Tải bản đầy đủ (.pdf) (71 trang)

Thủ tục hành chính về khai sinh, khai tử

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.39 MB, 71 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN LUẬT

THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VỀ KHAI SINH, KHAI TỬ

Giảng viên hướng dẫn: Thạc sĩ CAO VŨ MINH
Người thực hiện: Nguyễn Thị Trâm
MSSV: 1253801011246
Lớp: HC37-4

TP. Hồ Chí Minh Năm 2016


KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN
Được sự phân cơng của Khoa Luật Hành chính Nhà nước hướng dẫn sinh
viên Nguyễn Thị Trâm thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Thủ tục hành
chính về khai sinh, khai tử”. Tơi có một vài nhận xét về tinh thần và trách nhiệm
làm việc của sinh viên như sau:
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Trâm
MSSV: 1253801011246
Khóa 37

Lớp: HC37-4


Sinh viên Nguyễn Thị Trâm đã hồn thành đúng hạn về mặt thời gian và
thực hiện tốt, đầy đủ những nội dung của khóa luật tốt nghiệp.
Nội dung của khóa luận phù hợp theo quy định đề ra, đầy đủ phụ lục, số liệu,
bố cục hợp lý, văn phong rõ ràng, mạch lạc. Trong quá trình làm việc, sinh viên
Nguyễn Thị Trâm có thái độ tích cực, có tinh thần chịu khó, có cố gắng ham học
hỏi và tiếp thu tốt những điều giảng viên hướng dẫn và chỉnh sửa.
Giảng viên hướng dẫn

CAO VŨ MINH


LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và đạt được thành công trong bất cứ cơng việc gì dù lớn hay
nhỏ thì những cố gắng, nỗ lực hết sức mình là quan trọng nhất nhưng chưa đủ. Bên
cạnh đó, khơng thể thiếu sự giúp đỡ, hỗ trợ và động viên sâu sắc từ phía gia đình,
thầy cơ và bạn bè.
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại trường đến nay, tôi đã nhận
được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của q Thầy Cơ, gia đình và bạn bè. Và đặc
biệt, trong quá trình thực hiện đề tài: “ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VỀ KHAI SINH,
KHAI TỬ” tơi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy – Thạc sĩ CAO VŨ MINH
đã tận tình hướng dẫn trong suốt q trình viết khóa luận tốt nghiệp.
Tơi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến quý Thầy Cô ở Khoa Luật Hành
chính nhà nước – Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã cùng với tri
thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng tôi
trong suốt thời gian học tập tại trường. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong q
trình học tập khơng chỉ là nền tảng cho q trình nghiên cứu khóa luận mà cịn là
hành trang q báu để chúng tơi bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.
Tôi vô cùng biết ơn và trân trọng sự động viên, giúp đỡ của gia đình, đặc biệt
là cố vấn học tập lớp HC37-4 và bạn bè đã cho tơi một sự khích lệ tinh thần để tơi
cố gắng hồn thành thật tốt mục tiêu đề ra.

Cuối cùng tơi xin kính chúc q Thầy Cơ dồi dào sức khỏe và thành công
trong sự nghiệp cao quý. Một lần nữa cảm ơn Giảng viên hướng dẫn đã dành sự hỗ
trợ và giúp đỡ quý báu để tôi hồn thành tốt khóa luận ngày hơm nay.
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 18 tháng 7 năm 2016
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Trâm


MỤC LỤC
Lời nói đầu ........................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỘ TỊCH, ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ
TỊCH. ................................................................................................................. 6
1.1. Các khái niệm liên quan. ................................................................................ 6
1.1.1. Khái niệm hộ tịch. ................................................................................... 6
1.1.2. Đăng ký hộ tịch là gì? .............................................................................. 7
1.1.3. Khái niệm quản lý hộ tịch. ...................................................................... 9
1.1.4. Tầm quan trọng của công tác hộ tịch....................................................... 10
1.2. Các nguyên tắc và yêu cầu trong đăng ký hộ tịch. ....................................... 10
1.2.1. Nguyên tắc đăng ký hộ tịch. .................................................................... 10
1.2.2. Phương thức yêu cầu và tiếp nhận yêu cầu đăng ký hộ tịch. .................. 10
1.2.3. Quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch của cá nhân. ........................................ 14
1.3. Mục đích, ý nghĩa của việc đăng ký, quản lý hộ tịch. .................................. 15
1.3.1. Mục đích, ý nghĩa của việc đăng ký hộ tịch. ........................................... 15
1.3.2. Mục đích, ý nghĩa của việc quản lý hộ tịch. ............................................ 16
1.4. Tính thiết yếu và giá trị ứng dụng của các thủ tục hành chính về khai sinh,
khai tử...................................................................................................................... 16
1.5. Trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan nhà trong công tác hộ tịch. ...... 16
CHƢƠNG 2: THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VỀ KHAI SINH. ......................... 19
2.1. Một số vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản về công tác quản lý, đăng ký khai

sinh ........................................................................................................................... 19
2.1.1. Khái niệm, ý nghĩa của đăng ký khai sinh............................................... 19
2.1.2. Yêu cầu của việc đăng ký khai sinh. ....................................................... 22
2.1.3. Vị trí, vai trị, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc
đăng ký khai sinh. .................................................................................................... 24
2.2. Quy định của pháp luật về đăng ký khai sinh. ............................................. 26
2.2.1. Thẩm quyền đăng ký khai sinh. ............................................................... 26
2.2.2. Nội dung đăng ký khai sinh. .................................................................... 28


2.2.3. Trách nhiệm đăng ký khai sinh. .............................................................. 28
2.2.4. Thủ tục đăng ký khai sinh. ...................................................................... 29
2.2.5. Đăng ký khai sinh trong một số trường hợp đặc biệt. ............................. 30
2.3. Thực trạng đăng ký khai sinh ở một số xã, phƣờng, thị trấn và một số kiến
nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đăng ký khai sinh. ......................... 36
2.3.1. Thực trạng đăng ký khai sinh. ................................................................. 36
2.3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác đăng ký khai sinh .. 40
2.3.3. Những tiến bộ của pháp luật trong lĩnh vực đăng ký khai sinh. ............. 42
CHƢƠNG 3: THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VỀ KHAI TỬ. .................................. 48
3.1. Khái niệm, ý nghĩa của đăng ký khai tử. ..................................................... 48
3.2. Quy định của pháp luật về đăng ký khai tử. ............................................... 49
3.2.1. Thẩm quyền đăng ký khai tử. .................................................................. 49
3.2.2. Thời hạn và trách nhiệm đăng ký khai tử. ............................................... 51
3.2.3. Thủ tục đăng ký khai tử. .......................................................................... 52
3.2.4. Đăng ký lại khai tử. ................................................................................. 54
3.3. Thực trạng đăng ký khai tử ở một số xã, phƣờng, thị trấn và một số kiến
nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đăng ký khai tử. ............................ 55
3.3.1. Thực trạng đăng ký khai tử...................................................................... 55
3.3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đăng ký khai tử.
.................................................................................................................................. 57

