Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

Tài sản riêng của vợ, chồng chế độ pháp lý và thực tiễn giải quyết tranh chấp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.12 MB, 86 trang )

TRƢỜNG ĐH LUẬT TP.HCM
KHOA LUẬT DÂN SỰ
----------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

ĐỀ TÀI
TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG: CHẾ
ĐỘ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP

SVTH: NGUYỄN TIẾN PHÁT
KHĨA: 33

MSSV: 0855020096

GVHD: TH.S. LÊ VĨNH CHÂU

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT

TỪ ĐƢỢC VIẾT TẮT

TỪ VIẾT TẮT

1

HNGĐ



Hôn nhân và gia đình

2

BLDS

Bộ luật Dân sự

NĐ 70/2001/NĐ-CP

Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 03/01/2001 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hơn nhân

4

và gia đình

5

6

NQ 35/2000/QH10

Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của
Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình

Nghị quyết 02/2000/NĐ-

Nghị quyết 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23/12/2000


HĐTP

hƣớng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000

7

HĐXX

Hội đồng xét xử

8

UBND

Uỷ ban nhân dân

9

QSDĐ

Quyền sử dụng đất


MỤC LỤC
Lời nói đầu
Danh mục từ viết tắt
CHƢƠNG 1: CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG TRONG
PHÁP LUẬT HƠN NHÂN GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN HÀNH ............................... 01

1.1.

Khái quát về tài sản của vợ chồng ......................................................................... 01

1.2.

Ý nghĩa của chế định tài sản riêng của vợ chồng. ................................................. 02

1.3.

Phạm vi hiệu lực của Luật hôn nhân và gia đình theo thời gian và vấn đề tài sản
riêng ....................................................................................................................... 02

1.4.

Chế độ tài sản riêng của vợ chồng theo Luật Hơn nhân và gia đình năm 2000 ... 04

1.4.1. Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ chồng ............................................................ 05
1.4.2. Thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản riêng của vợ, chồng ................................ 16
CHƢƠNG 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN RIÊNG CỦA
VỢ, CHỒNG .................................................................................................................... 24
2.1.
2.2.

Tranh chấp về xác định tài sản có trƣớc thời kỳ hôn nhân .................................... 24
Tranh chấp về tài sản có đƣợc trong thời kỳ hơn nhân ......................................... 31

2.2.1. Tranh chấp về tài sản đƣợc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân ...................... 31
2.2.2. Tranh chấp về tài sản hình thành từ giao dịch bằng tài sản riêng của mỗi bên
vợ, chồng .............................................................................................................. 32

2.2.3. Tranh chấp về tài sản là hoa lợi, lợi tức hình thành từ tài sản riêng của
vợ, chồng .............................................................................................................. 35
2.2.4. Tranh chấp về quyền sử dụng đất đƣợc Nhà nƣớc giao trong thời kỳ hôn nhân .. 37
2.2.5. Tranh chấp về tiền gửi trong sổ tiết kiệm cá nhân ................................................ 39
2.3.

Về thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng ........................ 40

2.4.

Giải quyết tranh chấp về xác định tài sản nghĩa vụ riêng của mỗi bên
vợ, chồng .............................................................................................................. 43


CHƢƠNG 3: BẤT CẬP, VƢỚNG MẮC VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG ............................................................................. 48
3.1.

Một số bất cập về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng ........................................... 48

3.2.

Một số vƣớng mắc về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng .................................... 50

3.3.

Giải pháp liên quan đến chế độ tài sản riêng của vợ, chồng ................................. 55

3.3.1. Giải pháp liên quan đến một số tài sản của vợ chồng không thuộc Điều 27
và Điều 32 Luật HNGĐ 2000 ................................................................................ 55

3.3.2. Giải pháp về tài sản là đồ dùng, tƣ trang cá nhân ................................................. 58
3.3.3. Giải pháp về thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản riêng của vợ, chồng ........... 61
3.3.4. Giải pháp về thỏa thuận sát nhập tài sản riêng vào tài sản chung của
vợ chồng ................................................................................................................ 62
3.3.5. Cần thừa nhận chế độ hôn ƣớc .............................................................................. 63
3.3.6. Một số giải pháp khác............................................................................................ 66
Kết luận............................................................................................................................. 71
Danh mục tài liệu tham khảo


LỜI NĨI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 1986, chế định tài sản riêng của vợ, chồng đã đƣợc quy định trong Luật
HNGĐ. Trên cơ sở kế thừa, Luật HNGĐ 2000 đã tiếp tục ghi nhận chế định tài sản riêng
của vợ, chồng với nhiều quy định cụ thể. Song, sau hơn 11 năm thực hiện cùng với sự
biến đổi không ngừng của các quan hệ xã hội, một số quy định của Luật đã xuất hiện
nhiều bất cập, khơng cịn phù hợp với u cầu của thực tiễn. Điều này đã gây khó khăn,
vƣớng mắc trong việc áp dụng pháp luật cũng nhƣ trong công tác xét xử, giải quyết các
tranh chấp liên quan đến tài sản riêng của vợ, chồng.
Bên cạnh đó, q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và hội nhập quốc tế
đã làm cho các quan hệ xã hội, quan hệ hơn nhân gia đình nƣớc ta phát triển nhanh chóng
và có nhiều chuyển biến. Q trình này tuy mang đến những mặt tích cực nhƣng đồng thời
cũng gây ra nhiều ảnh hƣởng xấu tới các quan hệ hôn nhân gia đình. Lối sống cơng nghiệp
và hiện đại ngày nay tuy góp phần nâng cao năng suất lao động và chất lƣợng cuộc sống
của mỗi cá nhân, nhƣng cũng tạo ra lối sống thực dụng, xem nhẹ nghĩa tình ở một bộ phận
ngƣời dân. Đó là một trong những nguyên nhân làm gia tăng những rạn nứt trong quan hệ
hôn nhân và gia đình. Vì vậy trong những năm gần đây, các tranh chấp về hơn nhân gia
đình mà đa phần là liên quan đến tài sản của vợ chồng diễn ra ngày càng nhiều, gia tăng
nhanh chóng về số lƣợng cũng nhƣ tính chất phức tạp. Theo số liệu thống kê của Tịa án
nhân dân tối cao thì: năm 2009, số lƣợng các vụ án hơn nhân gia đình xét xử sơ thẩm là

