu trừ rồi mà doanh nghiệp không sử dụng cho sản xuất mà
đem đi bán thì phần thuế GTGT phải nộp sẽ thể hiện trên hóa đơn bán vật tư
của doanh nghiệp.

10


* Kiểm tra việc nộp thuế và biện pháp chế tài:
Việc thu nộp Thuế GTGT không chỉ dừng lại ở sổ sách kế toán mà
trách nhiệm của cơ quan thuế là phải có sự kiểm tra theo dõi tồn bộ hoạt
động của doanh nghiệp để xác định đúng số thuế đã kê khai.
Do Thuế GTGT có đặc trưng cơ bản là thoái thu nên cần thận trọng
trong quan hệ giữa cán bộ thuế và đối tượng xin hoàn thuế. Pháp có quy định
khi phát hiện ra vi phạm thì phải xác minh trao đổi lại với đối tượng nộp
thuế để điều chỉnh lại số liệu kê khai và tùy theo trường hợp vi phạm mà xử
lý.
Sau khi xác định số thuế phải nộp của doanh nghiệp cơ quan thuế ra thông
báo nộp thuế trong thời hạn ba mươi ngày. Nếu đối tượng nộp thuế nộp trễ
cơ quan thuế có quyền dùng biện pháp chế tài, tùy theo mức độ sai phạm mà
xử lý cụ thể.
1.1.2 Những nội dung cơ bản của Luật thuế giá trị gia tăng ở Cộng Hòa
Dân Chủ Nhân Dân Lào

Luật thuế doanh thu có hiệu lực từ ngày 14/10/1995, được áp dụng
thống nhất đối với các thành phần kinh tế. Trong quá trình thực hiện, nhược
điểm của nó ngày càng bộc lộ; nhược điểm đầu tiên và chủ yếu của luật thuế
doanh thu là thuế đánh chồng thuế, điều này làm cho mức thuế thực tế cao
hơn nhiều so với mức thuế quy định trong luật làm giảm khả năng cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp, không khuyến khích xuất khẩu. Nhược điểm
nữa là thuế doanh thu có quá nhiều mức thuế suất gồm 2 mức thuế suất từ
5% và 10%, phân biệt theo ngành nghề, mặt hàng và cơng dụng nên khó
quản lý, cơ sở kinh doanh khó áp dụng trong việc tính thuế, tạo kẽ hở cho
việc trốn thuế, gây thất thu cho ngân sách nhà nước (NSNN). Do đó địi hỏi
nhà nước phải có trách nhiệm quan tâm tạo môi trường thuận lợi cho sản

xuất lưu thơng hàng hóa phát triển thơng qua việc thay đổi các chính sách
sao cho phù hợp với xu hướng chung.
Cùng hòa nhập vào xu hướng phát triển với các nước trong khu vực
nói riêng và trên thế giới nói chung chương trình cải cách thuế bước hai của
chính phủ nhằm hoàn thiện hệ thống thuế, thúc đẩy sự phát triển của nền
11


kinh tế, tăng thu NSNN đòi hỏi cần thiết việc tiến hành nghiên cứu những
điều kiện để tiến tới việc áp dụng Luật Thuế GTGT thay cho Luật thuế
doanh thu là quan trọng và cần thiết.
Nếu so với thuế doanh thu thì Thuế GTGT có một số ưu điểm sau:
Thuế GTGT góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển mở rộng lưu thơng hàng
hóa, thúc đẩy xuất khẩu, do tính đặc trưng của Thuế GTGT khắc phục được
việc thu trùng lắp thuế của thuế doanh thu.
Thuế GTGT đảm bảo động viên số thu quan trọng tương đối ổn định
cho NSNN, hạn chế thất thu (vì Thuế GTGT được thu tập trung ngay từ
khâu đầu và thuế ở khâu sau còn kiểm tra được việc tính thuế, nộp thuế ở
khâu trước).
Thuế GTGT giúp tăng cường cơng tác hạch tốn kế tốn, thúc đẩy
việc thực hiện mua bán hàng hóa có hóa đơn chứng từ; thúc đẩy các cơ sở
kinh doanh thực hiện tốt chế độ sổ sách kế toán chứng từ hóa đơn.
Thuế GTGT thể hiện rõ hơn là loại thuế gián thu do người tiêu dùng
chịu và không ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của cơ sở kinh doanh, nó đảm bảo cơng bằng đối với mọi ngành nghề sản
phẩm, dịch vụ.
Thuế GTGT với hệ thống thuế suất đơn giản 0%, 10% ( điều 19 luật
Thuế GTGT năm 2006) áp dụng thống nhất theo loại hàng hóa dịch vụ,
khơng phân biệt ngành nghề sản xuất, kinh doanh, bán buôn, nhập khẩu…
nên công tác quản lý thuế dễ dàng khơng phức tạp khó khăn, hạn chế việc