3.3.3. Những tiến bộ của pháp luật trong lĩnh vực đăng ký khai tử. ................ 58
Kết luận ................................................................................................................... 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đăng ký và quản lý hộ tịch là một hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng
đối với nhà nước và đặc biệt là tồn thể người dân. Nó có ảnh hưởng sâu sắc đến
quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi con người, mỗi công dân và đồng thời đây là một hoạt
động xun suốt, khơng thể thiếu trong q trình quản lý nhà nước. Cho đến hiện
nay pháp luật nước ta đã có những quy định thật sự rõ ràng và chi tiết liên quan đến
lĩnh vực hộ tịch. Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận
hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân như:
- Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: khai sinh; kết hơn; giám hộ;
nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông
tin hộ tịch; khai tử.
- Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ,
con; xác định lại giới tính; ni con ni, chấm dứt việc ni con nuôi; ly hôn, hủy
việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố
hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành
vi dân sự.
- Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn;
giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch;
khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài.
- Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của
pháp luật1.

Tuy nhiên, khi nghiên cứu tìm hiểu về lĩnh vực này chúng ta có thể nhận
thấy tầm quan trọng của việc đăng ký khai sinh và đăng ký khai tử bởi lẽ, được khai
sinh là một trong những quyền đầu tiên của trẻ em được quy định trong Luật Trẻ em
năm 2016 cũng như trong Công ước của Liên hợp quốc về quyền của trẻ em. Cụ thể
là Điều 13 Luật Trẻ em năm 2016 có quy định: “Trẻ em có quyền được khai sinh,
khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy
định của pháp luật”. Khai sinh được xem là thủ tục cần thiết của mỗi cá nhân ngay
từ khi sinh ra và giấy khai sinh là loại giấy tờ được cơ quan nhà nước có thẩm
1

Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2014.

1


quyền cấp sớm nhất cho một con người. Tuy giấy khai sinh rất quan trọng nhưng
trên thực tế không phải ai cũng hiểu biết pháp luật và tuân thủ theo quy định của
pháp luật để đi đăng kí khai sinh. Từ đó, dẫn đến nhiều trường hợp một cơng dân
khi được sinh ra nhưng lại khơng có giấy khai sinh. Điều này gây ra khó khăn nhất
định mà chính các cơ quan quản lý nhà nước có lúc cũng chưa biết phải giải quyết
ra sao. Khi có Giấy khai sinh, người đó đã là một cơng dân có đủ mọi quyền và
nghĩa vụ theo pháp luật. Có thể nói, tất cả mọi vấn đề pháp lý liên quan đến cuộc
đời một công dân, luôn bắt đầu từ “hộ tịch gốc” này. Các giấy tờ tùy thân khác như
hộ khẩu, chứng minh nhân dân, học bạ, văn bằng, chứng chỉ... đều phải tuân thủ các
nội dung trong giấy khai sinh.
Sinh – lão – bệnh – tử là quy luật của đời người và đó là một lẽ tự nhiên khơng
thể chối bỏ. Một người khi được sinh ra và được đăng ký khai sinh, đánh dấu sự tồn
tại của người đó trên phương diện pháp lý, có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Cũng như vậy, khi một người được xác định
là đã chết thì những người có liên quan, có trách nhiệm phải đăng ký với cơ quan

nhà nước có thẩm quyền. Nó giúp cho giấy chứng tử ghi nhận được thời gian chính
xác, cũng như để đảm bảo rằng các nguyện vọng của người quá cố được thực thi
sau khi người đó thật sự đã qua đời. Giấy chứng tử là căn cứ rõ ràng nhất xác định
thời điểm chết của người được khai tử – căn cứ để xác định thời điểm mở thừa kế,
diện thừa kế, di sản thừa kế. Do đó, việc khai tử, cấp giấy chứng tử là rất quan
trọng. Nhiều người, do không hiểu hết được tầm quan trọng của việc khai tử, hoặc
do nhiều nguyên nhân khác nhau nên không thực hiện đúng hạn việc đăng ký khai
tử nên đã gây ra những ảnh hưởng, phiền hà và rắc rối về sau.
Với những phân tích trên đây, có thể thấy đăng ký khai sinh và đăng ký khai tử
là cơ sở pháp lý chính thức làm phát sinh mối liên hệ giữa cá nhân và cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, căn cứ vào cơ sở đó ràng buộc trách nhiệm của Nhà nước đối
với công dân. Các thủ tục liên quan đến khai sinh, khai tử đảm bảo cho những
quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khi sinh ra hoặc chết đi.
Chính vì vậy, một cơng cụ đặc biệt quan trọng và không thể thiếu để giải
quyết cho việc đăng ký khai sinh, khai tử được thực hiện một cách nhanh chóng và
hợp pháp nhất đó là các thủ tục hành chính trong lĩnh vực này.
Trong cuộc sống, pháp luật vẫn ln hiện diện để bảo vệ lợi ích chính đáng
và thiết thực của người dân. Song, không phải lúc nào pháp luật cũng dự liệu chuẩn
xác tất cả những vấn đề có thể xảy đến. Pháp luật của nước ta về vấn đề đăng ký,
2


quản lý hộ tịch nói chung và đăng ký khai sinh, khai tử nói riêng vẫn tồn tại những
bất cập, và đặc biệt trong q trình thực hiện cịn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Nhiều vấn đề phát sinh mà chưa có cách giải quyết thấu đáo, thỏa đáng. Những khó
khăn, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn cũng như những rào
cản về nhận thức, hiểu biết pháp luật đã gây ra khơng ít những xáo trộn trong công
tác quản lý nhà nước về hộ tịch nhất là trong lĩnh vực khai sinh, khai tử. Chính vì
vậy, tác giả đã tìm hiểu và thực hiện đề tài: “ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VỀ KHAI
SINH, KHAI TỬ” nhằm tìm ra những khó khăn, vướng mắc và quan hệ mới phát

sinh mà pháp luật chưa thể điều chỉnh được. Đồng thời, khóa luận đưa ra thực trạng
tình hình khai sinh, khai tử ở một số xã, phường, thị trấn để tìm hướng khắc phục,
hồn thiện pháp luật về vấn đề này.
2. Mục đích – Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Khi thực hiện đề tài này tác giả đã mong muốn hướng đến các mục đích, ý
nghĩa sau đây:
* Thứ nhất, khẳng định được tầm quan trọng của cơng tác đăng ký, quản lý hộ
tịch nói chung và đăng ký khai sinh, khai tử nói riêng. Bên cạnh đó tìm hiểu, phân
tích và đánh giá những quy định của pháp luật có liên quan trong lĩnh vực này.
* Thứ hai, khai thác những khía cạnh và pháp luật xoay quanh đề tài nghiên
cứu, tìm hiểu thực trạng tình hình đăng ký khai sinh, khai tử. Đồng thời là thực tiễn
áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này ở một số xã, phường, thị trấn trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh và huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định. Từ đó, tìm ra ngun
nhân, ưu nhược điểm của pháp luật hộ tịch cũng như nêu lên những kiến nghị và
hướng khắc phục cho những khiếm khuyết còn tồn đọng.
Từ những mục đích mong muốn hướng tới như trên thì nhiệm vụ đề ra đó là:
* Đầu tiên là phải tìm hiểu, nghiên cứu và làm rõ những quy định của pháp luật
hộ tịch, cụ thể là trong vấn đề đăng ký khai sinh, khai tử.
* Căn cứ vào số liệu thu thập được để nghiên cứu, đánh giá về thực trạng đăng
ký khai sinh, khai tử. Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này ở một số
địa bàn xã, phường, thị trấn.
* Nêu lên được tầm quan trọng của công tác đăng ký, quản lý hộ tịch nói chung
và đăng ký khai sinh, khai tử nói riêng.

