Tải bản đầy đủ (.pdf) (75 trang)

Pháp luật về thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.36 MB, 75 trang )

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
--------

TRỊNH THỊ THU HIỀN

PHÁP LUẬT VỀ THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
HÀNG NHẬP KHẨU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thương mại

TP HCM – 2012


TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
---------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

PHÁP LUẬT VỀ THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG NHẬP
KHẨU

SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRỊNH THỊ THU HIỀN
Khóa: 2008-2012. MSSV: 0855010065
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: THẠC SĨ PHAN PHƯƠNG NAM

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012



LỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan khóa luận “Pháp luật về thuế chống bán phá giá hàng
nhập khẩu” là công trình nghiên cứu của riêng tơi. Tồn bộ nội dung được trình
bày cũng như kết quả nghiên cứu đạt được trong khóa luận này do chính tơi
thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Phan Phương Nam. Tôi xin chịu hồn
tồn trách nhiệm với lời cam đoan của mình.

Tác giả khóa luận

Trịnh Thị Thu Hiền


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt bốn năm học tập tại trường, em đã lĩnh hội được nhiều kiến
thức chuyên sâu về ngành Luật, làm nền tảng cho công việc trong tương lai.
Trong q trình học tập ấy, em ln được tìm hiểu, nghiên cứu và kiểm tra các
kiến thức về pháp luật, song cơ hội để nghiên cứu một cách chuyên sâu và tổng
hợp kiến thức pháp luật một cách toàn diện khơng nhiều. Thực hiện khóa luận
tốt nghiệp thực sự là một cơ hội tốt để bản thân em có thể tổng hợp lại phần lớn
các kiến thức đã học, đặc biệt là kiến thức về chuyên ngành Luật thương mại.
Nghiên cứu về đề tài “Pháp luật thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu” đã
cho em cơ hội hệ thống lại các kiến thức cơ bản về Luật thương mại mà cụ thể
là mảng thương mại quốc tế. Đồng thời tìm hiểu sâu rộng về các vấn đề liên
quan đến pháp luật chống bán phá giá theo quy định của pháp luật thế giới cũng
như so sánh sự hoàn thiện của nó với pháp luật Việt Nam. Đây là vấn đề không
mới so với các nước lớn trên thế giới, song đối với Việt Nam thì nó khá mới mẻ
trong việc tiếp cận cũng như thực thi trên thực tế. Vì vậy, khi thực hiện đề tài
này, bản thân em cũng gặp những khó khăn nhất định. Song nhờ vào sự động

viên, giúp đỡ của các thầy cô và các bạn em đã có thể hồn thành tốt khóa luận
này. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới quý thầy cô, các bạn đã giúp đỡ em
trong suốt thời gian qua, đặc biệt là thầy Phan Phương Nam – người đã nhiệt
tình hướng dẫn em hồn thành tốt đề tài nghiên cứu này. Vấn đề thực thi pháp
luật chống bán phá giá nói chung và áp dụng biện pháp thuế chống bán phá giá
nói riêng ở Việt Nam là vấn đề hết sức phức tạp cả về mặt xây dựng pháp luật
cũng như đưa vào áp dụng trên thực tế. Trong khi nhận thức pháp luật của bản
thân em cịn chưa được tồn diện nên có thể một số nội dung đưa ra tại khóa
luận chưa thực sự đạt yêu cầu. Rất mong nhận được sự đóng góp nhiệt tình của
các thầy cơ và các bạn để em có thể hồn thiện hơn về đề tài cũng như nhận
thức của bản thân.
Em xin chân thành cảm ơn!


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADA .............................. Hiệp định thực thi điều VI GATT 1994
BPG ............................... Bán phá giá
CBPG ............................ Chống bán phá giá
GATT 1994 ................... Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994
GTTT ............................ Giá trị thông thường
GXK .............................. Giá xuất khẩu
Nghị định 90/2005 ........ Nghị định số 90/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 07 năm
2005 của Chính phủ, về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh
chống bán phá giá hàng nhập khẩu
PLCBPG ....................... Pháp lệnh chống bán phá giá 2004
Thông tư 106/2005 ........ Thông tư số 106/2005/TT-BTC ngày 05 tháng 12 năm
2005 của Bộ Tài chính, hướng dẫn thu, nộp, hồn trả thuế chống bán phá giá,
thuế chống trợ cấp và các khoản đảm bảo thanh toán thuế chống bán phá giá,
thuế chống trợ cấp

WTO ............................. Tổ chức thương mại thế giới


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ PHÁP
LUẬT VỀ THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ ...........................................................4
1.1. Khái niệm về bán phá giá và thuế chống bán phá giá .....................................4
1.1.1. Khái niệm bán phá giá ................................................................................4
1.1.2. Khái niệm thuế chống bán phá giá .............................................................8
1.2. Sự cần thiết xây dựng hệ thống pháp luật về thuế chống bán phá giá...........12
1.2.1. Nguyên nhân từ xu hướng tồn cầu hóa ...................................................12
1.2.2. Ngun nhân từ hành vi bán phá giá ........................................................14
1.2.3. Quá trình hình thành pháp luật thuế chống bán phá giá quốc tế ..............15
1.3. Ý nghĩa của bán phá giá và thuế chống bán phá giá ......................................17
1.3.1. Ý nghĩa của hành vi bán phá giá ..............................................................17
1.3.2. Ý nghĩa của thuế chống bán phá giá .........................................................19
CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ –
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ...........................................................................21
2.1. Đối tượng tác động, phạm vi tác động của thuế chống bán phá giá ...............21
2.2. Căn cứ áp thuế chống bán phá giá ..................................................................27
2.2.1. Xác định hành vi bán phá giá ...................................................................27
2.2.1.1. Xác định giá trị thông thường ............................................................27
2.2.1.2. Xác định giá xuất khẩu ......................................................................34
2.2.1.3. Xác định biên độ bán phá giá .............................................................36
2.2.2. Xác định thiệt hại .....................................................................................39
2.2.3. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại ......................................41
2.3. Vấn đề xác định, thu – nộp, hoàn trả thuế chống bán phá giá ........................43
2.3.1. Xác định thuế chống bán phá giá phải nộp ..............................................43
2.3.2. Thu - nộp thuế chống bán phá giá ............................................................45

2.3.3. Hoàn thuế chống bán phá giá ...................................................................47


2.4. Thực trạng áp dụng và hướng hoàn thiện .......................................................48
2.4.1. Thực trạng áp dụng pháp luật chống bán phá giá tại Việt Nam ...............48
2.4.2. Hướng hoàn thiện về pháp luật thuế chống bán phá giá ở Việt Nam ......53
KẾT LUẬN ..............................................................................................................64


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng trong lĩnh vực về kinh tế - xã hội. Nhu cầu hội nhập
trong q trình tồn cầu hóa khiến cho Việt Nam khơng thể đứng ngoài cuộc
chơi ấy. Nhận thức được vấn đề này, chúng ta ln chủ động tìm kiếm các cơ
hội để nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế. Năm 2007, Việt Nam
chính thức được gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới WTO, đây được coi
là thành tựu lớn của kinh tế Việt Nam. Gia nhập vào WTO, một mặt sự giao lưu
về kinh tế sẽ thuận lợi hơn rất nhiều, song những mặt trái của tồn cầu hóa sẽ
tác động rất lớn tới Việt Nam cũng như các nước thành viên. Các biện pháp
phòng vệ thương mại trở thành công cụ sắc bén để các nước thành viên chống
lại những tác động từ mặt trái đó. Biện pháp CBPG tỏ ra khá hữu hiệu trong
việc chống lại ảnh hưởng của làn sóng nhập khẩu hàng hóa từ nước ngồi vào
thị trường nội địa. Đây cũng được coi là biện pháp thể hiện tính bảo hộ lớn nhất
đối với ngành sản xuất trong nước của nước nhập khẩu thành viên. Thế nhưng,
Việt Nam chưa từng một lần sử dụng biện pháp CBPG để tiến hành một vụ kiện
nhằm chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp xuất khẩu
hay thực hiện động cơ bảo hộ cho ngành sản xuất trong nước. Tham gia vào
cuộc chơi chung với các nước, Việt Nam cũng đã có những quy định để tạo cơ
sở, tiền đề cho việc áp dụng biện pháp này. Năm 2004, lần đầu tiên tại Việt

