Tải bản đầy đủ (.pdf) (77 trang)

Thực trạng áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại trong việc bảo vệ người lao động và một số kiến nghị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (606.01 KB, 77 trang )

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
---------------------

Phạm Thị Diệp Hạnh

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG VIỆC BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG
VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2008


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
---------------------

Phạm Thị Diệp Hạnh

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG VIỆC BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG


VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT

Người hướng dẫn khoa học:
TS. Đỗ Ngân Bình

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2008


3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
---------------------

Phạm Thị Diệp Hạnh

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG VIỆC BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG
VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2008



4

LỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu và thông tin nêu trong
luận văn là trung thực; các dữ liệu, luận điểm
được trích dẫn đầy đủ, nếu khơng thuộc ý tưởng
hoặc kết quả tổng hợp của chính bản thân tơi.
Tác giả
Phạm Thị Diệp Hạnh


5


6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. BHXH:

Bảo hiểm xã hội

2. BLLĐ:

Bộ luật lao động

3. KCN:


Khu công nghiệp

4. NXB:

Nhà xuất bản

5. TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

6. Tp.HCM:

Thành phố Hồ Chí Minh

7. WTO:

Tổ chức Thương mại Thế giới


7

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU …………………………………………………………………
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG VIỆC BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG ……..
1.1. Pháp luật lao động với việc bảo vệ người lao động …………………….
1.1.1. Sự cần thiết khách quan của việc bảo vệ người lao động ở Việt
Nam hiện nay ……………………………………………………
1.1.2. Quan niệm về bảo vệ người lao động theo pháp luật lao động

Việt Nam …………………………………………………………

1
6
6
6

8
1.1.3. Vai trò của pháp luật lao động trong việc bảo vệ người lao động
10
1.2. Bồi thường thiệt hại – một biện pháp bảo vệ người lao động ………….. 13
1.2.1. Khái niệm về biện pháp bồi thường thiệt hại đối với người lao
động ……………………………………………………………... 13
1.2.2. Tầm quan trọng của việc sử dụng biện pháp bồi thường thiệt hại
trong việc bảo vệ người lao động ……………………………….
14
1.2.3. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người
lao động …………………………………………………………
16
1.2.4. Các trường hợp bồi thường thiệt hại cho người lao động………... 18
1.2.5. Nguyên tắc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với
người lao động …………………………………………………… 23
Kết luận chương 1 ……………………………………………………………… 25
Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VÀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG VIỆC BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG …….. 26
2.1. Các quy định về bồi thường tiền lương, thu nhập cho người lao động và
thực tiễn áp dụng …………………………………………………......... 26
2.1.1. Bồi thường do chậm trả lương ……………………………………. 27
2.1.2. Bồi thường tiền lương khi ngừng việc …………………………….. 30
2.2. Các quy định về bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe cho người

lao động và thực tiễn áp dụng ………………………………………...
31
2.3. Các quy định về bồi thường thiệt hại do người sử dụng lao động vi
phạm hợp đồng lao động và thực tiễn áp dụng ……………………….
39
2.3.1. Bồi thường thiệt hại do người lao động bị mất việc làm ………… 40
2.3.2. Bồi thường thiệt hại khi người sử dụng lao động chấm dứt hợp
đồng lao động trái pháp luật …………………………………… 42


8

2.4. Bồi thường thiệt hại cho người lao động bị xúc phạm về danh dự,
nhân phẩm …………………………………………………………….
Kết luận chương 2 …………………………………………………………….
Chương 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG VIỆC BẢO
VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG …………………………………………………….

46
48

49

3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng
biện pháp bồi thường thiệt hại trong việc bảo vệ bồi thường thiệt hại

49

3.2. Hoàn thiện các quy định về bồi thường thiệt hại nhằm bảo vệ người

lao động ……………………………………………………………….

51

3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về bồi thường tiền lương,
thu nhập cho người lao động trong quá trình lao động ………

51

3.2.2. Hoàn thiện các quy định về bồi thường thiệt hại tính mạng, sức
khỏe cho người lao động ……………………………………….

53

3.2.3. Bồi thường cho người lao động do người sử dụng lao động vi
phạm hợp đồng lao động ……………………………………..

55

3.2.4. Hoàn thiện các quy định về bồi thường danh dự, nhân phẩm
cho người lao động ……………………………………………

57

3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bồi
thường thiệt hại trong việc bảo vệ người lao động …………………...
3.3.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật ……………………..
3.3.2. Nâng cao năng lực tổ chức cơng đồn trong việc bảo vệ người
lao động ……………………………………………………......
3.3.3. Nâng cao năng lực của các cơ quan Nhà nước hữu quan trong

việc bảo vệ người lao động …………………………………….
Kết luận chương 3 …………………………………………………………….
KẾT LUẬN …………………………………………………………………...
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………...

