Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

Quyền tác giả trong hoạt động thƣ viện tại các trƣờng đại học (luận văn thạc sĩ luật học)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.93 MB, 108 trang )

LỜI GIỚI THIỆU HỘI THẢO
“QUYỀN TÁC GIẢ TRONG HOẠT ĐỘNG THƢ VIỆN
CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC”
Thư viện các trường Đại học có vị trí và vai trị vơ cùng quan trọng, là đơn vị
có nhiệm vụ lưu trữ, phục vụ, khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thông tin nhằm
phục vụ cho nhu cầu bạn đọc với các tài liệu truyền thống lẫn phi truyền thống. Ngày
nay, trong một xã hội và Nhà nước pháp quyền, Thư viện cũng có trách nhiệm phải
bảo vệ và thực thi quyền tác giả trong các hoạt động của mình. Việc thực hiện tốt các
vấn đề có liên quan đến quyền tác giả và làm sáng tỏ các quy định của pháp luật trong
lĩnh vực này trong hoạt động thư viện dưới góc độ pháp luật quốc tế lẫn pháp luật
quốc gia sẽ giúp thư viện phát triển theo hướng tiến bộ và hội nhập với sự phát triển
của thư viện thế giới. Với mục đích đó, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh tổ
chức hội thảo: “Quyền tác giả trong hoạt động Thƣ viện tại các Trƣờng Đại học”.
Hội thảo về “Quyền tác giả trong hoạt động thư viện tại các trường đại học”
được tổ chức với mong muốn nâng cao nhận thức về vai trò của các bên, bao gồm tác
giả, chủ sở hữu quyền tác giả và một bên là thư viện, bạn đọc và công chúng thông
qua việc cung cấp cách nhìn đa chiều và sâu rộng hơn về vấn đề này. Đồng thời Hội
thảo mong muốn tạo ra một diễn đàn trao đổi ở cả góc độ lý luận và thực tiễn về việc
áp dụng và thực thi quyền tác giả trong hoạt động thư viện các trường đại học ở Việt
Nam. Đây cũng là một trong những hoạt động nhằm hưởng ứng Ngày Sở hữu trí tuệ
Thế giới 26/04.
Nội dung Hội thảo và các bài tham luận xoay quanh các vấn đề: Quyền tác giả
trong hoạt động các thư viện tại Việt Nam trên cơ sở so sánh, đối chiếu với một số hệ
thống pháp luật khác trên thế giới như Úc, Hoa Kỳ và châu Âu; Thực tiễn áp dụng các
quy định về quyền tác giả tại một số các trung tâm thông tin – thư viện của các trường
đại học tại Việt Nam đối với thư viện truyền thống lẫn thư viện điện tử; Những định
hướng khai thác, áp dụng một cách hợp pháp đối với các ngoại lệ của quyền tác giả
trong hoạt động của thư viện tại các trường đại học và các kiến nghị hoàn thiện pháp
luật đối với việc điều chỉnh các quan hệ xã hội này.

1




Với tư cách là trung tâm giảng dạy và nghiên cứu pháp luật hàng đầu của khu
vực phía Nam, Trường Đại học Luật TP.HCM hy vọng rằng Hội thảo sẽ mang lại
những đóng góp và giá trị đối với việc hoàn thiện các quy định về quyền tác giả trong
hoạt động thư viện. Bên cạnh đó cũng sẽ cung cấp những định hướng đối với việc áp
dụng một cách thống nhất và đúng đắn các quy định pháp luật về bản quyền trong
hoạt động thư viện không chỉ cho Trung tâm Thơng tin - Thư viện của Nhà trường mà
cịn đối với các thư viện của các cơ sở đào tạo khác. Với những mục tiêu đó, Ban tổ
chức Hội thảo cũng mong muốn sẽ mở ra những hướng nghiên cứu mới cho hoạt động
giảng dạy và nghiên cứu pháp luật trong lĩnh vực này trong tương lai.
Trân trọng cảm ơn Quý vị đại biểu đã dành thời gian quý báu để nghiên cứu,
viết các tham luận, đóng góp ý kiến cũng như tham dự Hội thảo của Nhà trường!

TP.HCM, ngày 26/04/2016
BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO

2


GIỚI HẠN VÀ NGOẠI LỆ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN
TRONG HOẠT ĐỘNG LƢU TRỮ CỦA THƢ VIỆN
Ths. Phạm Thị Kim Oanh*
Mở đầu
Quyền tác giả, quyền liên quan là một công cụ pháp lý quan trọng để bảo hộ sự
sáng tạo. Thông qua việc trao cho các tác giả, người sáng tạo các quyền và lợi ích hợp
lý, bảo hộ các quyền mà họ được hưởng, nhằm khuyến khích sáng tạo, đảm bảo lợi ích
cho các cá nhân, tổ chức đầu tư cơng sức, tài chính…vào việc sáng tạo, phát triển và
phổ biến tác phẩm. Đồng thời, cơng chúng nói chung, giới nghiên cứu khoa học, sinh
viên, học sinh nói riêng cũng cần phải được tạo điều kiện để được hưởng thụ, tiếp cận

các sáng tạo văn học, nghệ thuật, khoa học. Do đó, bên cạnh việc quy định các quyền
dành cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan, nhà nước cân bằng lợi
ích giữa chủ thể quyền và bên khai thác sử dụng cũng như công chúng hưởng thụ
thông qua việc quy định các giới hạn và ngoại lệ quyền.
Trong xã hội thông tin ngày nay, kiến thức và thông tin đã trở thành yếu tố vô
cùng quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia. Với chức năng thu
thập, lưu giữ, xử lý, tổ chức, bảo quản tài liệu để bảo tồn và phổ biến vốn tài liệu đáp
ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu, thông tin và hưởng thụ văn hóa của mọi tầng lớp
nhân dân, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển
khoa học, cơng nghệ, kinh tế, văn hóa, xã hội1, thư viện đóng vai trị quan trọng trong
việc lưu giữ, bảo quản và phổ biến các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Nhằm
bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin, tri thức, tạo môi trường học tập suốt đời cho
mọi tầng lớp nhân dân2, đồng thời hỗ trợ thư viện trong việc thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của mình, hệ thống pháp luật quyền tác giả, quyền liên quan bên cạnh việc
duy trì và tơn trọng các quyền tác giả, quyền liên quan, đồng thời phải duy trì sự cân
bằng cần thiết cho lợi ích cơng cộng thông qua các điều khoản về giới hạn và ngoại lệ
quyền tác giả, quyền liên quan.
*

Cục phó Cục bản quyền tác giả
Điều 2 Dự thảo Luật Thư Viện
http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=494&LanID=6
22&TabIndex=1
2
Điều 3 Dự thảo Luật Thư Viện
http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=494&LanID=6
22&TabIndex=1
1