Nam, một văn bản pháp lý chính thức về áp dụng biện pháp CBPG mang tên
“Pháp lệnh chống bán phá giá” được ra đời đánh dấu sự ghi nhận về mặt pháp
lý của hiện tượng này. Tuy nhiên, do việc xây dựng pháp luật CBPG của Việt
Nam còn khá mới mẻ, các quy định dường như chỉ là sự tiếp thu, lặp lại không
đầy đủ các quy định của Hiệp định chống BPG – ADA, cho nên nó đã bộc lộ
những hạn chế và thiếu sót nhất định. Pháp lệnh chống BPG có hiệu lực gần
bảy năm, song nó chưa từng được sử dụng ở nước ta. Điều này cho thấy pháp
luật chưa thực sự được đưa vào cuộc sống như các nhà lập pháp mong muốn.
Trên thực tế, vấn đề này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ mặt lý luận, thực
tiễn đến pháp lý. Trước tình hình hàng hóa Việt Nam phải chịu sức ép cạnh
tranh rất lớn và ngày càng tăng của hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, nhu cầu
sửa đổi và hoàn thiện pháp luật chống BPG Việt Nam trở nên rất thiết thực.
Xuất phát từ yêu cầu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật thuế chống bán phá
giá hàng nhập khẩu” để nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp mang tính pháp
lý để góp phần hồn thiện hơn các quy định của Việt Nam về BPG cũng như
các biện pháp xã hội để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng biện pháp phòng
vệ thương mại - thuế chống BPG trên thực tế.
Trang 1


2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là nghiên cứu hệ thống hóa một số
kiến thức chung về hành vi BPG, thuế CBPG; nghiên cứu, phân tích, về pháp
luật BPG qua đó xác định những ưu điểm, tồn tại, thiếu sót. Trên cơ sở phân
tích thực trạng áp dụng các quy định pháp luật cùng với việc xem xét, học hỏi
kinh nghiệm trong pháp luật CBPG của một số quốc gia khác, đề xuất một số
giải pháp hoàn thiện, tăng khả năng áp dụng các quy định pháp luật chống BPG
trên thực tế.
Để đạt được mục đích nêu trên, khi nghiên cứu đề tài, tác giả phải giải
quyết những nhiệm vụ sau: nghiên cứu những vấn đề chung, nhận thức cơ bản

về BPG, thuế CBPG; nghiên cứu các quy định của PLCBPG và các văn bản liên
quan điều chỉnh về vấn đề chống BPG hàng nhập khẩu vào Việt Nam; nghiên
cứu thực tiễn áp dụng các quy định về CBPG trong thời gian qua; tìm hiểu pháp
luật CBPG của một số nước và phân tích, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện
pháp luật CBPG Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề chung và các quy định cụ thể
về BPG, thuế CBPG trong pháp luật Việt Nam; nghiên cứu thực trạng áp dụng
pháp luật CBPG của Việt Nam cũng như một số nước trên thế giới.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu chủ yếu về thuế
CBPG như: đối tượng, phạm vi áp dụng; các căn cứ áp dụng; vấn đề xác định,
thu – nộp thuế CBPG.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của
chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối chính sách của Đảng, các quy định của nhà
nước và pháp luật CBPG hàng nhập khẩu vào Việt Nam. Nghiên cứu đề tài, tác
giả sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, logic, so sánh để thực hiện
nhiệm vụ của đề tài.
5. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài này đã có một số cơng trình nghiên cứu như sau: Đề tài nghiên
cứu khoa học cấp Bộ của Vụ chính sách đa biên – Bộ Thương mại về “Cơ sở
khoa học áp dụng thuế CBPG đối với hàng nhập khẩu vào Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” năm 2000; Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn
Trang 2


Văn Niêm với đề tài “Pháp luật về CBPG trong ngoại thương – một số vấn đề
lý luận và thực tiễn” năm 2003; Sách “Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập
khẩu vào Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn
Ngọc Sơn do NXB Tư pháp phát hành năm 2005; Luận văn tiến sĩ luật học của

Nguyễn Ngọc Sơn về “Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu và cơ chế
thực thi tại Việt Nam” năm 2010…
6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến pháp luật CBPG một cách tồn
diện, có hệ thống sẽ củng cố nhận thức đầy đủ, khách quan hơn về thuế CBPG
quy định tại PLCBPG và các văn bản liên quan. Thông qua thực trạng áp dụng
biện pháp thuế CBPG cũng như các quy định pháp luật, sẽ tìm ra nguyên nhân,
hạn chế, thiếu sót cần khắc phục, bổ sung từ đó đưa ra định hướng hồn thiện
pháp luật CBPG nói chung và thuế CBPG nói riêng. Trên cơ sở đó, tạo hiệu quả
trong việc sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại ở Việt Nam.
7. Cơ cấu của khóa luận
Khóa luận gồm lời mở đầu, 2 chương và phần kết luận.
- Phần mở đầu giới thiệu về tính cấp thiết của đề tài; mục đích, phạm vi,
phương pháp, ý nghĩa và tình hình nghiên cứu đề tài.
- Phần nội dung bao gồm 2 chương:
 Chương I: Tổng quan về thuế chống bán phá giá và pháp luật về
thuế chống bán phá giá.
 Chương II: Pháp luật Việt Nam về thuế chống bán phá giá – thực
trạng và giải pháp.
- Phần kết luận: Tổng kết lại những nội dung chính của khóa luận.

Trang 3


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ PHÁP
LUẬT VỀ THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
1.1. Khái niệm về bán phá giá và thuế chống bán phá giá
1.1.1. Khái niệm bán phá giá
Trong pháp luật thương mại quốc tế tồn tại ba biện pháp phòng vệ
thương mại gồm tự vệ thương mại, chống trợ cấp và chống bán phá giá

(CBPG). Theo thống kê của WTO, tính từ 29/3/1995 đến 31/10/2010, tổng số
biện pháp tự vệ được áp dụng trên thế giới là 101 vụ. Tính từ 1/1/2005 đến
31/12/2010 thì tổng số các biện pháp chống trợ cấp được áp dụng là 158, còn
tổng số các biện pháp CBPG được áp dụng là 2495 vụ1. Ta có thể nhận thấy sự
chênh lệch rất lớn trong việc áp dụng giữa 3 biện pháp phòng vệ. Chỉ trong
vòng 15 năm đã có hàng nghìn biện pháp CBPG được áp dụng, trong khi đó 2
biện pháp cịn lại chỉ dừng ở con số hàng trăm. Nếu năm 1995 chỉ có 157 biện
pháp CBPG được áp dụng thì trong năm 2001 con số này là 371, cao nhất từ
trước tới nay, các năm tiếp theo có xu hướng giảm nhưng cũng trên mức 170
vụ/năm. Điều này cho thấy biện pháp CBPG được các quốc gia sử dụng với
mức độ cao hơn gấp nhiều lần so với hai biện pháp còn lại. Thực tế hành vi bán
phá giá (BPG) cũng như biện pháp CBPG đã và đang được nhắc tới ngày càng
nhiều trong thương mại quốc tế.
Từ điển kinh tế học hiện đại cho rằng BPG “là việc bán một hàng hóa ở
nước ngồi với mức giá thấp hơn so với mức giá ở thị trường trong nước”. Từ
điển chính sách thương mại cũng quy định: Phá giá được hiểu là thực tiễn bán
hàng của một cơng ty với giá bán ra nước ngồi thấp hơn giá bán tại thị trường
trong nước (giá nội địa của nước xuất khẩu)2. Các định nghĩa này đều cho rằng
hiện tượng BPG là việc phân biệt giá cả, cụ thể là giá bán hàng hóa giữa hai thị
trường xuất và nhập khẩu. Căn cứ để so sánh với giá bán ở thị trường xuất khẩu
được xác định là giá bán tại thị trường nước nhập khẩu. Việc lấy căn cứ giá bán
tại nước nhập khẩu sẽ không mang tính chính xác và khách quan. Nếu gọi giá
xuất khẩu (GXK) là X (là giá trong giao dịch mua bán giữa nhà sản xuất hoặc
nhà xuất khẩu của nước xuất khẩu với nhà nhập khẩu của nước nhập khẩu)3, các
khoản thuế như thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, chi phí vận chuyển… là Y,
giá bán tại thị trường nước nhập khẩu là A thì cơng thức tính giá bán tại thị
trường nhập khẩu là: A = X + Y. Điều này cho thấy, giá bán tại nước nhập khẩu
1