119.000 vụ, xử phúc thẩm là 89609 vụ. Năm 2010, xử sơ thẩm là 136.000 vụ, xử phúc
thẩm là 97627 vụ. Năm 2011 xử sơ thẩm là 144.000 vụ, tăng 5,88% so với năm 2010; và
xử phúc thẩm là 115.331 vụ, tăng 18,13% so với năm 2010.
Chỉ thị 49-CT/TW ngày 21/02/2005 của Ban Bí thƣ trung ƣơng Đảng về xây dựng
gia đình thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc nhận định “Gia đình là tế bào của
xã hội, nơi duy trì nịi giống, là mơi trường quan trọng hình thành, ni dưỡng và giáo
dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, chống lại các
1


tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Nhận
thức đƣợc tầm quan trọng của quan hệ hôn nhân gia đình và thực trạng về tranh chấp tài
sản riêng của vợ, chồng; đặc biệt là trong bối cảnh Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
đã có dự án sửa đổi vào năm 2013 nên tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Tài sản riêng
của vợ, chồng: Chế độ pháp lý và thực tiễn giải quyết tranh chấp” làm đề tài nghiên cứu
khoá luận tốt nghiệp cuối khoá của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, vấn đề quyền tài sản riêng của vợ, chồng đã đƣợc nhiều tác
giả nghiên cứu và đề cập một phần trong các cơng trình nghiên cứu của mình. Trong đó có
thể kể đến một số cơng trình nghiên cứu nhƣ:
-

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện, “Bình luận khoa học Luật Hơn nhân và gia đình -tập

2”, 2004.
-

Thạc sĩ Lê Vĩnh Châu, “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia

đình Việt Nam hiện hành”, Luận văn thạc sĩ, 2001.

-

Nguyễn Thị Mến, “Nguyên tắc xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ

chồng trong các vụ án ly hơn” – Khố luận tốt nghiệp cử nhân luật học, 2006.
Tuy nhiên, qua tìm hiểu tác giả nhận thấy cho tới nay chƣa có cơng trình nào
nghiên cứu một cách có hệ thống và đi sâu vào phân tích các quy định của pháp luật về tài
sản riêng của vợ, chồng cũng nhƣ thực tiễn giải quyết các tranh chấp này. Các cơng trình
nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở việc phân tích và đề cập một số khía cạnh về tài sản riêng
của vợ, chồng.

2


3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu một cách có hệ thống về các vấn đề lý luận, các
quy định pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng và thực tiễn giải quyết tranh chấp liên
quan đến tài sản riêng của vợ, chồng.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt đƣợc các mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
-

Nghiên cứu, phân tích các vấn đề lý luận, pháp luật thực định giúp cho việc nhận

thức một cách rõ nét các quy định pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng.
-

Tìm hiểu thực tiễn giải quyết tranh chấp về tài sản riêng của vợ, chồng tại các Toà

án nhân dân có thẩm quyền. Thơng qua đó, kiến nghị giải pháp giải quyết thống nhất các

vấn đề đang cịn có nhiều cách hiểu, cách xử lý khác nhau trong việc giải quyết tranh chấp
tại Toà án.
-

So sánh, đối chiếu giữa quy định pháp luật thực định với thực tiễn giải quyết các

tranh chấp về tài sản riêng của vợ, chồng tại Tồ án. Trên cơ sở đó kiểm tra tính đúng đắn,
phù hợp của các quy định pháp luật hiện hành về tài sản riêng của vợ, chồng. Đồng thời,
đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu pháp luật một số nƣớc trên thế giới nhằm kết hợp với việc
nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp trong nƣớc để đƣa ra kiến nghị các giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam liên quan
đến vấn đề tài sản riêng của vợ, chồng cũng nhƣ đƣờng lối xét xử, giải quyết các tranh
chấp này tại Toà án nhân dân các cấp.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Một điều dễ nhận thấy trong các cơng trình nghiên cứu khoa học đó là sự quan
trọng của cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu. Có thế nói, cơ sở lý luận và phƣơng
3


pháp đúng sẽ tạo nên một cơng trình nghiên cứu có giá trị. Từ đó, khóa luận này đƣợc tác
giả thực hiện dựa trên nền tảng cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh cùng với quan điểm, chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc ta về
pháp luật Hôn nhân và gia đình.
Cũng vì vậy mà việc nghiên cứu đề tài này đƣợc tiến hành dựa trên phƣơng pháp
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Ngồi ra, tác giả cịn sử
dụng một số phƣơng pháp khoa học chuyên ngành khác nhƣ: phƣơng pháp lịch sử,
phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp tổng hợp.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Bài luận này nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp luật thực định cũng nhƣ đƣờng

lối giải quyết các tranh chấp về tài sản riêng của vợ, chồng nhằm đáp ứng đƣợc phần nào
tính cấp thiết của thực tiễn. Thơng qua đó, tác giả đã chỉ ra những hạn chế trong quy định
pháp luật cũng nhƣ ttong đƣờng lối xét xử về các tranh chấp liên quan đến tài sản riêng
của vợ, chồng. Song song với đó là việc đƣa ra những kiến nghị, giải pháp sâu hơn đối với
vấn đề này. Từ đó, tác giả mong muốn góp phần mang lại cách hiểu đúng, giáo dục, nâng
cao ý thức pháp luật của ngƣời dân trong lĩnh vực pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng;
và đồng thời góp phần thiết thực cho q trình hồn thiện hệ thống pháp luật liên quan
hiện hành.
6. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận đƣợc cơ cấu
thành 3 chƣơng:
-

Chƣơng 1: Chế độ pháp lý về tài sản riêng của vợ, chồng trong pháp luật

hơn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành.
-

Chƣơng 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp về tài sản riêng của vợ, chồng.

4


-

Chƣơng 3: Bất cập, vƣớng mắc và giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế độ

tài sản riêng của vợ, chồng.
Trong quá trình nghiên cứu, tuy bản thân tác giả đã rất cố gắng nhƣng khó tránh
khỏi những sơ suất, thiếu sót. Chính vì vậy, tác giả rất mong sẽ nhận đƣợc những góp ý

q báu từ q thầy cơ và những ngƣời quan tâm để tác giả có thể nâng cao chất lƣợng,
hoàn thiện hơn về đề tài và bổ sung thêm nguồn kiến thức bổ ích cho bản thân.
Xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Tiến Phát

5


CHƢƠNG 1: CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG
TRONG PHÁP LUẬT HNGĐ VIỆT NAM
HIỆN HÀNH
1.5.

Khái quát về tài sản của vợ chồng

Quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng tồn tại hai nhóm quan hệ xã hội bao gồm quan hệ
nhân thân và quan hệ tài sản. Có thể thấy, trong một chừng mực nào đó quan hệ nhân thân
thƣờng đóng vai trị chủ đạo và mang tính quyết định trong quan hệ hơn nhân giữa vợ
chồng. Quan hệ tài sản trong HNGĐ thì lại có nhiều nét đặc thù riêng, khơng mang tính
chất đền bù ngang giá tuyệt đối nhƣ trong các quan hệ dân sự thông thƣờng.
Theo Luật HNGĐ hiện hành, chế độ sở hữu tài sản của vợ chồng tồn tại dƣới hai
hình thức là sở hữu chung của vợ chồng và sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng.
Trong đó, hình thức sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể
phân chia. Tài sản chung của vợ chồng gồm “tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho
chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung”1. Vợ chồng cùng

nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng cơng sức của mỗi ngƣời, có quyền ngang
nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Đồng thời tài sản chung của
vợ chồng đƣợc chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung
của vợ chồng.
Về sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng: Pháp luật hiện hành quy định vợ, chồng có
quyền có tài sản riêng. Trong đó, tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi ngƣời có
đƣợc trƣớc khi kết hơn; tài sản đƣợc thừa kế riêng, đƣợc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn
nhân; tài sản đƣợc chia từ việc chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân và
hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đƣợc chia; đồ dùng, tƣ trang cá nhân. Bên cạnh đó,
Pháp luật thừa nhận quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của mỗi bên vợ hoặc chồng đối

1

Khoản 1 Điều 27 Luật HNGĐ năm 2000

6


với khối tài sản riêng của mình; có quyền nhập hoặc khơng nhập tài sản riêng của mình
vào khối tài sản chung của vợ chồng.
1.6.