luồng lách trốn thuế.
Thuế GTGT góp phần hồn thiện hệ thống chính sách thuế ở Cộng
Hịa Dân Chủ Nhân Dân Lào (CHDCND Lào), phù hợp với sự vận động và
phát triển của nền kinh tế thị trường ngày nay, tạo điều kiện mở rộng hợp tác
kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Ở CHDCND Lào, tại kỳ họp lần thứ 2 Quốc hội khoá VI, Quốc hội
nước CHDCND Lào đã thông qua Luật thuế giá trị gia tăng ngày 26/12/2006
và có hiệu lực thi hành kề từ ngày 16-01-2007. Trong quá trình áp dụng, luật
12


thuế giá trị gia tăng 2006 là một đạo luật mới và đã được tổ chức triển khai
thực hiện đầu tiên trên các địa bàn tỉnh, thành phố lớn trên toàn quốc.
Một trong những nguyên tắc cơ bản của thuế giá trị gia tăng là sản phẩm,
hàng hoá dù qua nhiều khâu hay ít khâu từ sản xuất đến tiêu dùng, đều chịu
mức thuế suất như nhau.
Ra đời sau và thay thế thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng có điểm cơ
bản khác với thuế doanh thu là chỉ có người bán hàng (hoặc dịch vụ) lần đầu
phải nộp thuế giá trị gia tăng trên toàn bộ doanh thu bán hàng (hoặc cung
ứng dịch vụ). Còn người bán hàng (hoặc dịch vụ) ở các khâu tiếp theo đối
với hàng hố (hoặc dịch vụ) đó chỉ phải nộp thuế trên phần giá trị tăng thêm.
Nói cách khác, thuế giá trị gia tăng là loại thuế duy nhất thu theo phân đoạn
chia nhỏ trong q trình sản xuất, lưu thơng hàng hoá( hoặc dịch vụ) từ khâu
đầu tiên đến người tiêu dùng. Ðến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc
cung cấp dịch vụ, tổng số thuế thu được ở các cơng đoạn sẽ khớp với số thuế
tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng.
Thuế giá trị gia tăng không chịu ảnh hưởng bởi kết qủa sản xuất, kinh
doanh của đối tượng nộp thuế, khơng phải là yếu tố của chi phí mà chỉ đơn
thuần là một khoản được cộng thêm vào giá bán của đối tượng cung cấp
hàng hóa, dịch vụ. Thuế giá trị gia tăng do người tiêu dùng chịu nhưng

không phải do người tiêu dùng trực tiếp nộp mà là do người bán sản phẩm
(hoặc dịch vụ) nộp thay vào ngân sách nhà nước do trong giá bán hàng hoá
(hoặc trong dịch vụ) có cả thuế giá trị gia tăng. Vì qua từng cơng đoạn, thuế
giá trị gia tăng đã được người bán đưa vào giá hàng hoá, dịch vụ cho nên
thuế này được chuyển toàn bộ cho người mua hàng hoá hoặc sử dụng dịch
vụ cuối cùng chịu. Do người nộp thuế không phải là người chịu thuế, nên nó
tạo tâm lý nhẹ nhàng hơn cho người nộp thuế. Vì vậy, tổ chức cá nhân sản
xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng phải có đầy đủ
hóa đơn, chứng từ của hàng hóa, dịch vụ bán ra, mua vào mới đủ điều kiện
khấu trừ và hồn thuế theo quy định của pháp luật.
Tóm lại thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu đánh trên giá trị
tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh qua các khâu từ sản xuất, lưu
13


thơng đến tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ và đánh trên trị giá của hàng hóa dịch
vụ khi hàng hóa dịch vụ đó nhập khẩu vào nước CHDCND Lào.4
1.1.2.1 Đối tượng chịu thuế
Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng được quy định tại điều 8 luật Thuế
GTGT 2006 là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu
dùng ở CHDCND Lào (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá
nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng nêu tại
Điều 10 của Luật thuế giá trị gia tăng 2006. Những hàng hóa, dịch vụ được
quy định tại Điều 10 là những sản phẩm nông nghiệp do người nông dân
trực tiếp sản xuất và bán ra, những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu để thực hiện
các chính sách xã hội.
Đối tượng không thuộc diện chịu thuế là 15 loại hàng hóa, dịch vụ
được quy định tại điều 10 luật thuế giá trị gia tăng 2006 như sau:
1. Sản phẩm nông sản chưa qua chế biến, sản phẩm thủ công nghiệp do
công nhân, viên chức và các thành viên của hợp tác xá sản xuất và tự