Nguồn: Trung tâm WTO – Phịng cơng nghiệp thương mại Việt Nam.

http://chongbanphagia.vn/tonghopsolieu/20111122/so-lieu-ve-chong-ban-pha-gia-tren-gioi-theo-bienphap-ap-dung-tinh-den-ngay-3
2
Nguyễn Ngọc Sơn (2010), “Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt
Nam”, Luận án tiến sĩ luật học, Tp. Hồ Chí Minh, tr.8.
3
http://chongbanphagia.vn/hoi-dap/20080812/gia-xuat-khau-export-price-la-gi-va-duoc-tinh-nhu-nao

Trang 4


sẽ luôn luôn lớn hơn GXK (giá giao dịch), và vì vậy sẽ khó hơn để xác định
một hành vi BPG. Ví dụ: mặt hàng B được bán ở nước C với giá 5$ / sản phẩm,
khi giao dịch, các bên đồng ý mua bán với giá 4$ / sản phẩm. Giả sử vào thị
trường nước nhập khẩu D, các khoản thuế, chi phí khác mà hàng hóa nhập khẩu
phải chịu làm tăng giá của sản phẩm lên 5,5$ / sản phẩm. Khi hàng hóa này
được nhập vào nước D thì khả năng cạnh tranh của nó sẽ cao hơn so với các
nước khác có giá giao dịch lớn hơn 4$ (giả sử các yếu tố về thuế và chi phí là
như nhau). Đây cũng là biểu hiện của hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh
nhưng nó sẽ khơng được điều chỉnh nếu chiểu theo các định nghĩa trên về hành
vi BPG vì giá bán tại thị trường nhập khẩu đã cao hơn giá bán tại thị trường
nước xuất khẩu. Từ ví dụ trên cho thấy GXK sẽ là hợp lý hơn trong việc so sánh
với giá bán tại nước xuất khẩu bởi vì nó phản ánh thực tế giá mà doanh nghiệp
có thể bán ở thị trường nhập khẩu, động cơ và hành vi bán hàng thấp hơn giá
trong nước của doanh nghiệp xuất khẩu. Tuy nhiên, trong một số trường hợp
đặc biệt, không tồn tại GXK hoặc GXK khơng tin cậy thì giá so sánh được lựa
chọn sẽ được tính bằng cách khác hợp lý hơn (Khoản 3 Điều 2 ADA). Vì vậy,
có thể nói về mặt ngun tắc thì GXK sẽ là giá thích hợp nhất để so sánh với
giá bán tại thị trường xuất khẩu. Xét trên khía cạnh khác, các khái niệm này thể
hiện hạn chế là mới chỉ giới hạn trong việc xác định có hành vi BPG đối với
hàng hóa bị điều tra mà khơng gồm các hàng hóa khác (sản phẩm tương tự), nên

chưa dự liệu được việc tính giá tại thị trường xuất khẩu trong trường hợp hàng
hóa chỉ sản xuất với mục đích nhập khẩu mà khơng nhằm sử dụng trong nước.
Từ những năm 1980, các chuyên gia kinh tế Mỹ đưa ra một khái niệm:
“BPG được hiểu là hành vi bán một mặt hàng với giá thấp hơn giá hiện hành
của mặt hàng đó trên thị trường nhằm làm ảnh hưởng đến các mặt hàng tương
tự trên cùng thị trường đó”4. Khái niệm này có đưa thêm một yếu tố là việc gây
thiệt hại, mà cụ thể là “nhằm làm ảnh hưởng tới các mặt hàng tương tự”. Xác
định hiện tượng BPG là một khâu độc lập với việc xác định thiệt hại mà nó gây
ra. Cho nên yếu tố thiệt hại này không phải là nội dung cần xét tới trong khái
niệm về BPG. Mặt khác, nếu quy định như thế thì cũng chưa hẳn chính xác, bởi
lẽ không phải lúc nào một hành vi BPG được thực hiện cũng là nhằm làm ảnh
hưởng đến các mặt hàng tương tự trên cùng thị trường như định nghĩa trên.
Pháp luật CBPG sẽ xử lý những hành vi BPG mà khơng cần quan tâm tới mục
đích mà doanh nghiệp hướng tới, do đó, khơng phải lúc nào hành vi BPG cũng
là nhằm mục đích tiêu cực nêu trên mà đúng hơn phải là hành vi này làm ảnh
hưởng tới hàng hóa tương tự tại thị trường nhập khẩu.

4

http://www.atheenah.com/luan-van/Phap-luat-chong-ban-pha-gia-o-Viet-Nam-65229

Trang 5


Trên phương diện pháp lý, việc áp dụng biện pháp BPG thực chất đã
được thể hiện từ những năm đầu khi các quốc gia thiết lập nên hiệp định chung
về thuế quan và mậu dịch - GATT 1947. Trong quá trình đàm phán của GATT
1947, các thành viên đã đưa ra định nghĩa về hành vi BPG như sau: BPG “là
việc sản phẩm của một nước đưa vào kinh doanh thương mại trên thị trường
của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm”. Định

nghĩa này đã được nhắc lại toàn bộ ở Hiệp định chung về thuế quan và thương
mại GATT 1994. Hạn chế của định nghĩa này là nó khơng đưa ra tiêu chí cụ thể
nào để so sánh với giá trị thơng thường (GTTT) của sản phẩm. Điều luật cũng
thể hiện hạn chế trong việc xác định giá thông thường khi không có sản phẩm
điều tra được tiêu dùng trong nước như các khái niệm học thuật nêu trên. Mặt
khác, GTTT không được quy định rõ là sẽ tính ở thị trường nào: thị trường xuất
khẩu hay nhập khẩu làm cho khái niệm BPG chưa thể hiện được tính chính xác
của hành vi, điều này làm cho biện pháp CBPG rất khó thực hiện.
Khoản 1 Điều II Hiệp định về thực hiện Điều VI của GATT 1994
(Antidumping Agreement - ADA) đã bổ sung và làm rõ hơn về khái niệm này,
theo đó, “một sản phẩm bị coi là BPG (tức là đưa vào lưu thông thương mại
của một nước khác thấp hơn giá trị thơng thường của sản phẩm đó), nếu như
GXK của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang nước khác thấp hơn
mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước
xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường”. Khái niệm này đã
khắc phục được hạn chế của định nghĩa của GATT 1947 là nó đã chỉ ra rằng giá
để so sánh với giá thông thường là GXK của sản phẩm và giá thơng thường
được tính trên thị trường nước xuất khẩu. Mặt khác, quy định này còn xác định
rằng GTTT khơng phải chỉ tính đối với các sản phẩm đang bị điều tra mà nó
cịn có thể được tính trên giá thơng thường của các sản phẩm tương tự trên thị
trường nước xuất khẩu. Điều này khắc phục được tình trạng một quốc gia sản
xuất hàng hóa chỉ để xuất khẩu chứ không không nhằm mục tiêu tiêu dùng
trong nước dẫn đến tình trạng khơng xác định được GTTT của chính sản phẩm
bị điều tra.
Ở Việt Nam, hành vi BPG lần đầu tiên được định nghĩa cụ thể tại Khoản
3 Điều 4 Pháp lệnh Giá: “BPG là hành vi bán hàng hóa, dịch vụ với giá quá
thấp so với giá thông thường trên thị trường Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường,
hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại tới lợi ích của cá nhân, tổ
chức sản xuất kinh doanh khác và lợi ích của Nhà nước”. Pháp lệnh Giá là
pháp lệnh điều chỉnh cả hành vi BPG trong nước cũng như cả với hàng hóa

nhập khẩu vào Việt Nam, do vậy đây là văn bản pháp luật khơng chỉ mang tính
chất nội địa mà cịn điều chỉnh cả vấn đề liên quan tới thương mại quốc tế. Tuy
Trang 6


