Tải bản đầy đủ (.pdf) (47 trang)

Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (753.05 KB, 47 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRẦN NGỌC NHÃ TRÂN

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TRẦN NGỌC NHÃ TRÂN
LUẬT KINH TẾ

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT
VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH THUỐC

BẢO VỆ THỰC VẬT

KHÓA 23

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 11 NĂM 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH
DOANH THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hà Thị Thanh Bình
Học viên: Trần Ngọc Nhã Trân


Lớp: Cao học Luật
Khóa: 23


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là cơng trình nghiên cứu khoa học thực sự của
bản thân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Hà Thị Thanh
Bình. Các vụ việc thực tiễn được phân tích trong Luận văn là có thật. Tơi xin chịu
trách nhiệm về nội dung nghiên cứu của bản thân trong Luận văn này.
Tác giả

Trần Ngọc Nhã Trân


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Từ đƣợc viết tắt

BVTV

Bảo vệ thực vật

NN&PTNT

Nông nghiệp và phát triển nông thôn

TT&BVTV

Trồng trọt và Bảo vệ thực vật



MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ...................................................................................... 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ............................................................... 3
4. Giới hạn phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài ................................................. 4
5. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................... 4
6. Dự kiến kết quả nghiên cứu và địa chỉ ứng dụng các kết quả nghiên cứu ............... 4
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. Điều kiện đối với chủ thể kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật ................... 6
1.1 Điều kiện về nhân lực của cá nhân, tổ chức kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật ....... 7
1.1.1 Quy định của pháp luật ........................................................................................ 7
1.1.2 Một số bất cập trong quá trình thực thi ................................................................ 8
1.1.3 Một số kiến nghị ................................................................................................ 13
1.2 Điều kiện về cơ sở vật chất trong kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật ..................... 15
1.2.1 Quy định của pháp luật ...................................................................................... 15
1.2.2 Một số vướng mắc trong quá trình thực thi ....................................................... 16
1.2.3 Một số kiến nghị ................................................................................................ 19
Chương 2. Điều kiện lưu hành thuốc bảo vệ thực vật ............................................... 21
2.1 Quy định đăng ký thuốc bảo vệ thực vật ................................................................ 21
2.1.1 Quy định của pháp luật ...................................................................................... 21
2.1.2 Một số vướng mắc trong quá trình thực thi ....................................................... 24
2.1.3 Một số kiến nghị ................................................................................................ 27
2.2 Quy định lấy mẫu thuốc bảo vệ thực vật để kiểm tra chất lượng sản phẩm........... 29
2.2.1 Quy định của pháp luật ...................................................................................... 29
2.2.2 Vướng mắc trong quá trình thực thi ................................................................... 31
2.2.3 Một số kiến nghị ................................................................................................ 33
2.3 Vấn đề cấp phép vận chuyển thuốc bảo vệ thực vật............................................... 33

2.3.1 Quy định của pháp luật ...................................................................................... 33
2.3.2 Một số vướng mắc trong quá trình thực thi ....................................................... 35
2.3.3 Một số kiến nghị ................................................................................................ 37
PHẦN KẾT LUẬN ...................................................................................................... 38
Danh mục tài liệu tham khảo ........................................................................................ 39
Phụ lục ...............................................................................................................................


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bảo vệ thực vật là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu đối với quốc
gia nông nghiệp như Việt Nam. Theo đó, thuốc bảo vệ thực vật cũng trở thành sản
phẩm hàng hoá quan trọng và phổ biến ở nước ta, tác động lớn đến an ninh lương
thực, đến sự phát triển của nền nơng nghiệp nói riêng và sự phát triển của đất nước
nói chung, tác động đến mơi trường và an tồn sức khoẻ của tồn dân. Vì vậy hoạt
động kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật không chỉ là vấn đề được người tiêu dùng
quan tâm mà cần phải có sự giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước để các sản
phẩm này luôn phát huy công dụng tốt nhất và nằm trong giới hạn cho phép về mức
độ ảnh hưởng đến môi trường sống. Để thực hiện điều đó, hoạt động này cần có sự
điều chỉnh của hệ thống quy định pháp luật được xây dựng chặt chẽ, đảm bảo tính
bao quát và quan trọng là có khả năng thực thi cũng như được áp dụng đúng và hiệu
quả trong thực tiễn.
Hiện nay còn tồn tại khá nhiều vi phạm về điều kiện an toàn trong sản xuất,
buôn bán thuốc, bảo quản và vận chuyển thuốc... Các cơ quan quản lý đã liên tục xử
lý các hành vi vi phạm trên, tuy nhiên cần nhìn nhận các hành vi này vẫn chưa được
giải quyết triệt để cũng như chưa được ngăn chặn kịp thời. Song song đó, vẫn cịn
các quy định gây nhiều khó khăn hoặc chưa hợp lý đang được áp dụng đối với các
chủ thể kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật. Nguyên nhân của thực trạng này xuất

phát từ hệ thống các quy định pháp luật liên quan chưa đáp ứng được mục tiêu điều
chỉnh của nó cũng như cơng tác áp dụng pháp luật tại một số địa phương chưa thực
sự nghiêm túc và hiệu quả. Hệ thống luật định còn thiếu bao quát dẫn đến các chủ
thể kinh doanh tránh được sự kiểm soát, nội dung một số quy định khơng phù hợp
với thực tiễn thậm chí có thể gây nhầm lẫn, mâu thuẫn dẫn đến khó khăn trong q
trình áp dụng, các cơ quan quản lý thiếu căn cứ pháp lý hoặc lúng túng khi thực
hiện nhiệm vụ.
Vì những lẽ trên, việc nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về điều
kiện kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật và thực tiễn áp dụng những quy định đó là
việc làm cần thiết nhằm nhìn nhận, đánh giá, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến bất cập
của pháp luật và hướng khắc phục. Kết quả này sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều
chỉnh của pháp luật, tăng tính chặt chẽ cho hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước
và bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng, bảo vệ môi trường sống và đảm bảo quyền


2

lợi chính đáng cho các chủ thể kinh doanh nghiêm túc tuân thủ pháp luật. Đó cũng
là lý do tác giả chọn đề tài “Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thuốc bảo
vệ thực vật” để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua khảo sát, tác giả nhận thấy vấn đề pháp luật về kinh doanh thuốc bảo vệ
thực vật có khá ít cơng trình nghiên cứu, chỉ có một số bài viết chuyên đề, đề tài
luận văn có nội dung liên quan và các bài báo, bài viết đăng tải trên các diễn đàn.
Cụ thể:
Về chuyên đề nghiên cứu, có các chuyên đề, bài viết sau:
“Quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật”, Tập
san bồi dưỡng - Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử - Ban công tác Đại biểu - Ủy
ban thường vụ Quốc Hội1. Nội dung trình bày công tác quản lý nhà nước, các số
liệu đánh giá tác động của thuốc BVTV đối với môi trường, các tồn tại của công tác

quản lý cần khắc phục và một số ý kiến đối với dự thảo Luật Bảo vệ và kiểm dịch
thực vật. Bài nghiên cứu này cung cấp góc nhìn tổng quan về sự cần thiết và bối
cảnh ra đời của Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013, từ đó đánh giá mức
độ phù hợp với thực tiễn của các quy định.
“Đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước đối với vấn đề thuốc bảo vệ
thực vật” ngày 18/11/2013 được đăng trên website của Trung tâm bồi dưỡng đại
biểu dân cử - Ban công tác Đại biểu - Ủy ban thường vụ Quốc Hội2. Nội dung khái
quát hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán, sử dụng thuốc
BVTV, ghi nhận những thành tựu, hạn chế và đề ra mục tiêu cần đạt được khi ban
hành Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật. Bài viết đã giúp người đọc nhìn được hiện
trạng hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực bảo vệ thực vật và nêu rõ định hướng
thực hiện công tác xây dựng Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, từ đó dễ dàng tiếp
cận và hiểu được ý đồ của cơ quan soạn thảo ban hành Luật.