58
58
59
60
62
63
66


9


10

LỜI NĨI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong q trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã đạt được rất
nhiều thành quả về phát triển kinh tế và xã hội. Cùng với sự phát triển đó, cũng
đồng thời phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết. Một trong những vấn đề đó là giải
quyết hài hồ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quan hệ
lao động. Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà
nước ta từ trước đến nay là phát huy nhân tố con người, đặc biệt là người lao động,
với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển kinh tế. Tuy
nhiên, do vị thế yếu hơn của người lao động so với người sử dụng lao động, nên

trong thực tế người lao động vẫn phải chịu nhiều thua thiệt.
Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng cho người lao động, đặc biệt là
khi người lao động bị thiệt hại trong quá trình lao động, Nhà nước đã ban hành một
số quy định về việc áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại trong việc bảo vệ người
lao động. Thông qua việc áp dụng biện pháp này trong thực tiễn, quyền lợi của
nhiều người lao động đã được bảo vệ ở mức tốt hơn. Tuy nhiên, cũng trong quá
trình triển khai thực hiện, một số quy phạm pháp luật về biện pháp bồi thường thiệt
hại đối với người lao động còn chưa hợp lý và thiếu linh hoạt. Ví dụ như, quy định
chưa rõ ràng về các trường hợp người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp hay chưa có sự phân biệt giữa trường hợp tạm hoãn hợp đồng lao động và
ngừng việc trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động... Những quy định này
khơng những gây khó khăn cho các chủ thể trong quá trình áp dụng pháp luật về bồi
thường thiệt hại đối với người lao động, mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng
biện pháp bồi thường thiệt hại trong việc bảo vệ người lao động.
Xuất phát từ lý do trên, tôi đã chọn vấn đề: “Thực trạng áp dụng biện pháp
bồi thường thiệt hại trong việc bảo vệ người lao động và một số kiến nghị“ làm đề
tài luận văn Thạc sĩ luật học của mình, với mong muốn góp phần hồn thiện các quy
định pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với người lao động, đáp ứng yêu cầu


11

khách quan trong việc điều chỉnh quan hệ lao động nói chung, bảo vệ người lao
động nói riêng trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trong các giáo trình Luật lao động của một số cơ sở đào tạo luật như Đại học
Luật Hà Nội, Khoa Luật của Đại học Quốc gia Hà Nội… vấn đề bảo vệ người lao
động thông qua việc áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại đối với người lao động
chỉ được đề cập một cách cô đọng, ngắn gọn dưới dạng các nguyên tắc cơ bản của
ngành luật lao động. Vấn đề này cũng được nhắc đến trong một số chương khác của

giáo trình như các chương: Hợp đồng lao động, Tiền lương, Bảo hộ lao động… Tuy
nhiên, vấn đề này chưa được thể hiện một cách đầy đủ và toàn diện, nhiều quan
điểm mới chưa được đề cập.
Các luận văn, luận án đã công bố:
1/ Luận án tiến sĩ “Pháp luật lao động với vấn đề bảo vệ người lao động
trong điều kiện kinh tế thị trường của Việt Nam” năm 2006 của tác giả Nguyễn Thị
Kim Phụng nghiên cứu một cách bao quát nội dung các quy định của pháp luật về
việc bảo vệ người lao động nói chung. Cụ thể như: bảo vệ việc làm, bảo vệ thu
nhập, bảo vệ quyền nhân thân... Ngoài ra, luận án cũng đề cập đến các biện pháp
nhằm nâng cao năng lực tự bảo vệ của người lao động.
2/ Khoá luận tốt nghiệp “Bảo vệ người lao động bằng biện pháp kinh tế theo
pháp luật lao động” năm 2005 của Nguyễn Thị Hà (Đại học Luật Hà Nội). Biện
pháp kinh tế được nghiên cứu trong khoá luận tốt nghiệp này được hiểu theo nghĩa
hẹp, bao gồm: đình cơng và bồi thường thiệt hại. Tác giả chỉ nêu các quy định của
pháp luật hiện hành và thực trạng áp dụng trong việc bảo vệ người lao động; còn
chưa nêu được những điểm bất cập trong quy định của pháp luật về vấn đề này và
kiến nghị.
3/ Luận văn thạc sỹ “Vấn đề bồi thường thiệt hại theo pháp luật lao động”
của Nguyễn Ngọc Lan (Đại học Luật Hà Nội) năm 2004 đề cập đến vấn đề bồi
thường thiệt hại do hành vi vi phạm của người sử dụng lao động và người lao động.


12

4/ Cơng trình nghiên cứu khoa học “Chế độ bồi thường trong luật lao động
Việt Nam” của TS. Nguyễn Hữu Chí, giảng viên chính, Giám đốc Trung tâm nghiên
cứu luật lao động, thương mại và đầu tư thuộc Khoa Pháp luật kinh tế Trường Đại
học Luật Hà Nội và Thạc sỹ Đỗ Gia Thắng, chuyên viên Ban xây dựng pháp luật
Văn phịng Chính phủ. Trong cuốn sách này đề cập đến chế độ bồi thường nói
chung để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người lao động và người sử dụng lao