nhiên, với cách quy định như thế này, rõ ràng nó đã bộc lộ hạn chế nếu xác định
BPG hàng nhập khẩu vào Việt Nam vì: nếu dùng chính giá thông thường trên
thị trường Việt Nam để so sánh với GXK tại nước xuất khẩu đề đánh giá hành
vi đó có phải BPG hay khơng là điều vơ lý, và nó khơng phù hợp với pháp luật
quốc tế. Theo ADA thì giá này phải là giá thơng thường của sản phẩm tại thị
trường nước xuất khẩu chứ không phải nước nhập khẩu.
Nhằm mục đích tạo khung pháp lý cho việc chống lại hành vi BPG vào
thị trường trong nước, năm 2004, nước ta đã ban hành Pháp lệnh số 20/ 2004/
PL-UBTVQH về việc CBPG hàng nhập khẩu vào Việt Nam (PLCBPG). Tuy
nhiên, văn bản này lại không định nghĩa thế nào là BPG, mà chỉ quy định một
cách gián tiếp qua cách thức tính biên độ phá giá để có cơ sở áp thuế BPG cho
hàng nhập khẩu vào Việt Nam. Theo đó “hàng hóa có xuất xứ từ nước hay
vùng lãnh thổ bị coi là BPG khi nhập khẩu vào Việt Nam nếu hàng hóa đó được
bán với giá thấp hơn giá thông thường theo quy định tại khoản 2 và khoản 3
điều này” (Điều 3). Hạn chế của quy định này là không đưa ra yếu tố so sánh
với giá thông thường một cách rõ ràng như ADA (GXK). Cụm từ “hàng hóa
được bán” khơng thể hiện rõ nó là giá nào, quy định này hồn tồn chỉ có thể
được hiểu rằng hàng hóa được bán tại nước nhập khẩu, và do đó nó đã bao gồm
các chi phí như tiền hoa hồng, bán hàng… Theo ADA, GXK được tính tốn
theo nhiều cách khác nhau, trong đó có cách tính theo giá bán cho người mua
độc lập đầu tiên tại nước nhập khẩu. Song đây không phải là cách thức ưu tiên
được lựa chọn trong mọi trường hợp. Vì vậy cách quy định như thế này của
pháp lệnh vơ hình chung làm thu hẹp phạm vi của GXK.
Nói tóm lại BPG là một hành vi mang tính quốc tế, WTO chỉ có nghĩa vụ
đưa ra một khái niệm gồm các căn cứ để xác định hàng hóa nhập khẩu bị BPG

để các quốc gia dựa vào đó xây dựng nên các quy tắc về phương pháp xác định,
cách thức tính tốn các yếu tố cấu thành hiện tượng BPG miễn nó khơng vi
phạm các quy tắc của pháp luật thương mại quốc tế5. Vì vậy, khơng thể có một
định nghĩa nào rõ hơn khái niệm được quy định tại ADA, để áp đặt chung cho
tất cả các thành viên, do có sự khác nhau rất lớn về cách xác định các yếu tố
trên của mỗi quốc gia. Dựa trên những nghiên cứu và phân tích các khái niệm
trên, tác giả cho rằng khái niệm BPG theo định nghĩa của ADA là hợp lý nhất
và tác giả sẽ sử dụng khái niệm này để xác định một hành vi BPG trong suốt đề
tài của mình. Theo đó, “một sản phẩm bị coi là BPG (tức là đưa vào lưu thông
thương mại của một nước khác thấp hơn GTTT của sản phẩm đó), nếu như
GXK của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang nước khác thấp hơn
mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước
5

Nguyễn Ngọc Sơn (2010), tlđd, tr.16.

Trang 7


xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường”. Cũng chính vì lý do
này, ngày nay chúng ta nhận thấy rằng các quốc gia vẫn đang có những tranh
cãi, những cách hiểu và những quy định khác nhau về các thuật ngữ như:
GTTT, GXK, có thể so sánh được…xuất phát từ tính chung chung, quy tắc của
khái niệm BPG trong ADA. Việc nghiên cứu và thống nhất quan điểm về nội
hàm của các thuật ngữ này có thể nói là rất quan trọng nhằm bảo đảm việc thực
thi ADA một cách công bằng và xây dựng một môi trường cạnh tranh lành
mạnh theo đúng mục tiêu hoạt động của WTO, nhưng nó sẽ chỉ thực hiện được
nếu các quốc gia thành viên cùng mong muốn đàm phán và khắc phục những
thiếu sót đó bằng một cam kết mang tính chất tồn cầu mà thơi.
1.1.2. Khái niệm thuế chống bán phá giá

Trong khuôn khổ thương mại quốc tế, nhằm tạo cho các nước thành viên
một cơ chế chống lại hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh của hàng hóa nhập
khẩu BPG nói riêng, chống lại các tác động tiêu cực của tồn cầu hóa nói
chung, WTO cho phép các nước được áp dụng một số sắc thuế cần thiết với tính
chất bổ sung cho thuế nhập khẩu như thuế CBPG, thuế chống trợ cấp hay thuế
tự vệ trong một số trường hợp nhất định. Như đã đề cập ở trên, thuế CBPG
được sử dụng khá phổ biến trên thế giới, tuy nhiên để có cơ sở áp dụng thuế
CBPG thì cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu phải chứng minh được 3
yếu tố cơ bản sau:
Một là: có hành vi BPG trên thực tế. Hành vi này được thể hiện qua biên
độ phá giá đủ lớn, tức là phải vượt qua mức tối thiểu là không thấp hơn 2% của
GXK. Biên độ phá giá chính là chênh lệch giữa GXK vào thị trường nước nhập
khẩu và giá thông thường có thể so sánh được ở thị trường xuất khẩu. Cơ quan
điều tra của nước nhập khẩu sẽ có trách nhiệm chứng minh hành vi này dựa trên
đơn yêu cầu của doanh nghiệp trong nước hoặc do tự mình quyết định nếu thấy
cần thiết.
Hai là: có thiệt hại xảy ra. Thiệt hại này được hiểu là ảnh hưởng của việc
hàng hóa BPG trên thị trường nội địa của các sản phẩm tương tự và nó gây hậu
quả đối với các nhà sản xuất trong nước nhập khẩu. Trước khi có ADA, một số
nước đã có pháp luật điều chỉnh về hành vi BPG, nhưng họ không thể hiện rõ
thiệt hại này là gì, vật chất hay tinh thần, thiệt hại thực tế hay không thực tế…
Điều này đã gây nhiều tranh cãi giữa các nước thành viên. Ví dụ: trước năm
1979 pháp luật Hoa Kỳ chỉ quy định thiệt hại chung chung mà khơng nói rõ
thiệt hại về vật chất, dẫn đến cách hiểu mơ hồ, có thể là thiệt hại suy đoán.
Ngày nay, các quốc gia đều thống nhất rằng đây phải là thiệt hại vật chất đối
với một ngành sản xuất trong nước, đe dọa gây thiệt hại vật chất đối với một
Trang 8


ngành sản xuất trong nước hoặc làm chậm quá trình hình thành một ngành sản

xuất (chú thích số 9 ADA).
Ba là: có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi BPG và thiệt hại đã xảy ra
hoặc đe dọa xảy ra trên thực tế. Cần lưu ý rằng, không phải mọi trường hợp có
kết luận về mối quan hệ nhân quả này cũng đi tới kết quả là áp thuế CBPG bởi
vì ADA loại trừ việc áp dụng chế tài với hành vi BPG nếu nó thuộc Khoản 5
Điều 8, tức là khi khối lượng hàng hóa nhập khẩu mà khơng đáng kể (ít hơn 3%
tổng sản phẩm tương tự được nhập khẩu vào nước nhập khẩu) thì quốc gia nhập
khẩu không được truy cứu trách nhiệm của các quốc gia xuất khẩu này, đồng
thời họ có nghĩa vụ chấm dứt điều tra ngay lập tức đối với các quốc gia ấy. Luật
cũng quy định thêm một trường hợp là khi “số lượng nhập khẩu của các sản
phẩm tương tự từ mỗi nước có khối lượng nhập dưới 3%, nhưng tổng số các
sản phẩm tương tự nhập khẩu từ những nước này chiếm trên 7% nhập khẩu
tương tự vào thành viên nhập khẩu”. Lúc này, các quốc gia nhập khẩu vẫn có
quyền điều tra để đưa ra quyết định áp thuế CBPG.
Đây là ba điều kiện cơ bản mà WTO quy định, ngồi ra khi nội luật hóa
vào pháp luật nước mình, các quốc gia có quyền bổ sung cho phù hợp với tình
hình trong nước. Ví dụ: ở EU có đưa thêm một điều kiện thứ tư là “việc áp dụng
thuế CBPG phải đáp ứng được các lợi ích của cộng đồng”6. Lợi ích cộng đồng
có thể hiểu là lợi ích tập thể mà chủ yếu là người tiêu dùng, cũng như lợi ích mà
xã hội đạt được khi có hành vi BPG. Với quy định này, EU cho rằng lợi ích
cộng đồng sẽ được ưu tiên bảo vệ hơn là lợi ích của một nhóm doanh nghiệp,
nhà sản xuất và vì thế khơng phải mọi hành vi BPG đều bị xử lý. Chỉ khi đáp
ứng 4 điều kiện trên thì một lệnh áp thuế CBPG mới được EU ban hành.
Từ các phân tích trên về cơ sở áp dụng thuế CBPG, về mặt lý luận, thuế
CBPG là “một sắc thuế do quốc gia nhập khẩu đánh vào một mặt hàng nhập
khẩu được BPG với mục đích ngăn cản sự tiếp diễn của việc BPG đó để tránh
gây thiệt hại cho ngành sản xuất tương tự ở trong nước”7. Cách hiểu này về
thuế CBPG đã thể hiện rõ nét về chủ thể ban hành, đối tượng chịu thuế cũng
như mục đích của thuế CBPG. Tuy nhiên, hạn chế của định nghĩa này là tất cả
các hàng hóa bị BPG vào thị trường nước nhập khẩu đều có thể bị đánh thuế mà

chưa có sự phân biệt về tính chất, mức độ của hành vi.
Trên phương diện pháp lý, thuế CBPG được Việt Nam quy định là “thuế
nhập khẩu bổ sung được áp dụng trong trường hợp hàng hóa bị BPG nhập
6

ThS. Đoàn Trung Kiên (2009), “Bản chất pháp lý của thuế chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu
vào Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (số 5), tr 47.
7
Bộ Thương mại (2002), “Cơ sở khoa học áp dụng thuế CBPG đối với hàng nhập khẩu ở Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Bộ Thương mại, Hà nội, tr5.

Trang 9


khẩu vào Việt Nam, gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản
xuất trong nước” (Khoản 1 Điều 2 PLCBPG). Định nghĩa này đã thể hiện rõ
tính chất của thuế CBPG là một loại thuế bổ sung cho thuế nhập khẩu, đồng
thời định nghĩa này cho ta hiểu không phải tất cả các hành vi BPG vào thị
trường Việt Nam đều bị đánh thuế CBPG mà những hàng hóa này phải có điều
kiện “gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong
nước”. Cũng chính vì lí do này mà mục đích của thuế CBPG sẽ được hiểu là
nhằm ngăn chặn những thiệt hại trước những tác động của hàng hóa nhập khẩu
BPG gây ra. Mặc dù, hiện nay sắc thuế này đã bị các quốc gia xem như là một
công cụ bảo hộ đắc lực cho ngành sản xuất trong nước, song đây khơng phải là
mục tiêu chính của các nước thành viên khi xây dựng hệ thống pháp luật về
CBPG. Do đó, theo tác giả định nghĩa này của pháp luật Việt Nam là phù hợp
với tinh thần của WTO về việc ghi nhận sự tồn tại của sắc thuế CBPG nhằm
chống lại các tác động tiêu cực của hành vi cạnh tranh không lành mạnh của
hàng hóa nhập khẩu BPG. Tác giả sẽ sử dụng cách hiểu này về thuế CBPG
trong suốt khóa luận của mình.

Với tính chất là một loại thuế bổ sung cho thuế nhập khẩu, thuế CBPG
cũng có những đặc điểm cơ bản của thuế nhập khẩu và một số đặc điểm khác
biệt có thể kể đến như sau:
- Đối tượng chịu thuế CBPG: Cũng như thuế nhập khẩu, đối tượng chịu
thuế CBPG là các hàng hóa được phép nhập khẩu qua biên giới Việt Nam.
Song, các hàng hóa này phải là hàng hóa bị BPG gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước. Với tính chất là một loại thuế bổ sung
cho thuế nhập khẩu, về mặt nguyên tắc thì đối tượng chịu thuế CBPG phải là
đối tượng chịu thuế của sắc thuế nhập khẩu. Tuy nhiên, có những trường hợp
ngoại lệ là hàng hóa khơng thuộc đối tượng chịu thuế nhập khẩu nhưng vẫn có
thể bị chịu thuế CBPG. Ngoại lệ này rơi vào trường hợp hàng hóa nhập khẩu
BPG là hàng hóa nhập khẩu vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi
thuế quan của Việt Nam. Vấn đề này sẽ được phân tích kỹ hơn ở chương 2. Cần
phải hiểu rằng đây là ngoại lệ đối với thuế CBPG mà nó khơng làm mất đi bản
chất thuế nhập khẩu bố sung của thuế CBPG.
- Tính chất: thuế CBPG là thuế nhập khẩu bổ sung. Vì thuế nhập khẩu
mang tính chất là một loại thuế gián thu nên thuế CBPG cũng có tính chất là
một loại thuế gián thu. Tiền thuế được cấu thành trong giá cả của hàng hóa và
người tiêu dùng là người phải trả số tiền thuế này. Đối tượng nộp thuế chỉ là
người có nghĩa vụ nộp thuế về mặt pháp luật. Thuế tự vệ, thuế chống trợ cấp
cũng đều là các loại thuế bổ sung cho thuế nhập khẩu, cũng mang tính chất là
một loại thuế gián thu, song ba loại thuế này không đồng nhất về mặt tính chất.
Trang 10


Thuế CBPG đánh vào hành vi của tự thân các doanh nghiệp, khơng có sự can
thiệp của thế lực nào khác (hoặc có nhưng phải có sự tham gia của tự bản thân
mỗi doanh nghiệp BPG). Thuế chống trợ cấp đánh vào hành vi trợ cấp của một
chủ thể nhất định mà thơng thường là Chính phủ một quốc gia dẫn đến các
doanh nghiệp nước trợ cấp có lợi thế hơn các doanh nghiệp khác một cách

không công bằng. Ngược lại với 2 loại thuế phụ trợ trên, thuế tự vệ là hành vi
phòng vệ của nước nhập khẩu khi hàng hóa nhập khẩu một cách mạnh mẽ vào
nước mình một cách hợp pháp mà khơng có ngun nhân từ doanh nghiệp xuất
khẩu hay là một chủ thể nào khác.
- Đối tượng nộp thuế: đối tượng nộp thuế CBPG là các tổ chức, cá nhân
nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế CBPG (Thông tư số
106/2005/TT-BTC ngày 5 tháng 12 năm 2005). Là loại thuế đánh vào hành vi
nhập khẩu nói chung, người trực tiếp có hành vi nhập khẩu hàng hóa BPG sẽ là
đối tượng có nghĩa vụ phải nộp thuế CBPG. Vấn đề này sẽ được phân tích rõ
hơn trong chương 2 của khóa luận.
- Ngun tắc áp thuế: thuế CBPG “chỉ được áp dụng ở mức độ cần
thiết, hợp lý nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế thiệt hại đáng kể cho ngành sản
xuất trong nước” (Khoản 1 Điều 5 PLCBPG). Thuế CBPG được xây dựng
không phải với mục đích chính là làm tăng thu cho ngân sách nhà nước, vì vậy
thuế này chỉ được áp dụng đủ để khắc phục hay ngăn ngừa tác hại của hành vi
BPG gây ra cho ngành sản xuất trong nước. Đây được coi là một nguyên tắc cơ
bản trong việc áp dụng biện pháp CBPG nói chung, biện pháp thuế CBPG nói
riêng. Để đáp ứng được nguyên tắc này, thuế suất thuế CBPG không phải là
một mức thuế cố định theo cam kết như thuế nhập khẩu mà nó sẽ căn cứ vào
các kết quả điều tra để tính thuế suất theo từng vụ việc cụ thể. Thuế suất thuế
CBPG khơng được vượt q biên độ BPG đã được tính tốn trong q trình
điều tra. u cầu này nhằm mục đích hạn chế khả năng lạm dụng biện pháp
thuế như một công cụ bảo hộ của các quốc gia. Lưu ý là ADA cũng như
PLCBPG chỉ yêu cầu thuế suất thuế CBPG không vượt quá biên độ BPG nhưng
không ràng buộc nước nhập khẩu phải tính thuế suất bằng với biên độ BPG đã
được tính tốn. Điều này có nghĩa là, khi mục đích hạn chế, khắc phục thiệt hại
đã đạt được thì thuế suất thuế CBPG sẽ được áp dụng một cách linh hoạt và có
thể thấp hơn biên độ BPG.
- Thời gian áp thuế: để đảm bảo phù hợp với nguyên tắc áp thuế nêu
trên, thời gian áp thuế CBPG sẽ chỉ được áp dụng cho tới lúc đủ để khắc phục,