1

Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử, “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật”,
http://ttbd.gov.vn/Modules/NCS.Module.ReferenceDocument/Upload/New%20folder%20(6)/KDTVfinal.pdf, truy cập ngày 10/11/2019
2
“Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với vấn đề thuốc bảo vệ thực vật”,
http://ttbd.gov.vn/Home/Default.aspx?portalid=52&tabid=108&catid=515&distid=3327, truy cập ngày
10/11/2019


3

Các bài nghiên cứu này chủ yếu mang tính cập nhật hệ thống quy định
pháp luật và làm tiền đề để phổ biến Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013,
chưa có nghiên cứu phân tích chun sâu về pháp lý.
Về luận văn, tác giả tiếp cận được các đề tài sau:

-

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý công (năm 2017), tác giả

Nguyễn Quốc Dũng, Học viện hành chính quốc gia, tên đề tài: “Quản lý nhà nước
về hoạt động kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”. Đề tài
trình bày về đặc điểm tình hình kinh tế xã hội, phân tích về phương thức tổ chức
quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh thuốc BVTV tại địa phương, có đề
cập đến các quy định pháp luật nhưng không đi sâu phân tích về pháp lý.
Luận văn thạc sĩ Luật kinh tế (năm 2017), tác giả Hà Việt Hưng, Viện
Đại Học Mở Hà Nội, tên đề tài: “Pháp luật về sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật”. Nội dung đề tài nêu lý luận chung về hoạt động sản xuất, kinh
doanh, sử dụng thuốc BVTV và hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt
động này kèm giải pháp hồn thiện. Trong đó, tác giả nhấn mạnh phân tích hoạt
động xuất nhập khẩu thuốc BVTV và các quy định về bao bì và nhãn thuốc. Luận
văn cung cấp thơng tin khá tồn diện về hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh
hoạt động kinh doanh thuốc BVTV, tuy nhiên do dành trọn một chương để trình bày
lý luận về thuốc BVTV, đồng thời phần quy định pháp luật thì đề cập các quy phạm
điều chỉnh gần như tồn bộ q trình từ sản xuất đến bn bán và sử dụng thuốc nên
việc phân tích pháp lý chưa sâu, chủ yếu dừng ở mức liệt kê và diễn giải.
Về các bài viết đăng trên diễn đàn, báo điện tử: nội dung mang tính phản ánh
hiện trạng vi phạm và một số bất cập trong các quy định pháp luật. Một số ý kiến
phản ánh thực tiễn, tham luận như những lát cắt nhỏ từ các góc nhìn của những cá
nhân, tổ chức tư vấn pháp luật hoặc các chủ thể trực tiếp kinh doanh.
Nhìn chung, các đề tài, bài viết trên chủ yếu cung cấp tổng quan về quản lý
nhà nước và các quy định pháp luật đối với hoạt động kinh doanh thuốc BVTV
cùng một số bất cập trong thực hiện, nhưng chưa đi sâu phân tích về mặt lý luận
pháp luật để làm rõ nguyên nhân và giải quyết các tồn tại đó.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm thực hiện các mục đích sau:

(1)
Đánh giá tính hiệu quả của các quy định pháp luật và thực tiễn thực
thi các quy định về điều kiện kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật;


4

(2)
Tìm ra được những điểm phù hợp, chưa phù hợp trong thực tiễn áp
dụng pháp luật, những vướng mắc, bất cập từ cả hai góc độ quản lý nhà nước và
quyền của các chủ thể tham gia kinh doanh.
(3)
Đề xuất một số biện pháp góp phần hồn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả công tác quản lý của Nhà nước.
4. Giới hạn phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành có nội dung điều chỉnh
liên quan đến hoạt động kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật và thực trạng áp dụng
các quy định đó.
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: tác giả tập trung nghiên cứu các quy định còn tồn tại về
mặt lý luận hoặc có vướng mắc trong q trình triển khai, chia làm hai nhóm chính:
+ Điều kiện áp dụng đối với các chủ thể kinh doanh gồm điều kiện nhân
lực và cơ sở vật chất phục vụ kinh doanh;
+ Điều kiện áp dụng đối với việc lưu hành thuốc BVTV gồm đăng ký
thuốc, kiểm tra chất lượng sản phẩm và vận chuyển thuốc.
Về không gian: tác giả nghiên cứu quy định pháp luật của Việt Nam,
từ đó phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
là vùng kinh doanh trọng điểm của sản phẩm thuốc BVTV.
Về thời gian: nghiên cứu phân tích các quy định pháp luật hiện hành,

cụ thể là từ khi Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013 có hiệu lực thi hành.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp để làm rõ các quy định pháp luật
và có cái nhìn tổng quan về mối quan hệ giữa các luật có phạm vi điều chỉnh liên
quan đến hoạt động kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật. Phương pháp này được áp
dụng để thực hiện phần trình bày nội dung các quy định pháp luật.
Phương pháp đối chiếu, so sánh, đánh giá được sử dụng khi phân tích thực
tiễn áp dụng pháp luật trong một số trường hợp cụ thể. Tác giả sử dụng để trình bày
phần vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật ở các chương.
Phương pháp tổng hợp, quy nạp được sử dụng để xây dựng các kiến nghị, đề
xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật.


5

6. Dự kiến kết quả nghiên cứu và địa chỉ ứng dụng các kết quả nghiên cứu
Luận văn có thể dùng làm cơ sở tham khảo cho các doanh nghiệp có kinh
doanh thuốc bảo vệ thực vật và cho các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này
áp dụng trong quá trình thực hiện chức năng hoạt động của mình, đồng thời là ý
kiến đóng góp để xây dựng hệ thống quy định pháp luật hoàn thiện hơn.


6

CHƢƠNG 1. ĐIỀU KIỆN ĐỐI VỚI CHỦ THỂ KINH DOANH THUỐC BẢO
VỆ THỰC VẬT
Bên cạnh cơng dụng chính là hỗ trợ việc phòng trừ sâu bệnh và tăng hiệu quả
sản xuất nơng nghiệp thì đa số thuốc BVTV là sản phẩm mang độc tính có tác động
lớn đến mơi trường sinh thái, tác hại cho sức khỏe con người, vì vậy pháp luật yêu
cầu nghiêm ngặt về các điều kiện tối thiểu mà các chủ thể tham gia lĩnh vực này