3



Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung đề cập đến giới hạn ngoại lệ quyền
trong hoạt động lưu trữ của thư viện và kinh nghiệm của một số quốc gia đồng thời
đưa ra những đề xuất sửa đổi bổ sung pháp luật cho phù hợp với các cam kết quốc tế
và điều kiện hiện nay.
Các giới hạn và ngoại lệ trong hoạt động lƣu trữ của thƣ viện
Các giới hạn và ngoại lệ trong hoạt động thư viện nhằm đảm bảo việc bảo tồn và
tiếp cận tri thức, tạo điều kiện cho nghiên cứu khoa học, qua đó thúc đẩy tiếp cận kiến
thức và khuyến khích nghiên cứu trong tương lai. Sự phát triển lớn mạnh của hệ thống
thư viện cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và sự gia tăng
mạnh của các dịch vụ thư viện đã đặt ra thêm những yêu cầu về giới hạn và ngoại lệ
trong luật bản quyền cho phép các thư viện làm các bản sao của các tác phẩm để phục
vụ cho việc nghiên cứu, lưu trữ và các mục đích khác. Đây cũng là một nội dung đang
được đưa ra bàn thảo tại Hội nghị Ủy ban Thường trực Quyền tác giả, quyền liên quan
của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO).
Thư viện đóng vai trị quan trọng trong việc cung cấp nguồn tri thức cho mọi
người để thúc đẩy học tập, nghiên cứu khoa học và sáng tạo. Do đó, ngoại lệ cho phép
thư viện sao chép tài liệu để bảo quản, lưu giữ các sáng tạo của con người theo không
gian và thời gian là rất cần thiết. Giới hạn và ngoại lệ này dành cho thư viện sẽ tạo
điều kiện cho việc tiếp cận tri thức, khuyến khích sự sáng tạo của nhân loại.
Phạm vi các ngoại lệ thường tập trung vào việc sao chép tác phẩm được bảo hộ
bản quyền. Quyền sao chép có thể thường bị ảnh hưởng khi thư viện làm các bản sao
để bảo quản, lưu trữ, nghiên cứu hoặc cho các mục đích khác?
Qua nghiên cứu của WIPO từ pháp luật của 184 nước, có tới 129 nước pháp luật
quy định ngoại lệ dành cho thư viện. Điều này cho thấy tầm quan trọng của pháp luật
bản quyền đối với hoạt động của thư viện, tạo khả năng cho công chúng tiếp cận với
nguồn tài liệu vô cùng đa dạng và quý giá được lưu trữ trong thư viện.3
Luật Bản quyền của Hoa kỳ cho phép thư viện làm một vài bản sao tác phẩm chưa
công bố để lưu trữ, bảo quản hoặc bảo mật hoặc lưu chiểu để phục vụ sử dụng nghiên

cứu trong thư viện khác nếu tác phẩm đó hiện đang thuộc bộ sưu tập của thư viện cho
3

Kenneth Crews (2008), Study on Copyright Limitations and Exceptions for Libraries and Archives. WIPO, SCCR/17/2

4


làm bản sao. Nếu các bản sao được thực hiện để lưu trữ hoặc thay thế các tài liệu thư
viện, phạm vi của tài liệu là rất rộng. Thư viện có thể làm bản sao của bản thảo, ảnh,
bản ghi âm và bất kỳ loại hình tác phẩm nào khác.4
Phạm vi ngoại lệ quyền đến đâu? Áp dụng cho các loại hình tác phẩm nào?
Chúng ta phải xem xét tới mục đích của việc sao chép, phạm vi của việc sao chép,
được phép sao chép bao nhiêu phần của tác phẩm, sao chép một bài duy nhất hay toàn
bộ tác phẩm...?
Khi thư viện cung cấp bản sao cho người sử dụng để họ học tập hoặc nghiên cứu
thì thư viện cũng đang liên quan đến quyền phân phối. Khi thư viện cho phép những
người sử dụng xem các tác phẩm nghe nhìn hoặc xem các hình ảnh được lưu giữ trên
mạng server, dịch vụ này liên quan tới “trình chiếu” hoặc “biểu diễn” hoặc “làm sẵn
để cung cấp”. Nếu quy định cho phép sao chép bất kỳ tác phẩm dưới bất kỳ định dạng
nào và phân phối tới bất kỳ người sử dụng nào, tức là thư viện có thể truyền tải bất kỳ
tài liệu nào qua internet tới bất kỳ người sử dụng nào. Vấn đề này sẽ vi phạm bản
quyền, vì nó mở cánh cửa phân phối miễn phí, có thể là thu một số tiền nào đó cho thư
viện. Đây chính là một kênh phân phối của thị trường, nó sẽ ảnh hưởng đến lợi ích
hợp pháp của các nhà phân phối và các chủ thể quyền. Vì thế pháp luật cần phải định
rõ loại hình tác phẩm, phạm vi sao chép để vừa tạo điều kiện cho cá nhân, tổ chức
khai thác, sử dụng tài liệu tiếp cận được kiến thức, thông tin một cách hợp lý, đồng
thời bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền.
Pháp luật Italia quy định cho phép sinh viên, học sinh có thể sao chụp một phần tác
phẩm để nghiên cứu, học tập nhưng phải trả tiền cho chủ thể quyền đối với việc sao

chụp đó. Có những chiếc máy photocopy trong thư viện, các sinh viên này sao chụp
một phần tác phẩm và đem ra khỏi thư viện, họ phải trả phí cho việc sao chụp này,
một phần khoản phí này sẽ trả cho chủ thể quyền. Hoạt động này được thực hiện bởi
bản thân sinh viên không phải do thư viện thực hiện. Cần phân biệt với trường hợp
một người có một cuốn sách và có thể sao chép nó ở nhà bằng phương tiện của mình
nhưng người này khơng thể đến thư viện và yêu cầu thư viện cung cấp cho bản sao
cuốn sách đó để họ sử dụng riêng.
http://www.wipo.int/meetings/en/doc_details.jsp?doc_id=109192

4

Điều 108 và Điều 108B Luật Bản quyền Hoa Kỳ

5


Câu hỏi được đặt ra là những loại thư viện nào được áp dụng ngoại lệ? Có phải tất
cả các loại hình thư viện cơng, tư đều được áp dụng ngoại lệ này không?
Theo thông lệ của nhiều nước, đây là các thư viện, cơ sở lưu trữ công, các thư viện
trong các trường học các viện nghiên cứu. Một số nước còn mở rộng tới các thư viện
phi lợi nhuận, có thể là các thư viện thuộc các viện, bảo tàng cho tới các tổ chức chính
trị.
Vậy việc làm bản sao để lưu trữ bảo quản phải đáp ứng những điều kiện nào?
Pháp luật một số quốc gia quy định giới hạn, ngoại lệ trong lĩnh vực thư viện, cho
phép sao chép các bản sao nếu đáp ứng các điều kiện: bản sao đó khơng cịn được bán
thương mại ngoài thị trường trong một khoảng thời gian hợp lý; nó có thể được thực
hiện nếu có yêu cầu cụ thể; và việc sao chép được thức hiện bởi thư viện phi lợi nhuận
và việc sao chép được thực hiện từ chính một bản sao mà thư viện đang có được hợp
pháp và việc sao chép này chỉ nhằm có thên bản sao hoặc chuyển cho một thư viện phi
lợi nhuận khác.5

Pháp luật Nhật Bản quy định cho phép sao chép tác phẩm trong số tài liệu của thư
viện (sách, tài liệu, và các tài liệu khác được lưu giữ trong bộ sưu tập của thư viện…)
trong phạm vi các hoạt động khơng mang tính thương mại của thư viện, theo yêu cầu
của người sử dụng và nhằm mục đích nghiên cứu của bản thân người đó, họ được
cung cấp một bản sao của một phần tác phẩm đã được cơng bố (hoặc của cả bài viết
trong tạp chí nhiều kỳ); hoặc khi việc sao chép là cần thiết vì mục đích bảo quản tài
liệu thư viện…
Luật Bản quyền Chi Lê cho phép thư viện làm bản sao để bảo quản, thay thế tác
phẩm như là một phần của bộ sưu tập của thư viện, trong trường hợp tác phẩm bị mất
hoặc bị hư hỏng; làm bản sao dự phòng tác phẩm dành cho thư viện hoặc hồ sơ khác
trong trường hợp bị mất, bị phá hủy, hoặc không thể sử dụng mà tác phẩm khơng cịn
trên thị trường; làm bản sao để thêm tác phẩm vào bộ sưu tập của thư viện trong
trường hợp tác phẩm khơng cịn được lưu thơng trên thị trường trong vịng 5 năm trở
lại.
5

Luật Bản quyền Hy Lạp

6


Pháp luật Việt Nam quy định giới hạn và ngoại lệ cho trường hợp sao chép tác
phẩm đã công bố để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu.
Theo quy định tại Điều 25 khoản 1 điểm đ Luật Sở hữu trí tuệ và nghị định hướng
dẫn thi hành, thì việc sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện là sao chép không
quá một bản không phải xin phép và không phải trả tiền nhuận bút, thù lao.
Luật Sở hữu trí tuệ mới chỉ quy định định giới hạn và ngoại lệ cho trường hợp sao
chép tác phẩm đã công bố để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu mà
khơng có quy định đối với các đối tượng của quyền liên quan. Vì thế với các đối
tượng của quyền liên quan hiện nay thư viện không được hưởng ngoại lệ về việc sao

chép để lưu trữ với mục đích nghiên cứu. Thực tiễn đặt ra cần phải đưa đối tượng này
vào phạm vi giới hạn, ngoại lệ quyền dành cho thư viện.
Việc sao chép này áp dụng với những tác phẩm nào? Tác phẩm hiện có trong vốn
tài liệu của thư viện hay kể cả tác phẩm hiện khơng có trong vốn tài liệu của thư viện?
Với trường hợp tác phẩm chưa công bố thì thư viện có được phép sao chép để lưu trữ
hay khơng? Vấn đề này hiện nay vẫn cịn đang bỏ ngỏ, cần được quy định cụ thể trong
pháp luật của Việt Nam.
Pháp luật cần quy định những giới hạn và ngoại lệ cụ thể. Chỉ cho phép sao chép
nếu khơng thể tìm mua các bản sao ngồi thị trường kịp thời với các điều kiện hợp lý.
Cho phép làm bản sao để thêm tác phẩm vào bộ sưu tập của thư viện trong trường hợp
tác phẩm khơng cịn được lưu thơng trên thị trường trong vịng 5 năm trở lại.
Việc này có thể thực hiện với các điều kiện sau:
Thứ nhất, việc sao chép được thực hiện bởi thư viện hoặc cơ sở lưu trữ phi lợi
nhuận;
Thứ hai: việc sao chép này được thực hiện từ một tác phẩm thuộc bộ sưu tập của
Thư viện hoặc cơ sở lưu trữ; và
Thứ ba: việc sao chép này nhằm lưu trữ bản sao bổ sung hoặc chuyển cho một thư
viện hoặc cơ sở lưu trữ phi lợi nhuận khác.
Ngoài ra nếu Thư viện muốn làm nhiều hơn thì họ có thể thỏa thuận với chủ thể
quyền hoặc các tổ chức đại diện tập thể quyền được ủy thác.

7


Ngoại lệ cho thư viện trong môi trường số - thư viện điện tử
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng kỹ thuật số, việc sao chép tác phẩm, bản
ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng trở nên nhanh chóng, dễ dàng và ngày càng
phổ biến. Bên cạnh việc đã đem lại những thuận lợi cho việc sao chép, phổ biến, bảo
quản thông tin, nhưng cũng đồng thời đem lại khơng ít những thách thức cho việc bảo
vệ quyền tác giả. Một mặt công nghệ số tạo thuận lợi cho việc đưa tác phẩm tới công

chúng một cách nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm hơn, nhưng mặt khác nó cũng tạo
cơ hội cho việc vi phạm quyền tác giả một cách dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn. Nếu
việc sao chép này không phải trả tiền bản quyền sẽ làm ảnh hưởng đến việc khai thác
bình thường tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, gây phương hại
đến các quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan.
Nhu cầu đối với việc sao chép số ngày càng tăng, ví dụ khi người sử dụng đưa ra
yêu cầu từ một địa điểm cách xa và bản sao một bài báo dùng để nghiên cứu có thể
được chuyển tới bằng email hoặc các hình thức truyền thơng internet khác một cách
nhanh chóng và đỡ tốn kém chi phí. Phương tiện kỹ thuật số hiện nay là một phương
tiện phổ biến và thậm chí là tiêu chuẩn cho việc bảo quản. Liên quan chặt chẽ là sự
phát triển “thư viện điện tử”, hoặc bộ sưu tập tài liệu có hệ thống được sưu tập hoặc
chuyển đổi sang định dạng số và sẵn sàng cung cấp cho người sử dụng từ một máy
chủ do thư viện duy trì. Đơi khi việc số hóa có thể nhằm mục đích bảo quản; bằng
việc lưu trữ các tài liệu số, thư viện có thể hạn chế việc phải xử lý các tài liệu gốc và
có thể lưu giữ chúng an tồn.
Việc lưu trữ và phân phối dưới dạng số cũng cho phép việc tiếp cận của những
người sử dụng rộng rãi hơn và dễ dàng hơn. Định dạng số tạo điều kiện cho việc tìm
kiếm tài liệu, dễ dàng sao chép và thuận tiện cho các hình thức sử dụng khác để học
tập, nghiên cứu, giảng dạy và các mục đích khác. Định dạng số rõ ràng có rất nhiều
thuận lợi cho thư viện và người sử dụng của họ. Tuy nhiên, việc số hóa dấy lên sự
phản đối mạnh mẽ từ các chủ sở hữu quyền tác giả. Tác phẩm số có thể dễ dàng hơn
cho người sử dụng giảng dạy, nghiên cứu, và học tập, nhưng việc sử dụng này lại ảnh
hưởng đến quyền sao chép, quyền biểu diễn, hoặc quyền làm sẵn cung cấp tới công
chúng mà về nguyên tắc nó thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả. (WIPO – SCCR/17/2,
trang 36)
8


Nghiên cứu pháp luật một số quốc gia cho thấy, Trung Quốc cho phép sao chép
dưới dạng số để bảo quản; Hoa Kỳ quy định cho phép bảo sao số để bảo quản và thay

thế, nhưng không quy định về bản sao số cho nghiên cứu hoặc cho mượn liên thư
viện; Áo có quy định chung về sao chép dành cho thư viện và quy định rõ cho phép
bản sao kỹ thuật số trong một số trường hợp; Canada cho phép sao chép các bài báo
cho mục đích nghiên cứu hoặc học tập của cá nhân, và quy định người sử dụng thực
hiện sao chép nhưng không được dưới dạng số; Đan Mạch có quy định riêng rẽ để
điều chỉnh việc làm bản sao kỹ thuật số cho người sử dụng thư viện. Họ cho phép làm
bản sao số của bài báo và các tác phẩm khác, nhưng tùy thuộc vào giấy phép tập thể
mở rộng và chủ sở hữu quyền có quyền nhận thù lao. Chi Lê cho phép làm bản sao
đồng thời có sẵn cho nhiều người sử dụng tại thư viện.
Trong quá khứ, các phương pháp truyền tải thông tin của thư viện và lưu trữ là
thông qua phương thức truyền thống, thư viện sẽ cung cấp bản cứng của tác phẩm đã
được công bố trong bộ sưu tập của mình, tuy nhiên, hiện nay khi mơi trường đã có sự
thay đổi mạnh và với sự phát triển của việc truyền qua nền tảng kỹ thuật số, thư viện
và cơ quan lưu trữ không thể tránh khỏi xu thế này, họ cần phải nhanh chóng nắm lấy
thay đổi để họ có thể chuyển tải thơng tin có hiệu quả, đặc biệt là trong các lĩnh vực
nghiên cứu và giáo dục. Sự cần thiết cho mục đích giáo dục từ xa, cho phép học sinh
có quyền truy cập thông tin, truy cập tới các tài liệu nghiên cứu tương tự dưới dạng số
khơng phân biệt vị trí của họ.
Pháp luật Việt Nam quy định cho phép sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện
với mục đích nghiên cứu. Việc sao chép để lưu trữ trong thư viện thuộc ngoại lệ
không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao khi sao chép không quá 1
bản. Tuy nhiên pháp luật cũng quy định thư viện không được sao chép và phân phối
bản sao tác phẩm tới công chúng, kể cả bản sao kỹ thuật số.6
Ngày nay khi khoa học công nghệ phát triển, các tác phẩm khơng chỉ cịn tồn tại
dưới các định dạng vật chất thuần túy mà còn dưới các dạng kỹ thuật số. Với các thư
viện ở vùng xâu vùng xa, việc có được các bản sao định dạng vật chất, bản in cứng là
rất khó khăn, và do đó khả năng tiếp cận tri thức của những vùng này cũng bị hạn chế.
Để văn hóa, kiến thức đến được với mọi người, không chỉ ở các thành phố mà ở cả
6


