Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

Pháp luật về xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.66 MB, 86 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THANH MAI

PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ
CÁC CƠ SỞ GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học:
Ts. Phạm Văn Võ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung tôi viết trong luận văn này là kết quả từ quá
trình nghiên cứu của riêng tôi, cùng với sự hướng dẫn của Tiến sĩ Phạm Văn
Võ. Các kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố
trong bất kỳ cơng trình nào khác.
Những kết luận, nhận định… tham khảo từ các sách báo, tạp chí, tài
liệu, cơng trình nghiên cứu khác… đều được trích dẫn một cách rõ ràng. Tác
giả xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về những ý kiến, đề xuất khoa học của
mình.

Tác giả luận văn


Nguyễn Thị Thanh Mai


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ················································································· 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC CƠ SỞ GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG · 5
1.1
Khái niệm về các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ································ 5
1.1.1 Khái niệm về “ô nhiễm môi trường” ······················································································ 5
1.1.2 Khái niệm về các cơ sở gây ô nhiễm môi trường······························································· 7
1.1.3 Khái niệm về “xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường” ············································12
1.2

Thực trạng các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay ········ 15

1.3
1.3.1
1.3.2
1.3.3
1.3.4

Nguyên tắc xử lý đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ··················· 20
Nguyên tắc phát triển bền vững ································································································20
Nguyên tắc quyền con người được sống trong một môi trường trong lành ··········24
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền ·······································································26
Nguyên tắc môi trường là một thể thống nhất ·····································································29

1.3.5 Nguyên tắc tập trung xử lý đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng. ······························································································································································31
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG XỬ LÝ CÁC CƠ SỞ GÂY Ơ NHIỄM MƠI

TRƯỜNG VÀ HƯỚNG HỒN THIỆN ·················································· 37
2.1 Thực trạng pháp luật về xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ··········· 37
2.1.1 Thực trạng về áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính ······················ 37
2.1.1.1 Hình thức phạt tiền và buộc thực hiện biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải 38
2.1.1.2 Các hình thức xử lý khác theo quy định của pháp luật ··························· 44
2.1.2
2.1.3

Quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự ·········································································53
Các chính sách hỗ trợ ··················································································································56

2.2
2.2.1
2.2.2
2.2.3

Thực trạng pháp luật về xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng 59
Lập danh sách cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ·····································60
Lên kế hoạch xử lý ························································································································61
Thực hiện kế hoạch xử lí ············································································································64

2.3
Giải pháp hồn thiện các quy định về xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường,
cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ············································· 67
2.3.1 Giải pháp hoàn thiện các quy định về xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường ·····67
2.3.1.1 Giải pháp hoàn thiện các quy định về xử phạt vi phạm hành chính ··········· 67


2.3.1.2


Trách nhiệm hình sự································································· 72

2.3.1.3
2.3.2

Hồn thiện quy định về các chính sách hỗ trợ ··································· 74
Giải pháp hồn thiện pháp luật về xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường

nghiêm trọng ···················································································································································75
KẾT LUẬN ······················································································ 78


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước. Tuy
vậy, quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam tồn tại nhiều hạn chế, trong đó đặc
biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường. Thực tế cho thấy rằng, hoạt động của các cơ sở,
đặc biệt là các cơ sở sản xuất kinh doanh đem lại việc làm cho người lao động, tiền
thuế cho địa phương, giúp kinh tế đất nước ngày càng phát triển. Tuy nhiên, hoạt
động của chính các cơ sở này cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường,
ảnh hưởng đến chất lượng sống của người dân, mà những vụ việc gây ô nhiễm của
công ty bột ngọt Vedan, công ty Sonadezi, cơng ty Hào Dương, cơng ty rượu Bình
Tây...là điển hình. Các cơ sở gây ô nhiễm môi trường là nguyên nhân chủ yếu gây
ra tình trạng ơ nhiễm tại các đơ thị, làm ơ nhiễm nguồn nước, đất, khơng khí, gây ra
bụi, khói, tiếng ồn, gây hại mùa màng, làm giảm sút nguồn lợi thuỷ sản, ảnh hưởng
chăn nuôi và gây hại cho sức khoẻ người dân.
Thực tế nhức nhối đó cho thấy vấn đề xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi
trường, đặc biệt là các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đang bộc lộ

nhiều thiếu sót, hạn chế cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện. Từ những yên
cầu thực tế trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Pháp luật về xử lý các cơ sở gây ô
nhiễm môi trường” làm luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, và
thực trạng pháp luật về xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, trên cơ sở đó kiến
nghị những giải pháp tiếp tục hồn thiện pháp luật về xử lý các cơ sở gây ô nhiễm
môi trường ở nước ta hiện nay.
3. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ơ nhiễm mơi trường do các cơ sở sản xuất, kinh doanh hiện đang là nỗi bức
xúc ở nước ta. Do đó, xử lý các cơ sở gây ơ nhiễm mơi trường là địi hỏi bức bách
của nhân dân, là yêu cầu của quá trình phát triển. Trong thời gian qua, đã có nhiều
bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, các báo cáo về xử lý các cơ sở gây ô nhiễm
môi trường hoặc đề cập đến những vấn đề liên quan đến việc xử lý các cơ sở gây ơ
nhiễm mơi trường như:
- Đồn Nguyễn (2005), “Xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm mơi trường
nghiêm trọng cịn đó những thách thức”, Tạp chí Tài ngun và Mơi trường,(9).
- Nguyễn Hưng Thịnh (2007), “Chính sách hỗ trợ di dời địa điểm kinh doanh
do ô nhiễm môi trường”, Tạp chí Bảo vệ môi trường, (12).


2

- Tường Duy Kiên (2010), “Môi trường với quyền con người và vận dụng
quyền con người trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu lập
pháp, (172).
- Lê Thị Kim Oanh (2010), “Bàn về nguyên tắc người gây ơ nhiễm phải trả
tiền trong chính sách mơi trường”, Tạp chí khoa học và cơng nghệ, (439).
Nội dung liên quan đến đề tài này đã được một số tác giả nghiên cứu, thực
hiện trong các khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ. Tuy nhiên, liên quan nhiều

nhất đến đề tài này, có thể kể đến các khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ như:
- Khóa luận tốt nghiệp “Một số vấn đề pháp lý của việc xử lý đối với các cơ
sở gây ô nhiễm tại Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trương Hồng Yến.
- Khóa luận tốt nghiệp “Nguyên tắc kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ
môi trường trong việc xử lý các cơ sở gây ơ nhiễm ở tỉnh Bình Dương” của tác giả
Phạm Thị Thu Trang.
- Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về xử lý các cơ sở kinh doanh gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng” của tác giả Phạm Thanh Tuyền.
- Khóa luận tốt nghiệp: “Khía cạnh pháp lý về việc xử lý triệt để các cơ sở
gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả
Huỳnh Hồng Phương.
- Khóa luận tốt nghiệp “Một số vấn đề pháp lý của việc xử lý đối với cơ sở
gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả
Nguyễn Thị Thảo.
Tuy nhiên, đa phần những cơng trình nghiên cứu này chỉ đề cập việc xử lí cơ
sở gây ơ nhiễm ở một địa phương cụ thể hoặc chỉ đề cập đến việc xử lý các cơ sở
gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, chưa đưa ra những giải pháp, kiến nghị
mang tính khái quát về xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường.
Trên cơ sở tiếp tục kế thừa các kết quả nghiên cứu nói trên, tác giả tiếp tục
tiếp cận thông tin một cách khái quát và khoa học thông qua nhiều bài viết, sách
báo, tạp chí chuyên ngành, các nghiên cứu khoa học, các báo cáo chuyên ngành liên
quan. Qua đó, đưa ra những điểm mới thơng qua việc phân tích sâu hơn về thực
trạng pháp luật hiện hành, đặc biệt là các quy định trong Nghị định 117/2009/NĐCP ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp với thực tiễn.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn có giá trị tham khảo cho các đối tượng muốn quan tâm, tìm hiểu
quy định của pháp luật về xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Những kiến nghị
mà tác giả đưa ra trong luận văn, hi vọng sẽ giúp các cơ quan có thẩm quyền có