bán;
2. Sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng, thuốc trừ sâu, thuốc
chữa bệnh và phân bón;
3. Nhân giống cây giống, trồng rừng, trồng cây công nghiệp, trồng cây
ăn quả và cây thuốc;
4. Máy móc, thiết bị, vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được
cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa
học của các cơ quan chuyên môn;
5. Nhập khẩu vàng miếng để bảo đảm cho việc in và phát hành tiền;
6. Nhập khẩu hoặc kinh doanh về tem thuế hoặc tem bưu điện sử dụng
cơng ích;
7. Nhập khẩu máy bay và trang thiết bị phục vụ cho vận chuyển hàng
khơng. Hàng hóa, xăng dầu và các dầu khác để phục vụ việc dịch vụ
vận chuyển hàng không quốc tế;
4

Điều 2 luật Thuế GTGT 2006

14


8. Hàng hóa nhập khẩu để phân phối cho đại sứ, tổng lãnh sự quán và tổ
chức quốc tế ở CHDCND Lào theo quy định của Bộ ngoại giao;
9. Đồ dùng của tổ chức, cá nhân nước ngoài theo tiêu chuẩn miễn trừ
ngoại giao; hàng mang theo người trong tiêu chuẩn hành lý miễn
thuế. Công chức, học viên và sinh viên đã kết thúc nhiệm vụ tại nước
ngoài nhập khẩu, bồi dưỡng nghiệp vụ hoặc đào tạo từ 3 tháng trở
lên và có đồ dùng, hàng hóa khơng có tính thương mại. Đối với xe và
phương tiện khác là không được miễn trừ;
10. Xuất bản, nhập khẩu, phát hành báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành,

sách chính trị, sách giáo khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật,
sách khoa học - kỹ thuật, áp phích tuyên truyền cổ động, kể cả dưới
dạng băng hoặc đĩa ghi tiếng, ghi hình, dữ liệu điện tử; in tiền, phát
sóng truyền thanh, truyền hình phục vụ cho chức năng chính trị và khơng
mang tính kinh doanh;
11. Dạy học, dạy nghề theo quy định của pháp luật;
12. Dịch vụ ngân hàng, tổ chức tài chính, bảo hiểm y tế, bảo hiểm nhân
thọ, bảo hiểm vật nuôi và cây trồng;
13. Dịch vụ y tế, bao gồm dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh,
thuốc cổ truyền, Sản phẩm nhân tạo dùng để thay thế cho bộ phận cơ
thể của người bệnh; nạng, xe lăn và dụng cụ chuyên dùng khác cho
người tàn tật;
14. Xe chuyên môn: xe cứu hỏa, xe cấp cứu, xe cứu hộ, xe đài truyền hinh
và các loại xe khác sử dụng trong cơng cộng, chun dùng phục vụ
quốc phịng, an ninh;
15. Hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu trong trường hợp viện trợ viện trợ khơng
hồn lại đã quy định trong hợp đồng, hiệp định, điều ước quốc tế mà
CHDCND Lào là thành viên.
1.1.2.2 Người nộp thuế
Người nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng ở CHDCND Lào, khơng
phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (sau đây gọi là cơ sở
15


kinh doanh ) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hố, mua dịch vụ từ nước
ngồi chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là người nhập khẩu). Theo điều
9 luật Thuế GTGT quy định cơ sở kinh doanh gồm: người hoạt động sản
xuất hàng hóa, dịch vụ mà có doanh thu hàng năm cao hơn hoặc bằng mức
quy định trong hệ thống Thuế GTGT tại khoản 1 điều 13 luật này hoặc có

doanh thu hàng năm thấp hơn mức quy định nhưng tự nguyện xin vào trong
hệ thống Thuế GTGT theo điều 15 luật này.
1.2 Hệ thống và điều kiện thực hiện thuế giá trị gia tăng
Hệ thống Thuế GTGT là một trong những hệ thống thuế thay thế thuế
doanh thu. Hệ thống Thuế GTGT bao gồm nguyên tắc, quy chế về đăng ký
thuế, tính thuế, khấu trừ -hồn thuế, khai thuế và thanh tốn Thuế GTGT.
Để nằm trong hệ thống Thuế GTGT gồm 2 điều kiện sau: doanh thu hàng
năm của cơ sở kinh doanh; tiêu chuẩn sổ sách kế tốn và sử dụng hóa đơn
chứng từ.5
1.1.3 Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng
Căn cứ tính Thuế GTGT bao gồm giá tính Thuế GTGT và thuế suất.
1.1.3.1 Giá tính thuế gia trị gia tăng
Số Thuế GTGT được xác định theo quy định của Luật Thuế GTGT
bằng giá tính thuế hàng hóa, dịch vụ chịu Thuế GTGT nhân (x) với thuế
suất Thuế GTGT(điều 16 luật Thuế GTGT 2006).
Giá tính Thuế GTGT được xác định như sau:
 Đối hàng hóa sản xuất trong nước Giá tính Thuế GTGT là giá tại
thời điểm bán hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán
ra (tức là bao gồm giá hàng hóa, các chi phí liên quan và các loại
thuế trực thu nếu có). Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ
đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt ;
 Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế
nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Giá
nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế
5

