Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

Tài liệu CHUYÊN ĐỀ SỰ HÌNH THÀNH GIÁ CẢ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG - Phần 1 pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (243.55 KB, 11 trang )

CHUYÊN ĐỀ
SỰ HÌNH THÀNH GIÁ CẢ TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG

VẤN ĐỀ 1: PHẠM TRÙ GIÁ CẢ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

I/ Các khái niệm về giá cả

1. