Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

Quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.47 MB, 100 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
------

VÕ NGỌC TRIỀU

QUYỀN KHÁNG CÁO CỦA BỊ CÁO
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

UẬN V N THẠC S
ự và ố tụ g

UẬT HỌC
ự - Mã số: 60380104

TS. ƯƠNG THỊ M QUỲNH

TP. HỒ CHÍ MINH, N M 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi.
Các tài liệu và số liệu nêu trong luận văn là tuyệt đối chính xác và trung thực.
Kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác.

Tác giả luận văn

Võ Ngọc Triều



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bản án sơ thẩm

:

BAST

Bộ luật Hình sự

:

BLHS

Bộ luật Tố tụng hình sự

:

BLTTHS

Hội đồng xét xử

:

HĐXX

Quyết định phúc thẩm

:


QĐPT

Quyết định sơ thẩm

:

QĐST

Tham gia tố tụng

:

TGTT

Tiến hành tố tụng

:

THTT

Tòa án nhân dân

:

TAND

Tòa án nhân dân tối cao

:


TANDTC

Tố tụng hình sự

:

TTHS

Viện kiểm sát

:

VKS

Viện kiểm sát nhân dân tối cao :

VKSNDTC

Xét xử phúc thẩm

:

XXPT

Xét xử sơ thẩm

:

XXST



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN KHÁNG
CÁO CỦA BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM .......................7
1.1. Khái niệm về quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự
Việt Nam ............................................................................................................7
1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền kháng cáo của bị cáo trong
tố tụng hình sự Việt Nam ...............................................................................14
1.3. Đặc điểm của quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự
Việt Nam ..........................................................................................................18
1.4. Ý nghĩa của quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự
Việt Nam ..........................................................................................................23
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ...............................................................................27
CHƢƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KHÁNG CÁO CỦA
BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM ..........................................29
2.1.
Khái quát quy định của pháp luật về quyền kháng cáo của bị cáo
trƣớc khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 ..............................29
2.1.1. Quy định pháp luật về quyền kháng cáo của bị cáo giai đoạn từ
Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước năm 1960 ....................................29
2.1.2. Quy định pháp luật về quyền kháng cáo của bị cáo giai đoạn từ năm
1960 đến trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 .....................33
2.1.3. Quy định pháp luật về quyền kháng cáo của bị cáo từ khi ban hành
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 đến trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2003 ...............................................................................................37
2.2. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về quyền kháng cáo
của bị cáo .........................................................................................................39
2.2.1. Về đối tượng kháng cáo ...........................................................................39

2.2.2. Về giới hạn của việc kháng cáo ...............................................................42
2.2.3. Về thủ tục kháng cáo................................................................................43
2.2.4. Về thời hạn kháng cáo .............................................................................46
2.2.5. Về bổ sung, thay đổi và rút kháng cáo ....................................................49


2.3. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về bảo đảm quyền
kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam ................................53
2.3.1. Bảo đảm quyền được giải thích về quyền kháng cáo ..............................53
2.3.2. Bảo đảm quyền được nhận bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án .......54
2.3.3. Bảo đảm quyền tham gia phiên tòa phúc thẩm .......................................55
2.3.4. Bảo đảm quyền bổ sung tài liệu, đồ vật tại Tòa án cấp phúc thẩm.........56
2.3.5. Bảo đảm quyền bào chữa tại phiên tòa phúc thẩm .................................57
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ...............................................................................59
CHƢƠNG 3. THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KHÁNG CÁO CỦA BỊ CÁO TRONG TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM ................................................................................61
3.1. Thực tiễn thi hành pháp luật về quyền kháng cáo của bị cáo trong
tố tụng hình sự Việt Nam ...............................................................................61
3.1.1. Kết quả đạt được qua thực tiễn thi hành pháp luật về quyền kháng cáo
của bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam ........................................................61
3.1.2. Những hạn chế, vướng mắc từ thực tiễn thi hành pháp luật về quyền
kháng cáo của bị cáo và nguyên nhân ...............................................................64
3.2. Những giải pháp bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng
hình sự Việt Nam ............................................................................................73
3.2.1. Nội dung bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự
Việt Nam ............................................................................................................73
3.2.2. Giải pháp bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự
Việt Nam ............................................................................................................75
3.2.2.1. Giải pháp hồn thiện pháp luật tố tụng hình sự ................................75

3.2.2.2. Giải pháp khác ..................................................................................83
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ..................................................................................................86

KẾT LUẬN CHUNG ..............................................................................................88


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình giải quyết vụ án hình sự thường trải qua nhiều giai đoạn tố tụng
khác nhau, song giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm có ý nghĩa quan
trọng. Đây là lần đầu tiên, trách nhiệm pháp lý cũng như quyền lợi hợp pháp của
những người tham gia tố tụng được xác định. Trong giai đoạn này, Tịa án có trách
nhiệm áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật khách quan của vụ án,
làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vơ tội, những tình tiết
tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để ra bản án hoặc quyết định
sơ thẩm đúng pháp luật nhằm xử lý đúng người, đúng tội, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, việc giải quyết vụ án ở
giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự vẫn có những sai lầm, vi phạm pháp luật của
những người tiến hành tố tụng làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan,
quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác chưa
được bảo đảm. Nhằm khắc phục những sai lầm, vi phạm pháp luật có thể xảy ra
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, pháp luật tố
tụng hình sự của nhà nước ta đã quy định cho bị cáo và những người tham gia tố
tụng khác quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm, để yêu cầu Tòa án cấp
trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm theo thủ tục phúc
thẩm.
Quyền kháng cáo trong tố tụng hình sự là quyền của nhiều chủ thể nhưng đối
với bị cáo, quyền kháng cáo có tầm quan trọng đặc biệt. So với những người tham

gia tố tụng khác, bị cáo là người mang địa vị pháp lý của người bị buộc tội, có khả
năng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế mang tính nghiêm khắc nhất của nhà nước, đó
là hình phạt. Nếu việc xét xử của Tòa án là đúng người, đúng tội sẽ có tác dụng rất
lớn trong việc giáo dục bị cáo và phịng ngừa chung, thơng qua đó cũng bảo vệ
được quyền lợi hợp pháp của những người tham gia tố tụng. Ngược lại, việc giải
quyết vụ án của Tịa án có sai lầm, khơng đúng pháp luật, điều đó sẽ xâm hại trước
hết đến quyền lợi hợp pháp của chính bị cáo, khơng những về tính mạng, danh dự,
nhân phẩm và tài sản mà còn làm giảm niềm tin của nhân dân vào pháp luật.