3

những giải pháp hữu hiệu trong q trình hồn thiện pháp luật về xử lý các cơ sở
gây ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích khái niệm cơ sở gây ơ nhiễm mơi trường.
Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý các cơ sở gây ơ nhiễm
mơi trường.
Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý các cơ sở gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng.
Đưa ra các kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xử lý các cơ sở
gây ô nhiễm môi trường.
6. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những quy định của pháp luật về môi trường liên
quan đến việc xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường và thực tiễn áp dụng những
quy định này trong thực tế.
7. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp: thu
thập số liệu, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, …
 Tổng quan tài liệu (để thu thập thông tin, số liệu) như: số liệu liên
quan đến các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường (quy mô, số
lượng), các văn bản pháp luật về môi trường, các giải pháp xử lý ơ nhiễm mơi
trường trong và ngồi nước, …
 Khảo sát và điều tra thực địa: nhằm khảo sát, ghi nhận và thu thập bổ
sung thông tin, số liệu liên quan đến đề tài.
 Phương pháp so sánh và đánh giá: các kết quả phân tích sẽ được đánh
giá, so sánh với các số liệu trước đây nhằm đánh giá hiệu quả của các văn bản pháp
luật cũng như các giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường.
 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: các thông tin, số liệu thu thập
được và sau khi phân tích sẽ được thống kê và xử lý, lưu giữ trên máy tính.

8. Phạm vi nghiên cứu
Trong khn khổ của một luận văn cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, đề
tài tập trung nghiên cứu khía cạnh pháp lý của việc xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi
trường ở Việt Nam. Trong phần thực tế áp dụng, chủ yếu tập trung vào việc xử lý
các cơ sở gây ô nhiễm là các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
9. Kết cấu, bố cục
Luận văn gồm 2 chương:
Chương 1. Tổng quan về các cơ sở gây ô nhiễm môi trường


4

Chương 2. Thực trạng xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường và
hướng hoàn thiện.
Do thời gian nghiên cứu viết luận văn tương đối ngắn, cùng với vốn kiến
thức mơi trường cịn hạn hẹp nên khơng thể tránh khỏi những thiếu sót. Mong q
thầy cơ và các bạn góp ý giúp đề tài được hồn thiện tốt hơn.


5

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÁC CƠ SỞ GÂY Ô NHIỄM MƠI TRƯỜNG
1.1
Khái niệm về các cơ sở gây ơ nhiễm môi trường
1.1.1 Khái niệm về “ô nhiễm môi trường”
Theo cách hiểu chung, ô nhiễm môi trường là hiện tượng một chất nào đó có
mặt trong mơi trường với thành phần và lượng chất có khả năng ngăn cản các q
trình tự nhiên vận hành một cách bình thường, làm cho các q trình này xảy ra
theo xu hướng khơng như mong muốn, gây nên những ảnh hưởng có hại đối với sức

khoẻ và sự sinh tồn của con người hoặc của các lồi sinh vật khác sinh sống trong
mơi trường đó.1 Cịn theo cách hiểu thơng dụng của người dân, ô nhiễm môi trường
là hiện tượng mà môi trường xung quanh bị ảnh hưởng bởi các chất thải gây ra
những hậu quả xấu cho con người và các sinh vật khác.
Dưới khía cạnh pháp lý, theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Luật bảo vệ môi
trường năm 2005, “ô nhiễm môi trường” là sự biến đổi của các thành phần môi
trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con
người, sinh vật.” Trong đó, “thành phần môi trường” là yếu tố vật chất tạo thành
mơi trường như đất, nước, khơng khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và
các hình thái vật chất khác. “Tiêu chuẩn môi trường” là giới hạn cho phép của các
thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm
trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản
lý và bảo vệ môi trường2. Như vậy, tiêu chuẩn môi trường là một giới hạn do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra, trong đó, nêu ra các thơng số về chất lượng
mơi trường, hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải.
Như vậy, “ô nhiễm môi trường” theo quy định của Luật bảo vệ mơi trường
chính là sự biến đổi của các yếu tố vật chất (đất, nước, khơng khí…), mà sự biến đổi
này không phù hợp với các tiêu chuẩn mơi trường – chính là những giới hạn cho
phép, có tính chủ quan đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. So với
khái niệm theo nghĩa rộng, khái niệm “Ơ nhiễm mơi trường” theo Luật bảo vệ môi
trường năm 2005 hẹp hơn bởi sự ô nhiễm được căn cứ vào các tiêu chuẩn, mà các
tiêu chuẩn này được cơ quan nhà nước có thẩm quyền – với ý chí chủ quan đặt ra.
Nếu căn cứ theo khái niệm được nêu ra tại Luật bảo vệ môi trường năm 2005 thì
điều này có nghĩa là, một hiện tượng có thể được xem là ơ nhiễm mơi trường ở địa
1

http://bachkhoatoanthu.vass.gov.vn/noidung/tudien/Lists/GiaiNghia/timkiem.aspx?TuKhoa=%C3%B4%20n
hi%E1%BB%85m%20m%C3%B4i%20tr%C6%B0%E1%BB%9Dng&ChuyenNganh=0&DiaLy=0 (Cập
nhật lúc 10h00 ngày 13 tháng 12 năm 2012)
2

Khoản 2, khoản 3 điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005.


6

phương này, quốc gia này nhưng có thể lại được chấp nhận tại địa phương, quốc gia
khác, tùy thuộc vào các tiêu chuẩn cụ thể của từng địa phương, từng quốc gia. Đồng
thời, một hiện tượng có thể được xem là không ô nhiễm môi trường tại thời điểm
này nhưng cũng có thể là ơ nhiễm mơi trường tại thời điểm khác tuỳ thuộc vào tiêu
chuẩn cụ thể mà cơ quan nhà nước ban hành trong từng thời điểm.
Nguyên nhân dẫn đến ơ nhiễm mơi trường chính là sự xuất hiện của các chất
gây ô nhiễm môi trường. Chất gây ô nhiễm, theo khoản 9 Điều 3 của Luật bảo vệ
môi trường 2005 là “chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong mơi trường thì làm
cho mơi trường bị ơ nhiễm”. Các chất này có thể phát sinh trong sinh hoạt, trong
quá trình xử lý, hoặc trong quá trình sản xuất, hoặc trong các hoạt động khác. Chất
gây ô nhiễm có thể tồn tại ở các dạng rắn, ở dạng lỏng, khí hoặc tác nhân vật lý,
sinh học và các dạng năng lượng khác như nhiệt độ, bức xạ, tiếng ồn…Nguồn phát
sinh chất gây ô nhiễm này được gọi là nguồn gây ô nhiễm. Nguồn gây ô nhiễm bao
gồm:
- Nguồn gây ô nhiễm tự nhiên: Đây là nguồn gây ô nhiễm phát sinh từ các
hoạt động của tự nhiên như: gió lốc, bão sa mạc, núi lửa, bức xạ trong hệ mặt trời và
vũ trụ…Ô nhiễm do thiên nhiên tạo ra về khối lượng là rất lớn, song thường phân
bố trong một không gian rộng và khá đồng đều, lại không xảy ra một cách liên tục
và thường nằm trong sự cân bằng động (tự nhiên làm phát sinh chất gây ơ nhiễm
nhưng cũng chính tự nhiên sẽ hấp thụ chúng) nên ít gây nguy hại cho mơi trường.
- Nguồn gây ô nhiễm nhân tạo: Đây là nguồn gây ơ nhiễm chủ yếu hiện nay.
Nó gắn liền với hoạt động của con người. Nguồn ô nhiễm nhân tạo nguy hiểm hơn
nguồn ô nhiễm tự nhiên ở chỗ dễ xảy ra hiện tượng cục bộ với nồng độ cao gây tác
hại nghiêm trọng đến sức khoẻ con người và sự phát triển của sinh vật trong khu
vực. Nguồn gây ô nhiễm này chủ yếu phát sinh từ quá trình sinh hoạt, hoạt động

giao thông vận tải và hoạt động của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, trong đó nguồn
gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất là từ hoạt động của các cơ sở sản xuất kinh doanh.
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh đã thải vào môi trường vô số hợp chất hữu cơ và vô
cơ, thường là những chất có độc tính cao, khó phân huỷ và đơi khi không thể phân
huỷ như: thuỷ ngân, cadimi, asen, vanadi… Ngoài ra các cơ sở kinh doanh này đã
và đang sản sinh ra một số lượng lớn các hợp chất mới chưa được đánh giá một
cách nghiêm túc về khả năng gây ô nhiễm môi trường. Hậu quả là một số lượng lớn
các chất gây ô nhiễm được thải vào mơi trường thiên nhiên và đã góp phần vào việc
làm ô nhiễm hệ sinh thái ở những mức độ khác nhau.
Mơi trường có thể bị ơ nhiễm với nhiều mức độ khác nhau như: ô nhiễm, ô
nhiễm nghiêm trọng, ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng. Mức độ ô nhiễm môi trường