Điều 32 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP

9


các vùng nơng thơn, vùng sâu vùng xa, cần có những hành lang pháp lý quy định các
giới hạn và ngoại lệ cho thư viện trong môi trường số. Việc lưu trữ, bảo quản tài liệu
số ngày càng được đặt ra với những thách thức mới trong thời đại số cần được điều
chỉnh trong pháp luật.
Các quy định pháp luật về giới hạn và ngoại lệ dành cho thư viện cần được sửa
đổi, bổ sung, hướng dẫn cụ thể để phù hợp với sự thay đổi của khoa học, công nghệ,
kỹ thuật số hiện nay.
Pháp luật cần sửa đổi bổ sung theo hướng cho phép thư viện số hóa dưới dạng bản
ghi điện tử tài liệu trong vốn tài liệu của thư viện trong phạm vi cần thiết để phục vụ
cho việc sử dụng công cộng như là việc thay thế cho một bản gốc trong tài liệu thư
viện của mình, với mục đích tránh làm hỏng, hoặc làm bẩn tác phẩm gốc do việc sử
dụng công cộng ... hoặc để khai thác một tác phẩm đã khơng cịn được in. Cho phép
thư viện thực hiện truyền tương tác tác phẩm đã khơng cịn được in và khơng cịn lưu
thơng trên thị trường bằng cách sử dụng một bản sao của tác phẩm được ghi lại trên
bộ nhớ với mục đích làm sẵn tác phẩm để phục vụ bạn đọc thư viện. Cho phép thư
viện tạo một bản sao duy nhất của một phần của tác phẩm được làm bằng một truyền
tương tác, trong phạm vi của hoạt động phi lợi nhuận của thư viện theo yêu cầu của
người sử dụng của các thư viện, với mục đích nghiên cứu cá nhân. Cho phép thư viện
làm bản sao số các tài liệu phục vụ mục đích nghiên cứu, nhưng phải tuân thủ một số
điều kiện rằng thư viện phải cung cấp cho người dùng thông tin về điều kiện sử dụng
bản sao, và thư viện tiêu hủy toàn bộ các bản sao tạm thời dùng để làm và phân phối
bản sao được phép. Luật cũng quy định cho phép bản sao số để bảo quản trong trường
hợp người dùng thư viện không thể tiếp cận được với bản gốc. Luật cho phép thư viện
làm các bản sao bảo quản bên cạnh các bản gốc, nhưng không được làm bản sao trong
trường hợp bản sao là bản số.

Kết luận
Trong điều kiện phát triển nhanh chóng của kỹ thuật số, với sự phát triển của các
định dạng mới của tác phẩm bao gồm cả phương thức truyền tải được chuyển từ bản
in sang các bản sao kỹ thuật số, các quy định giới hạn và ngoại lệ hiện hành không đủ
để cho phép các thư viện thực hiện các dịch vụ này một cách hiệu quả. Đặc biệt là
trong điều kiện Việt Nam phát triển kinh tế tri thức và xu thế hội nhập quốc tế hiện
10


nay, hành lang pháp lý cho việc thực thi bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan nói
chung, quyền tác giả đối trong hoạt động thư viện nói riêng đóng vai trò rất quan trọng
nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các tác giả, khuyến khích đầu tư sáng
tạo, cân bằng lợi ích của tác giả, người khai thác sử dụng và cơng chúng hưởng thụ.
Chính vì vậy, cần phải nghiên cứu, xem xét lại các quy định hiện hành về giới hạn và
ngoại lệ để đáp ứng được những thay đổi công nghệ và để tạo điều kiện cho việc tiếp
cận tri thức, đồng thời ngăn chặn nạn vi phạm bản quyền để khuyến khích sáng tạo./.

11


Tài liệu tham khảo
1. Cục Bản quyền tác giả (2015), Các quy định pháp luật Việt Nam về quyền
tác giả, quyền liên quan, Hà Nội.
2. Kenneth Crews (2008), Study on copyright limitations and exceptions for
libraries and archives, WIPO, SCCR/17/2
3. Japan Copyright Institute Copyright Research and Information Center
(August 2009), Copyright White Paper – A view from the perspective of copyright
industries (Vol.3), Japan.
4. World Intellectual Property Organization, Glossary: terms and definitions,
website www.wipo.int

5. http://www.wipo.int
6. http://www.wto.org
7. http://www.cov.gov.vn
8. http://www.chinhphu.vn
9. http://duthaoonline.quochoi.vn

12


BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA THƢ VIỆN
(Bài đã đăng trên tạp chí Khoa học pháp lý, số 3/2015)
Lê Thị Nam Giang*

BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA THƢ VIỆN
COPYRIGHT PROTECTION IN ACTIVITIES OF LIBRARY
Abstract
Due to its functions and duties, activities of library always connect with the utilization
of copyright. Amongs the economic rights of copyright‟s holder, there are rights
relating closely to activities of library, including rights: (i) To reproduce their works;
(ii) To display their works to the public; (iii) To distribute works; (iv) To translate
works. While performing their tasks and roles, library has responsibility for
complying legal provisions on copyright, and simultaneously, for ensuring the
public‟s ability to effectively exploit library‟s resources. It is not a simple role,
especially in the context of strengthening global copyright protection meanwhile the
law on copyright protection in terms of library‟s activities still has certain
shortcomings. This paper deals with the copyright utilization in library‟s activities
under copyright law and suggests some implications in enhancing copyright protection
relating to library‟s activities in Vietnam.
Tóm tắt
Xuất phát từ chính chức năng, nhiệm vụ của thư viện, các hoạt động của thư viện luôn

gắn liền với vấn đề khai thác quyền tác giả. Trong các quyền tài sản của chủ sở hữu
quyền tác giả, các quyền liên quan chặt chẽ đến hoạt động của các thư viện bao gồm:
(i) quyền sao chép tác phẩm; (ii) quyền truyền đạt tác phẩm tới công chúng; (iii)
quyền phân phối tác phẩm, (iv) quyền dịch tác phẩm. Khi thực hiện nhiệm vụ, chức
năng của mình, thư viện có nghĩa vụ tn thủ các quy định của pháp luật về quyền tác
giả, mặt khác phải đảm bảo để cơng chúng có thể khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên
của thư viện. Đây không phải là nhiệm vụ đơn giản, đặc biệt trong bối cảnh tăng
cường bảo hộ quyền tác giả được thực hiện trên phạm vi toàn cầu trong khi pháp luật
điều chỉnh các quan hệ quyền tác giả trong hoạt động thư viện còn bộc lộ những bất
cập nhất định. Bài viết phân tích việc khai thác các quyền tài sản trong hoạt động thư

13


viện dưới góc độ pháp luật quyền tác giả và đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả bảo hộ quyền tác giả trong hoạt động thư viện tại Việt Nam.
1. Khái quát về quyền tác giả trong hoạt động của thƣ viện
Hoạt động của thư viện luôn gắn chặt với vấn đề bảo hộ quyền tác giả. Điều
này xuất phát từ chính chức năng, nhiệm vụ của thư viện là “giữ gìn di sản thư tịch
của dân tộc; thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng chung vốn tài liệu
trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập,
nghiên cứu, cơng tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, cơng nghệ, kinh tế, văn
hóa, phục vụ cơng cuộc cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
1