3


* Xác định mục đích, ý nghĩa của cơng tác hộ tịch. Đồng thời tìm ra những khó
khăn, vướng mắc và ngun nhân của nó trong q trình áp dụng. Từ đó, nêu lên
những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao, phát triển công tác đăng ký khai sinh,

khai tử.
* Đối chiếu, so sánh pháp luật hiện hành với pháp luật trước đây để tìm ra ưu,
nhược điểm và những điểm tiến bộ đáng ghi nhận, cần được phát huy. Đồng thời, đề
xuất giải pháp và hướng hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.
3. Phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu.
Trong khoảng thời gian thực hiện và dung lượng cho phép của khóa luận quy
định thì tác giả chỉ tập trung nghiên cứu khái quát về hộ tịch, đăng ký và quản lý hộ
tịch; đi sâu tập trung phân tích và trình bày các thủ tục hành chính về khai sinh, khai
tử. Khóa luận cũng tập trung nghiên cứu thực trạng đăng ký khai sinh, khai tử ở một
số xã, phường, thị trấn tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Định.
Để thực hiện và hồn thành tốt khóa luận này tác giả đã sử dụng các phương
pháp như: so sánh, liệt kê, phân tích tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn, thống kê số
liệu về đăng ký khai sinh, khai tử.
Trong chương một tác giả sử dụng phương pháp hệ thống, so sánh, phân tích
để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận khái quát về hộ tịch, đăng ký và quản lý hộ tịch
để có được cái nhìn tổng diện nhất. Chương hai và chương ba với mục tiêu làm sáng
rõ đặc điểm cũng như bức tranh các thủ tục hành chính và đồng thời là thực trạng
của việc khai sinh, khai tử nên tác giả đã sử dụng kết hợp phương pháp thống kê, so
sánh, phân tích… để đảm bảo nội dung hai chương này. Và cuối cùng, tác giả đã sử
dụng phương pháp lịch sử, phân tích tổng hợp để nêu lên những điểm tiến bộ đáng
ghi nhận và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác
hộ tịch nói chung và khai sinh, khai tử nói riêng.
Khi nghiên cứu đề tài tác giả đứng trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan
điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và từng bước hoàn thiện
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
4. Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài.
Khi thực hiện đề tài nghiên cứu này, tác giả chú trọng cả về mặt khoa học lý
luận lẫn thực tiễn áp dụng pháp luật. Xuyên suốt khóa luận là những quy định của
4



pháp luật về vấn đề hộ tịch, công tác đăng ký khai sinh, khai tử và thực trạng của
việc áp dụng các quy định pháp luật đó vào thực tiễn cuộc sống của cá nhân và cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
Nhận thấy được tầm quan trọng của công tác hộ tịch đặc biệt là các thủ tục
hành chính trong việc khai sinh, khai tử bởi đây là những thủ tục không thể thiếu
đối với bất cứ ai khi sinh ra cũng như là khi chết đi. Các thủ tục này đảm bảo được
về quyền lợi, nghĩa vụ của họ được thực hiện đầy đủ, công bằng và tuân theo pháp
luật nhất.
5. Kết cấu của đề tài.
Lời nói đầu.
03 chương sau đây:
Chương 1: Khái quát về hộ tịch, đăng ký và quản lý hộ tịch.
Chương 2: Thủ tục hành chính về khai sinh.
Chương 3: Thủ tục hành chính về khai tử.
Kết luận.
Danh mục tài liệu tham khảo.
Đây là lần đầu tiên tác giả tiếp cận và thực hiện một đề tài khoa học cũng
chính là khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật. Với giới hạn hiểu biết, kinh nghiệm còn
hạn chế của một sinh viên luật nên mặc dù đã cố gắng hết sức mình nhưng luận văn
khơng thể tránh khỏi những thiếu sót và khiếm khuyết trong nó. Tác giả mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy cơ để hồn thiện khóa luận. Đặc biệt, tác giả
xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Thạc sĩ Cao Vũ Minh đã nhiệt
tình giúp đỡ để tác giả hồn thành tốt khóa luận này. Xin cảm ơn quý cơ quan đã
cung cấp tài liệu cho tác giả nghiên cứu, cảm ơn thầy cô, gia đình và bạn bè đã hỗ
trợ, động viên tác giả rất nhiều.

5



CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỘ TỊCH, ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ
HỘ TỊCH.
1.1 Các khái niệm liên quan.
1.1.1. Khái niệm “Hộ tịch”
Hộ tịch là một trong những vấn đề trọng tâm của hoạt động quản lý nhà
nước, quản lý xã hội. Hộ tịch đóng vai trị hết sức quan trọng trong cuộc sống mỗi
con người. Để hiểu đúng và áp dụng chuẩn xác các quy định của pháp luật Việt
Nam về vấn đề này trước tiên chúng ta phải biết thế nào là hộ tịch.
Về phương diện ngơn ngữ có rất nhiều quan điểm khác nhau để giải nghĩa về
thuật ngữ “hộ tịch”. Cụ thể:
 Tác giả Đào Duy Anh: Từ điển Hán-Việt, nxb Khoa học xã hội - 1992 thì
“Hộ tịch” là quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch quán
của từng người.
 Theo Viện ngôn ngữ học: Từ điển Tiếng việt phổ thông, nxb TP. Hồ Chí
Minh - 2002 thì “Hộ tịch” là sổ của cơ quan chính quyền đăng ký cư dân trong địa
phương mình theo đơn vị hộ.
 Theo Nguyễn Lân: Từ điển Từ và Ngữ Tiếng việt, nxb TP. Hồ Chí Minh –
1989 thì “Hộ tịch” là quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi
người trong một địa phương.
 Theo Nguyễn Như Ý: Đại Từ điển Tiếng việt, nxb Văn hóa thơng tin – 1998
thì “Hộ tịch” là các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp
luật.
Trên đây là các cách diễn giải về hộ tịch về mặt ngôn ngữ. Tuy có sự khác
nhau về từ ngữ, cách lý giải song tựu trung lại vẫn có điểm chung đó là: Hộ tịch là
việc ghi chép lại các sự kiện liên quan đến nhân thân của một người, các sự kiện
làm phát sinh quan hệ hộ tịch như sinh, tử, kết hôn, ly hôn,… chứng thư hộ tịch là
loại giấy tờ pháp lí có giá trị chứng minh chính xác các đặc điểm nhân thân cơ bản
của một cá nhân.
Còn về phương diện pháp lý, hộ tịch là một thuật ngữ chuyên ngành đã được

định nghĩa trong các văn bản quy phạm pháp luật. Khi Luật Hộ tịch 2014 chưa ra
đời thì khái niệm hộ tịch đã được quy định trong các văn bản pháp luật như Nghị
định 83/1998/NĐ-CP hay Nghị định 158/2005/NĐ-CP. Cụ thể tại Nghị định
83/1998/NĐ-CP có định nghĩa về hộ tịch như sau: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản
6


xác nhận tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”. Còn tại
Điều 1 Nghị định 158/2005/NĐ-CP “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình
trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”. Khái niệm này bao hàm
các sự kiện cơ bản như: sinh; tử; kết hôn; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ,
con; thay đổi họ tên, chữ đệm; cải chính họ tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh;
xác định lại dân tộc…
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, khái niệm hộ tịch được định nghĩa tại
Điều 2 Luật Hộ tịch 2014 “Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của
Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết”2.
Cụ thể tại Điều 3 Luật Hộ tịch 2014 có quy định những sự kiện hộ tịch đó là: khai
sinh; kết hơn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại
dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử3… Như vậy, qua tìm hiểu khái niệm hộ
tịch trên cả hai phương diện ngơn ngữ và pháp lý thì chúng ta có thể rút ra kết luận
về hộ tịch là những sự kiện cơ bản làm cơ sở để xác định tình trạng nhân thân của
một người từ khi sinh ra đến khi chết như sinh, kết hôn, tử, nuôi con nuôi, giám hộ,
nhận cha mẹ, con, thay đổi họ tên, chữ đệm, ngày tháng năm sinh, xác định lại dân
tộc… Đây là những sự kiện làm căn cứ để phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và
nghĩa vụ pháp lý của mỗi cá nhân đối với nhà nước.
1.1.2 Đăng ký hộ tịch là gì?
Theo bách khoa tồn thư mở Wikipedia thì “đăng ký hộ tịch” là hoạt động
của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thường là các cơ quan hành pháp, cơ
quan quản lý hành chính nhà nước) ghi và lưu lại các sự kiện hộ tịch quan trọng
của cơng dân4. Mục đích chính của đăng ký hộ tịch là để tạo ra hệ thống pháp luật

(văn bản pháp luật thậm chí là văn bản quy phạm pháp luật) được sử dụng để thiết
lập và bảo vệ các quyền dân sự của cá nhân. Mục đích thứ hai là tạo ra một nguồn
dữ liệu cho việc biên soạn các số liệu thống kê quan trọng, phục vụ cho hoạt động
thống kê dân cư của nhà nước5.
Theo như quy định của pháp luật hiện hành thì căn cứ vào Khoản 2 Điều 2
Luật Hộ tịch 2014 thì: “Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền
xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý
2

Điều 2 Luật Hộ tịch 2014
Điều 3 Luật Hộ tịch 2014
4
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C4%83ng_k%C3%BD_h%E1%BB%99_t%E1%BB%8Bch (truy
cập ngày 23 tháng 5 năm 2016)
5
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C4%83ng_k%C3%BD_h%E1%BB%99_t%E1%BB%8Bch (truy
cập ngày 28 tháng 5 năm 2016)
3

7


để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân
cư6”.
Như vậy, có thể hiểu ở đây đăng ký hộ tịch là hoạt động diễn ra giữa hai chủ
thể đó chính là cá nhân hoặc tổ chức với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi có
các sự kiện hộ tịch xảy ra thì bên có quyền và nghĩa vụ là cá nhân hay tổ chức sẽ
đến và yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện là có thật trên
thực tế và đăng ký vào sổ hộ tịch sự kiện này. Hoặc khi có các căn cứ như bản án,
quyết định của Tòa án… mà cơ quan có thẩm quyền sẽ ghi vào sổ hộ tịch các phát

sinh, thay đổi đó. Từ cơ sở trên, đảm bảo khi có các vấn đề pháp lý phát sinh liên
quan đến nhân thân của cá nhân thì họ sẽ được nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích
chính đáng của mình một cách tốt nhất.
Để hiểu rõ hơn về đăng ký hộ tịch chúng ta cần nắm đăng ký hộ tich gồm hai
hành vi hoàn toàn khác biệt mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện:
 Thứ nhất, là hành vi “xác nhận” các sự kiện hộ tịch như khai sinh; kết hôn;
giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; ni con ni; thay đổi, cải chính
hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử… theo yêu cầu của
đương sự. Tức là, khi có các sự kiện này xảy ra, đương sự có quyền yêu cầu cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận tính có thật và ghi vào sổ đăng ký hộ tịch.
Điều đó nhằm để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đương sự, đồng thời nó
cũng là cơng cụ giúp nhà nước thực hiện tốt các chính sách về quản lý dân cư để
tiến đến phát triển kinh tế, phát triển xã hội. Sau khi đăng ký vào sổ hộ tịch thì sẽ
làm phát sinh hiệu lực của sự kiện được đăng ký. Cá nhân nếu không yêu cầu cơ
quan nhà nước đăng ký hộ tịch thì khi có sự kiện hộ tịch xảy ra trên thực tế nhưng
nó vẫn khơng được nhà nước thừa nhận, khơng có giá trị pháp lý. Chính vì lẽ đó,
khi có các vấn đề phát sinh xoay quanh sự kiện này ví dụ như các tranh chấp, xác
định lại dân tộc hay giải quyết di sản thừa kế… thì nhà nước sẽ khơng có trách
nhiệm hay nghĩa vụ trong việc xử lý các vấn đề này đồng nghĩa với quyền lợi, nghĩa
vụ của cá nhân không được đảm bảo.
 Thứ hai là hành vi “ghi vào” sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân. “Ghi
vào” này là ghi vào sổ đăng ký hộ tịch các thay đổi về hộ tịch như: thay đổi quốc
tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; ni con ni, chấm dứt việc ni
con ni; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công nhận

6

Điều 2 Luật Hộ tịch 2014.

8



giám hộ; tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn
chế năng lực hành vi dân sự.
Khác với hành vi “xác nhận”, hành vi “ghi vào” Sổ hộ tịch này của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền là ghi lại những thay đổi về quan hệ nhân thân của một người.
Nếu như ở hành vi “xác nhận” thì cơ quan có thẩm quyền sẽ xác nhận, đăng ký vào
sổ hộ tịch cho đương sự đồng thời cấp cho đương sự một loại giấy chứng nhận ví dụ
như: Giấy khai sinh, Giấy chứng tử… để thừa nhận giá trị pháp lý của sự kiện. Còn
hành vi “ghi vào” Sổ hộ tịch những thay đổi xảy ra khi và chỉ khi có căn cứ là bản
án hay quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ví dụ như bản án ly hơn,
quyết định tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự… Ở đây cơ quan
có thẩm quyền sẽ không phải cấp cho đương sự một loại giấy tờ xác nhận giá trị
pháp lý nào. Bởi lẽ, việc ghi vào sổ hộ tịch một số thay đổi về nhân thân của đương
sự chỉ là một hình thức đính chính, hợp thức hóa thơng tin cũng như tạo ra một
nguồn số liệu chính xác giúp cho hoạt động quản lý nhà nước được thuận tiện hơn
cũng như đảm bảo cho quyền lợi và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo kịp thời,
nhanh chóng. Cịn về hiệu lực pháp lý thì hành vi ghi vào Sổ hộ tịch những thay đổi
sẽ khơng làm phát sinh hiệu lực gì cả, bởi lẽ bản án, quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền đã mang lại hiệu lực pháp lý cho các thay đổi về hộ tịch đó.
1.1.3 Khái niệm quản lý hộ tịch.
Quản lý hộ tich là một khâu quan trọng trong chuỗi hoạt động quản lý nhà
nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện bao gồm việc ban hành các
văn bản pháp luật để điều chỉnh các vấn đề phát sinh xoay quanh lĩnh vực hộ tịch,
tiến hành xác nhận, đăng ký, theo dõi, kiểm tra, xử lý các vi phạm pháp luật về hộ
tịch.
“Quản lý hộ tịch là công việc thường xuyên của các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền thực hiện để theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch,nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp, của cá nhân, tổ chức, tạo cơ sở xây dựng, phát triển
kinh tế, xã hội, an ninh quốc phịng và chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình7”.

Đối với các quốc gia trên thế giới dù tồn tại dưới bất kì hình thức chính thể
nào, trình độ kinh tế phát triển khác nhau ra sao đi chăng nữa thì nhiệm vụ quản lý
nhà nước mà đầu tiên và hết sức quan trọng là quản lý dân cư đều mang một ý nghĩa
7

http://elib.dostquangtri.gov.vn/ntmn/Include/Index.asp?option=6&ID=97&IDhoi=5570 (truy cập ngày 31
tháng 5 năm 2016)

9


vơ cùng quan trọng có tính chất quyết định sống - còn. Một nhà nước muốn hoạt
động hiệu quả cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật thì trước hết phải làm tốt
vai trị quản lý của mình bằng cách cập nhật và bổ sung chính xác thường xuyên các
số liệu, thông tin về dân số, dữ liệu về dân cư (sinh – tử) thông qua hoạt động quản
lý hộ tịch. Các cơ quan có thẩm quyền quản lý hộ tịch bao gồm: Chính phủ, Bộ Tư
pháp, Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài,
Ủy ban nhân dân các cấp, Bộ Tư pháp, Phòng Tư pháp. Mọi cơ quan tổ chức có
thẩm quyền phối hợp hoạt động làm sao để cơng tác hộ tịch được bảo đảm thực hiện
tốt thì chúng ta mới có được những số liệu chính xác để hoạch định các chính sách
phát triển kinh tế xã hội thật hiệu quả.
1.1.4 Tầm quan trọng của công tác hộ tịch.
Đăng ký, quản lý hộ tịch là hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng đối với
người dân và Nhà nước. Thông qua việc đăng ký, quản lý hộ tịch, tạo cơ sở pháp lý
để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân.
Đồng thời, góp phần vào các biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ
cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế-xã hội, an ninh-quốc
phòng của đất nước.
1.2 Các nguyên tắc và yêu cầu trong đăng ký hộ tịch.
1.2.1 Nguyên tắc đăng ký hộ tịch.

Hộ tich luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu dù ở bất kì giai đoạn phát
triển nào của một đất nước. Bởi lẽ, nó khơng chỉ có ý nghĩa trong việc quản lý nhà
nước mà cịn có ý nghĩa trong vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cơng
dân. Đặc biệt, vai trị của hộ tịch rất được quan tâm ở nước ta, các cơ quan quản lý
hộ tịch hết sức chú trọng công tác này, gần đây nhất Luật hộ tịch 2014 đã ra đời.
Đây là thành quả đáng ghi nhận cho những cố gắng và mong muốn của chính quyền
nước ta về một nền hành chính với những thủ tục rõ ràng, chi tiết và thuận tiện nhất
cho người dân.
Khi tiến hành thực hiện các hoạt động kiểm tra, theo dõi, đăng ký, xử lý…
các vấn đề liên quan trong công tác hộ tịch đòi hỏi tuân thủ các nguyên tắc sau đây
để đảm bảo cho quá trình đăng ký hộ tịch tránh khỏi những sai sót, chủ quan duy ý
chí hay gây ra những phiền hà không đáng mắc phải cho đương sự.

10


Nguyên tắc thứ nhất: Tôn trọng và bảo đảm quyền nhân thân của cá nhân8.
Nguyên tắc này có nghĩa là các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và
mọi người phải tuyệt đối tôn trọng quyền nhân thân của cá nhân. Khi có các sự kiện
hộ tịch xảy ra làm phát sinh các quan hệ nhân thân của một người, họ đã đi đến các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền để yêu cầu xác nhận và đăng ký vào sổ hộ tịch thì
cơ quan quản lý nhà nước về hộ tịch phải tơn trọng nguyện vọng chính đáng này và
thực hiện xác minh tính thực tế đồng thời đăng ký vào sổ hộ tịch sự kiện trên. Sau
đó cấp cho đương sự một loại giấy tờ có giá trị chứng minh cho sự kiện hộ tịch. Bởi
lẽ, khi có vấn đề phát sinh thì cá nhân sẽ căn cứ vào loại giấy tờ được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cấp để làm căn cứ giải quyết. Chỉ sau khi đăng ký thì sự kiện
hộ tịch mới có hiệu lực pháp lý. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện
nghĩa vụ của mình khơng được từ chối hay gây cản trở dưới bất kì hình thức nào
nếu sự kiện hộ tịch là có thật trên thực tế và không trái với các quy định của pháp
luật. Sinh, tử, kết hôn, ly hôn, nhận nuôi con ni… dù có thể nào đi chăng nữa, dù