7

đối với thành phần môi trường cụ thể thường được xác định dựa vào mức vượt tiêu
chuẩn chất lượng môi trường của các chất gây ơ nhiễm có trong thành phần mơi
trường đó. Theo pháp luật hiện hành thì thành phần môi trường bị coi là ô nhiễm
khi hàm lượng một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng
của thành phần mơi trường đó; mơi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng khi hàm lượng
của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi
trường từ 3 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác
vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên; môi trường bị ô
nhiễm đặc biệt nghiêm trọng khi hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại
nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên hoặc hàm lượng
của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi
trường từ 10 lần trở lên.3
1.1.2 Khái niệm về các cơ sở gây ô nhiễm môi trường
Theo cách hiểu thông thường, cơ sở gây ô nhiễm môi trường là các cơ sở
trong quá trình hoạt động của mình có những hành vi vi phạm pháp luật, gây ô

nhiễm môi trường sống xung quanh. Đối chiếu với khái niệm “Ơ nhiễm mơi
trường” ở trên, có thể thấy cơ sở gây ơ nhiễm mơi trường chính là cơ sở mà trong
quá trình hoạt động của mình đã gây ra những sự biến đổi thành phần môi trường
trái với các tiêu chuẩn do cơ quan nhà nước đặt ra. Đặc biệt, cần xác định đâu là cơ
sở gây ô nhiễm môi trường và đâu là cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Điều này là rất cần thiết, bởi vì trong thời điểm kinh phí cho việc khắc phục ơ
nhiễm của nước ta cịn thấp, cần phải tập trung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng trước, tránh xử lý dàn trải, hiệu quả không cao. Hiện nay, các
thông tư hướng dẫn của Bộ tài nguyên môi trường đều theo hướng xác định các cơ
sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trước rồi sau đó sử dụng phương pháp loại
trừ để xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường là các cơ sở có 01 (một) thơng số mơi
trường trở lên về nước thải, khí thải, bụi, tiếng ồn, độ rung vượt quy chuẩn kỹ thuật về
môi trường nhưng không thuộc đối tượng được xem là cơ sở gây ô nhiễm mơi trường
nghiêm trọng. Vì vậy, để làm rõ khái niệm cơ sở gây ô nhiễm môi trường, tác giả sẽ tập
trung phân tích các quy định về khái niệm cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Đối với vấn đề này, cần phân tích các tiêu chí để xác định mức độ “gây ô
nhiễm môi trường” của một cơ sở. Theo tác giả, để xem xét mức độ gây ơ nhiễm
mơi trường, nên xem xét ở 02 khía cạnh. Đó là khía cạnh hành vi và khía cạnh hậu
quả. Về hành vi, cơ sở đó phải làm phát sinh chất gây ô nhiễm vào môi trường vượt
quá tiêu chuẩn do cơ quan nhà nước đặt ra, về hậu quả, chất gây ô nhiễm do cơ sở
3

Điều 92 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005


8

phát sinh ra làm cho môi trường bị ô nhiễm4. Đối chiếu trên 02 tiêu chí này, các văn
bản quy phạm hiện tại có nhiều điểm khác nhau. Theo Quyết định số 64/2003/QĐTTg ngày 22 tháng 02 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Kế hoạch
xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng” thì các cơ sở có tên

trong quyết định này là những cơ sở được xem là những điểm nóng, bức xúc nhất
về ơ nhiễm mơi trường. Tuy nhiên, trong Quyết định này khơng đưa ra tiêu chí rõ
ràng nào để xác định thế nào là cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Các cơ
sở này được xác định chủ yếu căn cứ vào tình trạng gây ô nhiễm môi trường của các
cơ sở mà chính quyền địa phương tiến hành kiểm tra, lập danh sách để trình Chính
phủ phê duyệt, dựa vào đó để thống kê, đưa ra các đối tượng được xem là “điểm
nóng, bức xúc nhất” ở những khu đô thị, khu đông dân và những vùng bị ô nhiễm
nặng nề cần được giải quyết ngay và xử lý một cách triệt để. Điều đó cho thấy việc
xác định cơ sở gây ơ nhiễm mơi trường nghiêm trọng theo Quyết định 64/2003/QĐTTg cịn mang tính áp đặt, chủ quan nên chưa tạo được cơ sở pháp lý cho việc xác
định nên gây khó khăn cho quá trình xử lý triệt để cơ sở gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng5.
Còn trong thông tư 07/2007/TT-BTNMT ngày 03 tháng 7 năm 2007 của Bộ
tài nguyên và môi trường về hướng dẫn phân loại và quyết định danh mục cơ sở gây
ô nhiễm môi trường cần phải xử lý đã hết hiệu lực một phần từ ngày 25/06/2012,
Bộ tài nguyên môi trường hướng dẫn phân loại và quyết định danh mục cơ sở gây ô
nhiễm môi trường cần phải xử lý, cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng là cơ
sở thuộc một trong các trường hợp sau đây:
“1.1. Có từ 02 (hai) thơng số ơ nhiễm thông thường vượt tiêu chuẩn Việt
Nam về môi trường cho phép từ 5 (năm) lần trở lên;
1.2. Có từ 02 (hai) thông số ô nhiễm nguy hại vượt tiêu chuẩn Việt Nam
về môi trường cho phép từ 3 (ba) lần trở lên;
1.3. Có 01 (một) thơng số ơ nhiễm thơng thường vượt tiêu chuẩn Việt
Nam về môi trường cho phép từ 05 (năm) lần trở lên và 01 (một) thông số ô nhiễm
nguy hại vượt tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường cho phép từ 03 (ba) lần trở lên;
1.4. Có giá trị trung bình của 02 (hai) thơng số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn
Việt Nam về môi trường cao nhất từ 06 (sáu) lần trở lên;

4

Phạm Thanh Tuyền (2011), Pháp luật về xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, Luận văn thạc

sỹ, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.12
5
Phạm Thanh Tuyền (2011), tlđd, tr.12.


9

1.5. Có từ 02 (hai) thơng số ơ nhiễm vượt tiêu chuẩn Việt Nam về mơi
trường trở lên và có ít nhất 01 (một) thông số ô nhiễm thông thường vượt tiêu chuẩn
Việt Nam về môi trường từ 10 (mười) lần trở lên;
1.6. Có từ 02 (hai) thơng số ơ nhiễm vượt tiêu chuẩn Việt Nam về môi
trường trở lên và có ít nhất 01 (một) thơng số ơ nhiễm nguy hại vượt tiêu chuẩn Việt
Nam về môi trường từ 5 (năm) lần trở lên;
1.7. Có chứa chất phóng xạ gây ơ nhiễm mơi trường vượt mức cho phép;
1.8. Có pH nước thải bằng hoặc nhỏ hơn hai (≤ 2) hoặc lớn hơn mười
hai phẩy năm (> 12,5);
1.9. Có nhiệt độ nước thải lớn hơn 450C
2. Cơ sở gây ô nhiễm môi trường là cơ sở không thuộc một trong các trường
hợp nêu tại Khoản 1 mục này mà có 01 (một) thông số môi trường trở lên về nước
thải, khí thải, tiếng ồn, độ rung vượt tiêu chuẩn Việt Nam về mơi trường”.
Như vậy, tiêu chí phân loại cơ sở gây ô nhiễm và gây ô nhiễm nghiêm trọng
chủ yếu dựa vào hàm lượng hoặc nồng độ chất ô nhiễm, nhưng cịn thiếu xem xét
đến thải lượng ra mơi trường. Điều này dẫn đến nhiều cơ sở có quy mơ rất nhỏ (rất
ít nước thải chất thải, khí thải… ít công nhân) nhưng vẫn không loại trừ khả năng bị
xếp vào cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hoặc ngược lại, nhiều cơ sở
thải lượng chất thải lớn, gây ô nhiễm nghiêm trọng, nhưng khi tiến hành đo đạt thì
thơng số ơ nhiễm lại khơng đủ để xếp vào loại gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng. Về vấn đề này, có quan điểm cho rằng, thơng tư 07/2007/TT-BTNMT chỉ “đề
cập đến khía cạnh hành vi, mà khơng đề cập đến khía cạnh hậu quả” 6 khi đưa ra
khái niệm về các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Tuy vậy, theo quan