động.
Ngồi ra cịn một số luận văn, luận án và một số cơng trình khoa học khác đề
cập đến việc bảo vệ người lao động nhưng ở những góc độ khác nhau, như bảo vệ
người lao động trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động, tiến hành đình cơng
hay địi hỏi những quyền lợi hợp pháp khi ký kết hợp đồng lao động... Nhưng cho
đến thời điểm hiện nay, chưa có một cơng trình nào nghiên cứu toàn diện và độc lập
về việc áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại trong việc bảo vệ người lao động
theo pháp luật lao động Việt Nam.
Như vậy, có thể khẳng định luận văn “Thực trạng áp dụng biện pháp bồi
thường thiệt hại trong việc bảo vệ người lao động và một số kiến nghị” là cơng
trình khoa học đầu tiên ở tầm luận văn thạc sỹ, trực tiếp nghiên cứu vấn đề bồi
thường thiệt hại đối với người lao động một cách tương đối tồn diện và có hệ
thống. Tất nhiên, trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả có tham khảo, trích dẫn
một số kết quả nghiên cứu, ý tưởng, số liệu… từ các cơng trình trên và từ nhiều
nguồn khác.
3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Đề tài “Thực trạng áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại trong việc bảo vệ
người lao động và một số kiến nghị” được thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu,
phân tích các quy định của pháp luật lao động Việt Nam về việc bảo vệ người lao
động thông qua biện pháp bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm của người sử
dụng lao động gây ra. Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định
pháp luật về bảo vệ người lao động bằng biện pháp bồi thường thiệt hại. Cụ thể là,
mục tiêu nghiên cứu của đề tài là những vấn đề như sau:


13

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về biện pháp bồi thường thiệt hại
trong việc bảo vệ người lao động và sự điều chỉnh của pháp luật lao động đối với
vấn đề này.

- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật lao
động Việt Nam về biện pháp bồi thường thiệt hại trong việc bảo vệ người lao động.
Trên cơ sở đó chỉ ra những tồn tại trong việc ban hành và thực hiện pháp luật, đồng
thời xác định những nguyên nhân của các bất cập đó để tìm hướng khắc phục.
- Xác định phương hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng
biện pháp bồi thường thiệt hại trong việc bảo vệ người lao động.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở phương
pháp luận của triết học Mác – Lênin, lý luận chung về Nhà nước và pháp luật.
Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với từng lĩnh vực của
đề tài cũng được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn như: phương pháp
logic, phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp…
5. Ý nghĩa của đề tài:
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo trong quá trình
nghiên cứu và giảng dạy Luật lao động tại các trường đại học và trung học chuyên
nghiệp.
Đồng thời, ở mức độ nhất định, luận văn cũng giúp những người làm việc
trong lĩnh vực lao động, xã hội những kiến thức cần thiết để áp dụng các quy định
này trong những công việc và trường hợp cụ thể.
6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp
luật lao động hiện hành về chế độ bồi thường thiệt hại cho người lao động khi người
đó bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ; bị vi phạm tiền lương, thu nhập và bị vi
phạm hợp đồng lao động. Từ thực trạng áp dụng các quy định pháp luật này, luận
văn đưa ra những đánh giá và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao
hiệu quả áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại trong việc bảo vệ người lao động.


14


- Phạm vi nghiên cứu: Bảo vệ người lao động là một vấn đề phức tạp, với
nhiều nội dung, nhiều cách thức tiếp cận khác nhau. Dưới góc độ khoa học pháp lý
và phù hợp với chuyên ngành học, luận văn chỉ đề cập đến các quy định của pháp
luật lao động Việt Nam về bồi thường thiệt hại cho người lao động trong quan hệ
làm công ăn lương giữa người lao động và người sử dụng lao động.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại
trong việc bảo vệ người lao động.
Chương 2: Thực trạng quy định và áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại
trong việc bảo vệ người lao động
Chương 3: Hoàn thiện các quy định và nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp
bồi thường thiệt hại trong việc bảo vệ người lao động


15

Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI TRONG VIỆC BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG

1.1. Pháp luật lao động với việc bảo vệ người lao động
1.1.1. Sự cần thiết khách quan của việc bảo vệ người lao động ở Việt Nam
hiện nay
Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế
thế giới, đánh dấu bằng sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới
(WTO). Trong bối cảnh này, quan hệ lao động cũng trở nên ngày càng phức tạp hơn
do sự gia tăng những mâu thuẫn về lợi ích giữa người lao động và người sử dụng
lao động.

Về mặt nguyên tắc, trong quan hệ hợp đồng lao động, người lao động ln
bình đẳng với người sử dụng lao động kể từ khi ký kết hợp đồng cho đến khi kết
thúc quan hệ lao động. Tuy nhiên, người sử dụng lao động là người bỏ vốn, đầu tư
cơ sở vật chất cho hoạt động kinh doanh, quyết định về ngành nghề, quy mô hoạt
động của doanh nghiệp… nên họ chủ động về kế hoạch sản xuất, phân phối lợi
nhuận. Cũng vì thế người sử dụng lao động có quyền tuyển chọn lao động, bố trí,
điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh. Trong quan hệ lao động,
người lao động chỉ có sức lao động và phải tuân theo những mệnh lệnh làm việc do
người sử dụng lao động đề ra. Bên cạnh đó, sự bất bình đẳng trong quan hệ lao
động cịn do tương quan cung cầu trên thị trường mang lại. Trong nền kinh tế thị
trường, quan hệ lao động hình thành trên cơ sở thuận mua, vừa bán và tiền lương
chính là giá cả sức lao động. Tuy nhiên, tương quan cung cầu sức lao động trên thị
trường thường bất lợi cho người lao động. Ở những nền kinh tế phát triển, máy
móc, thiết bị hiện đại được sử dụng thay thế cho sức lao động nên người sử dụng
lao động thường sử dụng ít nhân cơng, do đó người lao động phải cạnh tranh nhau
để kiếm được việc làm. Còn ở những nước có nền kinh tế và xã hội lạc hậu, tốc độ
tăng dân số thường ở mức cao hơn tốc độ tạo việc làm cho người lao động. Khi tỉ lệ