2

Thực tiễn giải quyết vụ án hình sự ở nước ta thời gian qua cho thấy, thông
qua kháng cáo của bị cáo, Tòa án cấp phúc thẩm đã phát hiện những thiếu sót, vi
phạm của bản án, quyết định sơ thẩm và kịp thời cải sửa về tội danh, khung hình
phạt áp dụng, mức hình phạt, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, thậm chí khơng ít
trường hợp được minh oan. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực
thi pháp luật về quyền kháng cáo và cơ chế bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo
trên thực tế vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định, làm cho quyền kháng cáo của bị
cáo chưa được bảo đảm trọn vẹn, cả về điều kiện thực hiện lẫn hiệu quả từ việc
kháng cáo đem lại. Hạn chế này do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự bất cập của
pháp luật về quyền kháng cáo, về cơ chế bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo cũng
như tinh thần trách nhiệm, năng lực của người tiến hành tố tụng trong việc thi hành
pháp luật về quyền kháng cáo của bị cáo. Vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ thêm lý
luận và quy định của pháp luật về quyền kháng cáo của bị cáo, từ đó chỉ ra những
hạn chế trong thực tiễn và nguyên nhân của nó, nhằm xây dựng các giải pháp hoàn
thiện, bảo đảm tốt hơn quyền kháng cáo của bị cáo là cần thiết trong thời điểm hiện
nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về quyền kháng cáo của một chủ thể trong tố tụng hình sự nói

chung và của bị cáo nói riêng là tương đối mới mẻ. Các nhà luật học, các nhà
nghiên cứu đã thể hiện cách tiếp cận của mình về quyền kháng cáo của bị cáo qua
các cơng trình liên quan đã được nghiệm thu, đăng tải, có thể kể ra như:
- Các luận án và luận văn chuyên ngành, có các đề tài: “Đảm bảo quyền tự
do dân chủ của công dân trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự” và “Bảo đảm quyền
con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam” của
tác giả Lại Văn Trình; “Bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong
tố tụng hình sự” của tác giả Nguyễn Tiến Đạt; “Giai đoạn xét xử phúc thẩm Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Huỳnh Lập Thành và “Phạm vi xét
xử phúc thẩm và thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam” của tác giả Bùi Ngọc Hòa.
- Các sách chuyên khảo, bài viết có tên gọi: “Quyền kháng cáo của người bị
buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam - Thực trạng và các giải pháp đảm bảo”
của tác giả Hồ Sỹ Sơn (Tạp chí Tịa án nhân dân, số 6 năm 2010); “Hoàn thiện các
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về quyền, nghĩa vụ của bị can, bị cáo và các
cơ chế bảo đảm thực hiện” của tác giả Chu Thị Trang Vân (Tạp chí Nghiên cứu lập


3

pháp, số 9 năm 2010); “Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm” của của tác giả Dương
Thanh Biểu (NXB Tư pháp, Hà Nội, năm 2008); “Hoàn thiện quy định pháp luật về
thủ tục phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự” của tác giả Phan Thị Thanh Mai
(Tạp chí Luật học số 4 năm 2003); “Thủ tục phúc thẩm trong luật tố tụng hình sự
Việt Nam” của tác giả Đinh Văn Quế (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1998).
Nhìn chung, quyền kháng cáo của bị cáo trong các cơng trình kể trên được đề
cập nghiên cứu ở hai góc độ, đó là: quyền con người của bị cáo trong tố tụng hình sự
và quyền tố tụng của bị cáo do pháp luật quy định, mặc dù đây là những vấn đề có liên
quan chặt chẽ nhau.
Ở góc độ quyền con người trong tố tụng hình sự, nhiều tác giả đã làm rõ những
vấn đề mang tính lý luận, để khẳng định quyền kháng cáo của bị cáo là khả năng của

công dân bị truy cứu trách nhiệm hình sự, được bày tỏ sự khơng đồng tình đối với phán
quyết hoặc quyết định của Tòa án sơ thẩm, yêu cầu tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết
lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm và trong mối liên hệ với việc bảo đảm quyền kháng
cáo do luật định, là một trong những phương thức có hiệu quả để bảo đảm quyền con
người của bị cáo, cũng như để đạt được mục đích của tố tụng hình sự.
Ở góc độ quyền tố tụng của bị cáo, các tác giả đã làm rõ vai trò của quyền
kháng cáo hợp pháp của bị cáo, với tư cách là một trong những căn cứ pháp lý làm phát
sinh trình tự giải quyết vụ án hình sự theo thủ tục phúc thẩm, gắn với phạm vi và thẩm
quyền của Tòa án cấp phúc thẩm. Từ đó, một vài tác giả đã nghiên cứu, đánh giá thực
trạng và đưa ra các giải pháp bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo ở phạm vi khái
quát, chưa làm rõ mối liên hệ giữa quyền kháng cáo với các quyền tố tụng khác với
tư cách là cơ chế bảo đảm cho quyền kháng cáo của bị cáo và những giải pháp đề
xuất chủ yếu dừng lại ở mức độ hoàn thiện pháp luật để bảo đảm cho bị cáo khả
năng thực hiện quyền kháng cáo, mà chưa nghiên cứu, đề xuất các giải pháp bảo
đảm tính hiệu quả của quyền kháng cáo gắn với việc thực hiện thẩm quyền của Tịa
án cấp phúc thẩm.
Vì vậy, việc nghiên cứu quyền kháng cáo của bị cáo ở góc độ là một quyền
tố tụng trong tổng thể các quy định của pháp luật về chế định quyền kháng cáo, để
làm rõ toàn diện những vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất các giải pháp bảo đảm
quyền kháng cáo của bị cáo không những về phương diện khả năng thực hiện quyền
do luật định mà còn về phương diện bảo đảm tính hiệu quả của quyền kháng cáo, là
rất cần thiết. Đây là những điểm mới mà tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu, thể hiện
trong luận văn của mình. Tuy nhiên, những cơng trình nghiên cứu đã nêu đều có giá


4

trị khoa học và thực tiễn cao, là những tài liệu nghiên cứu rất quan trọng để giúp tác
giả hoàn thành luận văn của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được hai mục đích:
Thứ nhất, tiếp tục tìm hiểu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực trạng
áp dụng pháp luật về quyền kháng cáo, cơ chế bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo.
Thứ hai, đề xuất các giải pháp về mặt pháp lý và thực tiễn một cách phù hợp,
khả thi nhằm bảo đảm tốt hơn quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự
Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn tập trung giải quyết
những nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn, đặc điểm và ý nghĩa quyền
kháng cáo của bị cáo.
- Phân tích pháp luật hiện hành về quyền kháng cáo, cơ chế bảo đảm quyền
kháng cáo của bị cáo và đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế của pháp
luật về quyền kháng cáo, cơ chế bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng
hình sự và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế đó.
- Kiến nghị các giải pháp hồn thiện pháp luật và các giải pháp mang tính
thực tiễn để bảo đảm cho bị cáo không những về khả năng thực hiện quyền kháng
cáo mà còn về hiệu quả của quyền kháng cáo trên thực tế.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam là vấn đề vừa có
tính lý luận, vừa có tính thực tiễn. Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đã
đề ra và trong điều kiện cho phép, tác giả tiếp cận, nghiên cứu quyền kháng cáo của
bị cáo chủ yếu ở góc độ quyền tố tụng được quy định theo pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam, các quan điểm khoa học pháp lý về quyền kháng cáo của bị cáo và thực
tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền kháng
cáo của bị cáo từ năm 2011 đến năm 2013 trong phạm vi tồn quốc. Bên cạnh đó,
các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam ban hành trước ngày Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 có hiệu lực, quy định của luật pháp quốc tế và một số
quốc gia về quyền kháng cáo của bị cáo sẽ được tham chiếu để làm rõ cho những

nội dung nghiên cứu.