phải đạt được.
Thứ nhất, về tư cách pháp lý của chủ thể, căn cứ quy định tại Điều 1 Nghị
định số 123/2018/NĐ-CP ngày 17/9/2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định số
66/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định điều kiện đầu tư kinh doanh về bảo vệ và
kiểm dịch thực vật; giống cây trồng; nuôi động vật rừng thông thường; chăn nuôi;
thủy sản; thực phẩm thì chủ thể sản xuất thuốc BVTV phải là tổ chức, như vậy
trước khi thực hiện hoạt động này, chủ thể cần phải lựa chọn hình thức thành lập
doanh nghiệp hoặc Hợp tác xã để có tư cách pháp nhân phù hợp. Đối với hoạt động
buôn bán thuốc BVTV, Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013 đã nêu rõ điều
kiện dành cho tổ chức, cá nhân bn bán thuốc BVTV, theo đó chủ thể tham gia
hoạt động này không bị ràng buộc tư cách pháp lý mà tùy vào điều kiện, quy mơ và
mục đích phát triển kinh doanh của mình, có thể tham gia với tư cách cá nhân hoặc
thành lập pháp nhân để buôn bán thuốc.
Thứ hai, dù tham gia kinh doanh với tư cách nào thì chủ thể cũng phải đảm
bảo điều kiện về bảo vệ môi trường trong giới hạn pháp luật yêu cầu. Trước khi nộp
hồ sơ xin cấp chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, tổ chức/cá nhân cần tự rà soát
các quy định về điều kiện cơ sở vật chất, mức độ tác động môi trường và giải pháp
xử lý để có cơ sở trình duyệt hoặc diễn giải với Đoàn kiểm tra, thẩm định cấp phép.
Riêng hoạt động sản xuất thuốc BVTV thì chủ thể buộc phải có cơ sở sản xuất ở
khu cơng nghiệp, kèm theo các hồ sơ đánh giá tác động môi trường, phương án xử
lý chất thải, tiêu hủy xử lý thuốc hết hạn hoặc không đạt chuẩn tiêu thụ...
Thứ ba, để đảm bảo các chủ thể biết và tuân thủ pháp luật trong quá trình
kinh doanh, đủ năng lực để ngăn ngừa và xử lý các sự cố trong quá trình sản xuất,
vận chuyển, lưu trữ, buôn bán thuốc BVTV, pháp luật buộc các cá nhân tham gia
một số vị trí cụ thể trong chuỗi quy trình này phải có kiến thức chuyên môn nhất
định về thuốc BVTV cũng như được trang bị các quy định liên quan trước khi cấp
giấy chứng nhận cho chủ thể tham gia kinh doanh.


7


Với một loạt các yêu cầu như trên, chủ thể kinh doanh thuốc BVTV chịu sự
điều chỉnh của khá nhiều quy định pháp luật. Trong đề tài này, tác giả chỉ chọn phân
tích các điều kiện mà về mặt quy định cịn có tồn tại cần được điều chỉnh, bổ sung.
1.1 Điều kiện về nhân lực của cá nhân, tổ chức kinh doanh thuốc bảo vệ thực
vật
1.1.1 Quy định của pháp luật
Pháp luật quy định chi tiết về các điều kiện nhân lực mà từng nhóm chủ
thể phải đáp ứng khi kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật, tùy thuộc vào việc họ
tham gia ở giai đoạn nào trong quá trình từ sản xuất cho đến khi phân phối sản
phẩm đến người tiêu dùng. Theo đó, có thể phân chia các chủ thể thành nhóm
Chủ thể sản xuất thuốc BVTV và nhóm Chủ thể bn bán thuốc BVTV.
Đối với các chủ thể sản xuất thuốc BVTV bao gồm các cơ sở sản xuất
thuốc BVTV, cần đáp ứng các yêu cầu về nhân lực sau: Người trực tiếp quản lý,
điều hành sản xuất phải có trình độ đại học trở lên thuộc chuyên ngành hóa học,
bảo vệ thực vật, sinh học, nông học; và Người lao động trực tiếp sản xuất thuốc
BVTV phải được huấn luyện, bồi dưỡng về chuyên môn, kiến thức về thuốc
BVTV (theo Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 123/2018/NĐ-CP). Chương trình tập
huấn trong thời gian 03 ngày, gồm các quy định quản lý thuốc, điều kiện sản
xuất, bn bán thuốc, an tồn trong sản xuất, bn bán, vận chuyển, bảo quản
thuốc, các biện pháp phòng ngừa, xử lý sự cố thuốc BVTV, quyền và nghĩa vụ
của tổ chức cá nhân sản xuất, buôn bán thuốc BVTV, các quy định về xử lý vi
phạm hành chính liên quan đến thuốc BVTV.
Đối với các chủ thể buôn bán thuốc BVTV bao gồm các Doanh nghiệp, hộ
gia đình, cá nhân tham gia vào quá trình phân phối thuốc chủ yếu với tư cách là
Đại lý phân phối hoặc là đơn vị trực thuộc các cơ sở sản xuất/nhập khẩu thuốc
BVTV thực hiện chức năng phân phối sản phẩm ra thị trường. Pháp luật quy định
người trực tiếp quản lý, người trực tiếp bán thuốc BVTV phải có trình độ trung
cấp trở lên về một trong các chuyên ngành BVTV, trồng trọt, hóa học, sinh học,
nơng học hoặc có Giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn về thuốc BVTV (theo

Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 123/2018/NĐ-CP). Thời gian bồi dưỡng là 03
tháng, chương trình bồi dưỡng chuyên sâu và mở rộng hơn so với nội dung dành
cho chủ thể sản xuất thuốc BVTV. Ngoài các nội dung giống như đối tượng trên,
chương trình cịn bao gồm đại cương về thuốc BVTV, phân loại nguy hại, đặc
tính thuốc, cách đọc nhãn thuốc, hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV an toàn hiệu


8

quả, đại cương về sinh vật gây hại, kiến thức về phòng cháy, chữa cháy, thực
hành, tham quan thực tế.
Chi cục BVTV hoặc Chi cục TT&BVTV chịu trách nhiệm tổ chức bồi
dưỡng, tập huấn và cấp giấy chứng nhận này.
Từ các quy định trên, tác giả nhận thấy pháp luật quan tâm và yêu cầu khá
khắt khe về năng lực chuyên môn của những người trực tiếp thực hiện và trực
tiếp quản lý việc buôn bán, sản xuất thuốc BVTV. Vì kinh doanh mặt hàng đặc
thù có yếu tố độc hại nên về tinh thần chung khi xây dựng quy định thì đây hồn
tồn là u cầu hợp lý. Nhưng về mức độ và cách thức để cơ quan quản lý giám
sát và thực hiện chức năng kiểm tra, thẩm định, công nhận việc tuân thủ của các
chủ thể đối với nội dung này thì chưa phù hợp vì quy định đã có những phần bó
buộc khơng cần thiết đối với chủ thể kinh doanh, trong khi quy trình vận hành
kiểm sốt của cơ quan quản lý thì cịn bỏ ngõ.
1.1.2 Một số bất cập trong quá trình thực thi