16

thất nghiệp thường ở mức đáng lo ngại thì người lao động thường phát sinh tâm lí
tiêu cực là thà chấp nhận thiệt thòi (như bị điều chuyển, thay đổi cơng việc bất hợp
lí, giảm lương, làm việc trong điều kiện khơng thuận lợi…) cịn hơn là mất việc
làm. Như vậy, sự chênh lệch của tương quan cung cầu trên thị trường sức lao động
đã và đang làm cho vị thế người lao động thêm bất bình đẳng.
Một vấn đề nữa cần đặt ra là cần thiết phải bảo vệ người lao động để tránh
những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường. Người ta thường nói đến tính
hai mặt của kinh tế thị trường. Đó là, bên cạnh những những tác động tích cực như:
sản xuất đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, khoa học

công nghệ và tăng trưởng kinh tế…. nền kinh tế thị trường cũng có những tác động
tiêu cực tới đời sống kinh tế xã hội như: phân hóa giàu nghèo, hủy hoại mơi trường,
cạnh tranh khơng lành mạnh, thất nghiệp và các tệ nạn xã hội gia tăng… Mặt tiêu
cực đó thể hiện rất rõ nét trong quan hệ lao động vì bản thân lĩnh vực này vừa chứa
đựng các yếu tố kinh tế, vừa thể hiện các vấn đề xã hội sâu sắc. Hơn nữa, sức lao
động cịn được coi là hàng hóa đặc biệt, không tách rời với bản thân người lao động.
Do vậy, pháp luật lao động cần có những quy định và những biện pháp thích hợp để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
ln phải cạnh tranh với nhau để có được hiệu quả hoạt động cao nhất. Sự cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp khơng chỉ trong lĩnh vực kinh doanh mà cịn trong lĩnh
vực sử dụng sức lao động. Để đáp ứng nhu cầu linh hoạt của thị trường, các nhà
kinh doanh, đồng thời cũng là lực lượng sử dụng lao động chủ yếu, thường xuyên
phải thay đổi kế hoạch, quy mô sản xuất, giá cả… Từ đó, kéo theo kế hoạch việc
làm của đơn vị thường xuyên bị thay đổi. Trong khi nhiều việc làm mới có thể được
tạo ra thì một số người bị mất việc làm là điều khó tránh khỏi. Để kiểm sốt được
tình hình, pháp luật phải xác định rõ những trường hợp thay đổi nào là hợp pháp,
những thay đổi nào là bất hợp pháp. Từ đó, pháp luật có thể hạn chế tình trạng
người lao động bị cắt giảm quyền lợi trước sức ép của vấn đề việc làm hoặc bị mất
việc làm khơng có lý do hợp pháp.


17

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, đương nhiên các quan hệ kinh tế xã hội
cũng bị chi phối bởi yếu tố lợi nhuận. Điều đó là động lực phát triển kinh tế, nhưng
nó cũng có thể tạo ra tư tưởng của các nhà đầu tư là bằng mọi cách để thu được lợi
nhuận cao nhất. Biểu hiện trong quan hệ lao động là sự giảm thiểu tiền lương của
người lao động, hạn chế đầu tư cho việc cải thiện điều kiện lao động để xảy ra tình
trạng tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ô nhiễm môi trường… Cũng do yếu tố lợi

nhuận chi phối mà thị trường lao động được hình thành và phát triển hướng tới hiệu
quả và cạnh tranh trong kinh doanh, thường nhằm vào các mục tiêu ngắn hạn và cục
bộ. Do đó, vai trò của Nhà nước là hạn chế những tiêu cực này, hướng các doanh
nghiệp tới mục tiêu dài hạn. Đó là sử dụng lao động theo chế độ làm việc hợp lý,
đầu tư đúng mức cho lĩnh vực an toàn lao động, cải thiện điều kiện lao động, trả
lương tương xứng để duy trì sức lao động lâu dài… Điều đó chỉ có thể đạt được khi
có sự can thiệp kịp thời, đúng hướng của Nhà nước thông qua pháp luật lao động.
1.1.2. Quan niệm về bảo vệ người lao động theo pháp luật lao động Việt
Nam
Trước hết, luật lao động Việt Nam xác định đối tượng được bảo vệ của pháp
luật lao động là những người lao động hiểu theo nghĩa hẹp.
Trong khoa học pháp lý thuật ngữ “người lao động”, có thể được hiểu theo
những phạm vi rộng hẹp khác nhau: i) Theo nghĩa rộng: người lao động là tất cả
những người đang tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá
trị tinh thần cho xã hội. Hiểu theo nghĩa này, người lao động sẽ bao gồm: những
người giao kết hợp đồng lao động hoạt động tại các đơn vị sử dụng lao động, các
cán bộ công chức làm việc theo chế độ tuyển dụng vào biên chế nhà nước, các xã
viên hợp tác xã; các lao động cá thể tự tạo việc làm... Khái niệm này thường được
sử dụng trong các Nghị quyết của cơ quan Nhà nước về chính sách đối với người
lao động hoặc trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội. ii) Theo nghĩa hẹp: người lao động
chỉ là những người làm việc trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia
đình trên cơ sở hợp đồng lao động. Những quy định về bảo vệ người lao động trong


