Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

Pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (12.45 MB, 120 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH

TRẦN LINH HUÂN

PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ
QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH

PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ
QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI

Chuyên ngành: Luật Kinh tế.
Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: Ts. Phạm Văn Võ
Học viên: Trần Linh Hn
Lớp: Cao học Luật, khóa 23

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các nội dung trong Luận văn này hồn tồn do chính tơi


nghiên cứu thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Văn Võ, Giảng
viên Khoa Luật Thương Mại, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong luận văn tơi có trích dẫn, sử dụng số liệu của một số bài báo, ý kiến,
quan điểm của một số tác giả, nhà nghiên cứu. Sự trích dẫn này được thể hiện cụ thể
trong Danh mục tài liệu tham khảo.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của các thơng tin, số
liệu, ý kiến, quan điểm khoa học đã trình bày trong luận văn.
Tác giả luận văn

Trần Linh Huân


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮC
TÊN ĐẦY ĐỦ

TỪ VIẾT TẮT

Bảo vệ môi trường

BVMT

Bộ luật Dân sự năm 2015

BLDS 2015

Bộ luật Hình sự năm 2015

BLHS 2015

Bộ Tài ngun và Mơi trường


Bộ TN&MT

Chất thải nguy hại

CTNH

Đánh giá tác động môi trường

ĐTM

Kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại

KDDVQLCTNH

Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993

Luật BVMT 1993

Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005

Luật BVMT 2005

Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014

Luật BVMT 2014

Luật Doanh nghiệp năm 2014

LDN 2014


Luật Đầu tư năm 2014

LĐT 2014

Luật Thương mại năm 2005

LTM 2005

Nghị định số 19/2015/NĐ-CP của Chính phủ Nghị định số 19/2015/NĐ-CP
ngày 14 tháng 02 năm 2015 về quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi
trường
Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ Nghị định số 38/2015/NĐ-CP
ngày 24 tháng 04 năm 2015 về quản lý chất
thải và phế liệu.
Nghị định số 60/2016/NĐ-CP của Chính phủ Nghị định số 60/2016/NĐ-CP
ngày 01 tháng 07 năm 2016 về quy định một
số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực
tài nguyên và môi trường.
Nghị định số 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ Nghị định số 155/2016/NĐ-CP
ngày 18 tháng 11 năm 2016 về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực mơi trường
Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg của Thủ Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg


tướng Chính phủ ngày 16 tháng 07 năm 1999
về việc ban hành quy chế quản lý chất thải
nguy hại.
Trách nhiệm hữu hạn


TNHH

Thành phố Hồ Chí Minh

TP.HCM

Thơng tư số 12/2006/TT-BTNMT của Bộ Tài Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT
nguyên và Môi trường ngày 26 tháng 12 năm
2006 về hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ
tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề,
mã số quản lý chất thải nguy.
Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT của Bộ Tài

Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT

nguyên và Môi trường ngày 14 tháng 04 năm
2011 về quản lý chất thải nguy hại.
Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT
nguyên và Môi trường ngày 30 tháng 06 năm
2015 về quản lý chất thải nguy hại.
Sở Tài nguyên và Môi trường

Sở TN&MT

Ủy ban nhân dân

UBND



MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ
PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY
HẠI ............................................................................................................................. 7
1.1. Tổng quan về quản lý chất thải nguy hại ......................................................... 7
1.1.1. Khái niệm chất thải nguy hại ............................................................................ 7
1.1.2. Khái niệm quản lý chất thải nguy hại ............................................................... 9
1.1.3. Nội dung quản lý chất thải nguy hại ............................................................... 11
1.2. Tổng quan về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại..................... 13
1.2.1. Khái niệm kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại.............................. 13
1.2.2. Đặc điểm kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại ............................... 15
1.2.3. Vai trò kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại ................................... 17
1.3. Tổng quan pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại ... 19
1.3.1. Sự cần thiết của pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy
hại…….. ..................................................................................................................... 19
1.3.2. Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất
thải nguy hại .............................................................................................................. 22
1.3.3. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất
thải nguy hại .............................................................................................................. 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................ 31
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ
QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ........... 32
2.1. Thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại .. 32
2.1.1. Quy định về chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại .............. 32
2.1.2. Quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại ........... 35
2.1.3. Quy định về hợp đồng dịch vụ quản lý chất thải nguy hại.............................. 43
2.1.4. Quy định về giá cung ứng dịch vụ quản lý chất thải nguy hại........................ 48
2.1.5. Quy định về kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh
dịch vụ quản lý chất thải nguy hại ............................................................................ 50

2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải
nguy hại .................................................................................................................... 57


2.2.1. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về chủ thể kinh doanh dịch vụ quản
lý chất thải nguy hại .................................................................................................. 57
2.2.2. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ
quản lý chất thải nguy hại ......................................................................................... 59
2.2.3. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ quản lý chất
thải nguy hại .............................................................................................................. 66
2.2.4. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về giá cung ứng dịch vụ quản lý
chất thải nguy hại ...................................................................................................... 68
2.2.5. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm
trong hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại .............................. 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................ 73
KẾT LUẬN CHUNG .............................................................................................. 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ
cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác.1 Chất thải
nguy hại có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe con người, gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng, do đó cần phải có cơ chế, giải pháp hiệu quả, phù
hợp để thực hiện tốt công tác quản lý đối với loại chất thải này. Theo thống kê, mỗi
ngày môi trường phải tiếp nhận hàng trăm loại chất thải nguy hại phát sinh từ nhiều
lĩnh vực khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, y tế, sinh hoạt,

thương mại, dịch vụ2. Với số lượng chất thải nguy hại thải ra ngày càng nhiều cùng
với đặc tính nguy hiểm cao vì vậy muốn quản lý được địi hỏi các chủ thể phải đáp
ứng đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, điều kiện về nhân sự và được cấp giấy
phép theo quy định pháp luật3. Tuy nhiên, để đáp ứng được tất cả các yêu cầu trên
là một thách thức lớn đối với các chủ nguồn thải chất thải nguy hại, đặc biệt là chủ
nguồn thải chất thải nguy hại có quy mơ nhỏ và yếu về tiềm lực tài chính. Vì vậy,
địi hỏi tất yếu là phải có các chủ thể cung ứng các loại hình dịch vụ quản lý chất
thải nguy hại để phục vụ cho chủ thể có nhu cầu.
Nhận thấy được nhu cầu của các chủ thể trong xã hội và xu hướng phát triển
tất yếu của thị trường liên quan đến hoạt động quản lý chất thải nguy hại, nhà nước
đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động này.4 Tuy nhiên,
thực tế việc thực hiện các quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh dịch vụ quản
lý chất thải nguy hại vẫn chưa thật sự hiệu quả, còn nhiều vụ việc gây bức xúc dư
luận xã hội liên quan đến hoạt động quản lý chất thải nguy hại5. Lý giải cho vấn đề
1