điểm của tác giả, thực chất, thông tư 07/2007/TT-BTNMT không đề cập đến các
tiêu chí có liên quan đến khía cạnh hành vi, thể hiện qua việc các tiêu chí nêu trên
khơng hề nhắc đến hành vi của cơ sở gây ô nhiễm môi trường, nghĩa là chỉ xác định
cơ sở đó có các thông số môi trường vượt tiêu chuẩn, mà không đề cập đến yếu tố
“có phải các thơng số này là do cơ sở đó phát sinh ra mơi trường khơng?”. Điều
này cần được tính đến bởi lẽ yếu tố hành vi và hậu quả cần được xem xét dựa trên
mối quan hệ nguyên nhân – kết quả. Hiện nay, tình hình tội phạm mơi trường ngày
càng phức tạp, nhiều cơ sở gây ơ nhiễm sẵn sàng dùng các hình thức xây hệ thống
thoát chất thải ngầm, đấu nối lén để đưa chất ơ nhiễm ra khỏi khu vực mình quản lý.
Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp cùng phát sinh chất gây ô nhiễm thải loại ra một khu
vực như một con sơng, một bãi đất trống thì việc phân định bằng yếu tố hậu quả sẽ
rất khó, lúc này cần ưu tiên đề cập đến yếu tố hành vi của từng cơ sở này.
6

Xem thêm Phạm Thanh Tuyền (2011), tlđd, tr.20


10

Như vậy, các tiêu chí ở trên là khía cạnh hậu quả có thể xác định của các cơ
sở gây ô nhiễm môi trường. Nhưng hậu quả ở đây chỉ được tính dựa vào yếu tố hàm
lượng, nồng độ, nhiệt độ, tức là hậu quả chỉ được xét trên một số tiêu chí, chưa đủ
bao qt. Trong khi đó, thơng tư 04/2012/TT-BTNMT ngày 08 tháng 05 năm 2012
của Bộ tài ngun và mơi trường về quy định tiêu chí xác định cơ sở gây ô nhiễm
môi trường, gây ô nhiễm mơi trường nghiêm trọng có hiệu lực từ ngày 25 tháng 06
năm 2012 vừa đưa ra các nguyên tắc, căn cứ xác định cơ sở gây ô nhiễm môi
trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, vừa nêu cụ thể các tiêu chí để xác
định cơ sở gây ơ nhiễm mơi trường về nước thải, khí thải, bụi, tiếng ồn, độ rung và
chất thải rắn. Cụ thể, khoản 1 Điều 2 Thông tư số 04/2012/TT-BTNMT quy định
“nguyên tắc để xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nghiêm

trọng là phải được tiến hành khách quan, công bằng, đúng pháp luật về các quy
định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường; mức độ vi phạm của các
hành vi gây ô nhiễm môi trường cụ thể, bao gồm:
a) Hành vi xả nước thải, khí thải, bụi vượt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường;
b) Hành vi gây tiếng ồn, độ rung vượt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường;
c) Hành vi chôn lấp, thải vào đất, môi trường nước các chất gây ô nhiễm ở thể
rắn, bùn làm ô nhiễm môi trường đất, nước, khơng khí vượt quy chuẩn kỹ thuật về
mơi trường.”
Như vậy, thông tư 04/2012/TT-BTNMT đã đề cập đến yếu tố hành vi qua
việc xác định “nguyên tắc xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường là ….hành vi xả
nước thải, khí thải, bụi…..hành vi gây tiếng ồn, độ rung….hành vi chơn lấp, thải
….”. Như vậy, trong q trình xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường, trước hết, cơ
sở phải có hành vi xả nước thải, khí thải, bụi, phải có hành vi gây tiếng ồn, độ rung
hay hành vi chôn lấp, thải vào đất, môi trường nước các chất gây ơ nhiễm. Sau đó,
sẽ đề cập đến yếu tố hậu quả
Đối với yếu tố hậu quả, thông tư 04/2012/TT-BTNMT đưa ra các căn cứ xác
định cơ sở gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Các căn cứ
này được phân biệt cụ thể cho từng hành vi gây ơ nhiễm, đó là:
- Đối với hành vi xả nước thải, khí thải, bụi vượt quy chuẩn kỹ thuật về mơi
trường thì mức độ vi phạm được xác định trên cơ sở thải lượng nước thải, lưu lượng
khí thải và số lần vượt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường của các thông số môi
trường đặc trưng có trong nước thải, khí thải, bụi của cơ sở;
- Đối với hành vi gây tiếng ồn, độ rung vượt quy chuẩn kỹ thuật về mơi
trường thì mức độ vi phạm được xác định trên cơ sở số lần vượt quy chuẩn kỹ thuật
về tiếng ồn, độ rung, đối tượng chịu tác động và thời điểm diễn ra hành vi;


11

- Đối với hành vi chôn lấp, thải vào đất, môi trường nước các chất gây ô

nhiễm ở thể rắn, bùn làm ơ nhiễm mơi trường đất, nước khơng khí vượt quy chuẩn
kỹ thuật về mơi trường thì mức độ vi phạm được xác định trên cơ sở số lần vượt
quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng nước mặt, nước ngầm, khơng khí xung quanh và
mơi trường đất của các thông số môi trường do các hành vi này gây ra.7
Như vậy, thông tư số 04/2012/TT-BTNMT đã khắc phục được nhược điểm
của thơng tư số 07/2007/TT-BTNMT. Đó là khi đề cập đến yếu tố hậu quả, đã có sự
bao quát không chỉ nhắc đến hàm lượng, nồng độ chất gây ơ nhiễm mà cịn có sự
phân tích đến lưu lượng, số lượng thải loại ra môi trường. Khác với thông tư
07/2007/TT-BTNMT chỉ đưa ra các tiêu chí chung đối với tất cả các trường hợp gây
ô nhiễm và được thể hiện tập trung thông qua một điều khoản, thông tư
04/2012/TT-BTNMT đã có sự phân biệt đối với từng trường hợp là gây ơ nhiễm
mơi trường về nước thải, khí thải, bụi, tiếng ồn, chất thải rắn theo đó, các điều luật
sau là chi tiết về các trường hợp gây ô nhiễm.
Như vậy, thông tư số 04/2012/TT-BTNMT đã được sửa đổi theo hướng hồn
thiện hơn so với thơng tư cũ. Mặc dù vậy, vẫn có nhiều quan điểm khác nhau đối
với các quy định tại thông tư số 04/2012/TT-BTNMT. Trước hết, có thể thấy rằng,
việc quy định chi tiết đối với từng trường hợp gây ô nhiễm dễ dẫn đến văn bản này
sẽ phải liên tục sửa đổi, bổ sung. Tuy nhiên, ở góc độ văn bản do Bộ tài nguyên và
mơi trường ban hành thì việc sửa đổi, bổ sung để theo kịp với tình hình thực tế của
việc vi phạm mơi trường là phù hợp. Vì vậy, theo tác giả, thơng tư này đã đáp ứng
được địi hỏi từ thực tế.
Bên cạnh đó, khi đề cập đến khái niệm “cơ sở gây ơ nhiễm mơi trường” thì
vấn đề khác cần đặt ra là ngoại diên của khái niệm “cơ sở gây ơ nhiễm mơi
trường”. Một hộ gia đình xả nước bẩn, xả rác sinh hoạt bừa bãi, một bệnh viện xử
lý rác y tế không đúng tiêu chuẩn, một doanh nghiệp xả nước thải chưa qua xử lý ra
môi trường….có cần xem xét như một “cơ sở gây ơ nhiễm môi trường” theo quy
định của pháp luật. Nếu đối chiếu với điều 49 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, ta
thấy rằng luật chỉ đề cập đến việc xử lý đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ gây ơ nhiễm mơi trường. Trong đó, cơ sở bao gồm các tổ chức, cá nhân tham gia
quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Trong khi đó, tại quyết định số