18

các văn bản pháp luật lao động chủ yếu là đề cập đến những người lao động làm
việc theo hợp đồng lao động - tức là người lao động hiểu theo nghĩa hẹp.
Thứ hai, luật lao động xác định phạm vi các vấn đề cần được bảo vệ để đảm
bảo quyền và lợi ích của người lao động.

Theo nghĩa thơng thường, “bảo vệ là chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho
luôn luôn được nguyên vẹn” [15, tr.37]. Như vậy, bảo vệ là việc dùng biện pháp,
cách thức nào đó để ngăn cản, chống lại mọi sự xâm phạm bên ngồi giữ cho người
hay vật ln ở trạng thái vốn có của nó. Việc bảo vệ con người, đặc biệt là bảo vệ
người lao động là vấn đề rất phức tạp, do họ có thể tham gia nhiều quan hệ khác
nhau trong xã hội. Vì vậy, pháp luật lao động phải tính đến những nội dung cần
được bảo vệ và phạm vi bảo vệ của những người lao động.
Hiểu theo nghĩa rộng, bảo vệ người lao động bao gồm mọi hoạt động nhằm
phòng ngừa, chống lại các nguy cơ xâm hại đến con người và cuộc sống của họ như
từ phía người sử dụng lao động, từ các yếu tố tự nhiên (bệnh tật, thiên tai…) và các
yếu tố kinh tế xã hội (như thất nghiệp, lạm phát…). Việc bảo vệ người lao động
theo nghĩa rộng được hiểu là một nội dung của chính sách kinh tế, xã hội và được
sự điều chỉnh của nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau. Trong phạm vi của luật lao
động, vấn đề bảo vệ người lao động chủ yếu được hiểu theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa
này, việc bảo vệ người lao động được thực hiện trong các quan hệ lao động, để
chống lại nguy cơ bị người sử dụng lao động bóc lột, bị đối xử bất công hay phải
làm việc trong những điều kiện khơng đảm bảo an tồn, hoặc bị đối xử thiếu tơn
trọng trong q trình làm việc... Vì vậy, mục đích bảo vệ của luật lao động đối với
người lao động là giúp họ có được vị trí bình đẳng với người sử dụng lao động,
được tơn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp.
Do đó, theo quan điểm của pháp luật lao động, có thể hiểu bảo vệ người lao
động là những hoạt động nhằm phòng ngừa và chống lại mọi sự xâm hại đến thân
thể, quyền và lợi ích hợp pháp, danh dự, nhân phẩm của người lao động, từ phía
người sử dụng lao động, trong quá trình lao động.


19

Với cách hiểu như trên, nội dung bảo vệ người lao động của luật lao động
thường tập trung vào các vấn đề như: bảo đảm việc làm, bảo vệ thu nhập và các

quyền nhân thân của họ. Pháp luật thực hiện bảo vệ người lao động với tư cách là
bảo vệ một chủ thể của xã hội. Trước hết là bảo vệ phương tiện kiếm sống – sức lao
động – và thu nhập, lợi ích từ lao động của họ. Cao hơn nữa, là bảo vệ các nhu cầu
cơ bản của người lao động như việc làm, các cơ hội phát triển… Sự bảo vệ được
thực hiện trong mối tương quan lao động, tránh tình trạng bị người sử dụng lao
động lợi dụng sự chênh lệch cung cầu lao động để chèn ép người lao động.
Các nội dung này khi được pháp luật ghi nhận sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với
người lao động vì nó xác định tính bất hợp pháp trong những hành vi xâm hại đến
họ, cũng như những chế tài đối với người sử dụng lao động khi có hành vi gây thiệt
hại đến lợi ích của người lao động, trong đó bao gồm cả nghĩa vụ bồi thường thiệt
hại đối với người lao động trong những trường hợp cụ thể.
1.1.3. Vai trò của pháp luật lao động trong việc bảo vệ người lao động
Luật lao động có vai trị đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ người lao động.
Luật lao động là cơ sở pháp lý để các bên xác lập quyền và nghĩa vụ trong quan hệ
lao động. Đồng thời, đây cũng chính là căn cứ để đảm bảo quyền lợi của các bên
trong quá trình lao động, hạn chế sự xâm hại đến lợi ích hợp pháp của các bên từ
phía bên kia. Vai trò của pháp luật lao động trong việc bảo vệ người lao động thể
hiện ở những điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, luật lao động xác định những nguyên tắc cơ bản của pháp luật lao
động. Trong số đó, có những nguyên tắc liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ quyền
lợi của người lao động. Đó là những tư tưởng chỉ đạo có tính chất bắt buộc, là căn
cứ để ban hành các quy định về bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động. Cụ thể
là những nguyên tắc sau:
i) Nguyên tắc bảo vệ người lao động trong mối tương quan với việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động là
một bên không thể thiếu để hình thành và duy trì quan hệ lao động. Cùng với việc
bảo vệ người lao động, không thể khơng tính đến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp


20


của người sử dụng lao động mặc dù họ là kẻ mạnh. Nếu pháp luật quá chú trọng đến
việc bảo vệ người lao động thì lợi ích của người sử dụng lao động sẽ bị ảnh hưởng.
Do đó dẫn đến hệ quả người sử dụng lao động sẽ không tiếp tục đầu tư, mở rộng sản
xuất, giải quyết việc làm cho người lao động. Ngược lại, nếu thu được nhiều lợi
nhuận người sử dụng lao động sẽ có điều kiện phát triển doanh nghiệp, mở rộng sản
xuất, đầu tư cho công nghệ, tăng năng suất lao động, tăng lương cho người lao động
và cải thiện môi trường làm việc. Nếu người lao động có quyền tự do lựa chọn việc
làm và được hưởng mọi quyền lợi trong lao động thì người sử dụng lao động cũng
có quyền tuyển chọn lao động, quyền tăng giảm lao động theo nhu cầu sản xuất
kinh doanh, quyền điều hành lao động… người sử dụng lao động có quyền thương
lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể trong đơn vị phù hợp với tình hình sản
xuất kinh doanh và khả năng kinh tế, tài chính của đơn vị mình. Nếu quyền, lợi ích
hợp pháp của họ bị xâm hại, họ cũng có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền
bảo vệ.
Như vậy, lợi ích của hai bên trong quan hệ lao động phải được pháp luật đảm
bảo một cách hài hịa thì quan hệ lao động mới phát triển bền vững được, kéo theo
sự phát triển kinh tế đất nước, tạo điều kiện để giải quyết các vấn đề chung nan giải
như: việc làm, thất nghiệp, tiền lương và đời sống xã hội …
ii) Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp không
phân biệt đối xử của người lao động. Nội dung của quyền này là đảm bảo về mặt
pháp lý cho người lao động trong khả năng, nguyện vọng của mình được tự do lựa
chọn việc làm, không bị phân biệt đối xử. Nguyên tắc này xác định người lao động
có quyền có việc làm và được tơn trọng, được bảo vệ khi có nguy cơ bị đối xử
khơng bình đẳng. Các quy định của luật lao động đảm bảo cho người lao động được
tham gia vào các quan hệ lao động với các quyền như: lựa chọn công việc cụ thể,
nghề nghiệp theo khả năng của bản thân; lựa chọn nơi làm việc thích hợp với điều
kiện sống, sinh hoạt của bản thân và gia đình; có quyền tham gia quan hệ lao động
với bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm;
tự do xác lập, chấm dứt quan hệ lao động.



21

iii) Nguyên tắc bảo vệ người lao động bằng các tiêu chuẩn tối thiểu, khuyến
khích những thỏa thuận có lợi hơn cho họ so với quy định của pháp luật. Luật lao
động có những quy định giới hạn như: lương tối thiểu, giờ làm việc tối đa, những
đảm bảo về an tồn, vệ sinh lao động… đều nhằm mục đích ngăn chặn những hành
vi xâm hại lợi ích của người lao động từ phía người sử dụng lao động. Và mục đích
của quy định này là nhằm bảo vệ cho người lao động được làm việc trong điều kiện
lao động hợp lý và có được mức sống từ tối thiểu trở lên. Bên cạnh đó, để nâng cao
hiệu quả bảo vệ người lao động, Nhà nước cũng khuyến khích các bên trong quan
hệ lao động xây dựng những thỏa thuận có lợi hơn cho người lao động so với quy
định của pháp luật nhằm bảo vệ cho họ ở mức cao nhất trong điều kiện có thể.
Thứ hai, luật lao động xác định các nội dung cần bảo vệ đối với người lao
động. Khi tham gia vào quan hệ lao động, thơng thường người lao động mong muốn
có được việc làm phù hợp, có thu nhập thỏa đáng từ việc làm của mình, trong điều
kiện mơi trường lao động được đảm bảo an tồn cho tính mạng, sức khỏe và được
tôn trọng… Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào những nhu cầu này của
người lao động cũng được người sử dụng lao động đảm bảo thỏa đáng, do yếu tố lợi
nhuận, trình độ quản lý hoặc do khả năng và điều kiện kinh doanh của người sử
dụng lao động. Chính vì vậy, trong luật lao động đã xây dựng các quy định nhằm
bảo vệ người lao động. Thường các nội dung bảo vệ người lao động bao gồm: i)
Bảo vệ việc làm, thu nhập; ii) Bảo vệ sức khỏe, tính mạng; iii) Bảo vệ danh dự,
nhân phẩm….
Thứ ba, luật lao động xác định các biện pháp bảo vệ người lao động. Các
biện pháp được pháp luật lao động quy định nhằm bảo vệ người sử dụng lao động
tương đối đa dạng và được sử dụng linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể. Có thể
kể đến các biện pháp cụ thể như: biện pháp bồi thường thiệt hại, biện pháp liên kết,
biện pháp thương lượng tập thể, biện pháp xử phạt hành chính, biện pháp xét xử...