. Như vậy, thư viện có hai nhiệm vụ chính: (i) giữ gìn, thu thập, tàng trữ, tổ chức việc

khai thác và sử dụng chung các nguồn tài nguyên thông tin mà thư viện quản lý; (ii)
truyền bá tri thức, cung cấp thơng tin, góp phần phục vụ cơng cuộc xây dựng đất

nước. Việc thực hiện các nhiệm vụ trên luôn gắn chặt với vấn đề bảo hộ quyền tác giả
vì bản thân nguồn tài nguyên thông tin của thư viện là các đối tượng được bảo hộ
quyền tác giả, mặt khác các hoạt động thu thập, tổ chức khai thác nguồn tài nguyên
thư viện đều gắn với vấn đề khai thác quyền tác giả.Tại Việt Nam, Pháp lệnh Thư viện
quy định thư viện được quyền thu phí đối với các dịch vụ sao chụp, nhân bản tài liệu,
biên dịch phù hợp với pháp luật về bảo hộ quyền tác giả; biên soạn thư mục; phục vụ
tài liệu tại nhà hoặc gửi qua bưu điện và một số dịch vụ khác theo yêu cầu của người
sử dụng vốn tài liệu thư viện2.
Về mặt nguyên tắc, trong suốt thời hạn bảo hộ quyền tác giả, các tác giả, chủ sở
hữu quyền tác giả được pháp luật bảo hộ các quyền độc quyền đối với tác phẩm của
mình, bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân luôn thuộc về
tác giả, khơng thể chuyển giao cịn quyền tài sản thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả,
trong trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả, và có thể
chuyển giao. Tuy nhiên có một quyền nhân thân khá đặc biệt là quyền công bố, cho
phép công bố tác phẩm được pháp luật Việt Nam quy định như quyền tài sản, có nghĩa
là thuộc về chủ sở hữu tác phẩm và có thể được chuyển giao. Trong suốt thời hạn bảo
*

TS. Luật, Giám đốc Trung tâm SHTT Trường ĐH Luật TP.HCM
Điều 1 Pháp lệnh Thư viện Số 31/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28/12/2000 (Sau đây gọi tắt là Pháp lệnh Thư
viện Việt Nam).
1

14


hộ quyền tác giả, các hành vi sử dụng tác phẩm đều phải được sự cho phép của chủ sở
hữu quyền tác giả. Trong các quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả, các quyền
liên quan chặt chẽ đến hoạt động của các thư viện bao gồm: (i) quyền sao chép tác
phẩm; (ii) quyền truyền đạt tác phẩm tới công chúng; (iii) quyền phân phối tác phẩm,

(i) quyền làm tác phẩm phái sinh trong đó có quyền dịch tác phẩm.
2. Quyền sao chép trong hoạt động thƣ viện
2.1. Khái niệm quyền sao chép
Theo khoản 10 Điều 4Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) Việt Nam3, “sao chép” được
hiểu là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình
bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình
thức điện tử.Việc sao chép có thể được tiến hành một cách trực tiếp – là việc tạo ra
bản sao từ chính các tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, hoặc gián tiếp – là việc tạo ra các
bản sao khác khơng từ chính các tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, như sao chép từ
mạng thơng tin điện tử, chương trình phát sóng, dịch vụ mạng bưu chính viễn thơng
liên quan và các hình thức tương tự khác. Khái niệm tác phẩm được hiểu rất rộng, bao
gồm các sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện
bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào (sau đây gọi tắt là tác phẩm).
Quyền sao chép là một trong những quyền tài sản quan trọng nhất của chủ sở hữu
quyền tác giả, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ trong suốt thời hạn tác phẩm được
bảo hộ.Xuất phát từ tính vơ hình của các tài sản trí tuệ, các tác phẩm cũng như các tài
sản trí tuệ khác có khả năng cho phép nhiều người cùng có thể khai thác cùng một thời
điểm ở nhiều địa điểm khác nhau mà không làm mất hay giảm giá trị của các tài sản
này. Cũng xuất phát từ tính vơ hình này, các tác phẩm khi bị cơng bố có thể bị truyền
đạt, bị sao chép, phân phối một cách rất dễ dàng với số lượng lớn mà chủ sở hữu rất
khó kiểm soát hiệu quả. Với sự phát triển của khoa học công nghệ, các máy
photocopy, máy scan và các thiết bị dùng để sao chép khác ngày càng hiện đại đã làm
cho việc sao chép tác phẩm với một số lượng rất lớn trong một thời gian ngắn được
tiến hành một cách dễ dàng, chất lượng gần như bản gốc nhưng giá thành rẻ hơn rất
2

Điều 23 Pháp lệnh Thư viện Việt Nam..
Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 19/11/2005, được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 ngày
19/6/2009 (Sau đây gọi tắt là Luật SHTT).
3


15


nhiều. Đặc biệt, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, việc sử dụng phổ
biến các thiết bị đầu cuối đã làm cho việc sao chép tác phẩm trong mơi trường số gần
như khơng kiểm sốt được với chất lượng bản sao hoàn toàn như bản gốc. Việc cho
phép sao chép tác phẩm và thu lợi ích kinh tế từ hành vi này là một trong những hình
thức khai thác tác phẩm phổ biến nhất, mang lại cho các tác giả, chủ sở hữu quyền tác
giả những lợi ích kinh tế to lớn. Ngược lại, việc sao chép trái phép các tác phẩm sẽ
làm tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả mất lợi nhuận từ việc khai thác tác phẩm. Vì
vậy, quyền sao chép được coi là quyền tài sản quan trọng nhất của chủ sở hữu quyền
tác giả, là độc quyền của chủ sở hữu quyền tác giả cho phép hay ngăn cấm người khác
sao chép tác phẩm của mình. Quyền sao chép được quy định trong rất nhiều các điều
ước quốc tế về quyền tác giả mà điển hình là Cơng ước Berne4 và trong pháp luật các
quốc gia. Tại Việt Nam, quyền sao chép được quy định trong Điều 20 Luật SHTT và
khoản 2 Điều 23Nghị định 100/2006/NĐ-CP5.
Cung cấp dịch vụ sao chép là một trong những hoạt động phổ biến của các thư
viện tại Việt Nam cũng như các nước trên thế giới. Pháp lệnh Thư viện Việt Nam quy
định thư viện có quyền cung cấp dịch vụ photo tài liệu và thu phí cho hoạt động photo
với điều kiện phải tuân thủ pháp luật quyền tác giả6. Như đã được phân tích ở trên,
pháp luật về quyền tác giả của Việt Nam quy định quyền sao chép tác phẩm, bao gồm
photocopy là quyền tài sản mang tính độc quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, do chủ
sở hữu thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện. Do đó, về nguyên tắc, các hoạt
động sao chép tác phẩm, dù được thực hiện tại thư viện bởi dịch vụ do thư viện cung
cấp hay ở bất cứ đâu, dù sao chép toàn bộ tác phẩm hay một phần của tác phẩm, đều
phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và phải trả thù lao.
2.2. Các trƣờng hợp sao chép tác phẩm không phải xin phép, không phải trả thù
lao
a. Tự sao chép không quá một bản nhằm mục đích nghiên cứu, giảng dạy

4

Được quy định trong Điều 9 của Công ước Berne 1886 về tác phẩm văn học, nghệ thuật.
Nghị định số 100/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật
Dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số
85/2011/NĐ-CP và Nghị định số 01/2012/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định số 100/2006/NĐ-CP).
6
Điều 23 Pháp lệnh Thư viện Số 31/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28/12/2000.
5