khơng thuận theo ý của mọi người hay không mấy ai ủng hộ quan hệ hay sự kiện
này. Nhưng, đây là quan hệ nhân thân của cá nhân, là quyền của con người nên nó
phải được đảm bảo và tuyệt đối tơn trọng.
Nguyên tắc thứ hai: Mọi sự kiện hộ tịch của cá nhân phải được đăng ký đầy
đủ, kịp thời, trung thực, khách quan và chính xác; trường hợp khơng đủ điều kiện
đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật thì người đứng đầu cơ quan đăng ký hộ
tịch từ chối bằng văn bản và nêu rõ lý do9.
Khi có sự kiện hộ tịch xảy ra trên thực tế thì địi hỏi cả hai chủ thể phải thực
hiện trách nhiệm của mình một cách đầy đủ, kịp thời, trung thực, khách quan và
chính xác. Một bên chủ thể là cá nhân đi đăng ký hộ tịch thì có trách nhiệm đi đăng
ký đầy đủ, kịp thời, khai báo một cách chính xác, trung thực các sự kiện hộ tịch xảy
ra, nộp đầy đủ các loại giấy tờ, tài liệu có liên quan trong việc đăng ký sự kiện hộ
tịch này.
Cịn về phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện cơng việc đăng ký
hộ tịch thì phải đăng ký đầy đủ, kịp thời và phải làm việc trên tinh thần trách nhiệm,
tuân thủ nguyên tắc khách quan một cách tuyệt đối.

8
9

Khoản 1 Điều 5 Luật Hộ tịch 2014.
Khoản 2 Điều 5 Luật Hộ tịch năm 2014.

11


Đầy đủ ở đây có nghĩa là khi tiến hành đi đăng ký và thực hiện việc đăng ký
phải đảm bảo đầy đủ, khơng được bỏ sót thơng tin hay số liệu liên quan đến sự kiện
hộ tịch. Thực hiện việc đăng ký đầy đủ khơng vì bất cứ lý do gì mà từ chối khơng
đăng ký hoặc gây khó khăn cho đương sự.

Kịp thời là một yêu cầu đặt ra đối với cả người đi đăng ký và cơ quan thực
hiện việc đăng ký. Cụ thể tại Điều 15 Luật Hộ tịch 2014 quy định: “Trong thời hạn
60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho
con; trường hợp cha, mẹ khơng thể đăng ký khai sinh cho con thì ơng hoặc bà hoặc
người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang ni dưỡng trẻ em có trách nhiệm
đăng ký khai sinh cho trẻ em10. Có nghĩa là, khi đứa trẻ được sinh ra thì cha mẹ phải
kịp thời đi đăng ký khai sinh cho con của mình đúng trong thời hạn luật định. Đối
với những địa bàn là vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế đặc
biệt khó khăn thì cán bộ hộ tịch phải xuống từng địa phương để thực hiện việc đăng
ký kịp thời tránh được tình trạng chậm trễ và bảo đảm quyền lợi cho trẻ em. Nếu
không đăng ký hoặc đăng ký không đúng theo thời hạn pháp luật quy định thì sẽ
gây những khó khăn, rắc rối trong thủ tục sau này cho cả bên đăng ký và bên phía
cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký, quản lý hộ tịch.
Cịn trung thực, khách quan và chính xác có nghĩa là mọi hoạt động trong
quá trình đăng ký hộ tịch phải được diễn ra một cách khách quan trên tinh thần tự
giác, mọi thông tin cung cấp phải trung thực, xác đáng để bảo đảm cho hoạt động
đăng ký diễn ra suông sẻ và đảm bảo cả quyền và lợi ích của người dân được đáp
ứng tốt nhất. Như đã biết, công tác hộ tịch luôn gắn liền với hoạt động thống kê dân
số, quản lý dân cư để hoạch định tốt các chính sách phát triển kinh tế, xã hội. Các số
liệu thu thập được trong quá trình thống kê dân số có độ tin cậy cao hay khơng phụ
thuộc vào cơng tác hộ tịch có hiệu quả, có chính xác hay khơng nữa. Như vậy, đảm
bảo tính khách quan và chính xác là một u cầu vơ cùng quan trọng.
Và đối với những trường hợp không đủ điều kiện theo pháp luật quy định thì
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng phải từ chối bằng văn bản và nêu rõ lý do
trong đó chứ khơng được thực hiện một cách chủ quan, tùy tiện. Tất cả đều phải dựa
trên quy định của pháp luật.
Nguyên tắc thứ ba: Đối với những việc hộ tịch mà Luật này khơng quy định
thời hạn giải quyết thì được giải quyết ngay trong ngày; trường hợp nhận hồ sơ sau
10


Khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014.

12


15 giờ mà khơng giải quyết được ngay thì trả kết quả trong ngày làm việc tiếp
theo11.
Đây là một nguyên tắc tiêu biểu nhằm mục đích bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích cho
đương sự. Bản thân các văn bản pháp luật thì ở trạng thái tĩnh cịn các quan hệ xã
hội thì ln ln phát sinh – ln luôn thay đổi nên các nguyên tắc của pháp luật
đều quy định theo hướng có lợi cho người dân.
Nguyên tắc thứ tư: Mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại một cơ quan
đăng ký hộ tịch có thẩm quyền theo quy định của Luật này. Cá nhân có thể được
đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang
sinh sống. Trường hợp cá nhân không đăng ký tại nơi thường trú thì Ủy ban nhân
dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, Cơ quan đại diện nơi đã đăng ký hộ tịch
cho cá nhân có trách nhiệm thơng báo việc đăng ký hộ tịch đến Ủy ban nhân dân
cấp xã nơi cá nhân đó thường trú12.
Nguyên tắc này đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và chính xác cho cơng tác hộ tịch
nhằm bảo đảm được mục đích quản lý nhà nước đặt ra.
Nguyên tắc thứ năm: Mọi sự kiện hộ tịch sau khi đăng ký vào Sổ hộ tịch phải
được cập nhật kịp thời, đầy đủ vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.
Như chúng ta đã biết, “Sổ hộ tịch là sổ giấy được lập và lưu giữ tại cơ quan
đăng ký hộ tịch để xác nhận hoặc ghi các sự kiện hộ tịch quy định tại Điều 3 của
Luật này13”. Còn “Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là cơ sở dữ liệu ngành, được lập
trên cơ sở tin học hóa cơng tác đăng ký hộ tịch14”.
Nguyên tắc này đòi hỏi sau khi tiến hành đăng ký vào Sổ hộ tịch (sổ giấy)
các sự kiện hộ tịch thì cơ quan có thẩm quyền phải cập nhật kịp thời và đầy đủ sự
kiện đó vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử. Bởi lẽ, trên nguyên tắc khi một sự kiện
được đăng ký và ghi vào sổ hộ tịch thì đồng nghĩa với việc nó có giá trị pháp lý trên

thực tế. Căn cứ vào đó mà nhà nước bảo vệ quyền lợi cho đương sự, đồng thời thực
hiện các chính sách đúng đắn và hợp lý về dân số. Song, sổ hộ tịch là sổ giấy nên
không thể chắc chắn việc bảo quản dữ liệu một cách an toàn nhất được. Nên khi tiến
hành đăng ký xong rồi thì chúng ta cần lưu trữ nó lại trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện
11