Khoản 13 Điều 3 Luật Bảo vệ mơi trường 2014.
Phương Nhi, “Khó khăn thu gom và xử lý chất thải nguy hại”, http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Xa-hoi/863
864/kho-khan-thu-gom-va-xu-ly-chat-thai-nguy-hai, truy cập ngày 12/12/2017.
3
Điều 9 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24 tháng 04 năm 2015 về quản lý chất thải và phế
liệu.
4
Cụ thể như: Luật Bảo vệ môi trường 2014, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của
Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu, Nghị định số 60/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 07 năm
2016 của Chính phủ về quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi
trường, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về
quản lý chất thải nguy hại và một số văn bản hướng dẫn có liên quan khác.
5
Một số vụ việc tiêu biểu như: Công ty Sản xuất Dịch vụ Thương mại Môi trường Xanh không vận chuyển

gần 2 tấn chất thải nguy hại về nhà máy xử lý theo đúng yêu cầu đã ký với Công ty Musasi, Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh chuyển giao chất thải nguy hại cho Công ty Cổ
phần Tư vấn Xây dựng Quản lý môi trường Đơ thị Kỳ Anh là đơn vị khơng có Giấy phép xử lý chất thải
nguy hại, Công ty Cổ phần Môi trường xanh Minh Phúc xử lý chất thải nguy hại trái pháp luật gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng, Công ty Tân Phương Đông sau khi thu gom bùn thải nguy hại từ Công ty Hào
Dương đã đem đổ ra trên địa bàn tỉnh Bình Dương gây ơ nhiễm môi trường cho đến nay không thể thu hồi để
2


2
trên có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau nhưng lý do quan trọng hơn cả đó là
các quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải
nguy hại vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định. Đó là những hạn chế, bất cập
trong quy định pháp luật về chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại,
điều kiện kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, hợp đồng dịch vụ quản lý
chất thải nguy hại, giá cung ứng dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, thanh tra, kiểm
tra, xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại.
Điều này ảnh hưởng lớn đến hiệu quả công tác quản lý chất thải nguy hại, tác động
tiêu cực đến quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý
chất thải nguy hại, gây khó khăn cho nhà nước trong việc quản lý các hoạt động
cung ứng loại hình dịch vụ này.
Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng bất
cập trong các quy định pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
và đưa ra giải pháp để hoàn thiện là điều cần thiết. Đó là lý do tác giả chọn đề tài:
“Pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại” làm luận văn Thạc
sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tại Việt Nam, pháp luật về quản lý chất thải nguy hại và kinh doanh dịch vụ
quản lý chất thải nguy hại là một lĩnh vực tương đối mới so với các lĩnh vực pháp
luật khác. Nhiều năm qua đã có một số cơng trình nghiên cứu có liên quan đến hoạt

động quản lý chất thải nguy hại dưới góc độ khoa học pháp lý, cụ thể như:
+ Lê Phương Linh (2012), Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại và thực
tiễn áp dụng trên địa bàn Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trong luận văn tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý chất thải nguy hại
và pháp luật về quản lý chất thải nguy hại, nêu ra một số điểm bất cập khi áp dụng
pháp luật quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn Hà Nội, từ đó đưa ra một số kiến
nghị hồn thiện. Tuy nhiên, trong cơng trình của mình, tác giả chỉ đánh giá sơ lược
các quy định pháp luật, chưa có sự phân tích chun sâu, chỉ chủ yếu đánh giá, kiến
nghị về mặt áp dụng pháp luật trên thực tế tại địa bàn Hà Nội.

xử lý; một số công ty như Công ty Tỷ Xuân, Hào Dương, Kingmaker, Sung hyun Vina là chủ nguồn thải các
loại chất thải nguy hại nhưng trong q trình ký hợp đồng khơng kiểm tra năng lực đối tác, thấy giá thành xử
lý thấp là đồng ý ký hợp đồng, thiếu trách nhiệm trong công tác kiểm tra giám sát đối với chất thải nguy hại
dẫn đến vi phạm các quy định về thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại theo quy định …


3
+ Nguyễn Mạnh Thắng (2014), Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải
nguy hại ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà
Nội. Trong luận văn, tác giả đã làm rõ các cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về
quản lý chất thải nguy hại, đánh giá thực trạng pháp luật quản lý chất thải nguy hại
Việt Nam hiện nay, từ đó nêu ra một số quan điểm và giải pháp hoàn thiện về pháp
luật quản lý chất thải nguy hại. Các phân tích và kiến nghị của tác giả có giá trị
tham khảo, tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến các vấn đề về hoạt động kinh doanh
dịch vụ quản lý chất thải nguy hại.
+ Phạm Thị Thanh Thủy (2016), Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại
trong khu công nghiệp ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trong luận văn, tác giả đã làm rõ được các vấn đề tổng quan về chất thải nguy hại
và pháp luật về quản lý chất thải nguy hại trong khu công nghiệp ở Việt Nam, chỉ ra
được những thực trạng, bất cập trong quy định pháp luật và thực hiện pháp luật

quản lý chất thải nguy hại trong các khu công nghiệp Việt Nam, nêu ra được
nguyên nhân của sự bất cập, từ đó đưa ra được những định hướng, giải pháp hồn
thiện. Cơng trình có giá trị tham khảo về mặt học thuật, tuy nhiên đây là một đề tài
tập trung khai thác sâu ở góc độ quản lý chất thải nguy hại trong các khu công
nghiệp ở Việt Nam.
+ Vũ Thị Duyên Thủy (2009), “Vai trò của pháp luật quản lý chất thải nguy
hại ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, số 3(106), tr.5057. Trong bài viết, tác giả chủ yếu tập trung phân tích và làm rõ vai trò của pháp
luật quản lý chất thải nguy hại trong việc đảm bảo quyền được sống trong môi
trường trong lành của con người, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường
trong sản xuất kinh doanh dịch vụ, gắn kết lợi ích kinh tế, xã hội, góp phần đảm bảo
cho sự phát triển của đất nước. Mặc dù phạm vi bài viết hẹp nhưng các phân tích
của tác giả về vai trị của pháp luật quản lý chất thải nguy hại có giá trị tham khảo
và sẽ được tham khảo có chọn lọc trong luận văn.
+ Nguyễn Ngọc Anh Đào (2012), “Hoàn thiện pháp luật về kiểm sốt vận
chuyển chất thải nguy hại”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, số
20(228), tr.51-56. Trong bài viết, tác giả tập trung phân tích và chỉ ra những điểm
bất cập về cơ chế tổ chức thực hiện và hệ thống pháp luật về kiểm soát chất thải
nguy hại, từ đó đưa ra một số giải pháp để hồn thiện. Bài viết có giá trị tham khảo,
tuy nhiên tác giả chỉ chủ yếu tập trung vào các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt


4
động vận chuyển chất thải nguy hại mà chưa đề cập một cách đầy đủ các vấn đề liên
quan đến hoạt động quản lý chất thải nguy hại.
Qua việc sơ lược nội dung của các cơng trình nghiên cứu nêu trên, hầu hết
các cơng trình này chỉ đề cập các vấn đề liên quan đến các quy định pháp luật về
quản lý chất thải nguy hại nói chung hoặc chỉ xoay quanh thực trạng, công tác quản
lý chất thải nguy hại trên thực tế mà chưa đi sâu vào nghiên cứu phân tích, đánh giá
trong lĩnh vực pháp luật về hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy
hại. Riêng về hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, trong khả

năng tìm hiểu của mình cho đến nay tác giả vẫn chưa thấy có cơng trình nào nghiên
cứu chun sâu về lĩnh vực này ở Việt Nam.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Tìm ra điểm hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật
điều chỉnh về hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, chỉ ra những
vướng mắc trong việc áp dụng các quy định này trên thực tế. Từ đó, đưa ra một số
giải pháp hoàn thiện về mặt pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh
doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại dưới góc độ Luật mơi trường.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ được các vấn đề về khái niệm, đặc điểm, vai
trò của hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại và sự cần thiết của
pháp luật điều chỉnh về loại hình kinh doanh dịch vụ này. Đồng thời, hệ thống được
một cách đầy đủ các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ
quản lý chất thải nguy hại, khái quát được quá trình hình thành, phát triển của pháp
luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại. Trên cơ sở đó, tiến hành phân
tích, đánh giá các quy định pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy
hại, làm rõ nội hàm, chỉ ra những điểm tiến bộ, đồng thời xác định được các vấn đề
còn hạn chế, bất cập để từ đó kiến nghị đưa ra các giải pháp nhằm hồn thiện.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các vấn đề lý luận và luật thực định về
hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại thơng qua các quy định
pháp luật có liên quan như: Luật Bảo vệ môi trường 2014, Nghị định số
38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và
phế liệu, Nghị định số 60/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ
về quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi


5
trường, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định về quản lý chất thải nguy hại và một số văn bản có liên quan khác.
Phạm vi nghiên cứu: Tác giả không nghiên cứu các vấn đề chuyên sâu về các

nghiệp vụ quản lý chất thải nguy hại mang tính kỹ thuật và các vấn đề pháp lý
chuyên sâu dưới góc độ thương mại, dịch vụ mà chỉ tập trung nghiên cứu các quy
định pháp luật có liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ thu gom, vận chuyển,
xử lý chất thải nguy hại dưới góc độ pháp luật mơi trường. Trong đó, tập trung làm
rõ các vấn đề pháp lý quy định về chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy
hại, điều kiện kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, hợp đồng dịch vụ quản
lý chất thải nguy hại, giá cung ứng dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, các vấn đề về
thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất
thải nguy hại thông qua các văn bản pháp luật môi trường và một số văn bản pháp
luật khác có liên quan.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng chủ yếu những phương pháp
sau:
- Phương pháp phân tích: Được sử dụng để phân tích các khái niệm, dữ liệu,
quan điểm khoa học, các quy định pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải
nguy hại. Phương pháp này được dùng chủ yếu và phổ biến ở các chương.
- Phương pháp so sánh: Dùng để so sánh giữa các quy định pháp luật có liên
quan, so sánh giữa các quy định pháp luật hiện hành với các quy định pháp luật
trước đây. Phương pháp này được sử dụng ở cả hai chương của luận văn.
- Phương pháp thống kê: Được sử dụng để cung cấp các thông tin, số liệu và
dữ liệu liên quan đến kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại để phục vụ cho
việc thực hiện đề tài… Phương pháp này được sử dụng ở cả hai chương của luận
văn.
- Phương pháp chứng minh: Được dùng để chứng minh cho những nhận định
và kiến nghị của tác giả về thực trạng pháp luật, chứng minh tính cần thiết, tính khả
thi của các kiến nghị. Phương pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu ở chương 2.
- Phương pháp tổng hợp: Dùng để tổng hợp các kết quả phân tích, đánh giá
từ đó đưa ra kết luận. Phương pháp này được sử dụng ở cả hai chương.



6
6. Kết quả thu được sau khi nghiên cứu đề tài
Về điểm mới: Luận văn là một cơng trình nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề
pháp lý liên quan đến kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại. Hệ thống hóa
được các quy định pháp luật liên quan đến việc điều chỉnh hoạt động kinh doanh
dịch vụ quản lý chất thải nguy hại. Chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế trong quy
định pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại từ đó đưa ra các
kiến nghị giải pháp phù hợp.
Đóng góp về mặt lý luận, thực tiễn: Với những kết quả nghiên cứu đạt được,
Luận văn là một cơng trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định
của pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, góp phần hồn thiện
pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại nói riêng và quản lý chất
thải nguy hại nói chung. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng có thể sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho các cơ quan, doanh nghiệp và những cá nhân, tổ chức có nhu
cầu tìm hiểu về lĩnh vực kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại.
7. Bố cục đề tài
Luận văn bao gồm phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.
Nội dung luận văn kết cấu gồm 2 chương:
Chương 1: Tổng quan về quản lý chất thải nguy hại và pháp luật về kinh
doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải
nguy hại và giải pháp hoàn thiện.


7
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ PHÁP
LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
1.1. Tổng quan về quản lý chất thải nguy hại

1.1.1. Khái niệm chất thải nguy hại
Trong cuộc sống, cùng với việc tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của mình,
con người cũng đã tạo ra nhiều loại chất thải. Tùy thuộc vào từng tiêu chí, chất thải
có thể được phân thành nhiều loại khác nhau, một trong những tiêu chí để phân loại
chất thải đó là tính chất nguy hại. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hại, chất
thải được chia thành CTNH và chất thải thông thường, CTNH là một dạng của chất
thải. Thuật ngữ CTNH lần đầu tiên xuất hiện vào thập niên 70 tại các nước Âu –
Mỹ, sau đó mở rộng ra nhiều quốc gia khác. Sau một thời gian nghiên cứu và phát
triển, tùy thuộc vào sự phát triển khoa học kỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm
của mỗi quốc gia mà hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về
CTNH. Chẳng hạn như ở Philippines, CTNH được định nghĩa là những chất có độc
tính, ăn mịn, gây kích thích, hoạt tính, có thể cháy, nổ mà gây nguy hiểm cho người
và động vật6. Ở Canada, CTNH được định nghĩa là những chất mà do bản chất và
tính chất của chúng có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người và/hoặc môi
trường và những chất này yêu cầu các kỹ thuật xử lý đặc biệt để loại bỏ hoặc giảm
đặc tính nguy hại của nó7. Theo chương trình mơi trường của Liên Hợp Quốc
(12/1985) xác định: “CTNH là chất thải (dạng rắn, lỏng, bán rắn-semisolid và các
bình chứa khí) mà do hoạt tính hóa học, độc tính, nổ, ăn mịn hoặc có đặc tính khác,
gây nguy hại hay có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người hoặc mơi
trường bởi chính bản thân chúng hay khi được cho tiếp xúc với chất thải khác”8.
Cịn ở Mỹ để có thể được coi là CTNH thì chất đó phải nằm trong mục CTNH và có
một trong bốn đặc tính do EPA9 đưa ra gồm cháy-nổ, ăn mịn, phản ứng và độc tính
được nhà sản xuất cơng bố là CTNH10. Nhìn chung, nội dung của các định nghĩa
thường sẽ phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng phát triển khoa học – xã hội của mỗi
6

Lâm Minh Triết, Lê Thanh Hải (2006), Giáo trình quản lý chất thải nguy hại, Nxb Xây dựng Hà Nội, tr1.
Lâm Minh Triết, Lê Thanh Hải (2006), tlđd 3, tr.4.
8
Lâm Minh Triết, Lê Thanh Hải (2006), tlđd 3, tr.4.

9
EPA là cơ quan Bảo vệ Môi sinh Hoa Kỳ, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ hay Cơ quan Bảo vệ Môi
trường Mỹ (tiếng Anh: United States Environmental Protection Agency, viết tắt là EPA) là một tổ chức thuộc
chính phủ liên bang Hoa Kỳ với nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe con người và giữ gìn mơi trường sống.
10
Lâm Minh Triết, Lê Thanh Hải (2006), tlđd 3, tr.4.
7


8
nước. Trong các định nghĩa nêu trên định nghĩa về CTNH của Mỹ là rõ ràng và
có nội dung rộng nhất, việc này sẽ giúp cho công tác xác định và quản lý CTNH
được dễ dàng hơn.
Ở Việt Nam, tại khoản 13 Điều 3 Luật BVMT 2014 đưa ra khái niệm:
“CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây
ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác”. Khái niệm này đưa ra được
dấu hiệu, tiêu chí để nhận diện CTNH, tuy nhiên nếu chỉ dựa vào khái niệm trên để
xác định một chất nào đó trên thực tế có phải là CTNH hay khơng là chưa đủ và rất
dễ bị nhầm lẫn. Để xác định được CTNH bên cạnh dựa vào các dấu hiệu, tiêu chí
được nêu ra tại khái niệm còn phải căn cứ vào danh mục CTNH11, chỉ có những
chất được liệt kê tại mục 1C nằm trong danh mục CTNH ban hành kèm theo Thông
tư số 36/2015/TT-BTNMT mới được xem là CTNH. Trong danh mục CTNH có hai
loại CTNH gồm loại (*) và loại (**), nếu chất thải thuộc nhóm (*) thì cần phải áp
dụng ngưỡng CTNH theo quy định của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng
CTNH (QCVN 07:2009/BTNMT) để phân định, nếu chất thải có tính chất hoặc
thành phần vượt q ngưỡng CTNH theo quy định tại phần II của Quy chuẩn này
đó là CTNH, cịn nếu thấp hơn ngưỡng CTNH thì vẫn xem là chất thải thơng
thường mặc dù có chứa các yếu tố độc hại, nếu chất thải hoặc hỗn hợp chất thải có
chứa ít nhất một chất thải thành phần thuộc loại (**) trong danh mục CTNH thì
khơng cần so sánh với ngưỡng CTNH mà xác định ngay chất thải đó là CTNH hoặc

hỗn hợp CTNH. Việc phân định CTNH theo như danh mục CTNH là rất quan
trọng, cần thiết, giúp dễ dàng xác định được một chất nào đó là CTNH, nếu CTNH
khơng được phân định rõ việc xác định CTNH sẽ rất khó khăn từ đó dẫn đến những
hệ lụy tiêu cực trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của các chủ thể có liên
quan. Đơn cử như trường hợp Nhà máy bia Vinaken ký hợp đồng nhận xử lý 54.670
thùng bia nhãn hiệu Budweiser nhập khẩu đã hết hạn sử dụng với Công ty TNHH
Tân Châu Bình. Ban đầu trong quá trình thanh tra, kiểm tra các cơ quan chức năng
xác định bia Budweiser hết hạn sử dụng là CTNH nên đã ra kết luận Nhà máy bia
Vinaken vi phạm pháp luật do khơng có giấy phép xử lý CTNH và bị yêu cầu phải
dừng hoạt động xử lý.12 Tuy nhiên, sau đó các tổ nghiệp vụ đã kiểm tra và xác định
bia Budweiser hết hạn sử dụng không phải là CTNH và cuối cùng nhà máy bia
11

Xem mục 1C Danh mục chất thải nguy hại ban hành kèm theo Thơng tư số 38/2015/TT-BTNMT.
Hồi Nam, Nhiều sai phạm tại Nhà máy bia Vinaken, http://www.sggp.org.vn/nhieu-sai-pham-tai-nhamay-bia-vinaken-334735.html, truy cập ngày 15/5/2018.
12


9
Vinaken được tiếp tục xử lý theo hợp đồng đã ký.13 Sự bất cập, không thống nhất
trong vụ việc trên xuất phát từ cách xác định CTNH, ban đầu do cơ quan chức năng
chỉ dựa vào các dấu hiệu, tiêu chí của CTNH được quy định trong khái niệm mà
khơng căn cứ vào danh mục CTNH để xác định nên đã dẫn đến kết quả khơng chính
xác, sau đó các tổ nghiệp vụ đã phân tích, so sánh, đối chiếu các thông số của bia
Budweiser với các thông số trong danh mục CTNH nên đã xác định được kết quả
chính xác. Như vậy, có thể thấy nếu khơng căn cứ vào danh mục CTNH thì rất dễ bị
nhầm lẫn khi xác định CTNH, điều này tạo ra những hệ lụy rất lớn. Trong trường
hợp nêu trên nếu tổ nghiệp vụ khơng xác định lại chính xác thì Nhà máy bia
Vinaken đã phải gánh chịu những hậu quả trách nhiệm pháp lý bất lợi, bên cạnh đó
cịn làm cho lượng bia hết hạn sử dụng tiếp tục ùn ứ do không được xử lý, gây ảnh

hưởng xấu đến môi trường, con người. Vì vậy, danh mục CTNH có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc xác định chính xác CTNH để phục vụ cho hoạt động
KDDVQLCTNH nói riêng và hoạt động quản lý CTNH nói chung.
Tóm lại, có thể thấy các khái niệm về CTNH hầu hết đều đề cập đến các tính
chất của CTNH như tính dễ nổ, dễ cháy, dễ ơ xi hóa, ăn mịn, có độc tính và dễ lây
nhiễm... Tùy vào từng trường hợp, CTNH có thể có một, một số hoặc tồn bộ các
tính chất nguy hại, các tính chất này đều có khả năng gây nguy hiểm cao cho mơi
trường, con người. Hiện nay dưới góc độ pháp lý đã có cái nhìn ổn định và thống
nhất về khái niệm CTNH, điều này hỗ trợ rất lớn trong việc xác định CTNH, từ đó
làm cơ sở để xây dựng, ban hành các quy định pháp luật phù hợp nhằm thực hiện
các hoạt động quản lý đối với loại chất thải nguy hiểm này.
1.1.2. Khái niệm quản lý chất thải nguy hại
Khái niệm quản lý CTNH lần đầu tiên được định nghĩa tại Quy chế quản lý
CTNH ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg, cụ thể tại khoản 3
Điều 3 quy định: “Quản lý CTNH là các hoạt động kiểm sốt CTNH trong suốt q
trình từ phát sinh đến thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý và tiêu hủy
CTNH”. Theo Quy chế, quản lý CTNH được hiểu là các hoạt động nhằm kiểm sốt
tồn bộ q trình từ khâu sản sinh CTNH đến thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu
giữ, xử lý, tiêu hủy CTNH. Sau đó, khái niệm quản lý CTNH được tiếp tục sửa đổi,
bổ sung trong Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT và Thông tư số 12/2011/TT13

Khanh Bách - Minh Phong, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM: Vinaken tiêu hủy bia hết
đát là hợp lý, http://plo.vn/thoi-su/giam-doc-so-tnmt-tphcm-vinaken-tieu-huy-bia-het-dat-la-hop-ly-112651
.html, truy cập ngày 15/05/2018.


10
BTNMT. Cụ thể, tại mục 2.1 Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT quy định: “Quản lý
CTNH bao gồm các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân
loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý (kể cả tái chế, thu hồi), tiêu huỷ CTNH” và

khoản 1 Điều 3 Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT quy định: “Quản lý CTNH là các
hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử
dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý CTNH” 14. Với cách đưa ra các
khái niệm về quản lý CTNH trong hai văn bản nêu trên đã thể hiện rõ tư duy thay
đổi về cách tiếp cận trong hoạt động quản lý CTNH, nếu như cách tiếp cận trong
Quy chế quản lý CTNH ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg là
cách tiếp cận từ thời điểm khi CTNH phát sinh, thì trong hai văn bản sau này đã có
một bước tiến lớn trong cách tiếp cận tức là tiếp cận ngay từ giai đoạn tiền phát sinh
CTNH để giảm thiểu tối đa việc phát sinh CTNH, điều này thể hiện rõ ngun tắc
phịng ngừa của pháp luật mơi trường. Với cách quy định như vậy các chủ thể
không chỉ thực hiện các hoạt động quản lý CTNH kể từ thời điểm phát sinh mà còn
phải thực hiện trách nhiệm quản lý ngay cả trước khi CTNH xuất hiện. Việc đưa
cụm từ “phân định” vào khái niệm quản lý CTNH được quy định trong Thông tư số
12/2006/TT-BTNMT mang lại ý nghĩa rất lớn, cụm từ này bổ sung thêm một công
đoạn nữa buộc các chủ thể có liên quan phải xác định được một chất có phải là
CTNH hay khơng rồi mới tiến hành các hoạt động tiếp theo, việc bổ sung này giúp
quy định chi tiết hơn về việc thực hiện hành vi quản lý CTNH.
Tuy nhiên, khi Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT được ban hành thay thế
cho Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT lại không đưa ra khái niệm về quản lý CTNH
như các Thơng tư đã hết hiệu lực trước đó. Việc bỏ đi khái niệm quản lý CTNH
theo quan điểm của tác giả là đáng tiếc, điều này có thể tạo ra cách hiểu và áp dụng
không thống nhất trong hoạt động quản lý CTNH. Như vậy, để xác định được khái
niệm quản lý CTNH thì phải dựa trên cơ sở khái niệm về quản lý chất thải được quy
định trong Luật BVMT 2014. Theo quy định tại khoản 15 Điều 3 Luật BVMT
2014: “Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại,
thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải”. Xuất phát từ bản chất
CTNH là một dạng của chất thải, hoạt động quản lý CTNH cũng là một phần của
hoạt động quản lý chất thải nên từ khái niệm quản lý chất thải có thể đưa ra khái
niệm quản lý CTNH như sau: “Quản lý CTNH là quá trình phịng ngừa, giảm thiểu,
14


Khoản 1 Điều 3 của Thơng tư số 12/2011/TT-BTNMT.


11
giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTNH”. Với
sự xuất hiện của ba cụm từ “phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát” đặt vào vị trí trước
những hoạt động phổ biến, cơ bản của quá trình quản lý CTNH trong khái niệm đã
làm cho nội hàm của hoạt động này được mở rộng và phù hợp với nguyên tắc phòng
ngừa của Luật môi trường. Cách định nghĩa này cho thấy nội dung của hoạt động
quản lý chất thải, trong đó có hoạt động quản lý CTNH đã được thay đổi phù hợp
với xu hướng quản lý tiến bộ hiện nay. Đó là cách quản lý tổng hợp chất thải, cách
quản lý này đáp ứng được yêu cầu giảm thiểu việc phát sinh CTNH cả về số lượng,
nồng độ lẫn độc tính độc hại ngay tại nguồn phát thải chứ không chỉ đơn thuần là
giảm thiểu sự tác động của chất thải như trước đây.
1.1.3. Nội dung quản lý chất thải nguy hại
Quản lý CTNH một q trình gồm nhiều khâu, nhiều cơng đoạn khác nhau
nhằm kiểm sốt CTNH trong suốt q trình từ phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát đến
phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, xử lý CTNH. Trong đó:
Phịng ngừa CTNH là việc ngăn chặn sự phát thải hoặc tránh tạo ra việc phát
thải CTNH, khi sự phát thải đạt được đến mức bằng khơng đó là sự phòng ngừa
tuyệt đối, phòng ngừa được coi là phương thức tốt nhất để giảm thiểu CTNH ngay
từ nguồn phát sinh. Giảm thiểu CTNH là việc hạn chế tối đa sự phát thải CTNH.
Phòng ngừa và giảm thiểu được xem là hai nấc thang trên cùng trong thang bậc
quản lý chất thải.15 Giám sát CTNH là việc theo dõi, xem xét, đánh giá đối với
CTNH, hoạt động giám sát khơng chỉ thực hiện ngay từ ban đầu mà cịn được thực
hiện trong tất cả các khâu, các bước trong quy trình quản lý CTNH, giám sát giúp
thực tốt cơng tác quản lý CTNH.
Phân loại CTNH là hoạt động phân tách CTNH thành các loại khác nhau tùy
vào đặc tính nguy hại, mục đích tái sử dụng, tái chế hoặc xử lý, tiêu hủy nhằm

phòng tránh bị ngộ độc khi tiếp xúc và đảm bảo an toàn khi lưu giữ, vận chuyển, xử
lý. CTNH phải được phân loại theo mã CTNH để lưu giữ trong các bao bì hoặc thiết
bị lưu chứa phù hợp, đối với các mã CTNH có cùng tính chất, khơng có khả năng
gây phản ứng, tương tác lẫn nhau và có khả năng xử lý cùng một phương pháp thì
có thể được sử dụng chung bao bì hoặc thiết bị lưu chứa. Hoạt động phân loại
CTNH không chỉ giúp tránh được các nguy cơ ô nhiễm mà cịn tạo điều kiện thuận

15

Lê Hồng Việt, Nguyễn Võ Châu Ngân, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Phúc Thanh (2011), “Quản lý tổng
hợp chất thải rắn – Cách tiếp cận mới cho cơng tác bảo vệ mơi trường”, Tạp chí Khoa học, số 20a, tr47-48.