loại trừ những thiệt hại mà hành vi BPG gây ra. Về mặt nguyên tắc, Điều XI
ADA, Khoản 3 Điều 22 PLCBPG quy định thời gian áp thuế“khơng được vượt
q 5 năm kể từ ngày có quyết định áp thuế CBPG”. Nếu trong thời gian này,
Trang 11


hàng hóa BPG vẫn gây ảnh hưởng tới ngành sản xuất trong nước thì theo yêu
cầu của các bên liên quan, sau khi tiến hành điều tra rà soát thương mại, lệnh áp
thuế CBPG cũng có thể kéo dài hơn 5 năm. Như vậy, nếu thuế nhập khẩu được
áp dụng tùy thuộc vào định hướng phát triển kinh tế của nước nhập khẩu theo lộ
trình nhất định đối với từng mặt hàng thì thuế CBPG sẽ chỉ được áp dụng đối
với những hàng hóa BPG trong thời gian đủ để khắc phục thiệt hại mà hành vi
BPG đã gây ra cho ngành sản xuất của nước nhập khẩu. Đây là khác biệt rất lớn
về thời gian áp thuế giữa thuế nhập khẩu và thuế CBPG.
Như vậy, thuế CBPG là một loại thuế bổ sung cho thuế nhập khẩu, được
ban hành bởi nước nhập khẩu để đánh vào hành vi BPG khi hội đủ các điều
kiện luật định. Ngoài các đặc điểm tương tự như thuế nhập khẩu, thuế CBPG
cũng có những đặc điểm đặc thù của một loại thuế phụ trợ.
1.2. Sự cần thiết xây dựng hệ thống pháp luật về thuế chống bán phá giá
Hiện nay, trong khuôn khổ pháp luật thương mại quốc tế, WTO cho
phép các quốc gia sử dụng hai biện pháp là biện pháp về cam kết giá (cam kết
về loại trừ BPG) và biện pháp về thuế CBPG trong quá trình xử lý một vụ kiện
CBPG. Nếu so sánh với biện pháp cam kết về giá thì rõ ràng biện pháp thuế
CBPG sẽ có những ưu điểm nhất định mà cam kết về giá khơng có. Thứ nhất là
biện pháp cam kết về giá không khắc phục được những thiệt hại đã xảy ra trước
đó mà chỉ có thể cam kết để chấm dứt tình trạng BPG trong tương lai. Do đó
khơng phải lúc nào biện pháp này cũng được áp dụng do sự khơng cân bằng về
mặt lợi ích giữa các bên. Thứ hai, biện pháp cam kết về giá chỉ được áp dụng
đối với những doanh nghiệp bị kiện, tức là nó đã có hành vi BPG. Cho nên nó
khơng có sự tác động đối với những sản phẩm có hành vi BPG trong tương lai

của những doanh nghiệp nằm ngoài danh sách cam kết trước đó. Đây là hai
nhược điểm cơ bản của biện pháp cam kết giá mà biện pháp về thuế đương
nhiên khắc phục được. Do vậy mà từ trước tới nay biện pháp thuế CBPG được
các quốc gia sử dụng khá phổ biến trong các vụ kiện BPG. Có thể nói, xuất phát
từ tác động của xu hướng tồn cầu hóa cũng như ngun nhân từ chính bản thân
hành vi BPG, các quốc gia đã nỗ lực xây dựng những văn kiện pháp lý mang
tính chất tồn cầu để tạo cơ sở cho việc đánh thuế CBPG nói riêng, và sử dụng
cơng cụ CBPG nói chung.
1.2.1. Ngun nhân từ xu hướng tồn cầu hóa
Một nền kinh tế tự cung tự cấp sẽ không phải là lựa chọn sáng suốt cho
các quốc gia bởi những hạn chế của nó. Hiện nay trên thế giới đã và đang xuất
hiện một biến tướng của chiến lược “đóng cửa kinh tế”, nghĩa là các quốc gia có
mục tiêu “xây dựng nền kinh tế phát triển chủ yếu theo hướng tự đáp ứng nhu
Trang 12


cầu trong nước, chỉ xuất khẩu sau khi đã thỏa mãn nhu cầu trong nước, đầu tư
nước ngoài bị hạn chế, và nếu cho phép thì chỉ giới hạn ở những lĩnh vực cơng
nghiệp mà trong nước chưa có khả năng sản xuất ra”. Chiến lược này được rất
nhiều quốc gia thực hiện thành công trong thời kỳ đối đầu kinh tế, nhược điểm
của chiến lược này là làm hạn chế khả năng đổi mới cơng nghệ, hàng hóa khơng
được phát huy lợi thế cạnh tranh8. Vì thế cho nên bất kỳ một quốc gia cũng phải
có các chính sách ngoại thương để mở của thị trường nhằm phát huy lợi thế
cạnh tranh, phát triển đất nước. Nhận thức rõ điều này, từ phạm vi song
phương, các quốc gia đã và đang nỗ lực tham gia vào rất nhiều các quan hệ đa
phương nhằm tạo ra cho mình những cơ hội để duy trì và phát triển ở mọi mặt.
Kinh tế được coi là xương sống quan trọng cho sự phát triển của một đất
nước, vì thế các quốc gia ln nỗ lực tìm kiếm những thị trường tiềm năng để
nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế. Ngày nay xu hướng này được
người ta gọi là toàn cầu hóa. “Tồn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các

thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và
trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc
độ văn hóa, kinh tế... trên quy mơ tồn cầu. Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, tồn
cầu hố hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và
tự do hóa thương mại hay “tự do thương mại” nói riêng”9. Tồn cầu hóa, với
tính hai mặt của nó chắc chắn sẽ tạo ra cơ hội và cả những thách thức rất lớn ở
khía cạnh kinh tế đối với mỗi quốc gia. Một mặt, tồn cầu hóa trong thương mại
quốc tế sẽ tạo sự thuận lợi cho việc giao thương hàng hóa xuyên biên giới giữa
các quốc gia bởi xu hướng cắt giảm thuế quan, xóa bỏ hàng rào phi thuế quan.
Đây rõ ràng là thuận lợi rất lớn để việc xuất nhập khẩu hàng hóa được thực
hiện, từ đó sẽ gia tăng tổng kim ngạch xuất khẩu, đem lại nguồn thu cho ngân
sách nhà nước. Mặt khác, toàn cầu hóa sẽ làm mất đi khái niệm nền kinh tế
quốc gia mà nó sẽ chuyển sang khái niệm rộng hơn - nền kinh tế quốc tế. Kết
quả là hàng hóa được đưa vào lưu thơng giữa các nước dễ dàng hơn bởi dần dần
sẽ khơng cịn những rào cản thương mại nữa. Sự đa dạng cả về số lượng và
chủng loại, cùng với sự gia tăng mạnh mẽ về hoạt động nhập khẩu của hàng hóa
nước ngồi sẽ là sự đe dọa lớn đối với các nhà sản xuất trong nước. Khi ấy xuất
hiện nhu cầu bảo hộ của quốc gia cho các ngành sản xuất này.
Trong thương mại quốc tế, một trong ba trụ cột của hệ thống các biện
phòng vệ (trade defences) nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước khỏi sự thâm
nhập hàng hóa của nước khác là biện pháp CBPG. Cho nên việc xây dựng một

8

Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế, NXB Công an nhân dân, Hà
Nội, tr.30.
9
http://vi.wikipedia.org/wiki/To%C3%A0n_c%E1%BA%A7u_h%C3%B3a