Pháp luật quy định cứng nhắc, không cập nhật thực tiễn ngành

nghề đào tạo có thể đáp ứng năng lực kinh doanh của chủ thể
Việc quy định trình độ chun mơn nghiệp vụ đối với người quản lý,
trực tiếp sản xuất, trực tiếp buôn bán thuốc BVTV là cần thiết để đảm bảo tính

an tồn và hiệu quả trong q trình sản xuất, kinh doanh sản phẩm này. Bởi lẽ,
thành phần cấu tạo của phần lớn các thuốc BVTV đều chứa hoạt chất, việc thiếu
kiến thức hoặc bất cẩn trong quá trình sản xuất kinh doanh đều có rủi ro cao dẫn
đến nguy hại sức khỏe cho chính bản thân người trực tiếp tham gia hoạt động và
những người xung quanh, tác hại đến môi trường. Tuy nhiên, nội dung cũng
như cách thức diễn giải chi tiết của pháp luật về vấn đề này vẫn chưa hoàn toàn
hợp lý, dẫn đến các chủ thể kinh doanh bị hạn chế quyền lợi, thậm chí các cơ
quan thi hành pháp luật cũng lúng túng trong triển khai.
Cụ thể, về ngành nghề đào tạo mà người trực tiếp quản lý, điều hành
sản xuất thuốc BVTV phải có được quy định rõ là “chuyên ngành hóa học, bảo
vệ thực vật, sinh học, nơng học”; với người trực tiếp quản lý, bán thuốc thì mở
rộng hơn, có thêm chuyên ngành “trồng trọt”. Trong khi thực tiễn ngành nghề
đào tạo tại các trường Cao đẳng, Đại học thì vẫn cịn những chun ngành tuy
khác tên gọi nhưng về tính chất và chương trình đào tạo cũng mang tính tương
đồng, có thể đáp ứng được việc quản lý sản xuất, mua bán thuốc BVTV, ví dụ
cử nhân Cơng nghệ rau hoa quả và cảnh quan, cử nhân Khoa học cây trồng


9

(được đào tạo tại Khoa Nông nghiệp – Trường Đại học Cần Thơ)3. Cách thức
quy định theo dạng liệt kê cụ thể này rõ ràng đã không thể bao quát hết các
ngành nghề phù hợp, thiếu tính dự liệu cho các ngành đã có hoặc sẽ phát sinh
trong tương lai, gây bất lợi cho các chủ thể khi muốn tham gia kinh doanh thuốc
BVTV. Thực tiễn là doanh nghiệp có người lao động đã được đào tạo các ngành
nghề phù hợp về tính chất chun mơn nhưng chưa được liệt kê trong quy định
hoặc chính bản thân người đó, muốn tham gia vào kinh doanh thuốc BVTV thì
phải đi thuê lại người khác hoặc phải đi học thêm vì khơng đủ điều kiện để
được cấp phép kinh doanh. Về phía các Chi cục BVTV hoặc Chi cục
TT&BVTV các tỉnh, là cơ quan có chức năng thẩm định và cấp Giấy chứng

nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc BVTV cũng không thống nhất cách áp dụng
quy định về ngành nghề chuyên môn này khi xét duyệt hồ sơ. Một số chi cục
xét duyệt theo cách hiểu mở rộng, tức là ngành nghề đào tạo thuộc lĩnh vực
nông học, sinh học mà chương trình học có kiến thức chun ngành phù hợp, có
khả năng hiểu và vận dụng vào q trình quản lý, bn bán thuốc BVTV thì
được xem là có chun môn hợp lệ và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn
bán thuốc. Tuy nhiên, hầu hết các chi cục chọn giải pháp an tồn, hồ sơ đăng ký
phải có chuyên ngành đúng tên gọi như liệt kê trong Nghị định thì mới được
cấp Giấy chứng nhận, và việc từ chối cấp chứng nhận thì chỉ thể hiện qua việc
khơng nhận hồ sơ, trao dổi trực tiếp với người nộp chứ không ra văn bản trả lời
cụ thể nên cá nhân/tổ chức khó có cơ sở khiếu nại. Vơ hình chung, dẫn đến
thiếu cơng bằng giữa các chủ thể có cùng điều kiện năng lực như nhau nhưng
muốn tham gia buôn bán thuốc BVTV ở những địa phương khác nhau.
Vấn đề thiếu nhất quán trong xác định ngành nghề đủ điều kiện tham
gia kinh doanh thuốc BVTV còn thể hiện cả trong quá trình xây dựng pháp luật.
Cụ thể là về yêu cầu chuyên ngành đào tạo đối với chủ thể buôn bán thuốc
BVTV, Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013 quy định chuyên ngành
BVTV, trồng trọt, sinh học, hóa học; Nghị định 66/2016/NĐ-CP ngày
01/7/2016 quy định điều kiện đầu tư kinh doanh về bảo vệ và kiểm dịch thực
vật thì quy định chủ thể bn bán thuốc BVTV phải có chuyên ngành BVTV,
trồng trọt, hóa học, lâm sinh; đến Nghị định 123/2018/NĐ-CP thì tiếp tục sửa
đổi là chuyên ngành BVTV, trồng trọt, hóa học, sinh học, nơng học. Có thể
3

Theo danh mục ngành nghề và chương trình đào tạo của Trường Đại học Cần Thơ đăng tại website của
Trường, đường dẫn: https://www.ctu.edu.vn/dao-tao/ctdt-dai-hoc.html, truy cập ngày 01/11/2019


10


thấy, chính cơ quan ban hành pháp luật cũng đang lúng túng khi liệt kê chuyên
ngành dẫn đến liệt kê thiếu hoặc không phù hợp thực tế.


Quy định đào tạo và cấp giấy chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ về

thuốc bảo vệ thực vật chưa chặt chẽ và phù hợp
Việc tổ chức lớp đào tạo phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của cơ quan
quản lý từng địa phương.
Theo quy định tại Điều 38 Thông tư số 21/2015/BNNPTNT ngày
08/6/2015 của Bộ NN&PTNT về quản lý thuốc BVTV, tổ chức, cá nhân có nhu
cầu bồi dưỡng chun mơn, tập huấn an tồn hóa chất về thuốc BVTV đăng ký
danh sách người tham gia với Chi cục BVTV hoặc Chi cục TT&BVTV. Chi
cục tổ chức bồi dưỡng chuyên môn về thuốc BVTV, tập huấn an tồn hóa chất
BVTV theo đúng nội dung, chương trình được Cục BVTV xây dựng theo quy
định. Sau khi có kết quả kiểm tra đạt u cầu thì người học sẽ được Chi cục cấp
Giấy chứng nhận.
Việc đăng ký học và nhận Giấy chứng nhận được pháp luật quy định
ngắn gọn và đơn giản trong áp dụng. Tuy nhiên, chính sự thơng thống này dẫn
đến hiện trạng các Chi cục BVTV hoặc Chi cục TT&BVTV tùy nghi quyết định
tổ chức khóa đào tạo mà khơng có sự ràng buộc nào về tần suất, thời gian mở
lớp. Người có nhu cầu được cấp Giấy chứng nhận có thể bị trì trệ hoặc gián
đoạn quá trình tham gia hoạt động bn bán thuốc do khơng có lớp học để đăng
ký. Bên cạnh đó, phần lớn các Chi cục khi tổ chức lớp học cũng khơng có thơng
báo rộng rãi qua những kênh thơng tin chính thức để người có nhu cầu biết và
cân đối thời gian tham gia học. Các chủ thể muốn có Giấy chứng nhận phải tự
tìm hiểu, liên hệ thăm dò thời gian mở lớp nên rất bị động trong việc sắp xếp kế
hoạch kinh doanh. Một số trường hợp do không nắm được lịch và chờ quá lâu
chưa có đợt mở lớp dẫn đến hết hạn Giấy chứng nhận thì phải tìm hiểu lịch đào
tạo của các địa phương khác để đăng ký học, việc này gây khó khăn cho người

học do khoảng cách địa lý và tăng chi phí tham dự.
Bất hợp lý về quy định thời gian hiệu lực trên các Giấy chứng nhận
Sau khi hồn thành khóa học bồi dưỡng về chun mơn, kiến thức về
thuốc BVTV, người tham gia lớp học với thời gian 03 tháng sẽ được cấp “Giấy
chứng nhận bồi dưỡng chun mơn về thuốc BVTV” có ghi rõ giá trị khơng
thời hạn, người tham gia chương trình học 03 ngày sẽ được cấp “Giấy chứng