Ý nghĩa của chế định tài sản riêng của vợ, chồng

Việc Pháp luật HNGĐ thừa nhận và quy định chế độ tài sản riêng của vợ, chồng có
rất nhiều ý nghĩa nhƣng tựu chung có ba ý nghĩa cơ bản nhƣ sau:
-

Tôn trọng quyền sở hữu tƣ nhân và quyền tự do kinh doanh của mỗi cá nhân đã


đƣợc Hiến pháp năm 1992 ghi nhận tại các Điều 57, 58 và tại BLDS 1995.
-

Góp phần củng cố chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, ngăn chặn việc kết hôn

không lành mạnh, nhằm vào của cải sẵn có của bên kia làm tiêu chí chọn vợ, kén chồng
hay nói cách khác là kết hơn vì tài sản của bên kia mà khơng xuất phát từ tình cảm yêu
thƣơng của hai bên nam nữ.
-

Tạo điều kiện thuận tiện cho vợ hoặc chồng giải quyết những vấn đề tế nhị trong

đời sống gia đình nhƣ giúp đỡ, đùm bọc cha mẹ, anh chị em, bà con, bạn bè cũng nhƣ thực
hiện nghĩa vụ tài sản riêng của mình một cách độc lập, không phải phụ thuộc vào ý chí,
thái độ của ngƣời chồng, ngƣời vợ mình.

1.7.

Phạm vi hiệu lực của Luật HNGĐ theo thời gian và vấn đề tài sản riêng

Xuyên suốt quá trình lịch sử của chế độ tài sản riêng của vợ, chồng trong pháp luật
HNGĐ Việt Nam hiện đại thì phạm vi chế độ tài sản riêng của vợ, chồng rộng hẹp khác
nhau. Cụ thể, Luật HNGĐ 1959 không thừa nhận chế độ tài sản riêng của vợ, chồng, Luật
quy định mọi tài sản của vợ chồng có trƣớc và sau khi cƣới đều thuộc sở hữu chung của
vợ chồng2. Luật HNGĐ 1986 thừa nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng, gồm các
nguồn: tài sản mà vợ hoặc chồng có trƣớc khi kết hôn, tài sản đƣợc thừa kế riêng hoặc
đƣợc cho riêng trong thời kỳ hôn nhân3. Luật HNGĐ 2000 tiếp tục thừa nhận chế độ tài
sản riêng của vợ, chồng, nhƣng phạm vi tài sản riêng của vợ, chồng đƣợc mở rộng hơn so
2


Điều 15 Luật HNGĐ 1959.

3

Điều 16 Luật HNGĐ 1986.

7


với Luật HNGĐ 1986. Bên cạnh việc thừa nhận các nguồn đƣợc quy định tại Luật HNGĐ
1986, Luật HNGĐ 2000 còn quy định thêm các nguồn tài sản riêng mới, đó là: tài sản
đƣợc chia từ việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài
sản đƣợc chia và đồ dùng, tƣ trang cá nhân4. Nhƣ vậy, chế độ tài sản riêng của vợ, chồng
mỗi thời kỳ có sự khác nhau rõ rệt, do đó kết quả của việc áp dụng các quy định tại các
Luật cũng sẽ khác nhau. Trên thực tế, hiện tại khi áp dụng các quy định của pháp luật
HNGĐ để xác định tài sản riêng của vợ, chồng vẫn cịn nhiều quan điểm trái chiều. Có
quan điểm cho rằng cần áp dụng Luật HNGĐ có hiệu lực tại thời điểm tranh chấp để giải
quyết. Quan điểm khác cho rằng cần áp dụng Luật HNGĐ có hiệu lực tại thời điểm tạo lập
tài sản của vợ chồng. Trong đó, tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai bởi vì theo nguyên
tắc áp dụng pháp luật thì văn bản quy phạm pháp luật chỉ đƣợc áp dụng từ thời điểm có
hiệu lực và chỉ đƣợc dùng để điều chỉnh những hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó
đang có hiệu lực, trừ trƣờng hợp văn bản có hiệu lực trở về trƣớc thì áp dụng theo quy
định đó. Các quy định của Luật HNGĐ năm 1986 và Luật HNGĐ năm 2000 chỉ đƣợc áp
dụng đối với việc xác lập quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng kể từ ngày các Luật
này có hiệu lực thi hành trở đi mà khơng có hiệu lực trở về trƣớc. Tóm lại theo tác giả,
chúng ta nên áp dụng Luật có hiệu lực tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản vợ chồng
để giải quyết tranh chấp về tài sản đó.
Để áp dụng thống nhất, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và
Bộ Tƣ pháp đã có dự thảo 2 của Thông tƣ liên tịch hƣớng dẫn áp dụng một số quy định
của Luật HNGĐ về xác định tài sản của vợ, chồng (năm 2009). Dự thảo thông tƣ liên tịch

này chia hai trƣờng hợp sau:
Trường hợp 1: Xác định tài sản của vợ, chồng kết hôn trước ngày 03-01-1987
-

Trƣờng hợp vợ, chồng kết hôn trƣớc ngày 03-01-1987, trƣớc và sau khi kết

hơn vợ, chồng có tài sản riêng thì tài sản riêng đó đƣơng nhiên trở thành tài sản
4

Điều 32 Luật HNGĐ 2000.

8


chung của vợ, chồng. Tòa án áp dụng quy định tại Điều 15 của Luật HNGĐ năm
1959 để xác định tài sản riêng mà vợ, chồng có trƣớc hoặc sau khi kết hôn là tài sản
thuộc sở hữu chung của vợ, chồng.
-

Trong trƣờng hợp sau ngày 03-01-1987, vợ, chồng có văn bản thỏa thuận về

việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng, thì Tịa án căn cứ vào thỏa
thuận của vợ, chồng để giải quyết.
Trường hợp 2: Xác định tài sản của vợ, chồng kết hôn từ ngày 03-01-1987
Việc xác định tài sản riêng, tài sản chung của vợ, chồng đƣợc thực hiện theo quy
định của Luật HNGĐ năm 1986 và Luật HNGĐ năm 2000. Tài sản riêng của vợ, chồng có
trƣớc khi kết hơn hoặc tài sản riêng có trong thời kỳ hơn nhân chỉ trở thành tài sản chung
của vợ, chồng khi vợ, chồng nhập tài sản riêng đó vào khối tài sản chung của vợ, chồng.
Giải pháp của dự thảo Thông tƣ liên tịch này đƣa ra về cơ bản đã giải quyết đƣợc
vƣớng mắc trong việc áp dụng pháp luật trong việc xác định tài sản riêng của vợ, chồng

qua các thời kỳ. Tuy nhiên dự thảo đƣợc soạn ra từ năm 2009 nhƣng tới nay vẫn chƣa
đƣợc chính thức ban hành và có hiệu lực nên giải pháp đƣa ra hiện tại mới chỉ nằm trên
giấy mà chƣa bắt buộc áp dụng trên thực tế.
1.8.

Chế độ tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật HNGĐ năm 2000

Hiến pháp năm 1992 quy định “Cơng dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp,
của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh
nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác”. Theo đó, BLDS 1995 khi cụ thể hóa quy
định của Hiến pháp về quyền sở hữu của công dân cũng thừa nhận cá nhân có quyền có tài
sản5. Xây dựng chế độ tài sản của vợ chồng dựa trên cơ sở quyền sở hữu tài sản của công
dân và kế thừa Luật HNGĐ 1986, Luật HNGĐ 2000 tiếp tục thừa nhận và cụ thể hóa quy
định về quyền sở hữu tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng. Điều 32 Luật HNGĐ 2000 quy

5

Điều 221 BLDS 1995.

9


định “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hơn; tài sản
được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng
cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư
trang cá nhân”6. Bên cạnh đó, Luật cịn quy định cụ thể về việc thực hiện quyền sở hữu
của vợ, chồng đối với tài sản riêng của mình.
1.8.1. Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng
Khoản 1 Điều 32 Luật HNGĐ 2000 quy định: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm
tài sản mà mỗi người có trước khi kết hơn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho

riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại
khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân”. Theo quy định này
thì tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng gồm các nguồn tài sản sau:
-

Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hơn
Xuất phát từ việc tơn trọng quyền sở hữu cá nhân đối với tài sản hợp pháp, Luật

HNGĐ 2000 đã quy định tài sản có trƣớc khi kết hôn là tài sản riêng của vợ, chồng. Dựa
vào căn cứ này thì về ngun tắc tồn bộ tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có đƣợc trƣớc khi
kết hôn sẽ thuộc khối tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trƣờng hợp vợ, chồng có thỏa thuận
nhập tài sản đó vào khối tài sản chung. Tài sản mà vợ, chồng có đƣợc có thể là tiền, quyền
tài sản, vật, giấy tờ có giá…Quy định này đã góp phần hạn chế trƣờng hợp kết hơn vì mƣu
cầu lợi ích kinh tế, vì khối tài sản của ngƣời đó mà khơng phải vì tình u thực sự, tình
cảm giữa hai bên nam nữ.
Điểm quan trọng khi nghiên cứu căn cứ này là chúng ta cần phải xác định thời điểm
bắt đầu thời kỳ hôn nhân và xác định tại thời điểm đó mỗi bên vợ, chồng đã có quyền sở
hữu đối với tài sản nào. Nếu tại thời điểm đó mà vợ, chồng chƣa có đầy đủ quyền sở hữu
với tài sản thì tuỳ từng trƣờng hợp mà tài sản đó có thể sẽ khơng đƣợc coi là tài sản của
vợ, chồng có đƣợc trƣớc thời kỳ hơn nhân. Vấn đề đƣợc nghiên cứu ở các khía cạnh sau:
6

Khoản 1 Điều 32 Luật HNGĐ năm 2000

10


Vấn đề xác định tại thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân, mỗi bên vợ, chồng sở hữu
những tài sản nào không phải là vấn đề phức tạp, nhƣng trong quá trình nghiên cứu tác giả
nhận thấy chúng ta cần phải lƣu ý một số vấn đề sau đây để cho việc xác định tài sản riêng

của vợ, chồng đƣợc chính xác. Cụ thể: Điều 32 Luật HNGĐ quy định “Tài sản riêng của
vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hơn”, theo cách quy định này, để
một tài sản thuộc căn cứ trên thì buộc tại thời điểm kết hôn bên vợ, chồng phải đã có
quyền sở hữu đối với tài sản, nghĩa là bên vợ, chồng đó phải có đủ ba quyền gồm quyền
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản. Việc mỗi bên vợ, chồng đang trong quá
trình xác lập quyền sở hữu hay nói cách khác là vợ, chồng chỉ mới có quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng mà chƣa có quyền định đoạt đối với tài sản thì tài sản đó sẽ khơng đƣợc coi
là tài sản mà vợ, chồng có trƣớc khi kết hơn. Điều này xảy ra trong các trƣờng hợp về xác
lập quyền sở hữu theo thời hiệu hoặc trong các trƣờng hợp xác lập quyền sở hữu nhƣng
pháp luật đòi hỏi ngƣời muốn trở thành chủ sở hữu đối với tài sản phải thực hiện một số
thủ tục pháp lý nhất định nhƣ thủ tục công chứng, thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với
những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký.
Đối với trƣờng hợp xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu: Theo pháp luật dân sự,
xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu gồm các trƣờng hợp: xác lập quyền sở hữu đối với vật
không xác định đƣợc chủ sở hữu; vật do ngƣời khác đánh rơi, bỏ quên; gia súc, gia cầm bị
thất lạc, vật nuôi dƣới nƣớc di chuyển tự nhiên… Việc xác lập quyền sở hữu trong các
trƣờng hợp này, pháp luật dân sự đòi hỏi ngƣời phát hiện, ngƣời nhặt đƣợc, ngƣời bắt
đƣợc, ngƣời chiếm hữu, đƣợc lợi về tài sản khơng có căn cứ pháp luật phải thực hiện
thông báo công khai và sau một khoảng thời gian pháp luật quy định mà không xác định
đƣợc ai là chủ sở hữu hoặc khơng có ngƣời tới nhận thì ngƣời đó mới có quyền sở hữu tài
sản. Trong khoảng thời gian thông báo công khai, họ chỉ có quyền chiếm hữu và tùy từng
trƣờng hợp sẽ có thêm quyền sử dụng mà khơng có quyền định đoạt tài sản. Trở lại vấn đề
về tài sản vợ, chồng có trƣớc khi kết hơn, giả sử trƣớc khi kết hơn ngƣời vợ có nhặt đƣợc
một túi tiền 10 triệu đồng và có tiến hành thủ tục thơng báo công khai một năm nhƣng thời
hạn 1 năm này lại kết thúc trong thời kỳ hôn nhân, vậy trong trƣờng hợp này khoản tiền 10
11


triệu đồng do ngƣời vợ nhặt đƣợc đó có phải là tài sản riêng của ngƣời vợ vì đó là tài sản
mà ngƣời vợ có trƣớc khi kết hơn hay khơng? Từ những phân tích trên và đối chiếu với

quy định tại Điều 27 Luật HNGĐ và hƣớng dẫn tại điểm a mục 3 Nghị quyết số
02/2000/NQ-HĐTP thì khoản tiền 10 triệu đồng đó là tài sản chung của vợ, chồng, vì các
lý do sau đây: Thứ nhất, tại thời điểm kết hơn, ngƣời vợ chƣa có quyền sở hữu đối với
khoản tiền 10 triệu đồng nhặt đƣợc, mà chỉ mới có quyền chiếm hữu theo quy định tại
Điều 187 BLDS 2005. Thứ hai, thời điểm ngƣời vợ đƣợc xác lập quyền sở hữu hay nói
cách khác là có đầy đủ quyền sở hữu đối với số tiền 10 triệu do nhặt đƣợc theo quy định
tại Điều 241 BLDS 2005 thuộc thời kỳ hôn nhân nên số tiền này đƣợc xem là “những thu
nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” theo hƣớng dẫn tại điểm a mục
3 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP.
Đối với trƣờng hợp xác lập quyền sở hữu mà pháp luật yêu cầu phải tuân theo hình
thức nhất định: Theo quy định tại các Điều 439, 466, 467 BLDS 2005 thì đối với các giao
dịch mua bán, tặng cho những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu
nhƣ QSDĐ, nhà, ơ tơ, xe máy… thì quyền sở hữu đối với tài sản chỉ đƣợc chuyển cho bên
mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản, chuyển cho
bên đƣợc tặng cho kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu tài sản. Trong việc xác định tài
sản riêng của vợ, chồng đối với trƣờng hợp này sẽ có một vấn đề đặt ra nhƣ sau: Giả sử
trƣớc khi kết hôn, ngƣời vợ có mua một thửa đất nhƣng chƣa tiến hành thủ tục xin cấp
giấy chứng nhận QSDĐ, sau khi kết hôn xong ngƣời vợ mới tiến hành thủ tục xin cấp giấy
chứng nhận QSDĐ và đã đƣợc cấp giấy chứng nhận. Vậy trong trƣờng hợp này thửa đất
đó là tài sản chung của vợ chồng hay là tài sản riêng của ngƣời vợ? Chúng ta có thể dựa
trên tiêu chí tài sản có trƣớc khi kết hơn để xác định thửa đất đó là tài sản riêng đƣợc hay
khơng? Trong trƣờng hợp này, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện cho rằng “các tài sản mà việc
chuyển quyền sở hữu được giao kết trước khi kết hôn, nhưng chỉ được thực hiện sau khi
kết hôn là tài sản chung chứ không thể là của riêng”7. Đồng ý với quan điểm về thời điểm
7

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật Hơn nhân và gia đình Việt Nam, NXB Trẻ, 2004, trang
68.

12



xác lập quyền sở hữu của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện nhƣng theo tác giả việc xác định một
tài sản nào đó là tài sản riêng hay chung cịn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố. Chúng ta chỉ
có thể khẳng định những “tài sản mà việc chuyển quyền sở hữu được giao kết trước khi
kết hôn, nhưng chỉ được thực hiện sau khi kết hôn” không phải là tài sản có trƣớc khi kết
hơn của vợ, chồng. Theo tác giả, nếu chúng ta dựa trên căn cứ “tài sản mà mỗi người có
trước khi kết hơn” thì QSDĐ mà ngƣời vợ mua trƣớc khi kết hơn nhƣng chƣa “hồn thành
thủ tục đăng ký quyền sở hữu” không phải là tài sản ngƣời vợ có trƣớc khi kết hơn vì tại
thời điểm kết hôn, quyền sở hữu đối với QSDĐ đó vẫn thuộc về ngƣời bán, do ngƣời vợ
chƣa hồn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu. Nhƣng trong trƣờng hợp này, chúng ta
chƣa có cơ sở chắc chắn để khẳng định QSDĐ đó là tài sản chung của vợ chồng. Bởi vì,
QSDĐ trên tuy khơng phải là tài sản có trƣớc khi kết hơn của ngƣời vợ, nhƣng lại đƣợc
xem là sản đƣợc hình thành từ tài sản riêng có trƣớc khi kết hơn của ngƣời vợ. Tài sản
riêng của ngƣời vợ có trƣớc khi kết hơn trong trƣờng hợp này tùy thời điểm mà có thể là
số tiền ngƣời vợ đã thanh toán, đã bỏ ra để thực hiện hợp đồng mua bán QSDĐ hoặc là
quyền yêu cầu ngƣời bán thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của ngƣời vợ (là quyền tài sản của
ngƣời vợ).
Về thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân của vợ chồng: việc xác định chính xác thời
điểm bắt đầu thời kỳ hơn nhân có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xác định tài sản
chung và tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng. Điều 32 Luật HNGĐ 2000 chỉ quy định “tài
sản mà mỗi người có trước khi kết hơn” mà khơng phải là “tài sản mà mỗi người có trước
thời kỳ hôn nhân”. Về nguyên tắc, hai phạm trù tài sản có trƣớc khi kết hơn và tài sản có
trƣớc thời kỳ hơn nhân là trùng nhau. Tuy nhiên, trong các trƣờng hợp hôn nhân thực tế
đƣợc thừa nhận tại Nghị quyết 35/2000/QH10 và các văn bản hƣớng dẫn thi hành thì hai
khái niệm trên sẽ khơng đồng nhất với nhau, khái niệm tài sản có trƣớc thời kỳ hơn nhân
sẽ có phạm vi rộng hơn khái niệm tài sản có trƣớc khi kết hơn. Trong các trƣờng hợp hơn
nhân thực tế đƣợc pháp luật thừa nhận thì thời điểm bắt đầu thời kỳ hơn nhân chính là
ngày hai bên nam nữ bắt đầu sống chung với nhau nhƣ vợ chồng, chứ không phải là ngày
hai bên nam nữ đăng ký kết hôn theo quy định của Luật HNGĐ 2000. Do đó, trong các