64/2003/TTg có đoạn “Tập trung xử lý triệt để 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng trong tổng số 4.295 cơ sở gây ô niễm được rà soát, thống kê đến năm
2002, gồm: 284 cơ sở sản xuất kinh doanh, 52 bãi rác, 84 bệnh viện, 15 kho thuốc
7

Xem khoản 1, khoản 2 Điều 2 Thông tư 04/2012/TT-BTNMT về quy định tiêu chí xác định cơ sở gây ô
nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.


12

bảo vệ thực vật, 03 khu tồn lưu chất độc hóa học và 01 kho bom do chiến tranh”.
Văn bản này sử dụng biện pháp liệt kê, nêu rõ đây là các cơ sở đã được rà soát,
thống kê đến năm 2002. Theo đó, “cơ sở” bao gồm: cơ sở sản xuất kinh doanh, bãi
rác, bệnh viện, kho thuốc bảo vệ thực vật, khu tồn lưu chất độc hóa học, kho bom
do chiến tranh. Trong đó, một số cơ sở như bãi rác, bệnh viện, khu tồn lưu chất độc
hoá học…không phải là cơ sở sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, tháng 05 năm
2012, Bộ tài ngun mơi trường ban hành Thông tư số 04/2012/TT-BTNMT, tại
khoản 2 điều 1 về đối tượng áp dụng của thơng tư chỉ cịn giới hạn “các cơ sở sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ” và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Như vậy, điều này
cho thấy rằng, Luật bảo vệ môi trường năm 2005 chỉ mới đề cập đến việc xử lý các
cơ sở gây ô nhiễm môi trường là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Còn các cơ sở khác như: các cơ sở cơng ích, các khu vực bị ơ nhiễm...v...v thì Luật
bảo vệ mơi trường 2005 khơng có điều khoản cụ thể quy định về cách thức xử lý mà
việc xử lý phụ thuộc vào các văn bản dưới luật khác. Cũng theo các quy định hiện
nay, có thể thấy rằng, khi đề cập đến các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ta sẽ không
đề cập đến các cá nhân nhỏ lẻ, các hộ gia đình, hay nói cách khác cơ sở gây ơ nhiễm
phải là những pháp nhân hoặc những tổ chức cụ thể.
Theo tác giả, thông thường, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thường
là đối tượng chính gây ra ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng, các

cơ sở khác như: các cơ sở hoạt động cơng ích, khu chứa chất độc… với những hoạt
động khác cũng có thể là tác nhân chính gây ra ơ nhiễm mơi trường, thậm chí là ơ
nhiễm mơi trường nghiêm trọng. Vì vậy, khái niệm “cơ sở” cần phải hiểu là không
chỉ bao gồm các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mà còn là bất kỳ một tổ chức,
pháp nhân nào có hoạt động gây ơ nhiễm mơi trường. Cũng từ đó, q trình soạn
thảo quy phạm pháp luật, điều hành, xử lý các cơ sở này sẽ được phân thành 02 đối
tượng: đối tượng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các đối tượng khác. Trong phạm
vi đề tài này, tác giả chỉ đề cập đến việc xử lý các cơ sở là cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường (dưới đây gọi tắt là “cơ sở gây ô nhiễm môi
trường”).
1.1.3 Khái niệm về “xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường”
Cần phải khẳng định rằng, “xử lý” không chỉ là xử phạt vi phạm hành
chính. “Xử lý” nghĩa là xem xét, giải quyết đối với những vấn đề có khiếm khuyết,
sai phạm8. Để giải quyết những vấn đề có khiếm khuyết, sai phạm thì cần sử dụng
nhiều biện pháp kết hợp, trong đó, chủ yếu là xử phạt vi phạm hành chính. Bản chất
của hoạt động xử lý là áp dụng một số loại biện pháp có tính chất cưỡng chế do
8

Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển tiếng Việt tập 4, Nhà xuất bản từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.1642.


13

pháp luật quy định. Cưỡng chế được xác định là biện pháp có tính chất bắt buộc thi
hành của nhà nước do cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định áp dụng theo
thủ tục nhất định đối với các cơ sở gây ơ nhiễm mơi trường với mục đích ngăn
chặn, phịng ngừa hành vi gây ơ nhiễm mơi trường. Như vậy, trong quá trình xử lý
các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, để thể hiện tính cưỡng chế, có thể sử dụng các
biện pháp xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp xử lý hành chính khác, thậm
chí là áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật hình sự. Như vậy, xử lý là khái

niệm rộng, bao trùm, trong đó xử phạt vi phạm hành chính là một nhánh trong khái
niệm xử lý.
Tuy nhiên, trọng tâm của việc xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường vẫn là
sử dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính. Các biện pháp xử phạt vi phạm
hành chính bao gồm các chế tài thơng thường, áp dụng đối với chủ thể là các cơ sở
gây ơ nhiễm mơi trường có hành vi vi phạm, bao gồm hình thức xử phạt chính
(cảnh cáo, phạt tiền), hình thức phạt bổ sung (tước quyền sử dụng giấy phép, chứng
chỉ hành nghề, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính) và các biện pháp
khắc phục hậu quả vi phạm hành chính. Ngồi ra, cịn có thể áp dụng các biện pháp
xử lý hành chính khác là những biện pháp hành chính có tính đặc thù và tính cưỡng
chế cao hơn các hình thức xử phạt hành chính thơng thường, chỉ áp dụng đối với
các cơ sở gây ô nhiễm môi trường đặc thù mà Nghị định 117/2009/NĐ-CP đã xác
định ở điều 4 đó là các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng.
Trong quá trình xem xét khái niệm “xử lý”, tác giả cho rằng khái niệm này
có tính chất ép buộc, cưỡng chế, thể hiện quan điểm của một bên mang quyền lực
hành chính nhà nước, ở đây là đến từ phía các cơ quan quản lý nhà nước. Vì vậy,
đối với việc xử lý các cơ sở gây ô nhiễm mơi trường, cần phân tích quan điểm xử lý
của cơ quan nhà nước đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Quan điểm này
được thể hiện qua các quy định thể hiện tính áp đặt, cưỡng chế như: xử phạt vi
phạm hành chính, xử lý hình sự và các chính sách ưu đãi đến từ nhà nước nhằm hỗ
trợ cho các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Khái niệm “xử lý” các cơ sở gây ô
nhiễm môi trường sẽ không bao gồm việc xem xét các quy định về bồi thường thiệt
hại bởi vấn đề này thuộc mối quan hệ dân sự giữa những cơ sở gây ô nhiễm môi
trường và những người bị thiệt hại bởi hành vi gây ơ nhiễm. Các chính sách ưu đãi
cũng được đề cập ở đây mặc dù các chính sách ưu đãi khơng có tính chất cưỡng chế
bởi vì đây là đặc thù của lĩnh vực xử lý ô nhiễm mơi trường. Trên thực tế, các chính
sách hỗ trợ đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường chủ yếu được đưa ra nhằm
giúp cho việc áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính hiệu quả và nhanh chóng