5

4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin để làm rõ tính khách quan, khoa học những nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra và
sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Để phân tích, giải thích và đánh giá nội
dung quy định của pháp luật, những quan điểm khoa học pháp lý, quan điểm áp
dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng và thực trạng của quyền kháng
cáo, cơ chế bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam;
đồng thời hệ thống hóa những vấn đề đã phân tích, đánh giá thành những tiêu chí
nghiên cứu có tính khái quát cao.
- Phương pháp thống kê: Sử dụng để minh họa về số liệu cho những nhận
định, đánh giá vấn đề nghiên cứu theo từng tiêu chí nhất định.
- Phương pháp lịch sử: Nhằm làm rõ những điều kiện, hoàn cảnh khách quan
của việc ban hành và sự kế thừa của những quy định pháp luật, quan điểm lập pháp
về quyền quyền kháng cáo và vấn đề bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo trong tố
tụng hình sự Việt Nam.
Bên cạnh đó, trong q trình thực hiện đề tài, tác giả khảo sát thực tiễn giải
quyết vụ án ở giai đoạn xét xử, nghiên cứu hồ sơ vụ án và các tài liệu chuyên đề
nghiệp vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng của một số địa phương để làm cơ sở
thực tiễn cho việc nghiên cứu đề tài.
5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Đề tài nghiên cứu tương đối toàn diện những vấn đề lý luận về quyền kháng
cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam. So với các quan điểm và cơng trình
đã được nghiên cứu của nhiều tác giả, đề tài góp phần làm phong phú thêm lý luận
về quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự, đó là làm sáng tỏ mối quan hệ

giữa quyền kháng cáo với các quyền tố tụng khác của bị cáo với ý nghĩa là cơ chế
bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo trên thực tế, đồng thời đưa ra quan điểm bảo
đảm quyền kháng cáo của bị cáo không chỉ dừng lại ở khả năng thực hiện quyền mà
cịn bảo đảm hiệu quả của nó gắn với trách nhiệm và việc áp dụng đúng pháp luật
khi xem xét nội dung, yêu cầu kháng cáo của bị cáo, nếu khơng thì việc quy định
của pháp luật về quyền kháng cáo của bị cáo chỉ mang tính hình thức.
Đề tài đã đánh giá khách quan về thực trạng quyền kháng cáo của bị cáo và
chỉ ra những bất cập, hạn chế về pháp luật, áp dụng pháp luật về quyền kháng cáo,
cơ chế bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo, từ đó đề xuất đồng bộ các giải pháp về


6

mặt pháp lý và thực tiễn nhằm bảo đảm tốt hơn quyền kháng cáo của bị cáo trên
thực tế.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
khoa học để tiếp tục phát triển lý luận, hoàn thiện pháp luật về quyền kháng cáo của
bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam.
6. Bố cục của luận văn
Được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.
Ngồi phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền kháng cáo của bị cáo
trong tố tụng hình sự Việt Nam
- Chương 2: Quy định của pháp luật về quyền kháng cáo của bị cáo trong tố
tụng hình sự Việt Nam
- Chương 3: Thực tiễn thi hành và những giải pháp hoàn thiện pháp luật về
quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam.


7


CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN KHÁNG CÁO
CỦA BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm về quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam
Trong TTHS Việt Nam, Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử, trong đó:
XXST là cấp xét xử thứ nhất và XXPT là cấp xét xử thứ hai. Bản án, QĐST của
Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử
lại theo thủ tục phúc thẩm. Quy định và thực hiện chế độ hai cấp xét xử khơng
ngồi mục đích xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội
phạm và cũng không làm oan, sai người vô tội. XXPT là cấp xét xử thứ hai nhưng
không bắt buộc đối với mọi vụ án mà được tiến hành khi có kháng cáo, kháng nghị
hợp pháp đối với bản án, QĐST của Tịa án chưa có hiệu lực pháp luật.
Về mặt lý luận, XXPT không những là một cấp xét xử mà còn là một giai
đoạn của TTHS, trong đó Tịa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại
QĐST mà bản án, QĐST đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo
hoặc kháng nghị nhằm khắc phục sai lầm của Tòa án cấp dưới, bảo đảm áp dụng
thống nhất pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
cơng dân1. Đây cũng là cơ sở lý luận mà BLTTHS năm 2003 của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam (BLTTHS năm 2003) đã quy định lại tính chất của XXPT
(Điều 230) khác với BLTTHS năm 1988 (Điều 204) để có sự phân định với giám
đốc thẩm, tái thẩm chỉ là thủ tục “xét lại” bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật mà khơng phải là một cấp xét xử.
Tất cả những quy định trên cho thấy, kháng cáo là một trong những cơ sở
pháp lý làm phát sinh thủ tục XXPT vụ án hình sự, nhưng trước hết kháng cáo là
quyền tố tụng quan trọng, được pháp luật TTHS Việt Nam ghi nhận và bảo đảm
thực hiện để những chủ thể có quyền kháng cáo được bày tỏ sự khơng đồng tình của
mình đối với phán quyết của Tòa án thể hiện trong bản án, QĐST chưa có hiệu lực
pháp luật. Tuy nhiên, khái niệm về kháng cáo, quyền kháng cáo nói chung, quyền
kháng cáo của bị cáo nói riêng chưa được định nghĩa ở góc độ pháp luật và về

phương diện lý luận vẫn còn những cách hiểu khác nhau. Việc làm rõ những khái
1

Trường Đại học luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Cơng an nhân dân, Hà
Nội, tr.406.


8

niệm này có ý nghĩa trong việc nhận thức đúng đắn cả lý luận và thực tiễn về quyền
kháng cáo của bị cáo.
Ở góc độ ngơn ngữ, “kháng” có nghĩa là “chống lại”, “kháng cáo” được
hiểu là “chống án lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử lại”2.
Tác giả Đinh Văn Quế cho rằng: “Kháng cáo là biểu thị sự bất đồng của
mình đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án
cấp trên xét xử lại”3. Quan điểm này xác định đối tượng kháng cáo là bản án hoặc
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, nhưng chưa thể hiện rõ đó là bản án, quyết định
có hiệu lực hay chưa có hiệu lực pháp luật, khi cả về mặt lý luận và pháp luật TTHS
đã có sự phân định về đối tượng của kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại giữa các thủ
tục XXPT, giám đốc thẩm, tái thẩm, cũng như chưa khẳng định rõ Tịa án cấp trên
có thẩm quyền xét xử lại bản án hoặc QĐST là Tòa án cấp nào.
Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra
khái niệm chung về kháng cáo và kháng nghị. Theo đó, kháng cáo được hiểu là:
“Quyền của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật được đề
nghị tòa án cấp trên trực tiếp xét lại bản án và quyết định của tịa án cấp sơ thẩm
chưa có hiệu lực pháp luật”4. Đây là quan điểm khá hợp lý, khẳng định rõ đối
tượng kháng cáo là bản án, QĐST của Tịa án chưa có hiệu lực pháp luật và Tịa án
có thẩm quyền phúc thẩm là Tịa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã ra bản án,
QĐST là phù hợp với lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, thuật ngữ “xét lại” trong khái
niệm này chưa phản ánh đúng tính chất của XXPT và nguyên tắc thực hiện chế độ

hai cấp xét xử, vì phúc thẩm khơng chỉ “xét lại” mà còn “xét xử lại”.
Cũng là một quan điểm khoa học pháp lý, Từ điển Luật học quan niệm
kháng cáo và quyền kháng cáo là những khái niệm độc lập, khi khẳng định kháng
cáo là “Quyền theo luật định của những người tham gia tố tụng được đề nghị Tòa
án cấp trên trực tiếp xét lại bản án và quyết định của Tòa án sơ thẩm đang còn
trong thời gian kháng cáo”5, còn quyền kháng cáo được hiểu là “Quyền mà pháp
luật dành cho những người tham gia tố tụng được đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp

2

Thái Xuân Đệ (2010), Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa - Thơng tin, Hà Nội, tr.394.
Đinh Văn Quế (1998), Thủ tục phúc thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, tr. 13.
4
Trường Đại học luật Hà Nội, tlđd 1, tr.407.
5
Từ điển Luật học (1999), NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr. 249.
3


9

xét lại bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đang còn trong thời hạn kháng
cáo”6.
Về phương diện pháp luật, quyền kháng cáo được ghi nhận không chỉ trong
BLTTHS các năm 1988, 2003 của nước ta mà còn trong các văn bản quy phạm
pháp luật khác về TTHS hiện hành và trước đây. Điều thứ 34 Sắc lệnh số 13/SL
ngày 24/01/1946 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về tổ chức Tòa án
và ngạch Thẩm phán (Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946) đã quy định:“Tịa đại
hình xử sơ thẩm. Ơng Biện lý, bị can và ngun đơn có quyền chống án lên Tịa

thượng thẩm”7. Theo quy định này, “chống án” được hiểu là kháng cáo nhưng
“chống án” không chỉ bao gồm kháng cáo mà cịn là “kháng nghị”.
Sự đồng nghĩa trên chỉ có thể xem xét ở góc độ: kháng cáo và chống án đều
là cơ sở pháp lý làm phát sinh thủ tục, thẩm quyền XXPT của Tịa án. Bởi ngồi ý
nghĩa này, chống án còn đồng nghĩa với kháng án và đều được hiểu là chống lại bản
án, mà bản án này bao gồm cả bản án chưa có hoặc đã có hiệu lực pháp luật. Trước
khi BLTTHS được ban hành, theo quy định của Sắc lệnh số 112/SL ngày 28/6/1946
của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hịa về bổ khuyết sắc lệnh số 51/SL
ngày 17/4/1946, thì khái niệm kháng án được dùng trong trường hợp những người
TGTT vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm
hoặc phúc thẩm xét xử lại có mặt họ, gọi là kháng án khuyết tịch8 và sau đó, Bản
hướng dẫn về trình tự tố tụng phúc thẩm hình sự ban hành kèm theo Thơng tư số
19-TATC ngày 02/10/1974 của TANDTC gọi là chống án vắng mặt9. Từ khi
BLTTHS năm 1998 được ban hành, việc chống án vắng mặt khơng cịn đặt ra, nên
khái niệm này khơng cịn dùng trong TTHS, kể cả khái niệm kháng án.
Chúng tôi cho rằng, để làm rõ một cách hợp lý và khoa học về khái niệm
quyền kháng cáo của bị cáo trong TTHS Việt Nam, cần xuất phát từ những cơ sở lý
luận sau đây:
Thứ nhất, trong TTHS Việt Nam, yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại
vụ án hoặc xét lại QĐST mà bản án, QĐST đó chưa có hiệu lực pháp luật là quyền
của nhiều chủ thể khác nhau. Đây là quyền tố tụng quan trọng được pháp luật TTHS
6

Từ điển Luật học, tlđd 5, tr. 403.
Website: Cổng thơng tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại địa chỉ:
http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&_page=5&mode=detail&do
cument_id=5851; truy cập ngày 25/01/2014.
8
Tòa án nhân dân tối cao (1976), Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng hình sự, Hà Nội, tr. 205.
9

Tịa án nhân dân tối cao, tlđd 8, tr. 219, 220.
7


10

ghi nhận, bảo đảm thực hiện, phân định thành quyền kháng cáo và quyền kháng
nghị. Cơ sở của sự phân định này chính là địa vị pháp lý, tư cách tố tụng của chủ thể
tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự. Theo đó, kháng cáo là quyền tố
tụng thuộc về người TGTT và kháng nghị là quyền tố tụng thuộc về cơ quan hoặc
người THTT. Như vậy, ở mức độ khái quát nhất, kháng cáo là tên gọi của một
quyền tố tụng mà pháp luật dành cho những người TGTT, là sự thừa nhận quyền tự
nhiên vốn có của con người và tư cách tố tụng là cơ sở để phân biệt quyền kháng
cáo với quyền kháng nghị trong TTHS Việt Nam. Chính xuất phát từ sự phân định
này, lần đầu ghi nhận quyền được yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án
hoặc xét lại QĐST mà bản án, QĐST đó chưa có hiệu lực pháp luật đối với người
bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần
hoặc thể chất, BLTTHS năm 2003 đã quy định họ là chủ thể có quyền kháng cáo.
Việc pháp luật quy định kháng nghị theo các thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là
quyền tố tụng thuộc về người THTT cũng xuất phát từ sự phân định đó.
Thứ hai, kháng cáo là quyền luật định cho những người TGTT trong giai
đoạn xét xử nhưng không phải người TGTT nào cũng có quyền kháng cáo. Người
TGTT hình sự là chế định được quy định rõ ràng trong BLTTHS. Về cơ bản, khoa
học luật TTHS đã có sự thống nhất trong việc phân loại những người TGTT. Theo
đó, những người TGTT trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự có thể chia thành ba
nhóm:
Nhóm thứ nhất: Người TGTT nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
chính mình gồm: bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Nhóm thứ hai: Người TGTT nhằm giúp đỡ người có quyền và lợi ích hợp

pháp bao gồm: người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương
sự. Đây là những người TGTT nhằm giúp đỡ những người thuộc nhóm thứ nhất.
Nhóm thứ ba: Người TGTT nhằm giúp cơ quan THTT xác định sự thật của
vụ án gồm: người làm chứng, người giám định, người phiên dịch10.
Quyền kháng cáo là phương tiện để những người TGTT bày tỏ sự khơng
đồng tình của mình đối với bản án, QĐST chưa có hiệu lực pháp luật nên trước hết,
chủ thể có quyền kháng cáo đương nhiên là người TGTT nhằm bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của chính bản thân mình (nhóm thứ nhất). Người TGTT nhằm giúp đỡ
10

Võ Thị Kim Oanh (2011), Xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Đai học Quốc gia Thành Phố
Hồ Chí Minh, tr.139, 140.