11

nhận tập huấn an tồn hóa chất BVTV” khơng ghi thời hạn giá trị là bao lâu4.
Qua đó thể hiện pháp luật thiếu thống nhất trong cách ghi thông tin trên các
Giấy chứng nhận này, việc không ghi rõ thời hạn dẫn đến người được cấp giấy
không xác định được kiến thức mình đã được trang bị sẽ được cơng nhận đến
khi nào, có cần tái đào tạo sau một thời gian nhất định hay không. Đồng thời, sự
không rõ ràng và thiếu đồng nhất cách ghi này có khả năng dẫn đến sự mâu
thuẫn trong cách hiểu và áp dụng luật khi các cơ quan chức năng kiểm tra điều
kiện kinh doanh của các chủ thể. Nếu hiểu rằng giấy chỉ có giá trị trong một
thời gian thì khơng có căn cứ quy định pháp luật, nếu chọn hướng giấy này giá
trị vô thời hạn (theo suy lý do khơng nêu ngày hết hạn) thì sẽ dẫn tới thắc mắc
vì sao trên giấy cấp cho người học 03 tháng lại nêu rõ giá trị khơng thời hạn.
Đứng về góc độ người áp dụng pháp luật, tác giả không xác định được đây là do
lỗi ban hành biểu mẫu của cơ quan soạn thảo hay là sự cố ý để mở của pháp
luật, trao cho các cơ quan thanh kiểm tra quyền áp dụng tùy nghi theo quan
điểm.
Về mức độ hợp lý của thời hạn giá trị trên 2 loại Giấy chứng nhận đã
được bồi dưỡng, tập huấn về thuốc BVTV cũng cần xem xét lại. Pháp luật đang
quy định “Giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn về thuốc BVTV” có giá trị
vơ thời hạn, nhưng nếu xét về lý do khi bắt buộc chủ thể phải trải qua lớp bồi
dưỡng này thì thời hạn nêu trên đã khơng đảm bảo cho mục đích điều chỉnh của

luật. Bởi lẽ, luật yêu cầu chủ thể kinh doanh tham gia lớp bồi dưỡng này để
được trang bị các kiến thức cần thiết phục vụ trực tiếp cho q trình bn bán
thuốc BVTV, từ đó nâng cao hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật chuyên
ngành, tuân thủ các quy định chuyên môn khi tiếp xúc, quản lý thuốc, giảm
thiểu được các rủi ro mất an tồn cho chính họ và cho xã hội. Nội dung đào tạo
bao gồm các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ khi buôn bán thuốc, xử lý
vi phạm hành chính, cách đọc nhãn thuốc... là các vấn đề hồn tồn có thể thay
đổi theo sự điều chỉnh của pháp luật liên quan. Như vậy, nếu chỉ đào tạo một
lần và có giá trị vĩnh viễn thì các kiến thức đó hồn tồn có thể bị lỗi thời, chủ
thể kinh doanh khơng có cơ hội cập nhật quy định mới, chưa kể việc trải qua
thời gian q lâu khơng được nhắc lại thì khả năng quên kiến thức cũng có thể

4

Quy định thời hạn thể hiện trên Biểu mẫu Giấy chứng nhận tại Phụ lục số XXII đính kèm Thơng tư số
21/2015/TT-BNNPTNT ngày 08/6/2015 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT


12

xảy ra. Đối với “Giấy chứng nhận tập huấn an tồn hóa chất BVTV” do chưa
xác định rõ thời hạn giá trị nên tạm thời chưa bình luận chi tiết về mức độ phù
hợp này.
Đối với Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thuốc BVTV và Giấy
chứng nhận đủ điều kiện bn bán thuốc BVTV thì Điều 66 Luật bảo vệ và
kiểm dịch thực vật năm 2013 quy định rõ là có giá trị trong thời hạn 05 năm.
Đây là quy định khá khác biệt so với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện
khác, bởi lẽ hầu như các Giấy chứng nhận đủ điều kiện nhằm mục đích xác
nhận chủ thể được cấp giấy đã đáp ứng đủ các yêu cầu của pháp luật để tham
gia kinh doanh ngành nghề đó. Việc duy trì tn thủ điều kiện kinh doanh là

trách nhiệm của chủ thể kinh doanh và sẽ chịu sự kiểm soát tuân thủ định kỳ
hoặc đột xuất của các cơ quan chức năng có liên quan, nếu phát hiện khơng cịn
đáp ứng điều kiện thì sẽ phải khắc phục trong thời hạn cho phép hoặc bị thu hồi
Giấy chứng nhận. Ngay cả trường hợp pháp luật thay đổi điều kiện đối với
ngành nghề kinh doanh, cơ quan quản lý vẫn không bắt buộc các doanh nghiệp
phải làm thủ tục thay đổi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh mà cho
phép doanh nghiệp có thời gian để hoàn thiện theo điều kiện mới và vẫn sử
dụng Giấy chứng nhận đã được cấp, doanh nghiệp chỉ bị thu hồi giấy nếu sau
thời gian này vẫn chưa đáp ứng điều kiện mới và bị cơ quan thanh tra phát
hiện.5
Thực tiễn, các chủ thể sản xuất hay buôn bán thuốc BVTV vẫn chịu sự
thanh kiểm tra của Chi cục BVTV/Chi cục TT&BVTV, Sở Tài nguyên & Môi
trường... trong quá trình kinh doanh và vẫn có thể bị thu hồi Giấy chứng nhận
đủ điều kiện sản xuất/buôn bán thuốc BVTV khi phát hiện khơng cịn đáp ứng
các u cầu theo quy định. Như vậy, việc quy định thời hạn của Giấy chứng
nhận này hồn tồn khơng thể hiện được ý nghĩa gì để phát huy hiệu quả kiểm
sốt tính tn thủ điều kiện kinh doanh của các chủ thể. Ngược lại, đây là quy
định gây cản trở một cách không cần thiết quá trình tự do kinh doanh của họ.
Các chủ thể phải tốn thời gian và chi phí để thực hiện hồ sơ xin cấp lại Giấy
chứng nhận khi đến hạn, tốn lệ phí cấp giấy và trường hợp không kịp thời thực

5

Khoản 1 Điều 78 Luật du lịch số 09/2017/QH14 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 quy định chuyển tiếp:
“Doanh nghiệp đã được cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế trước ngày Luật này có hiệu lực
thi hành khơng phải làm thủ tục đổi giấy phép, nhưng phải bảo đảm đáp ứng đủ các điều kiện kinh doanh
theo quy định của Luật này trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.”