14

hơn như các chính sách để hỗ trợ di dời, để chuyển đổi công nghệ, hỗ trợ khoa học
công nghệ để khắc phục ơ nhiễm…Đồng thời, bản thân các chính sách hỗ trợ này
đến từ ý chí chủ quan của nhà nước, chính quyền địa phương, thể hiện tính quyền
lực của nhà nước. Các chính sách chỉ áp dụng cho các cơ sở nhất định như các cơ sở
gây ô nhiễm phải di dời, các cơ sở chuyển đổi công nghệ phù hợp môi trường để
khắc phục hậu quả ô nhiễm….và phải tuân theo các trình tự, thủ tục nhất định để
được hưởng hỗ trợ. Chính vì vậy, tác giả cho rằng, việc xem xét các chính sách hỗ
trợ trong q trình xử lý các cơ sở gây ơ nhiễm môi trường bên cạnh xem xét các
biện pháp xử phạt hành chính, xử lý vi phạm hình sự là phù hợp thực tế và cần thiết.
Nếu đối chiếu với quyết định 64/2003/QĐ-TTg sẽ thấy lập luận trên là phù
hợp. Theo quyết định 64/2003/QĐ-TTg để thực hiện việc xử lý thì cần sử dụng
nhiều biện pháp như: đổi mới công nghệ, miễn giảm thuế, cưỡng chế hành chính, đa
dạng hố nguồn vốn đầu tư….Như vậy, xử lý trong trường hợp này khơng chỉ bao
gồm việc xử phạt mà cịn bao gồm việc xem xét, giải quyết những vấn đề xoay
quanh một cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Những vấn đề đó có thể là xử lý nguồn
gây ơ nhiễm, vấn đề kinh phí cho việc xử lý, vấn đề quyền và lợi ích hợp pháp của
người lao động…Mục đích của việc xử lý này là để các cơ sở gây ô nhiễm môi
trường không tiếp tục gây ô nhiễm nữa, và khắc phục một phần những hậu quả do
việc gây ô nhiễm tạo ra. Các biện pháp xử lý sẽ bao gồm:
* Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính
- Phạt tiền và buộc khắc phục tình trạng ơ nhiễm
- Tạm thời đình chỉ hoạt động
- Buộc di dời
- Đình chỉ hoạt động
- Các hình thức cưỡng chế khác.
* Các biện pháp truy cứu trách nhiệm hình sự
* Các chính sách hỗ trợ

Như vậy, pháp luật đã quy định tương đối rõ ràng, cụ thể về khái niệm “ô
nhiễm môi trường”, “cơ sở gây ô nhiễm môi trường” hay “xử lý cơ sở gây ô nhiễm
môi trường”. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ sự khác biệt giữa các cơ sở gây ô
nhiễm là các cơ sở sản xuất, kinh doanh và các cơ sở cơng ích để từ đó có thể đưa ra
những giải pháp xử lý cụ thể và hiệu quả cho từng nhóm đối tượng. Bên cạnh đó,
việc làm rõ khái niệm xử lý cũng sẽ góp phần hiệu quả cho việc hoạch định chính
sách, tập trung nhân lực để điều chỉnh hoặc áp dụng các biện pháp xử lý ngày càng
hiệu quả hơn nữa.


15

Thực trạng các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay
Thực tế cho thấy rằng, tình trạng ô nhiễm môi trường đã trở thành một vấn
đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Vấn đề này ngày càng trầm trọng,
đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các
thế hệ hiện tại và tương lai. Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ
đẩy mạnh cơng nghiệp hố và hiện đại hố hiện nay chính là địi hỏi cấp thiết đối
với các cấp quản lí. Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung
ưu tiên phát triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát
triển kinh tế với bảo vệ mơi trường chưa chú trọng đúng mức. Tình trạng tách rời
công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến ở
nhiều ngành, nhiều địa phương, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra
phổ biến và ngày càng nghiêm trọng. Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là
hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu, cụm công nghiệp. Theo Báo cáo
giám sát của Uỷ ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, tỷ lệ các
khu cơng nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung ở một số địa phương rất
thấp, có nơi chỉ đạt 15 – 20%, như Bà Rịa – Vũng Tàu, Vĩnh Phúc. Một số khu có
xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng hầu như khơng vận hành để
giảm chi phí. Đến tháng 09/2011, mới có 107 khu có trạm xử lý nước thải tập

trung, chiếm khoảng 62% số khu công nghiệp đang hoạt động; 34 khu khác đang
xây dựng trạm xử lý. Vẫn cịn nhiều khu cơng nghiệp xả thải thẳng vào mơi trường
khơng qua xử lý9. ... Có nơi, hoạt động của các nhà máy trong khu công nghiệp đã
phá vỡ hệ thống thuỷ lợi, tạo ra những cánh đồng hạn hán, ngập úng và ô nhiễm
nguồn nước tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp của bà con nơng
dân. Bên cạnh đó, các khu – cụm cơng nghiệp cũng là nơi phát sinh các chất gây ô
nhiễm như Cacbon monoxit (CO), chất làm lạnh Sunfua dioxit (SO2), nito dioxit
(NO2), khí cacbon dioxit (CO2)…
Nhìn chung, hầu hết các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước chưa đáp
ứng được những tiêu chuẩn về môi trường theo quy định. Thực trạng đó làm cho
mơi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng. Cộng đồng dân
cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các khu công nghiệp, đang phải đối
mặt với thảm hoạ về mơi trường. Họ phải sống chung với khói bụi, uống nước từ
nguồn ô nhiễm chất thải công nghiệp...Từ đó, gây bất bình, dẫn đến những phản
ứng, đấu tranh quyết liệt của người dân đối với những hoạt động gây ơ nhiễm mơi
trường, có khi bùng phát thành các xung đột xã hội gay gắt.

1.2

9

Nguyễn Bình Giang (2012), Tác động xã hội vùng của các khu công nghiệp ở Việt Nam, Nhà xuất bản khoa
học xã hội Hà Nội, Hà Nội, tr.106-107.


16

Trong khi đó, các doanh nghiệp ngồi khu cơng nghiệp, cụm công nghiệp
nằm rải rác trong các khu dân cư, phân tán trên các vùng miền của cả nước với các
lĩnh vực hoạt động chính như khai thác khống sản, luyện kim, đóng tàu, chế biến

hố chất, xi măng, chế biến thực phẩm. Hầu như chưa có khảo sát lớn nào về mức
độ gây ô nhiễm do các doanh nghiệp nằm ngồi khu cơng nghiệp, cụm cơng nghiệp
gây ra, mặc dù nhiều doanh nghiệp trong số này là các doanh nghiệp lớn, nhưng sử
dụng các thiết bị, công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng lên các
khu dân cư xung quanh doanh nghiệp. Đặc biệt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
chiếm hơn 90% số lượng cơ sở sản xuất, kinh doanh và thu hút 77% số lượng lao
động phi nông nghiệp, nằm rải rác trong các khu đơng dân cư, thực tế rất khó kiểm
sốt về mức độ gây ơ nhiễm ra mơi trường10.
Ngồi các cơ sở sản xuất, kinh doanh, thì các làng nghề cũng góp phần gây
ra tình trạng ơ nhiễm mơi trường nghiêm trọng. Theo khảo sát mới đây của Viện
Khoa học và Công nghệ môi trường - Đại học Bách khoa Hà Nội cho thấy, 100%
mẫu nước thải ở các làng nghề có thông số vượt quá tiêu chuẩn cho phép, nguồn
nước mặt và nước ngầm ở những nơi này đều có dấu hiệu ô nhiễm. Người dân ở
các làng nghề thường mắc các loại bệnh về đường hơ hấp, ngồi da, khơ
mắt…chiếm đến trên 60 - 70%. Tổng cục Môi trường, Bộ tài nguyên và Môi
trường cho rằng, mật độ dân cư đông đúc, các xưởng sản xuất xen lẫn với khu dân
cư nên các làng nghề rất khó bố trí mặt bằng xử lý chất thải. Mặt khác, một số khâu
trung gian điều tiết chất thải như ao hồ, sơng ngịi bị san lấp làm diện tích ở, số
lượng ao hồ có xu hướng giảm dần nên quá tải, dẫn đến nước thải ứ đọng, tràn cả
ra khu dân cư; tình trạng này đã khiến cho ô nhiễm ngày càng trầm trọng. Bên cạnh
đó, cơng nghệ và quy trình sản xuất thô sơ lạc hậu cũng là nguyên nhân dẫn đến ô
nhiễm. Ví dụ tại làng nghề tái chế nhựa thôn Đông Mẫu, xã Yên Đồng (Yên Lạc –
Vĩnh Phúc), xã có 83 hộ đầu tư mua máy tái chế nhựa. Ước tính, mỗi hộ tái chế
nhựa xả ra mơi trường từ 3 – 5m3 nước thải/ngày, toàn bộ số nước thải này được
đổ trực tiếp ra các ao hồ, kênh mương, sông. Qua kiểm tra hệ thống nước tại các
ao, hồ thấy, các chỉ tiêu như BOD, COD, tổng nitơ, tổng phốtpho và các vi sinh vật
đều vượt quá quy định cho phép từ vài lần đến vài chục lần11.
Việc nở rộ các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong và ngồi các khu cụm cơng
nghiệp đã giúp nền kinh tế ngày càng phát triển, tuy nhiên, bên cạnh đó, tỉ lệ chất
thải rắn thải loại ra môi trường cũng ngày càng tăng lên. Việc thải bỏ bừa bãi và