11

người có quyền và lợi ích hợp pháp (nhóm thứ hai) là người có kiến thức pháp luật
hoặc sự hiểu biết, khả năng bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người TGTT nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình. Sự TGTT của những người này giúp
các cơ quan THTT làm rõ các tình tiết có liên quan đến vụ án, tránh được những sai
lầm có thể mắc phải và trong một số trường hợp để bảo đảm sự dân chủ, bình đẳng
trong TTHS. Song, với những người có quyền và lợi ích hợp pháp cần được giúp đỡ
thì tự thân họ cũng có quyền bày tỏ sự khơng đồng tình đối với phán quyết của Tịa
án. Vì vậy, trong những trường hợp mà người có quyền và lợi ích hợp pháp liên
quan đến việc giải quyết vụ án khơng có khả năng, năng lực hành vi đầy đủ để bày
tỏ sự khơng đồng tình đối với phán quyết của Tịa án, thì việc quy định quyền kháng
cáo cho người TGTT nhằm giúp đỡ người có quyền và lợi ích hợp pháp là cần thiết
và mang tính nhân đạo, tôn trọng quyền con người của những người TGTT mà họ
giúp đỡ. Đối với người TGTT nhằm giúp cơ quan THTT xác định sự thật của vụ án
như: người làm chứng, người giám định và người phiên dịch, ngồi nghĩa vụ TGTT

do luật định thì những người này khơng có quyền lợi liên quan đến việc giải quyết
vụ án, nên sẽ khơng có ý nghĩa gì nếu quan niệm và ghi nhận cho họ là chủ thể có
quyền kháng cáo trong TTHS.
Từ những cơ sở lý luận đó, cho thấy pháp luật TTHS Việt Nam đã hoàn toàn
hợp lý khi quy định chủ thể có quyền kháng cáo bao gồm: (1) Bị cáo, người đại diện
theo pháp luật của bị cáo. (2) Người bào chữa cho bị cáo là người chưa thành niên
hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. (3) Người bị hại, người đại
diện theo pháp luật của người bị hại trong trường hợp người bị hại chết hoặc trong
trường hợp là người bị hại chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc
thể chất. (4) Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện theo pháp luật
hoặc đại diện theo ủy quyền của họ. (5) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án và người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền của họ. (6)
Người bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về
tâm thần hoặc thể chất. (7) Người được Tòa án tuyên bố là khơng có tội11.
Do đó, chỉ những chủ thể là người TGTT được pháp luật quy định mới có
quyền kháng cáo. Nói cách khác, quyền kháng cáo là quyền mà pháp luật quy định
cho những người TGTT cụ thể. Khi họ kháng cáo cũng có nghĩa là thực hiện quyền
11

Điều 231 BLTTHS năm 2003 và mục 1 phần I Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “Xét xử phúc
thẩm” của BLTTHS năm 2003.


12

tố tụng mà pháp luật dành cho mình. Vì vậy, nếu kháng cáo không dùng để chỉ tên
gọi của một quyền tố tụng được phân định theo tư cách tố tụng, tác giả thống nhất
với quan điểm kháng cáo còn được nhìn nhận ở góc độ là hành vi mang tính tố
tụng12. Đó là việc u cầu Tịa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại

QĐST mà bản án hoặc QĐST đó chưa có hiệu lực pháp luật.
Thứ ba, cũng như việc thực hiện những quyền tố tụng khác, chủ thể có quyền
kháng cáo phải thực hiện quyền đó theo đúng cách thức, thời điểm của quá trình tố
tụng và nội dung pháp lý chứa đựng phạm vi, yêu cầu cụ thể của chủ thể có quyền.
Bởi lẽ, quyền kháng cáo khơng thể coi là được thực hiện trên thực tế nếu nó khơng
biểu hiện bằng những cách thức cụ thể - là cơ sở để ghi nhận việc thực hiện đó. Do
quyền kháng cáo có đối tượng kháng cáo là cơ sở phân biệt với thủ tục xét xử giám
đốc thẩm, tái thẩm nên phải được thực hiện trong khoảng thời gian hoặc thời điểm
mà bản án, QĐST chưa có hiệu lực pháp luật. Xuất phát từ những quyền lợi hợp
pháp cần được bảo vệ và sự khơng đồng tình với bản án, QĐST mà mỗi chủ thể có
quyền kháng cáo sẽ được kháng cáo những vấn đề gì và yêu cầu cụ thể như thế nào
để vừa bảo đảm quyền lợi của mình, vừa tơn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của
những chủ thể khác.
Khái quát những vấn đề mang tính lý luận trên, cho thấy quyền kháng cáo
phải được thực hiện đúng thủ tục, thời hạn và giới hạn cho phép. Vì vậy, thủ tục,
thời hạn và giới hạn của việc kháng cáo là vấn đề vừa mang tính lý luận vừa mang
tính pháp lý. Việc tuân thủ về thủ tục, thời hạn và giới hạn của việc kháng cáo của
những chủ thể có quyền kháng cáo cịn là cơ sở khẳng định tính hợp pháp của
kháng cáo. Đây khơng chỉ là biểu hiện cụ thể của quan niệm quyền không tách rời
nghĩa vụ, mà còn là cơ sở bảo đảm quyền kháng cáo và sự tôn trọng quyền con
người trong TTHS. Bởi việc quy định thủ tục, thời hạn và giới hạn của việc kháng
cáo mang tính khả thi là đòi hỏi tất yếu khi đã thừa nhận quyền kháng cáo, nếu
khơng thì quyền kháng cáo trong TTHS chỉ mang tính hình thức.
Trên thực tế, để được Tịa án xem xét, giải quyết lại vụ án theo thủ tục phúc
thẩm thì chủ thể có quyền kháng cáo phải kháng cáo đúng thủ tục, thời hạn và giới
hạn của việc kháng cáo theo quy định của pháp luật. Nói cách khác, kháng cáo đó
phải hợp pháp về chủ thể có quyền, đúng thủ tục, thời hạn và thuộc giới hạn của
việc kháng cáo. Kháng cáo do người khơng có quyền kháng cáo thực hiện là một
12


Hồ Sỹ Sơn (2010), “Quyền kháng cáo của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam - Thực trạng và
các giải pháp bảo đảm”, Tạp chí Tịa án nhân dân, (6), tr.8.


13

dạng kháng cáo không hợp pháp. Tuy nhiên, về mặt lý luận, nếu xem kháng cáo là
hành vi mang tính tố tụng, thì phải là hành vi của chủ thể có quyền kháng cáo. Bởi
vì, với việc u cầu Tịa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại QĐST mà
bản án hoặc QĐST đó chưa có hiệu lực pháp luật, nếu khơng xem hành vi đó là của
chủ thể có quyền kháng cáo, thì khơng có cơ sở để phân biệt được đâu là hành vi
kháng cáo với hoạt động kháng nghị phúc thẩm của VKS.
Thứ tư, cùng là chủ thể có quyền kháng cáo nên bên cạnh những điểm tương
đồng, quyền kháng cáo của bị cáo cũng có những điểm khác biệt cơ bản so với
qcáo của bị cáo với tư cách là một công cụ pháp lý
quan trọng để khắc phục oan, sai hiệu quả nên cần phải được bảo đảm tốt hơn trong
tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
Bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo là rất cần thiết, nhưng nội dung và yêu
cầu của việc bảo đảm đó như thế nào, để quyền kháng cáo thể hiện đúng bản chất và
74

Trịnh Tiến Việt (2012), Cải cách tư pháp và phòng, chống oan sai trong tố tụng hình sự Việt Nam, Tạp chí
Tịa án nhân dân, (3), tr.5.