13


trƣờng hợp này thì tài sản do hai bên tạo lập8 trong quá trình chung sống với nhau nhƣ vợ
chồng đến trƣớc ngày đăng ký kết hôn lại theo quy định tại Luật HNGĐ 2000 cũng sẽ
đƣợc coi là tài sản chung của vợ chồng, chứ không phải là “tài sản mà mỗi người có
trước khi kết hơn” vì các tài sản đó hình thành trong thời kỳ hơn nhân, do vợ chồng tạo ra
trong thời kỳ hơn nhân. Chính vì vậy, trong quá trình áp dụng pháp luật, chúng ta cần phải
lƣu ý ngoài việc tuân theo quy định của Luật HNGĐ 2000 thì cần phải có sự liên hệ với
các quy định pháp luật hơn nhân gia đình về trƣờng hợp hôn nhân thực tế để xác định tài
sản có trƣớc thời kỳ hơn nhân đƣợc chính xác, khơng nên áp dụng một cách máy móc quy
định của Luật. Cụ thể: đối với các trƣờng hợp hôn nhân thực tế thì thời điểm bắt đầu thời
kỳ hơn nhân là thời điểm hai bên nam nữ bắt đầu sống chung với nhau, do đó tài sản có
trƣớc thời kỳ hôn nhân trong các trƣờng hợp này nên hiểu là tài sản mỗi bên có trƣớc thời
điểm hai bên bắt đầu sống chung với nhau nhƣ vợ chồng mà không phải là trƣớc thời điểm
đăng ký kết hôn lại theo Luật HNGĐ 2000. Đối với các trƣờng hợp còn lại thì thời điểm
bắt đầu thời kỳ hơn nhân chính là ngày đăng ký kết hôn, nên chúng ta xác định “tài sản
mà mỗi người có trước khi kết hơn” chính là tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có trƣớc ngày
đăng ký kết hôn theo quy định của Luật HNGĐ 2000.
-

Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân
Điều 32 Luật HNGĐ 2000 quy định “tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho

riêng trong thời kỳ hơn nhân” là một trong những nhóm tài sản riêng của vợ, chồng. Do
đó, nếu vợ, chồng đƣợc tặng cho riêng hoặc đƣợc hƣởng thừa kế riêng thì các tài sản có
đƣợc từ các giao dịch trên sẽ đƣợc coi là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng. Chúng ta sẽ
xem xét từng trƣờng hợp cụ thể:
Trường hợp tài sản mỗi bên vợ, chồng được thừa kế riêng: BLDS 2005 quy định
hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Cá nhân có quyền

lập di chúc nhằm chuyển tài sản của mình cho ngƣời khác sau khi chết, trƣờng hợp không
8

Trừ các tài sản mà theo quy định của Luật HNGĐ 1986 là tài sản riêng của vợ, chồng: tài sản đƣợc thừa kế riêng,
đƣợc tặng cho riêng trong thời kỳ hơn nhân, tài sản có trƣớc thời kỳ hôn nhân.

14


có di chúc hoặc di chúc khơng hợp pháp hoặc trƣờng hợp phần tài sản không đƣợc định
đoạt trong di chúc… thì di sản thừa kế sẽ đƣợc chia theo pháp luật. Pháp luật thừa kế hiện
hành quy định chặt chẽ về quyền thừa kế của cá nhân, chính vì vậy mà trong việc xác định
việc hƣởng di sản là thừa kế chung hay thừa kế riêng không phải là vấn đề khó khăn.
Xét về thừa kế theo pháp luật, Điều 676 BLDS 2005 đã có quy định về hàng thừa
kế và chỉ có những cá nhân thuộc hàng thừa kế và đủ điều kiện theo quy định thì mới đƣợc
hƣởng di sản. Cho nên, trƣờng hợp vợ, chồng đƣợc hƣởng thừa kế theo pháp luật là hƣởng
với tƣ cách cá nhân, với tƣ cách là những ngƣời thừa kế thuộc hàng thừa kế chứ không
phải hƣởng với tƣ cách là vợ chồng. Do đó, trƣờng hợp thừa kế theo pháp luật sẽ thuộc
trƣờng hợp vợ, chồng đƣợc hƣởng thừa kế riêng.
Về thừa kế theo di chúc, theo quy định pháp luật thừa kế thì trong trƣờng hợp này,
đối tƣợng đƣợc hƣởng di sản, mức hƣởng của từng ngƣời là bao nhiêu… tùy thuộc vào ý
chí của ngƣời để lại di sản (trừ trƣờng hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
quy định tại Điều 669 BLDS 2005). Do đó, cho dù vợ, chồng khơng thuộc hàng thừa kế
theo pháp luật của ngƣời để lại di sản nhƣng vẫn có thể đƣợc hƣởng thừa kế theo di chúc;
và nếu ngƣời chết chỉ để lại di sản cho vợ hoặc chồng thì trong trƣờng hợp này di sản thừa
kế mà vợ, chồng đƣợc hƣởng sẽ đƣợc coi là tài sản do đƣợc thừa kế riêng, thuộc khối tài
sản riêng của vợ, chồng. Hoặc trƣờng hợp tuy trong di chúc chỉ định cả hai vợ chồng đƣợc
thừa kế tài sản nhƣng lại quy định rõ phần quyền của mỗi ngƣời, phần di sản đƣợc hƣởng
giữa vợ chồng độc lập với nhau thì chúng ta cũng coi đó là trƣờng hợp đƣợc hƣởng thừa
kế riêng9. Tuy nhiên trong trƣờng hợp mà di chúc quy định để lại tài sản cho cả vợ chồng,

và không quy định phần quyền của mỗi ngƣời, nội dung di chúc thể hiện ý chí để lại di sản
chung cho vợ chồng thì chúng ta cần phải xem đó là trƣờng hợp vợ chồng đƣợc thừa kế
chung và tài sản đó sẽ thuộc về khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng.

9

Tài sản mà vợ chồng đƣợc hƣởng trong trƣờng hợp này cũng có thể tồn tại dƣới hình thức sở hữu chung theo phần,
nhƣng xét về bản chất tài sản đó vẫn đƣợc coi là thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng mà không phải là sở hữu chung
hợp nhất của vợ chồng

15


Về trường hợp tài sản được tặng cho riêng của vợ, chồng: theo pháp luật dân sự,
tặng cho là “sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và
chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng
cho đồng ý nhận”10. Tƣơng tự trƣờng hợp thừa kế riêng theo di chúc, hợp đồng tặng cho
riêng có thể chỉ có tên một bên vợ, chồng hoặc có tên của cả vợ chồng nhƣng trong đó có
phân biệt phần quyền của mỗi ngƣời đối với tài sản tặng cho. Trên thực tế, các trƣờng hợp
đƣợc xem là tặng cho riêng nhƣ bố vợ tặng riêng cho vợ một căn nhà; gia đình nhà chồng
tặng cho chồng một chiếc xe máy để chồng đi lại… Việc tặng cho riêng ở đây mang tính
chất cá nhân và nhìn chung thơng qua hợp đồng tặng cho chúng ta có thể xác định đƣợc tài
sản nào là tài sản đƣợc tặng cho riêng thuộc quyền sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu về trƣờng hợp tài sản đƣợc tặng cho riêng vợ, chồng trong thời
kỳ hơn nhân, tác giả nhận thấy cần phải có sự đối chiếu và phân biệt một số điểm với
trƣờng hợp tài sản đƣợc tặng cho chung trong thời kỳ hôn nhân để cho việc xác định tài
sản riêng của vợ, chồng ít phức tạp hơn. Việc xác định trƣờng hợp nào là tặng cho chung,
trƣờng hợp nào là tặng cho riêng vợ, chồng không phải là vấn đề đơn giản, nhất là việc
tặng cho đó khơng đƣợc thể hiện bằng văn bản. Trong trƣờng hợp tặng cho mang tính chất
quà biếu của đối tác trong giao dịch thì “khó có thể coi đó là tài sản riêng do được tặng