Điều 11,12 luật Thuế GTGT năm 2006

16



hàng nhập khẩu;
1.1.3.2 Thuế suất thuế giá trị gia tăng
Theo luật thuế giá trị gia tăng 2006 của CHDCND Lào đã quy định có
hai mức thuế suất đó là:
 Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu,
vận tải quốc tế và hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia
tăng quy định tại Điều 10 của Luật này khi xuất khẩu ra nước
ngoài.
 Mức thuế suất 10% áp dụng cho các loại hàng hóa và dịch vụ
đã nhập khẩu, sản xuất và tiêu dùng trong nước nằm trong đối
tượng chịu Thuế GTGT.
1.1.4 Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT được xác định theo 2 phương pháp:
1.1.4.1 Phương pháp khấu trừ
Theo điều 20 luật Thuế GTGT 2006 quy định doanh nghiệp nộp Thuế
GTGT hàng tháng phải xác định các chỉ tiêu thuế giá trị gia tăng đầu ra, thuế
giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ để xác định số thuế giá trị gia tăng
phải nộp theo công thức:
Số thuế giá trị gia
Số thuế giá trị gia
Số thuế giá trị
=
tăng đầu vào được
tăng phải nộp
gia tăng đầu ra
khấu trừ
Trong đó:
Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của
hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng.

Số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế giá trị
gia tăng ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng mua hàng hoá, dịch vụ, chứng từ
nộp thuế giá trị gia tăng của hàng hoá nhập khẩu và đáp ứng điều kiện quy
định tại Điều 22 của Luật thuế giá trị gia tăng năm 2006.
Điều 16 Luật thuế giá trị gia tăng 2006 xác định số thuế giá trị gia
tăng đầu ra là giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ bán ra nhân với thuế suất
thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra. Đối với thuế giá trị gia
17


tăng đầu vào theo luật Thuế GTGT 2006 được xác định là số thuế giá trị gia
tăng được ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở
mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng của hàng hoá nhập khẩu.
Việc quy định như vậy có nghĩa là cứ có hóa đơn giá trị gia tăng của hàng
hóa dịch vụ mua vào là được khấu trừ khơng phân biệt được hàng hóa, dịch
vụ mua vào đó có dùng để sản xuất, kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ chịu thuế
giá trị gia tăng hay khơng. Chính vì thế trong Điều 16 Luật thuế giá trị gia
tăng 2006 đã quy định là “ Thuế giá trị gia tăng phải nộp = thuế giá trị gia
tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra - thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu
trừ”
1.1.4.2 Phương pháp trực tiếp
Theo phương pháp này thì số thuế giá trị gia tăng phải nộp bằng giá trị
gia tăng của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất áp
dụng đối với hàng hố, dịch vụ đó.
Giá trị gia tăng được xác định bằng giá thanh toán của hàng hoá, dịch
vụ bán ra trừ giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng.
1.1.5 Thời điểm xác định số thuế giá trị gia tăng
Thời điểm xác định Thuế GTGT được quy định theo từng trường hợp
cụ thể sau:
Đối với hàng nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng sẽ được tính đồng thời

với thời điểm đăng ký tờ khai hải quan
Đối với việc bán hàng nhập khẩu từ nước ngồi hoặc hàng hố sản
xuất và dịch vụ trong nước, không phân biệt người mua đã thanh tốn được
thực hiện hay chưa, việc tính tốn sẽ được thực hiện theo các trường hợp sau
đây:
 Trong trường hợp người bán đã xuất hoá đơn và chuyển giao
quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hoá, thuế giá trị gia tăng sẽ
được tính tại thời điểm phát hành hố đơn và chuyển giao
quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa;
 Trong trường hợp người bán chuyển giao hàng hóa hoặc cung
ứng dịch vụ cho người mua nhưng chưa cấp hoá đơn, Thuế giá
18


×