13


hiện thủ tục thì có nguy cơ bị xử phạt do giấy phép đã hết hạn, trong khi việc
hết hạn trên giấy không hề gây nguy hiểm cho xã hội và dù giấy phép cịn hạn
cũng khơng chắc chắn được là hành vi kinh doanh của chủ thể đó đang tuân thủ
100% các quy định.
Qua phân tích trên, tác giả cho rằng pháp luật đang quy định tùy tiện
về thời hạn trên các loại Giấy chứng nhận cấp cho chủ thể kinh doanh thuốc
BVTV, khơng thể hiện được mục đích điều chỉnh của Nhà nước đối với hoạt
động này nhưng lại tạo ra sự phức tạp trong các thủ tục hành chính.
1.1.3 Một số kiến nghị

Điều chỉnh quy định về năng lực chuyên môn của các cá nhân
tham gia quá trình kinh doanh thuốc BVTV
Sự bất cập của quy định năng lực chun mơn là do cách thức xác định
đích danh tên gọi ngành đào tạo, vì vậy để khắc phục thì nhà làm luật cần thay
đổi cách quy định để có thể hiểu rộng hơn, linh hoạt hơn. Có thể mở rộng khái
niệm bằng cách liệt kê thêm các ngành nghề phù hợp, tuy nhiên giải pháp này
không giải quyết được rủi ro luật tiếp tục bị lạc hậu do các ngành đào tạo vẫn
thường xuyên thay đổi tên gọi, mở mới... Theo tác giả, pháp luật nên quy định
năng lực chuyên môn của người tham gia quản lý, buôn bán hay trực tiếp sản
xuất thuốc BVTV với khái niệm nghiêng về tính chất, nội dung đào tạo. Theo đó,
khơng ghi chính xác tên chun ngành mà sẽ quy định là có trình độ trung cấp
(hoặc cao đẳng, đại học) chun ngành về BVTV, hóa học, nơng học, sinh học.
Việc xem xét cụ thể ngành nghề có phù hợp hay không sẽ do Chi cục BVTV
hoặc Chi cục TT&BVTV quyết định khi xét duyệt hồ sơ để cấp Giấy chứng nhận
đủ điều kiện kinh doanh, vì đây là đơn vị quản lý chun mơn nên có thể nhận
định được nội dung đào tạo có đáp ứng yêu cầu hay khơng và có thể cập nhật
linh hoạt theo sự điều chỉnh của các cơ sở giáo dục.

Bổ sung quy định điều chỉnh hoạt động đào tạo bồi dưỡng nghiệp

vụ về thuốc bảo vệ thực vật
Để khắc phục tình trạng tùy nghi tại một số Chi cục BVTV hoặc Chi cục
TT&BVTV trong việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, huấn luyện thì pháp luật cần
can thiệp nhiều hơn, ban hành khung quy định về thời gian và cách thức thông
báo lịch tổ chức lớp để người có nhu cầu tham dự có thể chủ động sắp xếp kế


14

hoạch của họ. Từ đó hạn chế được sự lãng phí thời gian, chi phí cũng như giảm
được các tiêu cực có thể xảy ra nhằm có được Giấy chứng nhận năng lực kịp thời
với nhu cầu phát sinh. Cụ thể, cần có quy định khoảng thời gian tối đa sẽ có tổ
chức một đợt đào tạo tại mỗi Chi cục và kế hoạch mở lớp hoặc không mở lớp (do
không đạt số lượng đăng ký tối thiểu hoặc lý do chính đáng khác) cần được thơng
báo trước bao nhiêu ngày. Bên cạnh đó, cũng cần quy định các thơng tin này phải
được thông báo trên các kênh thông tin đảm bảo cho người dân dễ tiếp cận, bao
gồm niêm yết công khai tại Chi cục BVTV hoặc Chi cục TT&BVTV, tại các
trạm BVTV (cấp huyện) và đăng trên website hành chính hoặc website của Chi
cục BVTV/Chi cục TT&BVTV (nếu có) của tỉnh/thành phố. Khi đó, các chủ thể
kinh doanh thuốc BVTV sẽ có quyền đồng thời là nghĩa vụ chủ động nắm bắt
thơng tin, tự rà sốt và đăng ký tham dự các lớp bồi dưỡng để đảm bảo luôn đáp
ứng điều kiện kinh doanh theo quy định.
 Điều chỉnh quy định về thời hạn giá trị của các Giấy chứng nhận
Trước hết, người viết cho rằng pháp luật cần bỏ quy định giới hạn thời
gian hiệu lực của Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán/sản xuất thuốc BVTV.
Bởi lẽ, như đã phân tích ở trên thì quy định này chỉ gây ra sự lãng phí thời gian
và chi phí của cả cơ quan quản lý và chủ thể kinh doanh mà không đem lại hiệu
quả thiết thực. Việc duy trì đảm bảo ln đáp ứng các điều kiện kinh doanh đã
quy định tại thời điểm cấp phép và bổ sung các năng lực khác nếu có thay đổi
quy định pháp luật, sẽ do mỗi chủ thể tự giác thực hiện và giao cho các cơ quan

hậu kiểm trách nhiệm giám sát, nhắc nhở hoặc thu hồi giấy đối với chủ thể không
tuân thủ.
Về thời hạn giá trị của 2 loại Giấy chứng nhận bồi dưỡng/huấn luyện
chuyên môn về thuốc BVTV, người viết cho rằng cần có giới hạn thời gian nhất
định để đảm bảo chủ thể kinh doanh được cập nhật các thay đổi trong quy định
pháp luật, các tiến triển về khoa học kỹ thuật trong quản lý sử dụng thuốc, nhắc
nhớ lại kiến thức cơ bản để quá trình kinh doanh được hiệu quả và đảm bảo tuân
thủ pháp luật. Bên cạnh đó, cũng cần có quy định tham gia lớp đào tạo bổ sung
đối với các chủ thể đã được miễn tham gia lớp bồi dưỡng/huấn luyện chun
mơn vì đã có trình độ chun ngành phù hợp. Nội dung đào tạo này mục đích cập
nhật các quy định mới điều chỉnh nên sẽ bắt buộc tham gia theo định kỳ, tương
ứng với thời hạn giá trị của Giấy chứng nhận bồi dưỡng cho các chủ thể phải
tham gia lớp bồi dưỡng chuyên môn thuốc BVTV, đồng thời người đã có bằng


15

cấp chuyên môn tốt nghiệp đã quá lâu, khoảng thời gian từ khi tốt nghiệp đã vượt
quá thời hạn giá trị của “Giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn thuốc BVTV”
thì cũng cần trải qua lớp đào tạo bổ sung trước khi được cấp “Giấy chứng nhận
đủ điều kiện kinh doanh thuốc BVTV”.
Tính đồng nhất về cách thức thể hiện thông tin trên các biểu mẫu được
điều chỉnh bởi cùng một văn bản quy phạm pháp luật là cần thiết để người áp
dụng hiểu rõ mục đích điều chỉnh của quy định, thống nhất về cách lý giải và xử
lý thông tin giữa các chủ thể khi thi hành pháp luật. Do vậy, cần điều chỉnh lại
mẫu “Giấy chứng nhận tập huấn an tồn hóa chất BVTV”, ghi rõ thời hạn giá trị,
kể cả đây là giấy có giá trị vơ thời hạn thì phải hiển thị trực tiếp thơng tin này
trên giấy.
1.2 Điều kiện về cơ sở vật chất trong kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật
1.2.1 Quy định của pháp luật

Cũng như yêu cầu về nhân lực, pháp luật có quy định khác nhau về điều
kiện cơ sở vật chất đối với nhóm chủ thể sản xuất thuốc BVTV và nhóm chủ thể
bn bán thuốc BVTV.
Đối với nhóm chủ thể sản xuất thuốc BVTV, quy định tại Khoản 1 Điều 1
Nghị định 123/2018/NĐ-CP yêu cầu phải đáp ứng các điều kiện sau:
Nhà xưởng, kho bảo quản thuốc BVTV phải được bố trí trong khu
cơng nghiệp và đảm bảo yêu cầu của Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5507:2002 Hóa
chất nguy hiểm - Quy phạm an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo
quản và vận chuyển.
-