16


Như đã được khẳng định ở trên, trong suốt thời hạn bảo hộ quyền tác giả, chủ sở
hữu quyền tác giả giữ độc quyền đối với việc sao chép tác phẩm. Tuy nhiên, pháp luật
SHTT Việt Nam cũng như pháp luật các nước đều cho phép sử dụng tác phẩm, bao
gồm sao chép tác phẩm trong những trường hợp nhất định mà không phải xin phép,
không phải trả thù lao và những trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép
nhưng phải trả thù lao7. Một trong những trường hợp sao chép không phải xin phép và
không phải trả thù lao được quy định tại khoản 1 Điều 25 điểm a (viết tắt là Điều
25(1(a)) Luật SHTTViệt Nam là “Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu
khoa học, giảng dạy của cá nhân”. Theo đó, việc sao chép tác phẩm không phải xin
phép, không phải trả tiền nhuận bút và thù lao chỉ được tiến hành khi đáp ứng được
các điều kiện sau: (i) tự thực hiện hành vi sao chép; (ii) và số lượng bản sao chép
khơng q một bản; (iii) chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học và giảng dạy; (iv)
việc sao chép phải khơng được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác
phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
Quy định trên được đưa ra trên cơ sở quy định của Công ước Berne 1886 về
bảo hộ tác phẩm văn học, khoa học, trong đó Cơng ước cho phép các quốc gia thành
viên được quyền quy định trong pháp luật của mình về các trường hợp sử dụng ngoại

lệ quyền tác giả miễn là phải tuân thủ ba điều kiện: (i) các trường hợp này phải được
quy định trong pháp luật quốc gia; (ii) không phương hại đến quyền của tác giả; (iii)
khơng ảnh hưởng đến sự khai thác bình thường tác phẩm. Tuy nhiên, quy định tại
Điều 25 Luật SHTT Việt Nam đã thu hẹp một cách quá khắt khe các trường hợp sao
chép tác phẩm không cần xin phép, không cần trả thù lao, ảnh hưởng việc khai thác
tác phẩm của công chúng. Một là, quy định của pháp luật về hành vi “tự sao chép” gây
nhiều tranh cãi trong cách hiểu và áp dụng, nhưng nhìn chung có hai quan điểm cơ
bản. Theo quan điểm thứ nhất, hành vi “tự sao chép” phải được hiểu là người sao chép
phải “tự mình” thực hiện hành vi đó, ví dụ như tự mình vận hành máy photocopy chứ
khơng phải u cầu người khác thực hiện. Quan điểm thứ hai cho rằng, hành vi “tự
sao chép” phải được hiểu ở nghĩa rộng hơn, ví dụ nếu người sao chép tự mình mang
tác phẩm đến một cơ sở photocopy nào đó, yêu cầu photocopy tác phẩm cũng được
hiểu là hành vi “tự sao chép”. Các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật SHTT
7

Tại Việt Nam, vấn đề này được quy định trong Điều 25, 26 Luật SHTT.

17


về quyền tác giả khơng có bất cứ giải thích nào về hành vi “tự sao chép”. Do đó, nếu
hiểu theo quan điểm thứ nhất thì ngay cả đối với các giảng viên, họ cũng khơng có cơ
hội để thực hiện quyền này cho chính mục đích nghiên cứu khoa học và giảng dạy vì
điều kiện vật chất của các trường đại học ở Việt Nam không cho phép các giảng viên
cơ hội được “tự mình” sử dụng các máy photocopy. Hiểu theo quan điểm này, thư
viện cũng không thể cung cấp dịch vụ cung cấp các bản sao của tác phẩm dù phục vụ
cho mục đích nghiên cứu khoa học và giảng dạy, nếu chưa được sự cho phép của chủ
sở hữu quyền tác giả. Hai là, mục đích sao chép chỉ giới hạn ở mục đích nghiên cứu
và giảng dạy. Như vậy, trong trường hợp chỉ cần photocopy một phần rất nhỏ của tác
phẩm cho các mục đích nằm ngồi mục đích nghiên cứu khoa học và giảng dạy, ví dụ

như mục đích học tập, mục đích giải trí … cũng khơng thuộc trường hợp khơng cần
xin phép, không cần trả thù lao. Trong điều kiện hiện nay, khi mà việc quản lý nhà
nước đối với hoạt động photocopy chưa được thắt chặt thì quy định này chưa thực sự
gây trở ngại tới việc sử dụng tác phẩm của công chúng. Tuy nhiên, trong tương lai
gần, khi mà các hoạt động nhằm đảm bảo thực thi quyền tác giả được đẩy mạnh, các
hoạt động sao chép sẽ phải thực thi theo đúng quy định của pháp luật quyền tác giả thì
quy định này sẽ trở thành rào cản đối với việc sử dụng tác phẩm và xa hơn là đối với
mục đích của pháp luật quyền tác giả là nhằm khuyến khích hoạt động sáng tạo, phổ
biến tác phẩm có giá trị phục vụ cho mục đích phát triển văn hóa, giáo dục.
b. Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu
Điểm đ khoản 1 Điều 25 Luật SHTT quy định trong trường hợp sao chép tác phẩm
để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu thì sẽ khơng phải xin phép, không
phải trả tiền nhuận bút, không phải trả thù lao. Giải thích rõ hơn về quyền sao chép
trong hoạt động thư viện, Điều 25 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP quy định:“Sao chép
tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu quy định tại điểm đ khoản
1 Điều 25 của Luật SHTT là việc sao chép không quá một bản. Thư viện không được
sao chép và phân phối bản sao tác phẩm tới công chúng, kể cả bản sao kỹ thuật số”.
Tuy nhiên, trong trường hợp nào thư viện được phép sao chép để lưu trữ hiện nay vẫn
còn là vấn đề tranh cãi. Pháp luật Việt Nam chỉ quy định nguyên tắc chung là thư viện
được quyền sao chép tác phẩm để lưu trữ nhằm mục đích nghiên cứu mà khơng quy
định cụ thể, chi tiết về vấn đề này. Trong phiên họp của Ủy ban Quyền tác giả và
18


quyền liên quan của WIPO vào tháng 12/2013, vấn đề này được đưa ra thảo luận và
nhận được rất nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng quyền này chỉ được phép
khi bản gốc không thể lưu trữ được, nhưng đa số các ý kiến đều cho rằng thư viện chỉ
được quyền lưu trữ nhằm mục đích cơng cộng, phi lợi nhuận, nhằm bảo tồn di sản văn
hóa.
Với quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các hoạt động sao chép tác phẩm

theo yêu cầu của người đọc của các thư viện tại Việt Nam đều phải được sự cho phép
của chủ sở hữu quyền tác giả. Điều này thực sự gây khó khăn cho hoạt động của các
thư viện trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Bởi lẽ, thứ nhất, các đầu
sách được lưu trữ trong thư viện là rất lớn, khó có thể thực hiện việc xin phép và/hoặc
trả thù lao cho các tác giả của tất các tác phẩm này. Mặc dù vấn đề này có thể được
giải quyết thơng qua các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, ví dụ Hiệp hội bảo vệ
quyền sao chép Việt Nam. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi pháp luật Việt Nam phải hoàn
thiện các quy định về quản lý hoạt động của các tổ chức này cũng như bản thân các tổ
chức này cũng phải tự hồn thiện mình. Thứ hai, trong nhiều trường hợp độc giả chỉ
có nhu cầu sử dụng một phần tác phẩm và đa số các trường hợp yêu cầu photocopy tài
liệu tại thư viện là nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc mục đích học tập, giảng
dạy chứ khơng phải mục đích thương mại.
Tóm lại, các quy định hiện hành của pháp luật cho thấy, nếu tuân thủ đúng quy
định của pháp luật quyền tác giả, thư viện sẽ không được phép cung cấp dịch vụ sao
chép khi chưa có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả, dù có thu phí hay khơng
thu phí. Nhằm quyết vấn đề này, nhiều thư viện hiện nay tự đưa ra quy định cho phép
photocopy 10% hoặc 15% tác phẩm và tiến hành thu phí đối với dịch vụ này. Rõ ràng
các quy định này chỉ là giải pháp tình thế và khơng phù hợp với pháp luật Sở hữu trí
tuệ Việt Nam hiện hành.
3. Quyền truyền đạt, phân phối tác phẩm
Theo pháp luật Việt Nam, quyền truyền đạt tác phẩm tới công chúng được hiểulà
quyền độc quyền của chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cho phép người khác
thực hiện để đưa tác phẩm hoặc bản sao tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện
hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào
19


khác mà cơng chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa
chọn.
Quyền phân phối bản gốc, bản sao tác phẩm là độc quyền của chủ sở hữu quyền