10

Bộ tài nguyên và môi trường (2010), Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010 – Tổng quan môi trường Việt
Nam, Hà Nội, tr.15.
11
http://www.tainguyenmoitruong.com.vn/moi-truong-cua-ban/lang-nghe--thu-pham-va-nan-nhan-o-nhiemmoi-truong-o-viet-nam.html (truy cập lúc 14h00 ngày 12 tháng 06 năm 2013).


17

quản lý lỏng lẻo chất thải rắn (bao gồm chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công
nghiệp, chất thải rắn y tế…) đã gây ra nhiều hậu quả xấu đối với môi trường và sức
khoẻ của con người. Trên phạm vi toàn quốc từ năm 2003 đến năm 2008, lượng
chất thải rắn phát sinh tăng từ 150 – 200%. Dự báo của Bộ xây dựng và Bộ tài
nguyên môi trường, đến năm 2015, khối lượng chất thải rắn phát sinh ước tính
khoảng 44 triệu tấn/năm12.
Cũng chính sức ép từ phát triển kinh tế và việc xử lý chất ô nhiễm cịn khó
khăn, do đó, nhiều cơ sở đã có những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ mơi
trường. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2011, Cảnh sát môi trường phát hiện gần
2.962 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, chuyển cơ quan Cảnh sát điều
tra khởi tố 86 vụ án, 103 đối tượng, phạt tiền 43 tỷ 259 triệu đồng.13 Đặc biệt, theo
nhận định của Cục Cảnh sát môi trường, không chỉ những doanh nghiệp nhỏ mà
ngay cả nhiều công ty, khu công nghiệp, tập đồn kinh tế lớn cũng khơng coi trọng
bảo vệ mơi trường, cịn lỏng lẻo trong việc quản lý, xử lý chất thải độc hại.
Trước tình trạng các cơ sở kinh doanh gây ô nhiễm môi trường ngày một bức
xúc và nghiêm trọng hơn, Nhà nước và Chính quyền các cấp đã xây dựng nhiền
biện pháp, chủ trương, kế hoạch trong việc xử lý các cơ sở gây ô nhiễm mơi trường
nhằm hạn chế, kiểm sốt và khắc phục ô nhiễm như:
+ Hướng dẫn các cơ sở lập kế hoạch giảm thiểu và xử lý ô nhiễm môi
trường; xây dựng dự án đầu tư hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường; lựa chọn đơn vị

tư vấn lập dự án đầu tư; đăng ký tiến độ hoàn thành; phổ biến công nghệ phù hợp;
lập hồ sơ chứng nhận cơ sở đã hoàn thành việc thực hiện các biện pháp xử lý ô
nhiễm môi trường triệt để. Đi đầu là các địa phương như: Phú Yên, Đồng Nai, Đồng
Tháp và tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận, Tiền Giang, Gia Lai14.
+ Thanh tra, kiểm tra, giám sát các cơ sở thực hiện biện pháp xử lý gây ơ
nhiễm. Tính đến năm 2006, Bộ tài nguyên và môi trường đã lập 10 Đoàn thanh tra,
kiểm tra liên ngành kiểm tra, giám sát 150 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng. Chỉ tính riêng Thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2004 đến năm 2006 đã triển
khai 22 Đoàn thanh tra 346 cơ sở gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố và
đã xử phạt hành chính với số tiền lên tới 2,5 tỷ đồng. Trong năm 2011, ngành môi
trường đã tổ chức 5 cuộc thanh tra, kiểm tra trên địa bàn 32 tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương với 375 cơ sở và khu công nghiệp; kiểm tra trách nhiệm quản lý

12

Bộ tài nguyên và môi trường (2011), Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011 – Chất thải rắn, Hà Nội, tr.8.
http://antg.cand.com.vn/vi-VN/sukien/2011/9/76135.cand (cập nhật lúc 13h00 ngày 18/12/2012).
14
Phạm Thanh Tuyền (2011), tlđd, tr.23-24.
13


18

nhà nước của 32 Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Qua quá
trình kiểm tra, thanh tra đã lập biên bản 154/375 cơ sở vi phạm, xử phạt với tổng số
tiền là 19.405 tỷ đồng15.
+ Triển khai thực hiện chương trình di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi
trường vào các khu công nghiệp tập trung và vùng lân cận. Đây là một chủ trương
lớn của Nhà nước ta, các chính quyền địa phương cũng đặc biệt quan tâm chỉ đạo và

tổ chức thực hiện. Mục tiêu của Chương trình là nhằm giải quyết một cách triệt để
tình trạng ơ nhiễm mơi trường do hoạt động sản xuất công nghiệp gây ra trong thời
gian qua, đồng thời với việc đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất
tại các doanh nghiệp, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, chỉnh trang đô thị.
+ Ban hành cơ chế chính sách, chủ trương nhằm hỗ trợ các địa phương
xây dựng các dự án xử lý ô nhiễm triệt để khắc phục và xử lý ô nhiễm một cách có
hệ thống hơn và mang tầm vĩ mơ cấp nhà nước. Theo hướng dẫn của Cục bảo vệ
môi trường, các Sở tài ngun và mơi trường đã tích cực hướng dẫn phối hợp với
các đơn vị có liên quan xây dựng các dự án xử lý ô nhiễm mơi trường triệt để.
+ Khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh chuyển giao công nghệ từ
thủ công, cũ kỹ, lạc hậu sang cơng nghiệp máy móc, tiên tiến, hiện đại nhằm bớt xả
thải môi trường, khắc phục được tình trạng ơ nhiễm mơi trường. Đây cũng là một
chủ trương lớn, có tính thực tiễn của nhà nước ta hiện nay. Một số địa phương đã
chủ động hỗ trợ các cơ sở chuyển giao công nghệ mới nhằm giảm thiểu ơ nhiễm
mơi trường. Điển hình như Sở tài ngun và môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã
phối hợp với Đại học Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng một số mơ hình xử lý ơ
nhiễm với chi phí thấp, đặc biệt tập trung trong lĩnh vực chế biến thuỷ sản. Kết quả
là trong 2 năm thì trong 10 cơ sở phải xử lý ô nhiễm của địa phương đã có 3 cơ sở
đầu tư hồn chỉnh các biện pháp xử lý ô nhiễm, 3 cơ sở đang triển khai, cịn lại 3 cơ
sở đang có kế hoạch di dời16.
Tuy nhiên, việc thực thi các chính sách, chủ trương nêu trên vẫn cịn những
hạn chế, khó khăn, cụ thể như: Hệ thống các văn bản pháp luật trên lĩnh vực bảo vệ
mơi trường vẫn cịn chưa hồn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định
khơng cao, tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung

15

Tổng cục môi trường (2012), “10 sự kiện hoạt động môi trường năm 2012”, Tạp chí Mơi trường, (1), tr.7.
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2011), Nâng cao hiệu lực quản lý nhà
nước về môi trường, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tr.84.