Thiết bị, dây chuyền sản xuất hoạt chất, thuốc kỹ thuật, sản xuất thuốc
thành phẩm từ thuốc kỹ thuật và đóng gói thuốc BVTV phải đáp ứng quy trình,
cơng nghệ sản xuất và đạt yêu cầu về an toàn theo quy định tại Tiêu chuẩn quốc
gia TCVN 5507:2002 Hóa chất nguy hiểm - Quy phạm an toàn trong sản xuất,
kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển.
- Hệ thống xử lý chất thải rắn, khí thải, nước thải phải đáp ứng quy định
pháp luật và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24
tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu; QCVN
-

19:2009/BTNMT về khí thải cơng nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ và Quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 20:2009/BTNMT về khí thải cơng nghiệp đối với


16

một số chất hữu cơ; QCVN 07:2009/BTNMT về ngưỡng chất thải nguy hại và
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 40:2011/BTNMT về nước thải cơng nghiệp.
- Có phịng thử nghiệm kiểm tra chất lượng sản phẩm đã được đăng ký,

chỉ định theo quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự
phù hợp, chất lượng sản phẩm hàng hóa. Trường hợp khơng có phịng thử
nghiệm thì phải có hợp đồng kiểm tra chất lượng với phòng thử nghiệm đã được
đăng ký, chỉ định theo quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ
đánh giá sự phù hợp, chất lượng sản phẩm hàng hóa đối với mỗi lơ sản phẩm
xuất xưởng.
- Có hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 hoặc tương
đương do các tổ chức chứng nhận đã được đăng ký theo quy định của pháp luật
về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp cấp.
Đối với nhóm chủ thể bn bán thuốc BVTV, Khoản 2 Điều 1 Nghị định
123/2018/NĐ-CP quy định phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Địa điểm cửa hàng buôn bán thuốc BVTV tách biệt với khu vực dịch

-

vụ ăn uống, trường học, bệnh viện; khi xây dựng phải cách nguồn nước
(sông, hồ, kênh, rạch, giếng nước) tối thiểu 20 m.
Kho thuốc BVTV: Đối với cơ sở bán buôn, kho thuốc BVTV phải đảm
bảo yêu cầu của Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5507:2002 Hóa chất nguy
hiểm - Quy phạm an tồn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo
quản và vận chuyển; đối với cơ sở bán lẻ, kho thuốc BVTV phải xây
dựng cách nguồn nước (sông, hồ, kênh, rạch, giếng nước) tối thiểu 20
m và có kệ kê hàng cao tối thiểu 10 cm so với mặt sàn, cách tường tối

thiểu 20 cm.
Tóm lại, khi tham gia sản xuất, bn bán thuốc BVTV thì chủ thể kinh
doanh bắt buộc phải tuân thủ hàng loạt điều kiện tối thiểu về vị trí địa lý và có đủ
các trang thiết bị cần thiết, sắp xếp trưng bày và vận hành theo quy định. Bên
cạnh hình thức liệt kê trực tiếp thì quy định còn dẫn chiếu đến hệ thống Quy
chuẩn kỹ thuật, Tiêu chuẩn quốc gia, thể hiện được sự đồng nhất với các quy

định pháp luật liên quan cũng như tăng tính chặt chẽ, chi tiết. Vì vậy, theo tác giả
thì các quy định này đã đảm bảo được yêu cầu bao quát của pháp luật, có đủ các
quy phạm cần thiết để điều chỉnh các vấn đề phát sinh, tuy nhiên về kỹ thuật diễn
đạt nội dung thì cần hồn thiện hơn.
1.2.2 Một số vướng mắc trong quá trình thực thi


17



Pháp luật quy định chưa rõ về khái niệm “tách biệt” với một số khu

vực trọng điểm dẫn đến hạn chế hiệu quả điều chỉnh của luật
Trong khi các yêu cầu về cơ sở vật chất mà chủ thể sản xuất thuốc BVTV
phải đáp ứng được pháp luật quy định khá chặt chẽ, chi tiết với các dẫn chiếu đến
các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì phần yêu cầu đặt ra cho chủ thể
buôn bán thuốc BVTV lại khá đơn giản. Tuy nhiên, chính sự ngắn gọn trong quy
định dẫn đến hạn chế là nội dung chưa rõ nghĩa, việc áp dụng trong thực tế chưa
có chuẩn đồng nhất giữa các địa phương, các cá nhân/tổ chức khác nhau tham gia
buôn bán thuốc. Cụ thể, trong Luật kiểm dịch và BVTV năm 2013 và các nghị
định hướng dẫn, sửa đổi qua các lần đều đề cập đến quy định cửa hàng buôn bán
thuốc BVTV phải tách biệt với khu vực dịch vụ ăn uống, trường học, bệnh viện
nhưng các văn bản này đều khơng có định nghĩa thế nào là “tách biệt”. Do vậy,
sự nhập nhằng khi áp dụng pháp luật để xét đủ điều kiện buôn bán thuốc BVTV
đã xảy ra. Vấn đề quy định chưa rõ ràng này của Nghị định 66/2016/NĐ-CP cũng
đã được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng nội
dung còn bất cập trong văn bản gửi Vụ Pháp chế - Bộ NN&PTNT: “VCCI cho
rằng, các cụm từ “cách biệt”, “nơi thường xuyên tập trung đông người”, “nhà
máy thải bụi và hoá chất độc hại” là những khái niệm định tính, khơng rõ ràng.

Doanh nghiệp và cơ quan quản lý sẽ khơng có cơ sở khách quan để xác định các
khái niệm này, từ đó dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng trong q trình áp dụng pháp
luật, thậm chí cả những nguy cơ tham nhũng, tiêu cực”6.
Mục đích của quy định này đặt ra để bảo vệ sức khỏe cho dân cư, hạn
chế tối đa sự ảnh hưởng của các yếu tố độc hại trong thuốc BVTV có thể xâm hại
qua tiếp xúc trực tiếp, qua khơng khí, các vật trung gian. Vì khơng có quy định
khoảng cách cụ thể, nên tùy vào quan điểm của từng Chi cục BVTV, thậm chí là
tùy quan điểm của các thành viên đoàn thẩm định cấp phép, mà nhận định địa
điểm đặt cửa hàng bn bán thuốc có hoặc khơng tách biệt với các đối tượng
theo quy định. Cơ quan quản lý có thể cho rằng cửa hàng cần đặt ở nơi có khoảng
cách ước lượng đủ xa để sự phát tán thông thường của thuốc BVTV không tác
động tới, và khoảng cách này cũng do kinh nghiệm, nhận định chủ quan của cơ

6

Thành Đạt, “VCCI chỉ ra nhiều bất cập trong nghị định về đầu tư, kinh doanh nông nghiệp”,
http://thegioihoinhap.vn/nong-nghiep-4-0/doi-moi-2-0/vcci-chi-ra-nhieu-bat-cap-trong-nghi-dinh-ve-dau-tukinh-doanh-nong-nghiep, truy cập ngày 10/10/2019