Trang 13



hành lang pháp lý để có cơ sở bảo vệ ngành sản xuất trong nước là nhu cầu tất
yếu.
1.2.2. Nguyên nhân từ hành vi bán phá giá
Với bản chất không lành mạnh, hành vi BPG đã gây ra những tác động
tiêu cực đến thương mại quốc tế. Các tác động này có thể kể đến như sau:
Một là: hành vi BPG làm cản trở sự cạnh tranh lành mạnh trong thương
mại quốc tế một cách tự nhiên. Lấy một ví dụ đơn giản: Ba doanh nghiệp A, B,
C cùng sản xuất 1 mặt hàng X, chi phí sản xuất ra mặt hàng này là như nhau và
khi xuất khẩu sang thị trường D họ đều được đối xử như nhau. Nhưng A lại có
hành vi BPG tại D. Lúc này, các khách hàng của B, C sẽ chuyển sang A do giá
thành thấp hơn và chắc chắn B, C sẽ bị thiệt hại. Thay vì có chính sách kinh
doanh lành mạnh để đạt được hiệu quả thì A lại làm ngược lại. Lúc này, các
doanh nghiệp này sẽ phải chịu gánh nặng lớn về trợ giá xuất khẩu10. Dẫn đến B,
C phải cạnh tranh mạnh mẽ hơn với A trong đó có thể kể đến việc hạ giá bán để
dành lại vị thế vì chi phí với hàng hóa đó là không đổi, điều này sẽ gây ảnh
hưởng tiêu cực tới lợi ích của B và C.
Với ví dụ trên, giả sử A có tiềm lực về vốn thì rõ ràng A có khả năng
BPG trong thời gian dài để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh là B, C và các doanh
nghiệp của D nhằm chiếm vị thế độc quyền. Đây là hành vi đáng lên án và
không thể chấp nhận được trong một môi trường cạnh tranh tự do và lành mạnh,
thế nhưng hành vi này đang đặt ra sự đe dọa xảy ra trên thực tế mà thương mại
quốc tế phải thừa nhận và cần có biện pháp phòng ngừa.
Hai là: Hành vi BPG sẽ gây thiệt hại tới các ngành sản xuất nội địa, đặc
biệt là đối với những quốc gia đang phát triển hoặc đang trong q trình chuyển
đổi (Việt Nam là một ví dụ). Bởi vì sức cạnh tranh của họ là khơng thể so sánh
với các nước phát triển nên họ luôn ở thế yếu, khi có một hành vi khơng lành
mạnh tác động với cường độ cao thì chắc chắn thiệt hại đối với những nước này
là rất lớn. Bản thân khái niệm BPG đã chỉ ra rằng tác động lớn nhất của BPG là

việc gây ra tổn thất vật chất cho ngành sản xuất nước nhập khẩu. Với lợi thế về
giá, trước hết các doanh nghiệp nước xuất khẩu có hành vi BPG đã gây thiệt hại
một cách trực tiếp tới ngành sản xuất trong nước, sau đó nó hồn tồn có khả
năng chiếm lĩnh thị trường để giành thế độc quyền như ví dụ nêu trên.
Ba là: hành vi BPG làm giảm sức thu hút đầu tư từ bên ngoài vào các
ngành sản xuất nội địa, lí do vì khơng có bất kỳ một hành vi BPG nào sẽ được
10

Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (2007), Từ điển bách khoa Việt
Nam tập 1, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.176.

Trang 14


phát hiện ngay sau khi nó được thực hiện (phải trải qua ít nhất là q trình điều
tra sơ bộ mới đánh giá được nó có BPG hay khơng), nên trong thời gian ấy
ngành sản xuất nội địa muốn cạnh tranh với hàng BPG, họ sẽ phải giảm giá bán,
khi giá này gần tiến tới giá thành thì đồng nghĩa với việc lợi nhuận thu về sẽ
thấp. Khi đó, các nhà đầu tư sẽ e ngại trong việc lựa chọn thị trường này để đầu
tư vì lợi nhuận thu về là rất thấp11.
Có thể nói, tổn thất do hành vi BPG gây ra được thể hiện trên cả mức độ
vĩ mơ và vi mơ. Trên góc độ vĩ mơ, khi một ngành sản xuất trong nước bị đe
dọa, rõ ràng là khả năng kinh doanh sẽ giảm sút, dẫn tới nguy cơ mất việc làm
do phải cắt giảm nhân công để giảm chi phí. Tình trạng thất nghiệp q nhiều sẽ
gây ảnh hưởng không nhỏ tới xã hội nước nhập khẩu… Khơng chỉ dừng lại ở
đó, nó cịn có thể ảnh hưởng tới các lĩnh vực khác của nền kinh tế, gây hiệu ứng
lan chuyền tiêu cực mà ta có thể dễ dàng suy đốn được. Xét trên góc độ vi mô,
bản thân doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi hành vi BPG sẽ mất vị thế kinh doanh,
mất thị trường, thị phần thậm chí là bị phá sản12.
Khi đã nhận thức được tác hại nghiêm trọng có thể xảy ra đối với nền

kinh tế, kết hợp với bản chất hai mặt của tự do hóa thương mại, các quốc gia,
với nhu cầu bảo hộ đã và đang thực hiện việc xây dựng hệ thống pháp luật
CBPG bên cạnh các biện pháp phòng vệ khác để chống lại khả năng bị đe dọa
tới nền kinh tế nước nhà một cách tốt nhất.
Tóm lại, pháp luật về thuế CBPG được ra đời dựa trên nhu cầu thực tế
của thị trường là nhằm tạo ra cơ chế đối phó với hành vi khơng cơng bằng của
hàng hóa nhập khẩu và hậu quả là nó gây đe dọa, ảnh hưởng tới nền kinh tế
trong nước của nước nhập khẩu. Song, cũng phải thừa nhận rằng để đạt được
mục đích bảo hộ nền sản xuất trong nước thì pháp luật CBPG là cơng cụ hữu
hiệu để thực hiện mục tiêu đó.
1.2.3. Q trình hình thành pháp luật thuế chống bán phá giá quốc tế
Như phân tích trên, vấn đề CBPG đã được các quốc gia nhắc đến như
một phần không thể thiếu trong quan hệ thương mại quốc tế. Tuy nhiên khi xây
dựng GATT 1947 lại chỉ có duy nhất Điều VI quy định khá mơ hồ và chung
chung về vấn đề này. Sự không rõ ràng đó đã làm cho Điều VI khơng được thực
thi nghiêm chỉnh. Theo một tài liệu nghiên cứu cho thấy rằng kể từ khi có hiệu
lực cho tới những năm 60 của thế kỷ XX thì chỉ có duy nhất một lần Điều VI
được áp dụng. Đó là sự kiện Thụy Điển áp thuế CBPG đối với Italia liên quan

11
12

Nguyễn Ngọc Sơn (2010), tlđd, tr.21.
www.kh-sdh.udn.vn/zipfiles/So19/4_chau_leminh.doc

Trang 15


tới mặt hàng sợi tất nylon năm 195513. Điều VI GATT 1947 khơng phá sản
nhưng rõ ràng nó khơng đạt được mục tiêu điều chỉnh và xử lý các hành vi BPG