tác giả do chủ sở hữu thực hiện hoặc cho người khác thực hiện bằng việc sử dụng bất
kỳhình thức, phương tiện kỹ thuật nào mà cơng chúng có thể tiếp cận được để bán,
cho th hoặc các hình thức chuyển nhượng khác.
Hiện nay, rất nhiều thư viện đã triển khai số hóa các tài liệu lưu trữ để giúp người
đọc dễ dàng hơn trong việc tra cứu và tiếp cận nội dung của tài liệu. Tài liệu được số
hóa đưa lên mạng thư viện, có thể đọc tồn văn ngay trong trình duyệt hoặc tải xuống
để đọc qua một bộ đọc với các thao tác thuận tiện. Tài liệu số có thể được lưu trữ ở bất
kỳ đâu, không nhất thiết phải nằm trên máy chủ đặt tại thư viện. Với công nghệ đám
mây, bản thân thư viện chỉ biết nhà cung cấp dịch vụ, khơng cần biết dữ liệu của mình
nằm ở đâu trên Internet8.
Tài nguyên thông tin trong thư viện điện tử đến chủ yếu từ các nguồn: (i) các
nguồn thông tin điện tử được thư viện mua hoặc được tặng cho, hoặc do thư viện thu
thập trên mạng Internet, có xử lý thông tin hoặc không; (ii) thông tin được thư viện
thuê từ các nhà cung cấp; (iii) các loại sách, tài liệu được công bố dưới dạng bản giấy,
được các thư viện mua hợp pháp sau đó thư viện tiến hành số hóa.
Đối với các tác phẩm in được thư viện mua một cách hợp pháp, hoặc tác phẩm
được nộp lưu chiểu, sau đó số hóa và lưu trữ trên kho số của viện, câu hỏi đặt ra là
quyền sử dụng, khai thác của thư viện đối với các tác phẩm này được mở rộng đến
đâu theo pháp luật quyền tác giả? Liệu thư viện có quyền cho phép người đọc truy cập
hay tải các tài liệu này về máy tính của họ hay khơng? Thư viện có quyền thu phí từ
việc cho phép sử dụng đó hay khơng?
Đơi khi, việc sử dụng tác phẩm trong môi trường truyền thống được xem là không
xâm phạm quyền tác giả nhưng trong môi trường số vấn đề có thể được nhìn nhận ở
góc độ khác đi. Ví dụ, trong các thư viện truyền thống hiện nay, trong kho tác phẩm
của thư viện bao gồm các nguồn sách do thư viện đặt mua, các nguồn sách do được
8

Hà Thân, Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thư viện số, kỷ yếu hội thảo: Bảo hộ quyền tác giả trong môi
trường số được tổ chức tại trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, 5/2013.


20


tặng cho từ tổ chức, cá nhân có thể là chủ sở hữu quyền tác giả, có thể khơng phải chủ
sở hữu quyền tác giả, các sách được nộp lưu chiểu. Các tác phẩm này được lưu giữ có
thể chỉ là một bản duy nhất, có thể nhiều bản. Các độc giả đến thư viện đều được
quyền tự do đọc tại chỗ, thậm chí một số trường hợp, nếu có nhiều đầu sách trên một
tác phẩm, độc giả có thể mượn mang về nhà mà khơng bị tính phí. Thực chất trong
trường hợp này, hành vi này cũng cần được xem xét dưới góc độ pháp luật quyền tác
giả. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, đây được xem như một hoạt động bình thường
của thư viện truyền thống nhằm thực hiện chức năng của mình mà khơng có bất cứ
một sự phản đối nào từ phía chủ sở hữu quyền tác giả hay từ cá nhân, tổ chức khác9.
Tuy nhiên nếu thư viện số hóa các nguồn sách này, lưu trữ và cho phép truy cập
hoặc phân phối trên Internet thì đây là hành vi xâm phạm quyền. Như trên chúng tơi
đã phân tích, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, thư viện không được
phép cho người đọc tải các tài liệu trên thư viện điện tử về máy tính cá nhân, nếu như
chưa có sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả. Trên thực tế, nhiều thư viện hiện nay
không cho phép người sử dụng được tải các tài liệu số và một số thư viện đã áp dụng
các biện pháp kỹ thuật nhằm ngăn cản việc tải trái phép các tài liệu trên kho thư viện
số. Vậy còn quyền truy cập tác phẩm thì sao? Bản chất của việc cho phép truy cập là
việc khai thác quyền truyền đạt tác phẩm. Và quyền này cũng thuộc độc quyền của
chủ sở hữu quyền tác giả. Do đó, về nguyên tắc, thư viện khi tiến hành số hóa tác
phẩm và cho phép sử dụng các tác phẩm này phải được sự cho phép của chủ sở hữu
quyền tác giả. Khi mua một tài khoản (account) để được sử dụng thư viện số, người
đọc có mục đích rõ ràng: được phép truy cập vào các nguồn thơng tin của thư viện,
thậm chí mong muốn được sao chépnguồn thơng tin đó. Nhưng nếu thư viện, mặc dù
đã mua các tác phẩm một cách hợp pháp, số hóa tác phẩm và cho phép người đọc truy
cập tác phẩm mà khơng có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả là đã vi phạm
đến quyền truyền đạt tác phẩm và điều này ảnh hưởng đến sự khai thác tác phẩm của
chủ sở hữu quyền tác giả. Đây là điều công bằng, bởi lẽ, với thư viện điện tử, sự tiện

ích mang lại cho người sử dụng rất nhiều, họ khơng cần đến thư viện mà có thể ở bất
cứ nơi nào có nối mạng Internet là có thể truy cập được tài liệu, thao tác đơn giản,
9

Lê Thị Nam Giang, “Những thách thức về mặt pháp lý trong việc bảo hộ quyền tác giả trên môi trường
Internet”, kỷ yếu hội thảo: Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số được tổ chức tại trường Đại học Luật TP.
Hồ Chí Minh, 5/2013.

21


nhanh chóng. Tuy nhiêncũng chính điều đó lại ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của chủ
sở hữu quyền tác giả, làm họ mất đi một khoản thu lớn đối với việc khai thác tác phẩm
của mình. Do đó, tìm được điểm cân bằng giữa lợi ích của chủ sở hữu quyền tác giả
và người sử dụng là quan trọng và pháp luật phải đóng vai trị quan trọng khi đưa ra
được những biện pháp tích hợp nhằm giải quyết vấn đề này. Nhưng rất tiếc là tại Việt
Nam hiện nay, các quy định của pháp luật về bảo hộ quyền tác giả trong hoạt động
của thư viện vẫn còn thiếu, còn nhiều điểm chưa rõ ràng, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung
cho phù hợp.
Câu hỏi đặt ra là nếu vẫn từ các nguồn sách đó, thư viện số hóa và lưu trữ trên máy
chủ một bản sao tác phẩm, cho phép người đọc truy cập chỉ trong mạng nội bộ của thư
viện chứ không phải trên mạng Internet, khơng thu phí truy cập, khơng cho phép tải
sách về thì thư viện có xâm phạm quyền sao chép và quyền truyền đạt tác phẩm tới
công chúng không? Nếu hiểu theo các quy định hiện hành của pháp luật, trong trường
hợp này thư viện đã có hành vi xâm phạm quyền sao chép và quyền truyền đạt tác
phẩm tới công chúng. Nếu thư viện thu tiền khi người sử dụng truy cập nguồn dữ liệu
này thì thư viện đã xâmphạm cả quyền phân phối tác phẩm. Tuy nhiên, thư viện có
chức năng, nhiệm vụ giữ gìn di sản thư tịch của dân tộc; thu thập, tàng trữ, tổ chức
việc khai thác và sử dụng chung vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức,
cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi

tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài,
phát triển khoa học, cơng nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ cơng cuộc cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Thiết nghĩ, pháp luật cần có quy định cụ thể về bảo hộ quyền
tác giả trong hoạt động thư viện, giải quyết được sự mâu thuẫn trong việc bảo hộ
quyền tác giả trong các thư viện số với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của thư
viện.
4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền tác giả trong hoạt
động của thƣ viện
4.1 . Kiến nghị sửa đổi quy định tại Điều 25 Luật SHTT Việt Nam và Điều 25
Nghị định số 100/2006/NĐ-CP