12
lợi và khoa học cho việc vận chuyển, lưu giữ, tiết kiệm được thời gian, đẩy nhanh
quá trình xử lý chúng sau này.
Thu gom CTNH là hoạt động thu nhặt, tập hợp CTNH từ các nguồn thải, các
điểm tập kết sau khi đã thực hiện phân loại và lưu giữ tạm thời trước khi vận
chuyển đến nơi xử lý theo quy định, thu gom CTNH là một giai đoạn trong quá
trình quản lý CTNH. Quá trình thu gom CTNH là một q trình có nhiều cơng đoạn
nhỏ phải làm trong hoạt động quản lý CTNH, bao gồm việc thu gom từ các nguồn
thải sau đó tập trung thành một điểm gọi là điểm tập kết hoặc trung chuyển, sau đó
tiếp tục thu gom từ các điểm tập kết, trung chuyển để đưa đến nơi xử lý theo đúng
quy định. Việc thu gom CTNH chỉ được phép thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân có
Giấy phép xử lý CTNH, các phương tiện, thiết bị thu gom CTNH phải đáp ứng yêu
cầu kỹ thuật và quy trình quản lý theo quy định.
Vận chuyển CTNH là quá trình chuyên chở CTNH từ nơi phát sinh, thu gom,
lưu giữ, trung chuyển đến nơi tái sử dụng, tái chế, xử lý và tiêu hủy. CTNH phải
được vận chuyển bằng phương tiện, thiết bị chuyên dụng phù hợp và được ghi trong
Giấy phép xử lý CTNH. Việc vận chuyển CTNH phải theo lộ trình tối ưu về tuyến

đường, quãng đường, thời gian, bảo đảm an tồn giao thơng và phịng ngừa, ứng
phó sự cố, phù hợp với quy định của cơ quan có thẩm quyền về phân luồng giao
thông.
Tái sử dụng CTNH là việc sử dụng lại CTNH một cách trực tiếp hoặc sau khi
sơ chế mà khơng làm thay đổi tính chất của CTNH. Tái chế CTNH là quá trình sử
dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để thu lại các thành phần có giá trị từ
CTNH. Việc tái sử dụng, tái chế CTNH sẽ vừa hạn chế được tình trạng ơ nhiễm mơi
trường, vừa tiết kiệm được chi phí cho việc tiêu hủy, vừa mang lại hiệu quả cho việc
phát triển kinh tế thơng qua việc tận dụng các giá trị có ích cịn lại của CTNH.
Xử lý CTNH là q trình sử dụng công nghệ nhằm làm mất khả năng gây hại
của CTNH đối với sức khỏe của con người và môi trường. Các công nghệ, thiết bị
phục vụ cho việc xử lý phải phù hợp với đặc tính hóa học, lý học và sinh học của
từng loại CTNH để đảm bảo xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường, trường hợp trong
nước khơng có cơng nghệ, thiết bị xử lý thì phải lưu giữ theo quy định của pháp luật
và hướng dẫn của các cơ quan quản lý nhà nước về BVMT cho đến khi được xử lý.
Xử lý CTNH thường được thực hiện bằng hai phương thức gồm chôn lấp dưới lịng
đất và thiêu đốt. Chơn lấp CTNH là việc loại bỏ CTNH bằng phương pháp chôn nén
và phủ lấp bề mặt trong điều kiện được hoặc không được kiểm sốt, chơn lấp là


13
công nghệ cổ điển và thông dụng đối với nhiều nơi và nhiều nước trên thế giới,
chôn lấp là giải pháp lựa chọn cuối cùng, về phương diện kinh tế là giải pháp ít tốn
kém, nhưng về phương diện xã hội và môi trường lại thường đặt ra nhiều vấn đề
giải quyết phải cân nhắc.16 Thiêu đốt CTNH là quá trình xử lý CTNH ở nhiệt độ
cao, thiêu đốt ở nhiệt độ cao CTNH sẽ được xử lý triệt để, đảm bảo loại trừ các độc
tính, có thể giảm thiểu thể tích rác đến 90-95% và tiêu diệt hồn tồn vi khuẩn gây
bệnh. Phương pháp này đáp ứng tất cả các tiêu chí về tiêu hủy an tồn ngoại trừ việc
phát thải ra các khí thải cần được xử lý nên đây có thể coi là phương pháp xử lý triệt
để nhất so với các phương pháp xử lý khác.17

Tóm lại, quản lý CTNH là hoạt động phái sinh của quản lý chất thải nói
chung vì vậy nó cũng sẽ có đầy đủ các đặc điểm của quản lý chất thải. Nội dung
quản lý CTNH bao gồm các hoạt động được tích hợp bởi nhiều hành vi có sự liên
kết với nhau thành một q trình thống nhất được tính từ giai đoạn tiền phát sinh
CTNH cho đến khi hình thành và cuối cùng là sử dụng các biện pháp thích hợp để
xử lý CTNH.
1.2. Tổng quan về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
1.2.1. Khái niệm kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
Kinh doanh theo nghĩa thông thường được hiểu là tổ chức việc sản xuất, mua
bán, dịch vụ nhằm sinh lời18. KDDVQLCTNH là một loại hình kinh doanh dịch vụ
mơi trường, mặc dù loại hình kinh doanh dịch vụ này đã được hình thành khá lâu
nhưng đến nay vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào về hoạt động này. Do vậy, để
đưa ra được khái niệm KDDVQLCTNH đòi hỏi phải dựa vào các văn bản pháp luật
có liên quan. Cụ thể:
Theo LDN 2014: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất
cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc
cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”19. Như vậy, mục tiêu
chính của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, dưới góc độ pháp lý khi xác định hành vi
kinh doanh chúng ta thường quan tâm đến việc có hay khơng có mục tiêu lợi nhuận,
chứ không quan tâm đến việc thực hiện hành vi đó như thế nào. Lợi nhuận là đích

16

Nguyễn Đình Hương (2006), Giáo trình kinh tế chất thải, Nxb.Giáo dục, tr.63.
Vũ Thị Mai, Văn Hữu Tập, Trịnh Văn Tuyên (2014), Giáo trình xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại,
Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, tr.22.
18
Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng việt phổ thông, Nxb.Thành phố Hồ Chí Minh, tr.470.
19
Xem Khoản 16 Điều 4 LDN 2014.