16


19

là khá phổ biến, ví dụ Nghị định 117/2009/NĐ-CP mặc dù mới ban hành nhưng đã
xuất hiện những bất cập và phát sinh các ý kiến đề nghị sửa đổi, bổ sung.
Thứ hai, quyền hạn pháp lí của các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là của
lực lượng Cảnh sát môi trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả hoạt
động nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật
về bảo vệ mơi trường. Hầu như chưa có trường hợp gây ơ nhiễm mơi trường nào bị
xử lý hình sự; còn các biện pháp xử lý khác như buộc phải di dời ra khỏi khu vực
gây ơ nhiễm, đóng cử và đình chỉ hoạt động của các cơ sở gây ơ nhiễm mơi trường
thì cịn phụ thuộc nhiều vào chính sách của từng địa phương.
Thứ ba, các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức
đối với công tác bảo vệ môi trường, dẫn đến bng lỏng quản lí, thiếu trách nhiệm
trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường. Đồng thời, công tác tuyên truyền, giáo
dục về bảo vệ môi trường trong xã hội còn hạn chế, dẫn đến chưa phát huy được ý
thức tự giác, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng trong việc tham gia
gìn giữ và bảo vệ mơi trường.
Thứ tư, trình độ chun mơn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách
công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế; phương tiện kỹ thuật phục vụ cơng tác
kiểm tra chưa đáp ứng được địi hỏi của thực tiễn. Do đó, trong nhiều trường hợp,
đồn kiểm tra không thể phát hiện được những thủ đoạn tinh vi của cơ sở thải các
chất gây ô nhiễm ra môi trường.
Trước thực trạng đáng báo động do các cơ sở gây ô nhiễm môi trường gây
ra, việc xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường là vô cùng cần thiết. Trước
hết, xử lý các cơ sở gây ơ nhiễm chính là xử lý nguồn gây ơ nhiễm, kịp thời chấm
dứt hành vi vi phạm pháp luật, gây ơ nhiễm mơi trường. Bên cạnh đó, việc xử lý các
cơ sở gây ô nhiễm môi trường giúp hạn chế những xung đột giữa người dân và các

cơ sở gây ơ nhiễm, qua đó ổn định tình hình chính trị - xã hội ở các địa phương.
Việc xử lý các cơ sở gây ơ nhiễm mơi trường chính là một trong những hành động
quan trọng để đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc quyền con người được sống trong
một môi trường trong lành mà Việt Nam đã thừa nhận khi ký kết Tuyên bố
Stockholm năm 1972. Trên bình diện lớn hơn, việc xử lý các cơ sở gây ô nhiễm mơi
trường chính là đảm bảo sự cơng bằng, tính pháp chế trong một xã hội văn minh, ở
đó, những cá nhân, tổ chức tuân thủ pháp luật, thực hiện việc khai thác, sử dụng môi
trường sống đúng theo pháp luật được bảo vệ và những hành vi khai thác môi
trường trái phép bị xử lý.


20

Nguyên tắc xử lý đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường
Trước những hậu quả nặng nề mà tình trạng ơ nhiễm mơi trường do các cơ
sở gây ra, nhà nước ta đã đề ra các biện pháp nhằm xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi
trường. Việc xử lý được xây dựng trên nền tảng các ngun tắc nhất định. Đây
chính là những ngun tắc có tính định hướng quan trọng cho q trình soạn thảo và
thực thi các quy định về xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Trong phạm vi
luận văn, tác giả sẽ tập trung phân tích các nguyên tắc có nhiều ảnh hưởng đến q
trình xử lý các cơ sở gây ơ nhiễm mơi trường nghiêm trọng, đó là: nguyên tắc phát
triển bền vững, nguyên tắc quyền con người được sống trong một môi trường trong
lành, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, nguyên tắc môi trường là một thể
thống nhất và nguyên tắc tập trung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng.
1.3

1.3.1 Nguyên tắc phát triển bền vững
Về khái niệm “phát triển bền vững”, năm 1987, Uỷ ban Môi trường và Phát
triển của Liên Hợp Quốc đã đưa ra khái niệm đó là: "Phát triển bền vững là sự phát

triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự
thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai"17. Tiếp thu quan điểm này và giải thích
rõ hơn, khoản 4 điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 nêu khái niệm phát triển
bền vững như sau: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế
hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ
tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm
tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Nguyên tắc này được xác lập trên cơ sở mối
quan hệ tương tác giữa môi trường và sự phát triển. Phát triển kinh tế - xã hội là quá
trình con người khai thác tự nhiên, môi trường sống để sản xuất ra của cải, vật chất,
cải tiến quan hệ xã hội, nâng chất lượng văn hoá, tạo dựng một cuộc sống tốt đẹp
hơn cho mình. Trong khái niệm phát triển truyền thống, mục tiêu phát triển kinh tế
và bảo vệ môi trường dường như là phủ định lẫn nhau, bởi vì việc phát triển kinh tế
ln địi hỏi con người phải khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Tuy vậy,
xét về lâu dài, sự phát triển kinh tế mà chỉ tập trung vào khai thác và sử dụng tự
nhiên sẽ dẫn đến sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, tàn phá các nguồn lợi mà tài
nguyên đem lại. Ngược lại, nếu biết sử dụng sự phát triển của kinh tế để bảo vệ mơi
trường thì tài ngun thiên nhiên khơng những khơng bị phá huỷ mà cịn ngày càng
được phát triển hơn. Từ đó, tiếp tục trở thành đối tượng dồi dào, nguồn lực mạnh
mẽ cho sự phát triển kinh tế, phục vụ cho đời sống của con người. Nếu phân tích kỹ
17

Trương Quang Học, Phạm Thị Minh Thư, Võ Thanh Sơn (2006), Phát triển bền vững - Lý thuyết và khái
niệm, Bài giảng hệ cao học -Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và môi trường, Hà Nội, tr.6.


21

hơn thì giữa phát triển truyền thống và phát triển bền vững có hàng loạt điểm khác
biệt có tính ngun tắc như sau18:
Tiêu chí


Từ phát triển

Đến phát triển bền vững

Trụ cột

Kinh tế (xã hội)

Hài hoà kinh tế - xã hội –
mơi trường

Trung tâm

Của cải vật chất/hàng hố

Con người

Điều kiện cơ bản

Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên con người

Chủ thể quản lý

Một chủ thể (nhà nước)

Nhiều chủ thể


Quan
nhiên

hệ

với

tự Khai thác/cải tạo tự nhiên

Bảo tồn/sử dụng hợp lý tự
nhiên

Giới

Nam quyền

Bình đẳng nam, nữ

Tính chất

Kinh tế truyền thống

Kinh tế tri thức

Cách tiếp cận

Đơn ngành/liên ngành thấp

Liên ngành cao


Như vậy, để hướng đến sự phát triển bền vững, nhà nước cần phải vừa khai
thác tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho sự phát triển kinh tế, vừa phải đảm bảo
môi trường sống trong lành để phát triển xã hội và vừa bảo vệ môi trường để tài
nguyên thiên nhiên được bảo tồn và sử dụng hợp lý, nghĩa là phải đảm bảo sự hài
hoà giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Như vậy, việc thiếu kiên quyết
trong xử lý các cơ sở gây ơ nhiễm chính là thiếu kiên quyết trong việc bảo đảm môi
trường sống trong lành, đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc phát triển bền vững.
Thực tế tại nhiều địa phương, việc xử lý các cơ sở gây ô nhiễm còn thiếu kiên
quyết, thông tin về việc gây ô nhiễm không được công khai, bởi chính quyền địa
phương lo sợ sẽ ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài.
Hậu quả của việc thiếu tuân thủ nguyên tắc phát triển bền vững là tại nhiều địa
phương, đặc biệt là các tỉnh, thành khu vực miền Đơng Nam Bộ, sau những chính
sách thu hút đầu tư mạnh mẽ vào những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, thì
bên cạnh những khu cơng nghiệp, những nhà máy góp phần làm thay da, đổi thịt
18

Trương Quang Học (2011), Phát triển bền vững – chiến lược phát triển toàn cầu thế kỷ XXI, Viện nghiên
cứu tài nguyên và môi trường - ĐH Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.42.


×