22


Một trong những giải pháp căn bản cho việc đảm bảo thực thi quyền tác giả tại
thư viện Việt Nam là cần hoànthiện các quy định của pháp luật Việt Nam về các
trường hợp cho phép sử dụng tác phẩm không cần xin phép, không cần trả thù lao
được quy định tại Điều 25 Luật SHTT và Điều 25 Nghị định 100/CP-NĐ-2006.
Nhằm tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động sao chép tại thư viện nói riêng cũng như
mở rộng khả năng tiếp cận tác phẩm của người sử dụng, phù hợp với quy định của
pháp luật quốc tế, chúng tôi kiến nghị:
Một là,điểm a khoản 1 Điều 25 Luật SHTT cần được sửa đổi theo hướng bỏ
quy định về hành vi “tự sao chép”. Cụ thể, Điều 25 khoản 1 điểm a sẽ được sửa đổi
như sau:
“Sao chép không quá một bản nhằm mục đích nghiên cứu và giảng dạy”.
Hai là, cần bổ sung thêm quy định tại Điều 25 Luật SHTT và Điều 25 Nghị
định số 100/2006/NĐ-CP về trường hợp sao chép không cần xin phép, không cần trả
tiền thù lao nếu “sao chép không quá 10% tác phẩm” mà khơng phụ thuộc vào mục
đích “nghiên cứu khoa học và giảng dạy”.
Cụ thể, Điều 25 sẽ thêm một điều khoản: “Sao chép không quá 10% tác phẩm

nhằm mục đích sử dụng cá nhân”.
Tất nhiên, trong tất cả các trường hợp trên vẫn cần đảm bảo nguyên tắc chung
là việc sao chép “không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác
phẩm, khơng gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả”.
4.2. Bổ sung các quy định về bảo hộ quyền tác giả trong hoạt động của thƣ viện
Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung Điều 25 Luật SHTT, pháp luật Việt Nam cần có
những quy định cụ thể điều chỉnh vấn đề quyền tác giả trong hoạt động của thư viện,
đảm bảo cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu quyền tác giả, lợi ích của người sử dụng và
đảm bảo cho thư viện thực hiện các chức năng của mình. Một trong những vấn đề
quan trọng là làm rõ các quyền của thư viện điện tử trong việc sao chép tác phẩm
nhằm mục đích lưu trữ, quyền truyền đạt tác phẩm, phân phối tác phẩm, đặc biệt đối
với hoạt động của thư viện điện tử. Thiết nghĩ, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của
thư viện, pháp luật cần có quy định riêng về vấn đề này.
23


4.3. Tăng cƣờng các biện pháp bảo vệ quyền tác giả trong hoạt động của thƣ viện
Tăng cường công tác kiểm tra về bản quyền nhằm ngăn chặn nguồn thông tin
vi phạm bản quyền trong quá trình mua, thuê cơsở dữ liệu
Nhằm thực hiện nhiệm vụ “tăng cường nguồn lực thông tin” và đảm bảo chức
năng “thu thập, lưu trữ và phổ biến, cung cấp tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập,
nghiên cứu, hỗ trợ khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin đáp ứng nhu cầu bạn
đọc”, các thư viện thường đi theo chiến lược phát triển song song hai loại hình tài liệu
– tài liệu in và tài liệu điện tử. Tài liệu in của các thư viện thường được tập hợp chủ
yếu từ 3 nguồn: nguồn mua, nguồn lưu chiểu và nguồn tặng/ tài trợ. Tài liệu điện tử
thường được tập hợp từ các nguồn: (i) nguồn thông tin điện tử mua hoặc được cho
tặng; (ii) thuê các cơ sở dữ liệu; (iii) số hóa các nguồn tài liệu in của thư viện.
-

Quy định về quyền khai thác tác phẩm của người học đối với thư viện các

trường đại học
Riêng đối với thư viện tại các trường đại học, viện nghiên cứu, hoạt động của

các thư viện này có một số điểm đặc thù so với các thư viện khác.
Thứ nhất,về nguồn tài nguyên thư viện của các trường đại học, bên cạnh các tác
phẩm như các thư viện thơng thường cịn có một số lượng lớn các tác phẩm là cơng
trình nghiên cứu khoa học của các giảng viên và của người học; bao gồm nhưng
không bị giới hạn bởi các tác phẩm sau: cơng trình nghiên cứu khoa học, bài báo khoa
học, khóaluận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, các cơng trình nghiên cứu
cơng bố trong các hội thảo, hội nghị... Về mặt ngun tắc, các cơng trình trên thuộc
quyền sở hữu của tác giả, không phải của nhà trường, trừ trường hợp Nhà trường có
quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.
Tuy nhiên, Điều 7 Quy định về quản lý tài sản trí tuệ đươc ban hành kèm theo
Quyết định số 78/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và đào tạo về Quản lý tài sản trí
tuệ trong các trường đại học có quy định: “Quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ được
xác định tương ứng với tỷ lệ đóng góp nguồn lực để tạo ra tài sản trí tuệ, nếu các bên
khơng có thỏa thuận khác” và “Người học được hưởng một phần hoặc toàn bộ quyền
tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với khóa luận (đồ án), luận văn,
luận án, cơng trình nghiên cứu khoa học trên cơ sở được người hướng dẫn khoa học,
24


các cộng sự chấp thuận và được cơ sở giáo dục đại học xác nhận. Việc sử dụng cơ sở
vật chất của cơ sở giáo dục đại học để thực hiện khóa luận (đồ án), luận văn, luận án
và cơng trình nghiên cứu khoa học tuân theo quy chế quản lý cơ sở vật chất của cơ sở
giáo dục đại học”. Chúng tôi cho rằng quy định này chỉ thực sự phù hợp với các cơng
trình nghiên cứu khoa học của người học, vì đối với các cơng trình này, có thể giảng
viên sẽ phải bỏ ra rất nhiều cơng sức và trí tuệ, thậm chí là cộng sự cùng người học
thực hiện. Tuy nhiên, đối với luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp, người thầy chỉ
đóng vai trị là người hướng dẫn khoa học, không thể là đồng tác giả hay cùng thực

hiện đề tài với người học. Do đó quy định này sẽ khơng phù hợp với các luận án, luận
văn và khóa luận tốt nghiệp. Tuy nhiên, quy định này đã dành cho trường đại học
quyền tự quyết định trong việc xác định quyền sở hữu cũng như quyền khai thác các
tác phẩm trên.
Do đó, ngồi việc lưu trữ một bản tại thư viện, các quyền tài sản khác như quyền sao
chép, truyền đạt tác phẩm, phân phối tác phẩm thuộc về tác giả của tác phẩm, thư viện
khi thực hiện các quyền trên theo nhu cầu của người đọc, về nguyên tắc phải có sự cho
phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
Thứ hai, đối tượng người đọc là người học và các nhà nghiên cứu, bao gồm giảng
viên, do đó nhu cầu tiếp cận nguồn thơng tin thư viện chủ yếu nhằm mục đích học tập,
nghiên cứu khoa học và giảng dạy. Do đó, các trường đại học nên ban hành quy định
cho phép thư viện được quyền khai thác các tác phẩm của người học nhằm mục đích
phi thương mại. Điều này sẽ tạo cơ sở cho thư viện trong việc khai thác hợp pháp
nguồn thông tin này.
Soạn thảo các hướng dẫn về quyền tác giả đối với người sử dụng
Quy định này một mặt ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền tác giả từ người sử dụng,
mặt khác góp phần nâng cao ý thức bảo vệ quyền tác giả cho người sử dụng. Cách
thức này đặc biệt hữu ích đối với việc khai thác các cơ sở dữ liệu mà các thư viện th
của nhà cung cấp nước ngồi, trong đó có quy định rất rõ ràng về số lượng truy cập,
về các quyền được phép và khơng được phép. Do đó, trong trường hợp người sử dụng
vi phạm các quy định này, thư viện có thể phải gánh chịu trách nhiệm.
5. Kết luận
25


×