17


14
cuối cùng của các nhà kinh doanh, bất cứ hoạt động nào nhằm mục đích kiếm lời
trên thị trường cũng là hoạt động kinh doanh20.
Theo Luật giá “Dịch vụ là hàng hóa có tính vơ hình, q trình sản xuất và
tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản
phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật”21. Dịch vụ là loại sản phẩm vơ hình
khơng cầm nắm được, dịch vụ khơng trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất dưới dạng
những sản phẩm hữu hình nhưng chúng lại tạo ra giá trị thặng dư do có sự khai thác
sức lao động, tri thức, chất xám của con người. Dịch vụ là công việc phục vụ trực
tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đơng, có tổ chức và được trả công 22, là kết
quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng, khách hàng và các hoạt
động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhằm thoả
mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt23. Tại khoản 9 Điều 3 LTM
2005 định nghĩa:“Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau
đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và
nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ
thanh tốn cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận”. Mặc dù
trong mỗi lĩnh vực khác nhau hoạt động cung ứng dịch vụ sẽ được điều chỉnh bởi
những văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau, nhưng các quyết định mang tính
nguyên tắc của hoạt động cung ứng dịch vụ với tư cách là một hoạt động thương
mại và các vấn đề cơ bản về hợp đồng cung ứng dịch vụ được điều chỉnh bởi LTM
200524. Tựu trung lại, kinh doanh dịch vụ được hiểu là hoạt động thực hiện một loại
hình dịch vụ dưới dạng nghĩa vụ và được hưởng thù lao tương xứng cho việc thực
hiện loại dịch vụ đó. Đây là cách hiểu chung cho hầu hết tất cả các loại hình kinh
doanh dịch vụ trong thực tế hiện nay, do đó nó cũng được dùng để giải thích cho
loại hình kinh doanh dịch vụ trong lĩnh vực mơi trường mà cụ thể là
KDDVQLCTNH.

Như vậy, thông qua việc sử dụng khái niệm có liên quan trong các văn bản
pháp luật nêu trên đồng thời căn cứ vào nội dung của hoạt động quản lý CTNH có
thể đưa ra khái niệm: “KDDVQLCTNH là hình thức cung ứng dịch vụ, theo đó bên
20

Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Thương mại (Tập 1), Nxb.CAND Hà Nội, tr.29.
Khoản 2 Điều 4 Luật giá 2012.
22
Hoàng Phê (2004), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr.256.
23
Mục 1.5 TCVN ISO 8402: 1999 quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng – thuật ngữ và định nghĩa.
24
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Pháp luật về thương mại hàng hóa và
dịch vụ, Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr.167.
21


15
cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động trong
quy trình quản lý CTNH và nhận thu lao, bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh
tốn thù lao và được sử dụng dịch vụ quản lý CTNH thông qua hợp đồng dịch vụ
quản lý CTNH”.
1.2.2. Đặc điểm kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
Hoạt động KDDVQLCTNH về bản chất cũng là một dạng hoạt động kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ do đó sẽ có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, hành vi KDDVQLCTNH diễn ra trên thị trường. Có thể hiểu một
cách khái quát, thị trường là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán. Thị trường
KDDVQLCTNH là nơi thực hiện hoạt động chuyển giao và tiếp nhận trách nhiệm
quản lý CTNH giữa chủ nguồn thải CTNH đóng vai trị là khách hàng có nhu cầu sử
dụng dịch vụ quản lý CTNH và chủ thể KDDVQLCTNH đóng vai trị là các doanh

nghiệp đưa ra các loại hình dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH đạt điều kiện
theo quy định của pháp luật. Hoạt động KDDVQLCTNH diễn ra trên thị trường
mang tính chất tự do, bình đẳng, các chủ thể có quyền tự do kinh doanh nhưng
không phải tự do vô tổ chức mà luôn đặt trong trật tự thị trường để đảm bảo sự phát
triển có định hướng của thị trường, giải quyết hài hịa hợp lý về lợi ích của các chủ
thể tham gia, khơng để ai có thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi
ích của người khác. Chủ thể sử dụng dịch vụ được phép tùy ý lựa chọn đối tượng
cung ứng dịch vụ đạt chất lượng, đáp ứng đủ điều kiện pháp luật và giá thành hợp lý
nhất cho mình mà khơng bị bất kỳ rào cản gì. Bên cạnh đó, sau khi lựa chọn chủ thể
cung ứng dịch vụ cả hai bên có thể tự do thỏa thuận các điều khoản cần thiết trong
hợp đồng dựa trên cơ sở pháp luật theo tiêu chí tự nguyện.
Thứ hai, KDDVQLCTNH là lĩnh vực đầu tư kinh doanh có điều kiện, đối
tượng kinh doanh đặc biệt, chi phí đầu tư cao. Theo quy định tại Mục 232 Phụ lục
IV ban hành kèm theo Luật sửa đổi, bổ sung LĐT 2014 hoạt động kinh doanh dịch
vụ vận chuyển, xử lý CTNH thuộc danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều
kiện. Điều này cũng dễ hiểu bởi lẽ không giống như các loại chất thải thông thường
khác, CTNH là một loại chất thải đặc biệt với nhiều đặc tính nguy hiểm cao, khả
năng tác động tiêu cực đến môi trường và con người rất lớn, nếu không cẩn trọng và
đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết trong hoạt động quản lý thì khả năng để lại
hậu quả vơ cùng nghiêm trọng. Vì vậy, nhằm đảm bảo an tồn trong hoạt động quản
lý CTNH địi hỏi các chủ thể KDDVQLCTNH phải đầu tư rất nhiều thời gian, công


16
sức, đặc biệt là tài chính. Hơn nữa, khác với các loại hình hoạt động kinh doanh
dịch vụ khác, dịch vụ quản lý CTNH là một dạng dịch vụ đặc biệt bởi có sự đan xen
giữa dịch vụ thương mại và dịch vụ cơng ích. Hoạt động này khơng chỉ mang lại lợi
ích cho chủ thể kinh doanh dịch vụ, chủ thể sử dụng dịch vụ mà cịn góp phần đảm
bảo nâng cao chất lượng môi trường, ổn định xã hội, nếu hoạt động
KDDVQLCTNH càng hiệu quả thì chất lượng môi trường ngày càng được cải

thiện, đời sống của nhân dân ngày càng được đảm bảo. Vì vây, khơng phải bất kỳ
chủ thể nào cũng được phép thực hiện hoạt động KDDVQLCTNH mà chỉ có những
chủ thể đáp ứng đủ các điều kiện và được cấp phép thì mới được phép cung ứng
dịch vụ quản lý CTNH.
Thứ ba, hoạt động KDDVQLCTNH được thực hiện thông qua hợp đồng
bằng văn bản và phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hợp đồng
KDDVQLCTNH được thiết lập bằng văn bản giữa chủ thể cung ứng dịch vụ và chủ
thể sử dụng dịch vụ, là cơ sở để ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể này, đồng
thời cũng là căn cứ để giải quyết khi có tranh chấp phát sinh. Nội dung của hợp
đồng phải thể hiện đầy đủ các thỏa thuận về công việc thực hiện, thù lao thanh toán,
quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên. Tuy nhiên, có một điểm cần lưu ý là
khác với các loại hợp đồng thương mại, dịch vụ thông thường khác, hợp đồng
KDDVQLCTNH sau khi được xác lập, các bên phải thực hiện trách nhiệm đăng ký
hợp đồng này tại cơ quan quản lý có thẩm quyền. Như vậy, dù hợp đồng được xác
lập dựa trên sự thỏa thuận của các bên nhưng việc thực hiện hợp đồng phải chịu sự
quản lý, giám sát của nhà nước. Điều này xuất phát từ đặc thù của hoạt động kinh
doanh dịch quản lý CTNH là một hoạt động luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro vì vậy cần có
sự quản lý, theo dõi, giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền nhằm đảm bảo các bên tham gia hợp đồng thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa
vụ của mình theo quy định pháp luật, góp phần ngăn ngừa, hạn chế những hành vi
vi phạm trong quá trình thực hiện các công việc liên quan đến hoạt động
KDDVQLCTNH.
Thứ tư, hành vi KDDVQLCTNH mang tính chất thường xuyên với mục đích
sinh lời. Sau khi được cấp giấy phép chủ thể KDDVQLCTNH sẽ phải thực hiện
thường xuyên các hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH theo quy định của
pháp luật. Trong trường hợp nếu sau một năm kể từ ngày được cấp Giấy phép xử lý
CTNH chủ thể được cấp giấy phép không hoạt động sẽ bị nhà nước thu hồi, trừ