Mỗi biện pháp có những đặc trưng riêng và được áp dụng trong những trường hợp
cụ thể. Có trường hợp chỉ cần áp dụng một biện pháp nhưng có trường hợp phải sử


22

dụng kết hợp nhiều biện pháp thì mới mang lại hiệu quả trong việc bảo vệ người lao
động.
Bảo vệ người lao động bằng pháp luật có ý nghĩa rất lớn vì nó xác định tính
bất hợp pháp trong những hành vi xâm hại đến lợi ích của người lao động. Bên cạnh
đó, các quy định pháp luật về bảo vệ người lao động lại được đảm bảo thực hiện
bằng bộ máy Nhà nước nên có hiệu lực thi hành cao hơn so với việc bảo vệ bằng
các con đường khác (như sử dụng phương tiện thông tin đại chúng). Tuy nhiên,
những quyền lợi của người lao động có thực sự được bảo vệ hay khơng cịn tùy
thuộc vào việc áp dụng và thực hiện các quy định đó trên thực tế.
1.2. Bồi thường thiệt hại – một biện pháp bảo vệ người lao động
1.2.1. Khái niệm về biện pháp bồi thường thiệt hại đối với người lao động
Có nhiều biện pháp bảo vệ người lao động được quy định trong các văn bản
pháp luật lao động. Có những biện pháp giúp người lao động đấu tranh để tự bảo vệ
mình như biện pháp đình cơng, biện pháp sử dụng cơ chế ba bên trong giải quyết
tranh chấp lao động. Có những biện pháp mang tính chế tài đối với chủ thể vi phạm
lợi ích của người lao động như: biện pháp thanh tra, kiểm tra, xử phạt hành chính
đối với người có hành vi gây thiệt hại đến lợi ích của người lao động. Có những
biện pháp mang tính xã hội (như biện pháp liên kết, biện pháp thương lượng tập
thể) hoặc có những biện pháp mang tính kinh tế (bồi thường thiệt hại) …
Có thể thấy, các biện pháp bảo vệ người lao động rất đa dạng và phức tạp,
được sử dụng đan xen với nhau trong quá trình lao động, nhằm mục đích bảo vệ
người lao động. Trong đó biện pháp bồi thường thiệt hại là một biện pháp tương đối
hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi của người lao động trong các quan hệ lao động.
Bồi thường thiệt hại đối với người lao động là một loại trách nhiệm pháp lý

phát sinh khi người sử dụng lao động có hành vi gây thiệt hại cho người lao động
nhằm bù đắp tổn thất về vật chất, tinh thần và sức khỏe cho người bị thiệt hại. Biện
pháp bồi thường thiệt hại đối với người lao động được đánh giá là một trong những
biện pháp có khả năng bảo vệ tương đối tốt đối với người lao động, giúp họ vượt


23

qua những khó khăn về vật chất và tinh thần tại thời điểm bị thiệt hại và hỗ trợ họ
tiếp tục tồn tại, vươn lên, tìm kiếm những cơ hội làm việc khác.
Biện pháp bồi thường thiệt hại đối với người lao động được pháp luật lao
động ghi nhận có một số điểm đáng lưu ý như sau: i) Chủ thể có nghĩa vụ bồi
thường là người sử dụng lao động do đã có hành vi gây thiệt hại đến lợi ích của
người lao động; ii) Chủ thể được bồi thường là người lao động; iii) Hành vi bồi
thường thiệt hại được thực hiện trên cơ sở căn cứ vào mức độ thiệt hại của người
lao động, theo thoả thuận giữa hai bên và tuân thủ những quy định có tính chất định
khung của pháp luật lao động về vấn đề này; iv) Mục đích của việc bồi thường thiệt
hại đối với người lao động là khắc phục những thiệt hại xảy ra đối với người lao
động và giúp họ ổn định cuộc sống.
Đây cũng là những điểm cần lưu ý khi phân biệt các trường hợp bồi thường
thiệt hại đối với người lao động và bồi thường thiệt hại về vật chất cho người sử
dụng lao động do hành vi vi phạm của người lao động gây ra. Đồng thời, cũng là
những dấu hiệu để phân biệt bồi thường thiệt hại trong phạm vi quan hệ lao động
(chỉ diễn ra giữa người lao động và người sử dụng lao động) với bồi thường thiệt
hại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với người lao động (ví dụ như: bồi
thường cho người lao động do hành vi tố tụng hình sự của cơ quan điều tra gây ra,
có liên quan đến quan hệ lao động).
1.2.2. Tầm quan trọng của việc sử dụng biện pháp bồi thường thiệt hại
trong việc bảo vệ người lao động
Thứ nhất, biện pháp bồi thường thiệt hại góp phần đảm bảo lợi ích kinh tế cho

người lao động
Lợi ích kinh tế là mục đích chủ yếu của người lao động khi tham gia vào quan
hệ lao động. Bảo vệ lợi ích kinh tế cho người lao động cũng chính là bảo vệ, duy trì
và phát triển quan hệ lao động. Lợi ích kinh tế ở đây là tiền lương và những khoản
thu nhập khác, đảm bảo cho người lao động và gia đình họ duy trì được cuộc sống
thường ngày trong suốt quá trình làm việc, bảo đảm tái sản xuất sức lao động một