18

quan quản lý. Cũng không loại trừ phát sinh cách hiểu khơng giáp ranh thì có thể
xem là tách biệt và thực tế cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện cho các chủ thể đặt
cửa hàng chỉ cách khu hàng quán thức ăn một vài căn nhà, lô kinh doanh. Hoặc
các cửa hàng chỉ tách biệt với các đối tượng quy định bởi 1 con đường nơng thơn
có chiều ngang chưa tới 10 met, cửa hàng nằm đối diện với cơ sở bán thức ăn vẫn
xem là đã tách biệt, dù mùi thuốc BVTV rị rỉ vẫn có thể nhận biết được. Chính
sự khơng rõ ràng trong quy định này đã dẫn đến khó khăn cho cơ quan quản lý và
cho cả chủ thể kinh doanh. Khi quy định chưa đầy đủ và nhất quán cách hiểu thì
việc xảy ra các tiêu cực trong quá trình áp dụng sẽ là điều khó tránh khỏi. Ngồi

ra, nhà làm luật quy định cửa hàng tách biệt khu dịch vụ ăn uống nhưng lại chưa
dự liệu trường hợp chủ thể kinh doanh kết hợp cửa hàng đặt tại gia đình, khi đó
các thành viên trong gia đình sinh hoạt, chế biến thức ăn ngay kế cận khu vực
này thì mức độ ảnh hưởng rất cao. Tất nhiên, bản thân chủ thể kinh doanh thông
thường sẽ tự ý thức để bảo vệ sức khỏe, nhưng không loại trừ việc do mức độ
nhận thức chưa cao, do tự tin mình bảo quản thuốc tốt hoặc do sự hấp dẫn của lợi
nhuận mang lại mà họ sẽ khơng tự cách ly ở mức độ an tồn. Thiết nghĩ, vai trị
của pháp luật cần có tính bao quát và bảo vệ cho mọi công dân, nên đây là một
điểm thiếu sót cần xem xét bổ sung.


Vấn đề thay đổi quy định về diện tích khoảng cách an toàn giữa địa

điểm kinh doanh với nguồn nước: thiếu quy định hướng xử lý đối với đơn vị
đã được cấp phép.
Luật kiểm dịch và BVTV chỉ yêu cầu chủ thể bn bán thuốc BVTV phải
có kho thuốc đúng quy định, cịn các u cầu chi tiết thì được trao quyền cho Bộ
trưởng Bộ NN&PTNT ban hành. Qua quá trình áp dụng, các quy định này đã có
sự điều chỉnh để phù hợp hơn với thực tiễn, nhưng vấn đề đặt ra là sự liền mạch
và xử lý chuyển tiếp quy định chưa chặt chẽ và hợp lý.
Theo Khoản 2 Điều 11 Thông tư số 14/2013/TT-BNNPTNT ngày
25/02/2013 do Bộ NN&PTNT ban hành có hiệu lực từ ngày 11/4/2013 thì cửa
hàng bn bán thuốc BVTV phải có diện tích tối thiểu 5 mét vuông và cách xa
nguồn nước (sông, hồ, kênh, rạch) ít nhất khoảng 10 mét. Có rất nhiều cửa hàng
đã được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện và thực hiện hoạt động buôn bán khi
thỏa các yêu cầu tối thiểu vừa nêu. Thông tư này được áp dụng cho đến khi bị
thay thế bởi Thông tư số 21/2015/TT-BNNPTNT về quản lý thuốc BVTV do Bộ
NN&PTNT ban hành ngày 08/6/2015 có hiệu lực từ ngày 01/8/2015. Quy định



19

mới đặt ra yêu cầu cao hơn, Điều 33 của Thơng tư quy định diện tích kinh doanh
tối thiểu là 10 mét vuông và cửa hàng phải cách xa nguồn nước (sông, hồ, kênh,
rạch, giếng nước) tối thiểu 20 mét. Vấn đề là tại điều khoản chuyển tiếp của
Thông tư mới không hề đề cập đến giải pháp cho các cửa hàng buôn bán thuốc
BVTV đã được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện bn bán nhưng khơng cịn
đáp ứng được yêu cầu mới thì sẽ xử lý thế nào, hay có thời gian nào để khắc
phục. Như vậy, các chủ thể chỉ có thời gian chưa tới 02 tháng kể từ khi Thơng tư
ban hành cho tới khi có hiệu lực để khắc phục việc chưa đáp ứng đủ điều kiện.
Vốn dĩ mở rộng diện tích kinh doanh hay di dời địa điểm kinh doanh không phải
là việc đơn giản và có thể thực hiện nhanh chóng, vì vậy việc khơng tính tới thời
gian hợp lý cho họ cải thiện là thiệt thòi cho các chủ thể kinh doanh bỗng nhiên
trở thành vi phạm quy định. Thực tế giai đoạn này việc xử lý lại tùy thuộc vào cơ
quan quản lý tại địa phương, cụ thể là Chi cục BVTV/Chi cục TT&BVTV. Bởi
lẽ, giấy chứng nhận sẽ bị thu hồi nếu vi phạm liên tiếp 3 lần, và tần suất thanh
kiểm tra là do các cơ quan này tự quyết. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung thì quy
định hiện hành khơng cịn u cầu diện tích tối thiểu của Cửa hàng buôn bán
thuốc BVTV nhưng vẫn phải đảm bảo vị trí cách xa nguồn nước tối thiểu 20 mét.
Chỉ riêng quy định về địa điểm kinh doanh này cũng đã tạo ra khơng ít hoang
mang cho người buôn bán thuốc về sự thiếu ổn định và khả năng xảy ra tiêu cực
trong việc cơ quan quản lý có muốn thu hồi giấy phép hay khơng.
1.2.3 Một số kiến nghị
 Sửa đổi, bổ sung để làm rõ nội dung quy định
Như trên đã phân tích, các khái niệm mấu chốt trong quy định cần
được định nghĩa hoặc cần chuyển sang hình thức trình bày khác đảm bảo rõ ràng
và đồng nhất trong cách hiểu và áp dụng đối với mọi chủ thể. Theo đó, người viết
cho rằng từ “tách biệt” trong quy định về địa điểm đặt Cửa hàng buôn bán thuốc
BVTV nên chuyển thành khoảng cách địa lý cụ thể, mức cách ly tối thiểu đủ để
tạo sự an tồn cho mọi người. Bên cạnh đó, cần bổ sung quy định cửa hàng phải

độc lập chỉ chuyên biệt bn bán thuốc, khơng có chung khơng gian với các khu
vực sinh hoạt khác để tránh ảnh hưởng sức khỏe của các thành viên cùng sinh
sống.
 Nâng cao chất lượng văn bản hướng dẫn luật


20

Chất lượng cần nâng cao được đề cập ở đây bao gồm tính đầy đủ, rõ
ràng và đặc biệt là cần có sự dự liệu, bao quát các hệ quả mang lại của mỗi quy
định trước khi ban hành. Người soạn thảo cần có sự liên kết giữa văn bản trên
giấy và quá trình thực thi, các điều khoản thay đổi đảm bảo hợp lý hơn và có quy
định chuyển tiếp hoặc hướng dẫn xử lý cụ thể. Để phát triển kinh tế, tạo môi
trường tự do kinh doanh hiệu quả thì hành lang pháp lý cần ổn định, tránh trường
hợp điều chỉnh và áp dụng đột ngột. Đối với hoạt động buôn bán thuốc BVTV,
hầu như các chủ thể kinh doanh với quy mơ khơng q lớn thì các giải pháp để
bảo vệ sức khỏe người dân khơng khó để đặt ra khi quy định điều kiện kinh
doanh, nhưng ngược lại vì chỉ cần quy mơ nhỏ nên số lượng chủ thể tham gia
hoạt động này khá lớn, mỗi yêu cầu đề ra có ảnh hưởng đến rất nhiều cá nhân, tổ
chức nên cần cân nhắc và đảm bảo tính xun suốt, hợp lý trong q trình ban
hành.


×