75

ý nghĩa của nó trên thực tế mới là vấn đề quan trọng. Quyền kháng cáo của bị cáo là
quyền tố tụng độc lập, việc có thực hiện kháng cáo hay khơng trước hết là tùy thuộc
vào ý chí của bị cáo, nhưng để bị cáo đi đến quyết định và thực hiện việc kháng cáo

hợp pháp, cũng như để tiếp tục bảo vệ nội dung, yêu cầu kháng cáo của mình, địi
hỏi phải có những điều kiện pháp lý nhất định. Bảo đảm quyền kháng cáo của bị
cáo với yêu cầu này, chính là bảo đảm khả năng thực hiện quyền kháng cáo và bảo
vệ quan điểm kháng cáo của bị cáo. Mục đích kháng cáo của bị cáo là nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình nhưng khơng phải nội dung kháng cáo
nào của bị cáo cũng có căn cứ và hợp pháp để được Tòa án cấp phúc thẩm chấp
nhận. Trong trường hợp này, khơng vì thế mà cho rằng quyền kháng cáo của bị cáo
khơng được bảo đảm. Bởi vì, bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo không đồng
nghĩa với việc làm có lợi, giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý cho bị cáo, nếu việc làm đó
khơng dựa trên quy định của pháp luật, mà phải thấy rằng khi vụ án tiếp tục được
đưa ra xem xét, giải quyết ở cấp phúc thẩm do có kháng cáo của bị cáo, dù nội dung
kháng cáo của bị cáo khơng có căn cứ để Tịa án cấp phúc thẩm chấp nhận, thì
quyền kháng cáo của bị cáo cũng đã được tôn trọng, bảo đảm thực hiện trên thực tế.
3.2.2. Giải pháp bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự Việt
Nam
Từ những vấn đề lý luận, thực tiễn áp dụng pháp luật thực định, nhất là
những hạn chế, vướng mắc qua thực tiễn thi hành pháp luật về quyền kháng cáo của
bị cáo cho thấy, để bảo đảm tốt hơn quyền kháng cáo của bị cáo, cần thực hiện
nhiều giải pháp đồng bộ, không chỉ là các giải pháp hồn thiện pháp luật TTHS mà
cịn là các giải pháp mang tính thực tiễn khác.
3.2.2.1. Giải pháp hồn thiện pháp luật tố tụng hình sự
Đây là giải pháp đặc biệt quan trọng. Cũng giống như việc bảo đảm bất cứ
một quyền tố tụng nào, việc bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo trước hết phải
xuất phát từ quy định của pháp luật, bao gồm quy định của pháp luật về nội dung
quyền kháng cáo và quy định của pháp luật về cơ chế bảo đảm quyền kháng cáo.
Trên tinh thần đó, tác giả luận văn cho rằng, nhu cầu hoàn thiện pháp luật TTHS
nhằm bảo đảm tốt hơn quyền kháng cáo cần được tập trung vào các giải pháp mang
tính cơ bản sau đây:
Thứ nhất, quy định rõ những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là đối tượng
kháng cáo trong TTHS.



76

Ở góc độ khoa học pháp lý và pháp luật thực định, khơng có gì phải bàn cãi
khi khẳng định đối tượng kháng cáo của bị cáo là bản án, QĐST chưa có hiệu lực
pháp luật. Tuy nhiên, nếu như việc nhận thức về đối tượng kháng cáo là BAST
không có gì vướng mắc trên thực tế, thì với đối tượng kháng cáo là các QĐST vẫn
còn những quan điểm khác nhau. Nói cách khác, chủ thể có quyền kháng cáo nói
chung và bị cáo nói riêng được quyền kháng cáo những quyết định nào của Tòa án
cấp sơ thẩm vẫn chưa có sự thống nhất về mặt nhận thức.
Sự nhận thức chưa thống nhất về đối tương kháng cáo của bị cáo là các
QĐST của Tòa án thể hiện trước hết đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về
việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP
ngày 08/12/2005, với tư cách là văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành
một số quy định trong Phần thứ tư “xét xử phúc thẩm” của BLTTHS năm 2003, đã
không quy định và hướng dẫn thực hiện việc kháng cáo đối với quyết định của Tòa
án về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định của khoản 2 Điều
316 BLTTHS năm 2003. Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về việc áp dụng biện
pháp bắt buộc chữa bệnh mặc dù xuất phát từ tinh thần nhân đạo nhưng hoàn tồn
có thể xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, nếu việc áp dụng đó
khơng đúng quy dịnh của pháp luật. Chính vì vậy, trong thực tiễn TTHS, rất hiếm
khi bị cáo thực hiện quyền kháng cáo đối với quyết định này, mặc dù đã được pháp
luật ghi nhận.
Ngoài ra, việc nhận thức chưa thống nhất và chưa đầy đủ về các quyết định
nào của Tòa án cấp sơ thẩm thuộc đối tượng kháng cáo cũng có nguyên nhân từ
cách thức quy định chưa hợp lý của BLTTHS năm 2003. Trong số những chủ thể có
quyền kháng cáo, khơng phải ai cũng có khả năng nhận thức hoặc có những hiểu
biết nhất định đối với quy định của pháp luật về quyền kháng cáo. Vì vậy, việc quy
định rõ ràng những QĐST nào được quyền kháng cáo là cần thiết. Tuy nhiên,

BLTTHS năm 2003 đã quy định những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm thuộc
đối tượng kháng cáo còn dàn trải ở những Điều luật khác nhau nên dù ít hay nhiều
vẫn gây khó khăn nhất định cho những chủ thể có quyền kháng cáo trong việc tìm
hiểu, nắm bắt quy định của pháp luật để thực hiện quyền kháng cáo. Khi quy định
về kháng cáo những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, khoản 2 Điều 239
BLTTHS năm 2003 không quy định cụ thể những quyết định nào của Tòa án cấp sơ
thẩm có thể bị kháng cáo mà quy định “Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ
án có thể bị kháng cáo…”. Từ đó dễ dẫn đến cách hiểu là còn những quyết định


77

khác của Tịa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo. Do đó, khơng phải ngẫu nhiên mà
pháp luật tố tụng thuộc lĩnh vực tố tụng phi hình sự của nước ta như Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011), Luật Tố tụng hành chính năm
2010… đều quy định cụ thể và rõ ràng những quyết định nào của Tòa án cấp sơ
thẩm được quyền kháng cáo75.
Vì vậy, để có sự nhận thức thống nhất về những quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm thuộc đối tượng kháng cáo, tác giả luận văn kiến nghị: BLTTHS cần được
sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định một cách tập trung và rõ ràng những quyết
định nào của Tòa án cấp sơ thẩm mà bị cáo cũng như những chủ thể có quyền
kháng cáo khác được quyền kháng cáo trong cùng một Điều luật.
Thứ hai, quy định cho bị cáo đang bi tạm giam thực hiện việc kháng cáo
bằng phương thức trình bày trực tiếp với Trại tạm giam, Nhà tạm giữ, Trại giam về
việc kháng cáo.
Theo quy định tai đoạn 2 khoản 1 Điều 233 BLTTHS năm 2003, người
kháng cáo được quyền trình bày trực tiếp với Tòa án cấp sơ thẩm về việc kháng cáo.
Như vậy, theo quy định của pháp luật, tất cả những chủ thể có quyền kháng cáo đều
có quyền kháng cáo bằng phương thức này mà khơng có sự phân biệt. Tuy nhiên
trên thực tế, chỉ những bị cáo không bị áp dụng biện pháp tạm giam hoặc một số