24

cách tốt nhất và dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi khơng cịn khả năng lao động
hoặc trong những trường hợp bất trắc, rủi ro.
Về mặt lý luận, quan hệ lao động thực chất là quan hệ mua bán hàng hoá sức
lao động. Do vậy, để điều chỉnh quan hệ mua bán sức lao động, việc sử dụng những
biện pháp bảo vệ người lao động mang tính chất kinh tế ln tỏ ra hữu hiệu. Trong
q trình lao động, thu nhập của người lao động có thể bị ảnh hưởng do những vi
phạm từ phía người sử dụng lao động, ví dụ như: người sử dụng lao động khơng trả
lương đúng thời gian quy định, hay trả lương cho người lao động khơng đầy đủ vì
những lý do khơng chính đáng. Hoặc khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động,
người sử dụng lao động vi phạm về thời gian báo trước làm cho người lao động bị
động trong việc chuẩn bị cho mình việc làm mới, để có thể có nguồn thu nhập khác
thay thế cho thu nhập đã bị chấm dứt trước đó. Hoặc người sử dụng lao động không
bồi thường cho những người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, gây
khó khăn rất lớn cho người lao động trong việc điều trị, ổn định cuộc sống của bản
thân và gia đình.
Trong số các biện pháp bảo vệ người lao động, biện pháp bồi thường thiệt hại
là một trong những biện pháp có tác dụng tích cực trong việc bảo vệ người lao
động. Khi bị thiệt hại về lợi ích kinh tế, người lao động sẽ được nhận một khoản
tiền bồi thường thiệt hại từ phía người sử dụng lao động, có khả năng bù đắp một
phần hay toàn bộ những thiệt hại về kinh tế trong trường hợp thu nhập bị giảm sút;

hoặc giúp họ có một khoản tiền dự trù nhằm ổn định cho cuộc sống của bản thân và
gia đình trước khi tìm được một cơng việc mới. Được như vậy người lao động mới
có thể yên tâm lao động, nâng cao tay nghề.
Thứ hai, biện pháp bồi thường thiệt hại có tác dụng hạn chế hành vi vi phạm
pháp luật của người sử dụng lao động, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của người
lao động
Trong quan hệ lao động, khi có hành vi vi phạm pháp luật, người sử dụng lao
động có thể bị xử lý bởi các chế tài hành chính, tư pháp… Tuy nhiên, trong nhiều
trường hợp, biện pháp này chưa thực sự đảm bảo lợi ích cho người lao động, cũng


25

như chưa phát huy được tác dụng hạn chế hành vi vi phạm của người sử dụng lao
động. Nguyên nhân là do mức xử phạt hành chính đối với người sử dụng lao động
còn thấp, hoặc thiếu đội ngũ cán bộ thanh tra lao động kiểm tra và xử lý kịp thời
những trường hợp sai phạm…
Trên thực tế, đa số những hành vi vi phạm của người sử dụng lao động đối với
người lao động là vì lợi nhuận, vì lợi ích kinh tế. Do đó, việc buộc người sử dụng
lao động phải bồi thường thiệt hại kinh tế cho người lao động có thể hạn chế được
những hành vi vi phạm của người sử dụng lao động, nâng cao ý thức của họ trong
việc tôn trọng và bảo đảm các quyền lợi cho người lao động theo quy định của pháp
luật.
Trong nhiều trường hợp cụ thể, người sử dụng lao động không những phải bồi
thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với những thiệt hại vật chất
do hành vi vi phạm của người sử dụng lao động gây ra, mà còn phải bồi thường cả
những thiệt hại về tinh thần của người lao động. Nếu người sử dụng lao động liên
tiếp phải bồi thường cho người lao động do hành vi vi phạm pháp luật lao động của
họ thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận kinh doanh; làm cho người sử dụng lao
động mất thời gian tham gia vào các cuộc họp xử lý việc bồi thường. Chính vì vậy,

người sử dụng lao động phải tuân thủ các quy định của pháp luật trong việc đảm
bảo quan hệ lao động được diễn ra đúng như thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
1.2.3. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người lao
động
Về mặt lý luận, các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường theo pháp luật lao
động Việt Nam khi có đủ bốn điều kiện sau:
Thứ nhất, có hành vi vi phạm pháp luật lao động hoặc vi phạm những thoả
thuận hợp pháp giữa các bên của người sử dụng lao động (là người có hành vi vi
phạm)
Hành vi vi phạm pháp luật lao động là hành vi trái pháp luật lao động hoặc
trái các thoả thuận hợp pháp khác, do người sử dụng lao động thực hiện một cách cố
ý hoặc vô ý xâm phạm tới các quan hệ lao động và các quan hệ liên quan đến quan


×