cho riêng”11, bởi vì việc tặng cho đó có liên quan hay nói chính xác hơn là xuất phát từ
cơng việc, hoạt động nghề nghiệp, từ những yếu tố, sự kiện thuộc về nguồn gốc tạo ra tài
sản chung do đó tài sản đƣợc tặng cho trong trƣờng hợp này cần xem là “thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh” của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thuộc khối
tài sản chung của vợ chồng. Còn đối với trƣờng hợp tặng cho mang tính chất xã giao
thƣờng đƣợc thực hiện trong một số dịp lễ tết, các sự kiện nhƣ liên hoan trúng tuyển cao
học, hoặc tết cổ truyền, sinh nhật…thì tài sản đƣợc tặng cho tùy từng trƣờng hợp mà sẽ
thuộc khối tài sản chung hoặc khối tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng. Trong trƣờng hợp
này, chúng ta sẽ dựa vào tính chất của sự kiện mà nhân sự kiện đó, việc tặng cho đƣợc
10

Điều 465 BLDS 2005.

11

Khoa Luật, Đại học Cần Thơ, Giáo trình Luật Hơn nhân và gia đình, tập 2, trang 12

16


thực hiện để xác định là tặng cho chung hay tặng cho riêng. Bên cạnh đó chúng ta cũng có
thể sử dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý tài sản chung quy định tại khoản 3 Điều 27 Luật
HNGĐ, theo đó “Trong trường hợp khơng có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng
đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung” để xác
định tài sản tặng cho thuộc khối tài sản chung của vợ chồng hay là thuộc khối tài sản riêng
của vợ, chồng.
-

Tài sản mà vợ, chồng được chia riêng từ việc chia tài sản sản chung trong thời


kỳ hôn nhân
Điều 32 Luật HNGĐ 2000 quy định “tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo
quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này” thuộc tài sản riêng của mỗi bên
vợ, chồng. Xuất phát từ chế độ sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có
thể phân chia và từ yêu cầu thực tiễn trong đời sống hôn nhân của vợ chồng nhƣ nhu cầu
cần có tài sản để đầu tƣ, kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng…của mỗi bên
vợ, chồng nên Luật HNGĐ 2000 đã thừa nhận và quy định vợ chồng có quyền chia tài sản
chung trong thời kỳ hơn nhân. Theo đó, “khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng
đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác
thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành
văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền u cầu Tồ án giải quyết”12. Tuy
nhiên, nếu vợ chồng chia tài sản chung nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì
việc chia tài sản đó sẽ khơng đƣợc pháp luật cơng nhận. Theo quy định này thì khi vợ,
chồng muốn có tài sản riêng để đầu tƣ, kinh doanh riêng hoặc thực hiện các nghĩa vụ dân
sự riêng, hoặc có các lý do chính đáng khác nhƣ trƣờng hợp vợ chồng tính tình khơng hợp
nhƣng con cái đã lớn khơng muốn ly hơn…thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia hoặc nhờ
Tịa án giải quyết trong trƣờng hợp không thỏa thuận đƣợc, tài sản mà vợ chồng đƣợc chia
sẽ thuộc khối tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng. Phần tài sản đƣợc chia từ việc chia tài
sản chung sẽ trở thành tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng, còn phần tài sản không chia
12

Điều 29 Luật HNGĐ 2000

17


vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Và theo quy định tại Nghị định 70/2001/NĐ-CP thì
“thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác
của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ
chồng có thoả thuận khác”13. Theo quy định của Nghị định này, trừ trƣờng hợp vợ chồng

có thỏa thuận khác thì những thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và
những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên nếu nhƣ trƣớc khi chia đƣợc coi là nguồn hình
thành tài sản chung của vợ chồng thì sau khi chia, các thu nhập này đƣợc xem là những
nguồn hình thành tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng. Tóm lại, chia tài sản chung trong
thời kỳ hơn nhân là việc chuyển một phần hoặc tồn bộ các tài sản thuộc sở hữu chung
hợp nhất của vợ chồng thành các tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
-

Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản mà vợ, chồng được chia riêng từ việc chia tài

sản sản chung trong thời kỳ hôn nhân
BLDS 1995 quy định về quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức nhƣ sau: “Chủ sở
hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thoả thuận hoặc
theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó”. Hiện nay,
BLDS 1995 đã bị thay thế bởi BLDS 2005 nhƣng quy định về quyền sở hữu của chủ sở
hữu đối với hoa lợi, lợi tức vẫn đƣợc giữ nguyên14. Xuất phát từ quy định về quyền sở hữu
đối với hoa lợi, lợi tức của pháp luật dân sự và cùng với sự thừa nhận tài sản vợ, chồng
đƣợc chia từ việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của mỗi bên
vợ, chồng nên Điều 30 Luật HNGĐ 2000 đã thừa nhận: “Trong trường hợp chia tài sản
chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu
riêng của mỗi người”. Quy định này của Luật HNGĐ 2000 đã khắc phục đƣợc sự mập mờ
của Luật HNGĐ 1986. Luật HNGĐ 1986 khi quy định về việc chia tài sản chung, chỉ quy
định chung chung là “Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng,

13

Khoản 2 Điều 8 Nghị định 70/2001/NĐ-CP

14


Quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức quy định tại Điều 235 BLDS 2005

18


thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này”15 mà
không nói rõ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản đƣợc chia thuộc khối tài sản chung
hay khối tài sản riêng của vợ, chồng. Quy định trên của Luật HNGĐ 2000 cho phép chúng
ta hiểu rằng tất cả hoa lợi, lợi tức của phần tài sản vợ, chồng đƣợc chia từ việc chia tài sản
chung sẽ thuộc sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng. Tuy nhiên, khi Nghị định
70/2001/NĐ-CP của Chính phủ đƣợc ban hành ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi hành
Luật HNGĐ 2000 thì lại có quy định ngoại lệ cho trƣờng hợp trên, theo đó “Hoa lợi, lợi
tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường
hợp vợ chồng có thoả thuận khác”. Nhƣ vậy về nguyên tắc hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài
sản đƣợc chia sẽ thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng, nhƣng trong trƣờng hợp các bên có
thỏa thuận khác thì hoa lợi, lợi tức đó có thể sẽ khơng thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng
nữa mà sẽ thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Sự thỏa thuận này có thể đƣợc tiến hành
khi chia hoặc sau khi chia tài sản chung, vợ chồng hồn tồn có thể thỏa thuận hoa lợi, lợi
tức phát sinh từ phần tài sản đƣợc chia thuộc khối tài sản chung của vợ chồng.
-