chủ thể có quyền kháng cáo khác mới có thể thực hiện được phương thức kháng cáo
này. Đây là hạn chế mà nguyên nhân là do pháp luật chưa quy định rõ ràng về thủ
tục, cơ chế để bị cáo đang bị tạm giam thực hiện. Mặt khác, cũng phải thấy rằng
chính việc quy định của pháp luật TTHS hiện hành cho bị cáo đang bị tạm giam
được quyền kháng cáo bằng phương thức trình bày trực tiếp với Tịa án đã XXST về
việc kháng cáo cũng có điểm chưa hợp lý. Bởi vì, để bảo đảm cho bị cáo đang bị
tạm giam thực hiện kháng cáo bằng phương thức trình bày trực tiếp với Tịa án đã
XXST về việc kháng cáo, có hai khả năng có thể được lựa chọn: (1) Tịa án phải
phân cơng người đến Trại tạm giam, Nhà tạm giữ, Trại giam để ghi nhận việc trình
bày kháng cáo khi bị cáo yêu cầu. (2) Trại tạm giam, Nhà tạm giữ, Trại giam tổ
chức đưa bị cáo đến Tịa án đã XXST để trình bày việc kháng cáo khi bị cáo yêu
cầu. Điều này không chỉ làm phát sinh thêm trách nhiệm của cơ quan, người có

75

Điều 243 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (được sửa đổi, bổ
sung năm 2011) quy định: “Đương sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm
đơn kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu
Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm”.


78

thẩm quyền mà cịn liên quan đến thủ tục trích xuất, việc tổ chức phương tiện, chi
phí tố tụng... nên cần phải được xem xét về sự cần thiết, tính hợp lý.
Thực tiễn tố tụng cho thấy, tình trạng bị cáo hoặc người TGTT khác không
biết chữ, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị nhược điểm về thể chất vẫn còn
xảy ra trên thực tế. Trong những trường hợp như vậy, để bảo đảm tối đa quyền
kháng cáo cho bị cáo, thì vấn đề quan trọng là thừa nhận, quy định phương thức
kháng cáo bằng cách trình bày trực tiếp việc kháng cáo với cơ quan hoặc người có

thẩm quyền, cịn trên thực tế thì cơ quan, người có thẩm quyền nào có trách nhiệm
tiếp nhận, bảo đảm cho bị cáo đang bị tạm giam thực hiện việc kháng cáo theo
phương thức đó, phải được quy định phù hợp với hồn cảnh, tình trạng tố tụng của
chủ thể có quyền kháng cáo. Về vấn đề này, Điều 503 BLTTHS của Cộng hòa Pháp
quy định: “Nếu người kháng cáo đang bị tạm giam, thì có thể trình bày việc kháng
cáo với Giám đốc trại giam. Giám đốc trại giam phải xác nhận, ghi ngày tháng và
ký vào đơn khai kháng cáo. Người kháng cáo cũng phải ký vào đơn; nếu người
kháng cáo khơng thể ký thì Giám đốc trại giam phải ghi điều đó vào đơn…”76.
Khoản 1 Điều 233 BLTTHS năm 2003 của nước ta đã quy định: Trong
trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Ban giám thị trại tạm giam phải bảo đảm cho
bị cáo thực hiện quyền kháng cáo. Cụ thể hóa quy định này trên thực tế, các Trại
tạm giam, Nhà tạm giữ, Trại giam đã làm tốt trách nhiệm xác nhận ngày kháng cáo
và chuyển đơn kháng cáo của bị cáo cho Tòa án. Ghi nhận sự trình bày trực tiếp về
việc kháng cáo của bị cáo đang bị tạm giam cũng là hoạt động nhằm bảo đảm cho bị
cáo thực hiện quyền kháng cáo theo tinh thần của khoản 1 Điều 233 BLTTHS năm
2003 mà Trại tạm giam, Nhà tạm giữ hoặc Trại giam hồn tồn đáp ứng được mà
khơng gây bất tiện và tốn kém khơng cần thiết.
Vì vậy, tác giả luận văn kiến nghị: BLTTHS năm 2003 cần sửa đổi, bổ sung
theo hướng quy định cho bị cáo đang bị tạm giam được quyền trình bày trực tiếp
với Trại tạm giam (bao gồm Nhà tạm giữ, Trại giam) về việc kháng cáo. Trại tạm
giam có trách nhiệm ghi nhận lời trình bày đó và chuyển cho Tịa án đã xử sơ thẩm
để tiếp nhận, xử lý kháng cáo theo quy định chung.
Thứ ba, quy định rõ ràng về thủ tục và thẩm quyền giải quyết yêu cầu được
tiếp xúc giữa người bào chữa với bị cáo đang bị tạm giam và quyền có người bào
chữa để tư vấn, giúp đỡ về việc kháng cáo của bị cáo đang bị tạm giam.
76

Website: Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, tại địa chỉ:
http://tks.edu.vn/law/detail/1281_0_Bo-luat-to-tung-hinh-su-cong-hoa-Phap.html; truy cập ngày 25/01/2014.



79

Khi bản án, QĐST chưa có hiệu lực pháp luật, người bị buộc tội vẫn mang tư
cách tố tụng là bị cáo thì quyền bào chữa phải được bảo đảm theo quy định của
pháp luật. Từ quy định của Điều 11 và điểm e khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003,
khơng thể nói quyền bào chữa của bị cáo đang bị tạm giam được bảo đảm trọn vẹn,
nếu như người bào chữa không được gặp bị cáo đang bị tạm giam hoặc khơng có
người bào chữa trong thời hạn kháng cáo theo yêu cầu để tư vấn, giúp đỡ về việc
kháng cáo.
Gặp bị cáo đang bị tạm giam là quyền của người bào chữa. Để trở thành
người bào chữa thì Luật sư, người đại diện hợp pháp của bị cáo, Bào chữa viên
nhân dân phải được cấp giấy chứng nhận người bào chữa theo quy định của khoản 4
Điều 56 Bộ luật này. Do đó, người được bị cáo nhờ bào chữa trong thời hạn kháng
cáo có thể gặp bị cáo đang bị tạm giam để tư vấn, giúp đỡ về việc kháng cáo thì họ
phải được cấp giấy chứng nhận người bào chữa theo quy định chung. Bản chất của
việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa trong trường hợp này suy cho cùng là
nhằm bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo, cũng giống như mục đích của việc giải
thích quyền kháng cáo, giao bản án, QĐST, nhận và xử lý kháng cáo, lập hồ sơ
kháng cáo quá hạn... mà BLTTHS năm 2003 đã quy định cho Tòa án đã XXST có
trách nhiệm thực hiện. Với tư cách là cơ quan đã thụ lý, giải quyết vụ án hình sự
theo thủ tục sơ thẩm, cùng với trách nhiệm bảo đảm quyền kháng cáo đã được pháp
luật quy định, Tịa án đã XXST hồn tồn có đủ điều kiện thuận lợi, sự hợp lý để
thực hiện việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa.
Khác với người bào chữa TGTT trong thời hạn kháng cáo, đối với người đã
tham gia bào chữa cho bị cáo đang bị tạm giam ở giai đoạn XXST, khi họ và bị cáo
đang bị tạm giam có yêu cầu tiếp xúc để tư vấn, giúp đỡ về việc kháng cáo thì có
cần thiết phải cấp lại giấy chứng nhận người bảo chữa hay không. Trước hết, cần
khẳng định: ngoài thể hiện yêu cầu bào chữa của bị cáo, người đại diện hợp pháp
của bị cáo hoặc của cơ quan THTT trong những trường hợp bắt buộc phải có người

bào chữa, thì giấy chứng nhận người bào chữa cịn là sự cơng nhận của pháp luật về
điều kiện hành nghề và được TGTT của người bào chữa. Khoản 3 Điều 27 Luật luật
sư năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2012 quy định: giấy chứng nhận người bào
chữa có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo từ chối hoặc yêu cầu thay đổi hoặc luật sư không được TGTT theo quy định
của pháp luật.