17

những trường hợp bất khả kháng.25 Bản chất của hoạt động KDDVQLCTNH là một
dạng hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời, lợi nhuận tạo ra là động lực để
các chủ thể tham gia vào hoạt động cung ứng loại hình dịch vụ này. Khi ký hợp
đồng tiếp nhận trách nhiệm quản lý CTNH do chủ nguồn thải CTNH chuyển giao,
chủ thể cung ứng dịch vụ quản lý CTNH ln nhắm đến lợi nhuận đạt được là
khoản thanh tốn mình sẽ được nhận sau khi hồn tất cơng việc cung ứng dịch vụ
cho bên sử dụng dịch vụ dựa trên cơ sở hợp đồng đã được ký kết giữa hai bên.
Tóm lại, giống như các loại hình kinh doanh dịch vụ khác, KDDVQLCTNH
cũng có đầy đủ các yếu tố, dấu hiệu cơ bản của một hoạt động kinh doanh. Tuy
nhiên, bên cạnh những điểm tương đồng, hoạt động KDDVQLCTNH cũng có
những dấu hiệu đặc trưng riêng như đã trình bày ở trên, điều này giúp nhận diện và
phân biệt được loại hình KDDVQLCTNH với các loại hình kinh doanh khác.
1.2.3. Vai trò kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
KDDVQLCTNH có vai trị rất lớn trong việc đảm bảo chất lượng môi
trường, bảo vệ sức khỏe con người, đồng thời góp phần vào việc thúc đẩy sự phát
triển kinh tế xã hội, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.26
Thứ nhất, KDDVQLCTNH giúp thực hiện tốt công tác phịng ngừa, khắc
phục được các vấn đề về ơ nhiễm mơi trường, sự cố mơi trường, góp phần BVMT
và quyền được sống trong môi trường trong lành của con người. Quyền được sống
trong môi trường trong lành được khẳng định là một trong những quyền tự nhiên cơ
bản của con người, quyền này đã được ghi nhận trong luật pháp quốc tế và luật pháp
của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, thực trạng ô nhiễm môi trường
ngày càng nghiêm trọng, sự cố môi trường ngày càng gia tăng về cường độ và tần
suất, điều này đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền tự nhiên của con người. Một
trong những nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thối mơi trường là do CTNH gây ra,
với các đặc tính nguy hại, CTNH có khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực rất lớn đến
chất lượng môi trường, sức khỏe, tính mạng con người nếu như khơng được quản lý
hiệu quả. Chính vì vậy, hoạt động KDDVQLCTNH với việc cung ứng các dịch vụ
quản lý CTNH chất lượng, phù hợp, hiệu quả sẽ góp vai trị quan trọng trong việc
BVMT. Vì thơng qua q trình cung cấp các dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý

CTNH, con người có thể giảm thiểu, phịng ngừa, ứng phó, khắc phục được những
25

Điểm b khoản 1 Điều 21 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT.
Vũ Thị Duyên Thủy (2009), “Vai trò của pháp luật quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam”, Tạp chí Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội, số 3(106), tr53.
26


18
vấn đề về ơ nhiễm mơi trường, suy thối mơi trường do CTNH gây ra, từ đó góp
phần đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành của con người.
Thứ hai, thông qua hoạt động KDDVQLCTNH nhà nước tạo được khoảng
không gian cho các chủ thể tự do thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp
quy định pháp luật, điều này thúc đẩy sự phát triển đa dạng của ngành dịch vụ trong
đó có ngành dịch vụ mơi trường. Qua đó, thu hút nhiều chủ thể khác nhau bao gồm
cả các chủ thể trong nước và nước ngồi cùng tham gia vào việc cung ứng loại hình
dịch vụ quản lý CTNH. Từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các chủ thể tham
gia cung ứng dịch vụ để có thể tạo ra chất lượng dịch vụ tốt nhất, có lợi cho chủ thể
sử dụng.
Thứ ba, KDDVQLCTNH góp phần thúc đẩy sự phát triển của hoạt động
nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại vào cơng tác BVMT
trong q trình quản lý CTNH. Như đã phân tích ở phần 1.1.1 CTNH là một loại
chất thải có nhiều độc tính nguy hiểm, vì vậy hoạt động KDDVQLCTNH địi hỏi
phải sử dụng cơng nghệ, trang thiết bị, phương tiện hiện đại để vừa đáp ứng được
yêu cầu về BVMT vừa đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe cho những người
tham gia thực hiện các hoạt động quản lý CTNH. Những đòi hỏi trên đã góp phần
vào việc thúc đẩy phát triển các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật
hiện đại để đáp ứng nhu cầu kiểm sốt ơ nhiễm mơi trường, từ đó góp phần tạo
động lực cho sự phát triển của nền kinh tế dựa trên cơ sở BVMT.

Thứ tư, KDDVQLCTNH mang lại các giá trị kinh tế, góp phần ổn định xã
hội. Khi có sự xuất hiện của ngành nghề KDDVQLCTNH sẽ mang lại nhiều lợi ích
kinh tế cho các chủ thể có liên quan. Đối với chủ nguồn thải, việc cung ứng các loại
hình KDDVQLCTNH là một trong những giải pháp tối ưu giúp các chủ thể sản
xuất, kinh doanh tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đảm bảo được các nghĩa vụ theo yêu
cầu bằng việc sử dụng dịch vụ quản lý CTNH do các chủ thể cung ứng dịch vụ cung
cấp. Đối với các chủ thể cung ứng dịch vụ quản lý CTNH, khi tham gia cung ứng
dịch vụ sẽ thu được lợi nhuận từ việc đầu tư trang thiết bị, phương tiện, nhân lực,
đáp ứng được yêu cầu doanh thu và lợi nhuận. Đối với nhà nước, sẽ thu được một
phần kinh phí vào ngân sách thơng qua các cơng cụ thuế, phí liên quan đến hoạt
động KDDVQLCTNH, điều này tạo động lực phát triển nền kinh tế, ổn định xã hội.
Ngoài ra, khi doanh nghiệp đầu tư KDDVQLCTNH sẽ phát sinh nhu cầu sử dụng


×