trong khuôn khổ thương mại quốc tế.
Sự hạn chế trên chính là một trong những vấn đề được các quốc gia quan
tâm trong vòng đàm phán Kenedy. Tại đây, các quốc gia đã cho ra đời Hiệp
định thực hiện Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại, có
hiệu lực từ năm 1968 nhằm cụ thể hóa Điều VI của GATT 1947. Hiệp định này
đã đạt được những 2 thành tựu lớn:
Thứ nhất: hiệp định đã cố gắng đưa ra những quy tắc nhằm hạn chế việc
lạm dụng áp thuế CBPG như một hàng rào phi thuế quan nhằm mục đích bảo
hộ. Chẳng hạn, tại Điều 10 khoản a, hiệp định quy định rằng các biện pháp tạm
thời chỉ được áp dụng sau khi có quyết định sơ bộ là đã xảy ra hành vi BPG và
phải có đủ bằng chứng về thiệt hại14. Mặt khác, hiệp định cũng lập nên một Ủy
ban CBPG họp hàng năm để nghiên cứu, rút kinh nghiệm qua các vụ kiện BPG
nhằm tăng cường mức ổn định của Điều VI GATT.
Thứ hai: Hiệp định đã đưa ra quy tắc bắt buộc các quốc gia thành viên
phải nội luật hóa Hiệp định vào pháp luật quốc gia mình nhằm tạo sự thống nhất
về pháp luật của giữa các nước (Điều 1, Điều 3). Qua đó nó cũng nhằm loại bỏ
khả năng lạm dụng biện pháp CBPG với mục đích bảo hộ ngày càng gia tăng
trong thời kỳ ấy.
Về mặt pháp lý, Hiệp định CBPG trong vịng Kenedy hứa hẹn sự thành
cơng lớn khi đạt được 2 thành tựu kể trên. Tuy nhiên trên thực tế việc nội luật
hóa Hiệp định vào pháp luật trong nước lại trở nên khó khăn bởi nhiều lí do và
việc này làm hạn chế khả năng áp dụng hiệp định vào thực tế. Tại vòng đàm
phán Tokyo, các quốc gia thành viên của GATT lại tiếp tục thảo luận và xây
dựng nên “Hiệp định về việc thực hiện Điều VI của hiệp định chung về thuế
quan và thương mại” ngày 12/4/1979. Hiệp định này có 2 điểm yếu rất lớn là:
hiệp định không bắt buộc các bên tham gia phải tuân thủ; hiệp định chỉ đưa ra
rất ít các tiêu chuẩn để hướng dẫn cơ quan có thẩm quyền áp dụng các quy định
về pháp luật CBPG15.
Một lần nữa hiệp định CBPG lại được sửa đổi tại vòng đàm phán
Uruguay. Vòng đàm phán này mang lại sự thay đổi rất lớn đối với vấn đề BPG

và nó có hiệu lực tới ngày nay. Cụ thể, Hiệp định đã bổ sung các quy định về
13

Raj Bhala (2001), Luật thương mại quốc tế- những vấn đề lý luận và thực tiễn, NBX Tư pháp, Hà
Nội, tr. 622.
14
Raj Bhala, tlđd, tr.629.
15
Raj Bhala, tlđd, tr.630.

Trang 16


việc xác định biên độ phá giá, về việc xác định thiệt hại, chứng cứ… Các thay
đổi này làm cho việc thực thi pháp luật CBPG trở nên ngày càng phổ biến và
nhiều hơn ở hầu hết các quốc gia. Minh chứng cho điều này, tính đến hết năm
2010, sau 15 năm từ khi WTO ra đời và ADA có hiệu lực thì trên thế giới đã có
tới 3853 cuộc điều tra CBPG16.
Tóm lại, vấn đề BPG trong thương mại quốc tế là một hành vi cần phải
xử lý. Về mặt lý luận, các quốc gia đã nỗ lực xây dựng, bổ sung và hồn thiện
một khn khổ pháp lý tối ưu nhất để chống lại hành vi BPG, tạo điều kiện cho
môi trường cạnh tranh lành mạnh được phát huy. Song, mục tiêu bảo hộ của các
quốc gia trong thực thi pháp luật về thuế CBPG là không thể chối cãi, cho nên
việc tạo dựng một chế định pháp lý về CBPG của các quốc gia cũng là để đáp
ứng nhu cầu của thực tiễn.
1.3. Ý nghĩa của bán phá giá và thuế chống bán phá giá
Tồn tại nhiều nguyên nhân dẫn đến BPG như: (i) có sự trợ cấp của Chính
phủ hoặc của cơ quan cơng cộng trong nước nhằm duy trì sản xuất trong nước.
(ii) để thu ngoại tệ khi trong nước đang thiếu hụt, (iii) để giải phóng hàng tồn
kho, khơng cịn được ưa chuộng ở thị trường nước xuất khẩu. Có nhiều động cơ

để các doanh nghiệp thực hiện hành vi BPG như để dành thị phần, chiếm lĩnh
thị trường, để tăng khả năng cạnh tranh hay để thu hút khách hàng sử dụng sản
phẩm mới… Cho dù những nguyên nhân và động cơ này chứng tỏ BPG là hành
vi khơng lành mạnh, song nó cũng vẫn có những lợi ích nhất định đối với nước
nhập khẩu cũng như xuất khẩu. Thuế CBPG - một trong hai hình thức của biện
pháp CBPG, với bản chất là một khoản thuế bổ sung chắc chắn nó cũng mang ý
nghĩa lớn mà chúng ta cần phải bàn tới.
1.3.1. Ý nghĩa của hành vi bán phá giá
Xét trên khía cạnh nước xuất khẩu. Thứ nhất: BPG hàng hóa sẽ là một
yếu tố làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường nhập khẩu cho dù
nó thực hiện với mục đích gì, bởi vì “giá cả hoạt động như một tín hiệu đối với
người sản xuất và tiêu dùng, khi giá cả của hàng hóa hạ xuống sẽ khuyến khích
người tiêu dùng và khơng khuyến khích sản xuất” 17. BPG sẽ giúp cho hàng hóa
được mở rộng thị trường tại nước nhập khẩu, nó được biểu hiện qua sự phổ biến
trong tiêu dùng của khách hàng, nói cách khác là thương hiệu của hàng hóa sẽ
được biết đến nhiều hơn. Thứ hai: Với những doanh nghiệp thực hiện BPG với
16

Nguồn: Trung tâm WTO – Phịng cơng nghiệp thương mại Việt Nam.
http://chongbanphagia.vn/tonghopsolieu/20111022/so-lieu-ve-chong-ban-pha-gia-tren-gioi-theo-vuviec-khoi-xuong-dieu-tra-tinh17
Nguyễn Ngọc Sơn, tlđd, tr.34.

Trang 17


mục đích tối đa hóa lợi nhuận thì ý nghĩa quan trọng của BPG với họ là thu
được nguồn ngoại tệ lớn, nhanh chóng hơn (bằng cách phân chia vùng phân
phối hàng hóa một cách thích hợp nhất, lúc này hàng hóa sẽ được tiêu thụ
nhanh hơn so với việc bán ở nhiều khu vực với một giá bán như nhau). Thứ ba:
Khi hàng hóa tồn kho, khơng cịn phù hợp với xu hướng tiêu dùng trong nước

thì đây là một trong những phương thức giải phóng hàng tồn kho, thu hẹp mức
thiệt hại có thể xảy ra cho doanh nghiệp. Tuy nhiên nó sẽ chỉ có ý nghĩa nếu
như biên độ BPG của nó dưới 2% hoặc khối lượng hàng BPG không đủ lớn để
ảnh hưởng tới ngành sản xuất nước nhập khẩu theo quy định của pháp luật
CBPG. Điều này được giải thích bởi hậu quả của việc bị áp thuế CBPG, các chi
phí cho một vụ kiện BPG và mức thuế bị áp dụng cho doanh nghiệp BPG là cực
kỳ lớn, cho nên việc đánh đổi như thế thì rõ ràng là mạo hiểm và khơng nên
thực hiện vì lợi nhuận thu được từ việc bán hàng tồn kho sẽ khơng thể bù đắp
được những chi phí mà doanh nghiệp này bỏ ra nếu bị điều tra BPG cũng như
khoản thuế mà họ bị áp dụng.
Xét ở khía cạnh nước nhập khẩu, BPG thể hiện ý nghĩa kinh tế đối với
người tiêu dùng trong nước bởi họ được hưởng lợi từ giá bán của sản phẩm.
BPG làm cho người tiêu dùng có cơ hội lựa chọn sản phẩm với các mức giả cả
tốt nhất. Nghiên cứu về “Cơ sở khoa học áp dụng thuế CBPG đối với hàng
nhập khẩu ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Bộ Cơng
thương đã phân tích ý nghĩa kinh tế của hành vi BPG qua đồ thị sau:
S

P

P1

E

A

E
B

C


D

P2
D
Q2’

Q1

Q2

Q

Từ hình này cho thấy thặng dư của người tiêu dùng tăng thêm một lượng
bằng diện tích hình thang ABDE, trong khi đó thặng dư của nhà sản xuất giảm
một lượng bằng hình ABCE. Như vậy việc BPG sẽ gây thiệt hại cho ngành sản

Trang 18


×