80

Do đó, nếu bị cáo đang bị tạm giam chỉ yêu cầu bào chữa trong giai đoạn
XXST hoặc tại phiên tòa sơ thẩm, mà trong thời hạn kháng cáo lại có yêu cầu người
đã bào chữa tiếp tục bào chữa để có thể tư vấn, giúp đỡ về việc kháng cáo dẫn đến
phải cấp lại giấy chứng nhận người bào chữa cho người đã tham gia bào chữa, là
không cần thiết, gây lãng phí và phiền hà. Trong trường hợp này, chỉ cần xuất trình
giấy yêu cầu bào chữa thì người đã bào chữa được quyền tiếp tục TGTT là hợp lý.
Qua đó, cũng cho thấy nếu bị cáo đang bị tạm giam hoặc người đại diện hợp pháp
của bị cáo đã yêu cầu bào chữa trong suốt quá trình giải quyết vụ án, thì càng khơng
nên địi hỏi phải cấp lại giấy chứng nhận người bào chữa, kể cả trong thời hạn
kháng cáo.
BLTTHS năm 2003 quy định quyền nhưng không quy định thủ tục người
bào chữa gặp người đang bị tạm giam. Khoản 2 Điều 22 Nghị định số 89/1998/NĐCP ngày 07/11/1998 của Chính phủ về Ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam
được sửa đổi bổ sung vào các năm 2002, 2011 quy định: “Người bị tạm giữ, tạm
giam có thể được gặp thân nhân, luật sư hoặc người bào chữa khác và do cơ quan
đang thụ lý vụ án quyết định”. Theo khoản 1 Điều 10 Thông tư số 70/2011/TTBCA ngày 10/10/2011 của Bộ Công an về Quy định chi tiết thi hành các quy định
của BLTTHS liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra
vụ án hình, khi người bào chữa có văn bản đề nghị Cơ quan điều tra cho gặp người
bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam thì Cơ quan điều tra làm các thủ tục theo quy
định của pháp luật để người bào chữa gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm
giam; nếu từ chối cho gặp thì phải thơng báo cho người bào chữa biết bằng văn bản

và nêu rõ lý do từ chối. Đây là điểm bất hợp lý, bởi theo quy định tại khoản 5 Điều
27 Luật Luật sư năm 2006 thì khi cần liên hệ với cá nhân, cơ quan, tổ chức để thực
hiện quyền, nghĩa vụ và các hoạt động có liên quan đến việc bào chữa, bảo vệ
quyền lợi của khách hàng, Luật sư xuất trình Thẻ luật sư và giấy chứng nhận TGTT
của luật sư. Nhằm khắc phục sự mâu thuẫn và bất hợp lý này, khoản 1 Điều 12
Thông tư số 54/2012/TT-BCA ngày 21/8/2012 của Bộ Công an về Quy định mối
quan hệ phối hợp giữa Trại tạm giam, Nhà tạm giữ với Cơ quan điều tra trong Công
an nhân dân về quản lý người bị tạm giữ, tạm giam đã quy định: “Trong trường hợp
luật sư hoặc người bào chữa khác muốn gặp người bị tạm giữ, tạm giam trong vụ
án do Cơ quan điều tra đang thụ lý, thì phái có giấy chứng nhận người bào chữa do
Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp, có thẻ hành nghề luật sư hoặc giấy giới thiệu của
Đoàn luật sư theo quy định của pháp luật và của Bộ Công an”.


81

Tuy nhiên, những văn bản pháp luật nêu trên mới chi là quy định về thủ tục
người bào chữa gặp người bị tạm giữ, bị can bị tạm giam trong giai đoạn điều tra.
Cho đến nay, thủ tục người bào chữa gặp người bị tạm giam với tư cách là bị cáo
cũng như mối quan hệ phối hợp giữa Trại tạm giam, Nhà tạm giữ, Trại giam với
Tòa án trong việc bảo đảm cho người bào chữa gặp bị cáo đang bị tạm giam chưa
được pháp luật quy định. Việc Trại tạm giam, Nhà tạm giữ đòi hỏi người bào chữa
khi gặp bị cáo đang bị tạm giam trong thời hạn kháng cáo phải có giấy giới thiệu
hoặc văn bản đồng ý của Tịa án đã XXST cũng có ngun nhân từ sự thiếu cụ thể
hóa, hướng dẫn bằng một văn bản quy phạm pháp luật.
Từ những phân tích trên, tác giả luận văn kiến nghị: các cơ quan có thẩm
quyền cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật TTHS, quy định rõ thủ tục và
thẩm quyền giải quyết yêu cầu được tiếp xúc giữa người bào chữa với bị cáo đang
bị tạm giam trong thời hạn kháng cáo theo hướng: 1/. Người đã TGTT với tư cách
người bào chữa thì khơng phải cấp lại giấy chứng nhận người bào chữa. Trường

hợp nghĩa vụ bào chữa đã chấm dứt ở giai đoạn tố tụng trước đó theo ý chí của
người nhờ bào chữa, thì người đã bào chữa xuất trình giấy yêu cầu bào chữa mới
để tiếp tục TGTT. 2/. Tịa án đã XXST là cơ quan có trách nhiệm cấp giấy chứng
nhận người bào chữa trong trong thời hạn kháng cáo. 3/. Khi gặp bị cáo đang bị
tạm giam, người bào chữa xuất trình với Trại tạm giam, Nhà tạm giữ, Trại giam
Thẻ luật sư, giấy chứng nhận người bào chữa. Chỉ trong trường hợp nghĩa vụ bào
chữa đã chấm dứt ở giai đoạn tố tụng trước đó, thì người bào chữa cịn phải xuất
trình thêm giấy u cầu bào chữa mới.
Thứ tư, bổ sung quy định về thời hạn Tòa án cấp phúc thẩm xét kháng cáo
quá hạn và quy định việc tham gia xét kháng cáo quá hạn là trách nhiệm mang tính
bắt buộc của VKS.
Như đã trình bày, việc xét kháng cáo quá hạn vẫn còn những hạn chế làm
ảnh hưởng đến quyền bào chữa của bị cáo, cũng như chưa nhìn nhận đúng vai trị
tham nhằm bảo đảm tính khách quan trong việc xét kháng cáo quá hạn của VKS,
mà nguyên nhân là do pháp luật không quy định thời gian xét kháng cáo quá hạn và
việc tham gia phiên họp xét kháng cáo quá hạn của VKS mang tính tùy nghi. Từ
thực tiễn TTHS cho thấy, việc quy định về thời hạn Tòa án cấp phúc thẩm xét
kháng cáo quá hạn và trách nhiệm tham gia vào việc xét kháng cáo quá hạn đối với
VKS là cần thiết, nhằm bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo và những chủ thể khác
do luật định.


×