Khoản 3 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014.
Khoản 4 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014.
13
Khoản 3 Điều 4 Luật Hộ tịch năm 2014.
14
Khoản 4 Điều 4 Luật Hộ tịch năm 2014.
12

13


tử. Khơng những an tồn trong việc cất giữ, bảo quản mà nó cịn giúp cơ quan có
thẩm quyền thuận tiện trong việc tra cứu thông tin, gửi dữ liệu một cách nhanh
chóng, bảo đảm cho cơng tác hộ tịch được thực hiện kịp thời, đầy đủ và chính xác
nhất.
Nguyên tắc thứ sáu: Nội dung khai sinh, kết hôn, ly hơn, khai tử, thay đổi,
cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại giới tính, xác định lại dân tộc của cá nhân
trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch là thông tin đầu vào của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân
cư15.
Nguyên tắc này khẳng định lại một lần nữa tầm quan trọng của cơng tác hộ tịch nói
chung và việc lưu trữ, bảo quản dữ liệu hộ tịch thơng qua kênh Cơ sở dữ liệu hộ tịch
nói riêng.
Ngun tắc thứ bảy: Bảo đảm công khai, minh bạch thủ tục đăng ký hộ
16


tịch .
Việc phổ biến công khai, minh bạch rõ ràng các thủ tục trong đăng ký hộ tịch
sẽ giúp cho người dân có cái nhìn và hiểu biết cụ thể về vấn đề này. Khi có các sự
kiện hộ tịch phát sinh thì đương sự sẽ dễ dàng hơn trong việc đăng ký với cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, bảo đảm quyền lợi cho chính họ cũng như là lợi ích của
nhà nước khi cơng tác hộ tịch được thực hiện tốt.
Tóm lại, các nguyên tắc trên được quy định cụ thể và rõ ràng tại Điều 5 Luật
Hộ tịch năm 2014. Tất cả các nguyên tắc đều rất đúng đắn và phù hợp với tình hình
thực tế của nước ta hiện nay. Tuy các nguyên tắc có quy định khác nhau về những
nội dung riêng, khía cạnh riêng trong cơng tác hộ tịch, song hết thảy đều có mối liên
hệ mật thiết với nhau, cùng hướng tới một mục tiêu nhất định. Việc thực hiện tốt và
đầy đủ nguyên tắc này là tiền đề, là cơ sở cho việc thực hiện tốt các nguyên tắc
khác. Nếu tất cả các nguyên tắc được tuân thủ và thực hiện một cách đầy đủ và tốt
nhất thì hiệu quả mang lại cho công tác hộ tịch sẽ rất cao.
1.2.2 Phương thức yêu cầu và tiếp nhận yêu cầu đăng ký hộ tịch.
Căn cứ vào Điều 9 Luật hộ tịch 2014 quy định thì có các phương thức u
cầu và tiếp nhận yêu cầu đăng ký hộ tịch đó là: Khi yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp
bản sao trích lục hộ tịch, cá nhân nộp hồ sơ trực tiếp cho cơ quan đăng ký hộ tịch
15
16

Khoản 6 Điều 5 Luật Hộ tịch 2014.
Khoản 7 Điều 5 Luật Hộ tịch 2014.

14


hoặc gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính hoặc gửi qua hệ thống đăng ký hộ tịch trực
tuyến. Khi làm thủ tục đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch từ Cơ sở dữ

liệu hộ tịch, cá nhân xuất trình giấy tờ chứng minh nhân thân cho cơ quan đăng ký
hộ tịch. Trường hợp gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính thì phải gửi kèm theo bản sao
có chứng thực giấy tờ chứng minh nhân thân. Đối với những việc đăng ký hộ tịch
có quy định thời hạn giải quyết, thì người tiếp nhận hồ sơ phải viết giấy tiếp nhận;
trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, khơng hợp lệ thì phải hướng dẫn bằng văn bản để
người đi đăng ký hộ tịch bổ sung, hoàn thiện. Văn bản hướng dẫn phải ghi đầy đủ,
rõ ràng loại giấy tờ bổ sung. Trường hợp người có yêu cầu nộp hồ sơ không đúng
cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền thì người tiếp nhận hướng dẫn người đi
đăng ký hộ tịch đến cơ quan có thẩm quyền để nộp hồ sơ.
1.2.3 Quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch của cá nhân.
Theo Điều 6 Luật Hộ tịch 2014 quy định về quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch
của cá nhân thì:
Thứ nhất, cơng dân Việt Nam, người khơng quốc tịch thường trú tại Việt
Nam có quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch. Quy định này cũng được áp dụng đối với
cơng dân nước ngồi thường trú tại Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Thứ hai, trường hợp kết hơn, nhận cha, mẹ, con thì các bên phải trực tiếp
thực hiện tại cơ quan đăng ký hộ tịch. Đối với các việc đăng ký hộ tịch khác hoặc
cấp bản sao trích lục hộ tịch thì người có yêu cầu trực tiếp hoặc ủy quyền cho người
khác thực hiện. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết việc ủy quyền.
Thứ ba, người chưa thành niên, người đã thành niên mất năng lực hành vi
dân sự yêu cầu đăng ký hộ tịch hoặc cấp bản sao trích lục hộ tịch thông qua người
đại diện theo pháp luật.
1.3 Mục đích, ý nghĩa của việc đăng ký, quản lý hộ tịch.
1.3.1 Mục đích, ý nghĩa của việc đăng ký hộ tịch.
Mục đích chính của đăng ký hộ tịch là để tạo ra hệ thống pháp luật (văn bản
pháp luật thậm chí là văn bản quy phạm pháp luật) được sử dụng để thiết lập và bảo
vệ các quyền dân sự của cá nhân. Mục đích thứ hai là tạo ra một nguồn dữ liệu cho

15



việc biên soạn các số liệu thống kê quan trọng, phục vụ cho hoạt động thống kê dân
cư của nhà nước17.
Đăng ký hộ tịch là công cụ không thể thiếu đối với hoạt động quản lý nhà
nước về dân cư. Vấn đề về dân số và quản lý dân cư ln là một vấn đề nóng đối
với các nước trên thế giới nói chung và đối với Việt Nam chúng ta nói riêng. Bởi lẽ,
nước ta đang trong q trình hội nhập và giao lưu quốc tế, vấn đề di dân, xuất khẩu
lao động, du học sang nước bạn.. ngày càng phổ biến và thường xun. Chính vì lẽ
đó, cơng tác quản lý con người, thống kê dân số ngày càng địi hỏi sự phát triển để
phù hợp với tình hình thay đổi phức tạp này.
1.3.2 Mục đích, ý nghĩa của việc quản lý hộ tịch.
Mục đích quản lý hộ tịch là công việc thường xuyên của các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thực hiện để theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, nhằm
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, để từ đó góp phần tạo cơ sở
xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và chính sách dân số, kế
hoạch hố gia đình18....
1.4.