Tài sản là đồ dùng, tư trang cá nhân
Điều 32 Luật HNGĐ 2000 quy định đồ dùng, tƣ trang cá nhân là những tài sản

thuộc khối tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng. Quy định này khác với quy định tại Nghị
quyết 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp
dụng một số quy định của Luật HNGĐ 1986, theo đó tài sản mà vợ chồng mua sắm đƣợc
từ tài sản chung là tài sản chung của vợ chồng,16 và do đó nếu đồ dùng, tƣ trang của vợ,
chồng đƣợc mua từ tài sản chung sẽ thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Bên cạnh đó,
Nghị quyết cũng có quy định “đồ trang sức mà người vợ hoặc người chồng được cha mẹ

vợ hoặc chồng tặng cho riêng trong ngày cưới là tài sản riêng, nhưng nếu những thứ đó
được cho chung cả hai người với tính chất là tạo dựng cho vợ chồng một số vốn thì coi là

15

Điều 16 Luật HNGĐ 1986.

16

Điểm A mục 3 NQ 01/NQ-HĐTP (NQ này đã bị thay thế bởi NQ 02/2000/NQ-HĐTP)

19


tài sản chung”17, và những trang sức có giá trị khơng lớn so với tài sản chung thì thuộc về
ngƣời đang sử dụng. Nhƣng theo Luật HNGĐ 2000 thì mọi đồ dùng, tƣ trang cá nhân đều
đƣợc coi là tài sản riêng của vợ, chồng dù đƣợc hình thành từ nguồn tài sản chung hay
riêng của vợ chồng, có giá trị lớn hay nhỏ. Tuy nhiên, Luật HNGĐ 2000 cũng nhƣ các văn
bản hƣớng dẫn thi hành lại khơng có định nghĩa nhƣ thế nào là đồ dùng, tƣ trang cá nhân,
trong khi đó phạm vi về tài sản là đồ dùng, tƣ trang cá nhân rất khó xác định. Chính vì
vậy, việc này đã dẫn đến nhiều cách hiểu không thống nhất về khái niệm, phạm vi tài sản
đƣợc coi là đồ dùng, tƣ trang cá nhân. Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, “tƣ trang” là
“các thứ đồ đạc cần thiết mang theo người của một cá nhân”18, còn “đồ dùng” là “vật do
con người tạo ra dùng trong sinh hoạt, trong hoạt động hằng ngày”19. Nhƣ vậy, chúng ta
có thể hiểu đồ dùng, tƣ trang cá nhân là những vật phục vụ nhu cầu tối thiểu, cần thiết cho
mỗi ngƣời trong cuộc sống nhƣ: đồ trang sức (nhẫn, dây chuyền, đồng hồ đeo tay…), quần
áo, dày dép. Để hiểu đúng tinh thần của Điều luật, chúng ta cần phải có sự phân biệt giữa
những vật là tƣ trang cá nhân và những vật tuy có tính chất là tƣ trang cá nhân nhƣng cần
phải đƣợc coi là tài sản tích lũy thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Tuy đều có tính
chất là tƣ trang nhƣng nếu món tƣ trang đó đơn thuần chỉ là dùng để phục vụ nhu cầu cá

nhân, nhu cầu làm đẹp, sử dụng hàng ngày của vợ, chồng thì sẽ thuộc nhóm “đồ dùng, tƣ
trang cá nhân” thuộc khối tài sản riêng của vợ, chồng. Nhƣng nếu tài sản tuy có tính chất
là đồ dùng, tƣ trang cá nhân nhƣng mục đích chính khơng phải là để làm đẹp, phục vụ nhu
cầu cá nhân mà để tích lũy, cất trữ tài sản chung của vợ, chồng thì chúng ta cần phải xác
định đó là tài sản tích lũy của vợ chồng và thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Thực tế
cũng cho thấy, nhất là trong điều kiện giá trị tiền tệ khơng ổn định thì các cặp vợ chồng
Việt Nam thƣờng có thói quen mua vàng (nhẫn vàng, dây chuyền vàng…) để tích trữ tài
sản.
-

Tài sản được Nhà nước cấp cho người có cơng với cách mạng

17

Điểm B mục 3 NQ 01/NQ-HĐTP

18

Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng việt phổ thông, trang 987

19

Viện Ngôn ngữ học,Từ điển Tiến việt phổ thông, trang 297

20


Ngoài các nguồn tài sản riêng trên, hiện nay pháp luật cũng quy định tài sản đƣợc
Nhà nƣớc cấp cho ngƣời có cơng với cách mạng cũng là tài sản riêng của ngƣời đƣợc cấp.
Cụ thể, tại điểm 1 mục III Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/08/ 2004 của Hội

đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải
quyết các vụ án dân sự, HNGĐ quy định: “Trường hợp người có cơng với cách mạng
được nhận tài sản trong thời kỳ hôn nhân khi họ cịn sống thì tài sản được coi là tài sản
riêng của người đó, trừ trường hợp họ đã nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng”.
Theo quy định này thì đối với tài sản mà ngƣời có cơng cách mạng đƣợc Nhà nƣớc cấp
trong thời kỳ hơn nhân nhƣ nhà ở, QSDĐ ở,…thì pháp luật thừa nhận đây là tài sản riêng
của ngƣời đó, mà khơng phải là tài sản chung của vợ chồng. Đây là một trƣờng hợp đặc
biệt bởi nguồn tài sản này không thuộc một trong các nguồn tài sản riêng đƣợc quy định
tại Điều 32 Luật HNGĐ 2000. Mặt khác, quy định này cũng khác với quy định QSDĐ mà
vợ chồng có đƣợc sau khi kết hôn nhƣ đƣợc Nhà nƣớc giao, cho thuê một bên hoăc cả vợ
chồng thì đều đƣợc coi là tài sản chung của vợ chồng tại khoản 1 Điều 27 Luật HNGĐ
2000.
Tóm lại, qua phân tích các quy định liên quan về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng
tác giả nhận thấy để xác định tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng chúng ta cần tiến hành
các bƣớc sau:
- Bƣớc 1: Xác định thời điểm kết hôn, thời điểm tạo lập tài sản để xác định Luật áp
dụng cho phù hợp với vụ việc (quyết định áp dụng Luật HNGĐ 1959 hay Luật HNGĐ
1986 hay Luật HNGĐ 2000).
- Bƣớc 2: Xác định nguồn gốc tài sản xem tài sản đó thuộc hay khơng thuộc các
nguồn tài sản riêng theo quy định pháp luật đã đƣợc xác định tại bƣớc 1.
- Bƣớc 3: Xác định xem giữa vợ và chồng có tồn tại thỏa thuận nhập tài sản riêng
vào tài sản chung của vợ chồng hay không.
21


×