Tính thiết yếu và giá trị ứng dụng của các thủ tục hành chính về
khai sinh, khai tử.

Như đã phân tích ở trên, chúng ta đều nhận thấy được có rất nhiều những sự
kiện hộ tịch nhằm xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến
khi chết. Trong khi đó, khơng phải bất cứ ai cũng đều trải qua hầu hết các sự kiện
hộ tịch như khai sinh, kết hôn, ly hôn, giám hộ, nhận nuôi con nuôi… Song, bản
thân mỗi người nhất thiết đều trải qua sinh và tử. Bởi, sinh – tử là quy luật của tạo
hóa đã gán cho mỗi con người chúng ta. Chính vì lẽ đó, hồn thiện và nâng cao sự
thuận tiện trong các thủ tục hành chính về đăng ký khai sinh và khai tử là một vấn
đề thiết yếu và có tính thực tế rất cao.

1.5.

Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà trong công tác hộ tịch.

Theo quy định của Luật Hộ tịch 2014 hiện hành thì trách nhiệm quản lý nhà
nước về hộ tịch thuộc về các cơ quan sau đây:

17

https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C4%83ng_k%C3%BD_h%E1%BB%99_t%E1%BB%8Bch (truy
cập ngày 1 tháng 6 năm 2016).
18
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C4%83ng_k%C3%BD_h%E1%BB%99_t%E1%BB%8Bch (truy
cập ngày 1 tháng 6 năm 2016).

16


* Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hộ tịch. Bộ Tư pháp giúp Chính
phủ thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch.
* Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch và có nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây: Quy định, hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về đăng ký, quản lý hộ
tịch cho công chức làm công tác hộ tịch ở trong nước; Ban hành, hướng dẫn sử
dụng, quản lý Sổ hộ tịch, Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, trích lục hộ tịch
và các biểu mẫu hộ tịch khác; quy định cụ thể điều kiện, trình tự đăng ký khai sinh,
kết hôn, khai tử lưu động; Xây dựng và quản lý thống nhất Cơ sở dữ liệu hộ tịch
điện tử; hướng dẫn, chỉ đạo địa phương trong việc quản lý, sử dụng phần mềm đăng
ký và quản lý hộ tịch, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, cung cấp thông tin hộ tịch cơ
bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; Hằng năm tổng hợp tình
hình, phân tích, đánh giá, thống kê hộ tịch báo cáo Chính phủ.

* Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về hộ
tịch tại Cơ quan đại diện.
* Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và các bộ,
ngành liên quan thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó là: Bảo đảm kết nối Cơ sở dữ
liệu quốc gia về dân cư với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định của pháp
luật; Bảo đảm an ninh, an tồn thơng tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; Thực
hiện các nhiệm vụ khác liên quan đến công tác hộ tịch.
* Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa phương; Sở Tư
pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định
của pháp luật; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm về công tác đăng
ký, quản lý hộ tịch và những vi phạm trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch do
buông lỏng quản lý.
* Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa
phương và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Thực hiện đăng ký hộ tịch theo quy
định của Luật này; Chỉ đạo, kiểm tra việc đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban
nhân dân cấp xã; Phòng Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn quy định tại Luật hộ tịch này. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
chịu trách nhiệm về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và những vi phạm trong công
tác đăng ký, quản lý hộ tịch do buông lỏng quản lý.

17


* Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa
phương và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Thực hiện đăng ký hộ tịch theo quy
định của Luật này; Căn cứ quy định của Ủy ban nhân dân cấp trên, bố trí công chức
tư pháp - hộ tịch thực hiện việc đăng ký hộ tịch; Tuyên truyền, phổ biến pháp luật
về hộ tịch; Quản lý, sử dụng Sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo quy định; Quản lý,
cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản sao trích lục hộ tịch

theo quy định; Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch báo cáo Ủy ban nhân dân cấp
huyện theo quy định của Chính phủ; Lưu trữ Sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch; Giải
quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về hộ tịch theo thẩm quyền. Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc việc khai sinh, khai tử; chịu
trách nhiệm về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và những vi phạm trong công tác
đăng ký, quản lý hộ tịch do buông lỏng quản lý19.

19

Điều 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71 Luật Hộ tịch 2014.

18


CHƢƠNG 2: THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VỀ KHAI SINH.
2.1. Một số vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản về công tác quản lý, đăng
ký khai sinh.
2.1.1. Khái niệm, ý nghĩa của đăng ký khai sinh.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền “sống” ngay trong
Tuyên ngôn độc lập năm 1945, thông qua việc nhắc lại một mệnh đề trong bản
Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có
quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền khơng ai có thể xâm phạm được;
trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh
phúc". Đến Hiến pháp năm 2013, quyền này được nêu trực tiếp trong Điều 19 và
được gắn với sự bảo hộ pháp lý về tính mạng: “Mọi người có quyền sống. Tính
mạng con người được pháp luật bảo hộ. hơng ai bị tước đoạt tính mạng trái
luật”20. Vâng, và biểu hiện đầu tiên đồng thời quan trọng nhất của quyền sống
khơng có gì khác mà chính là quyền đƣợc khai sinh, quyền được pháp luật và mọi
người công nhận là một công dân, một con người tồn tại thực sự với đầy đủ quyền
và nghĩa vụ pháp lý.

Quyền được khai sinh là một quyền dân sự rất quan trọng, là một trong
những quyền đầu tiên của mỗi người khi sinh ra. Khai sinh là cơ sở, điều kiện để
thực hiện các quyền quan trọng khác của mỗi người như quyền có họ, tên, quốc
tịch, quyền được biết cha, mẹ mình là ai, quyền được công nhận với tư cách là một
chủ thể độc lập, một cơng dân bình đẳng như mọi công dân khác. Quyền được khai
sinh của mỗi người khi sinh ra cũng đồng nghĩa với quyền được khai sinh của trẻ
em. Vì vậy, tại Điều 7 Cơng ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em khẳng định:
"Trẻ em phải được đăng ký khai sinh ngay lập tức sau khi sinh ra", và tại khoản 1
Điều 11 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 của Việt Nam ghi nhận
"Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch"21.
Quyền được khai sinh của mỗi người theo quy định tại Điều 29 Bộ luật dân
sự năm 2005 cũng như Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 khơng
có sự phân biệt gái, trai, con trong giá thú, con ngoài giá thú, con riêng, con chung,
con đẻ và con nuôi, dân tộc, tín ngưỡng, tơn giáo... Quyền khai sinh của cá nhân
được quy định trong Bộ luật Dân sự đã khẳng định sự bảo vệ của Nhà nước đối với
20

http://nguoibaovequyenloi.com/User/ThongTin_ChiTiet.aspx?MaTT=62201552550984593&MaMT=23
(truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2016)
21
Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 - Tập I, Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, PGS. TS.
Hoàng Thế Liên (Chủ biên).

19


×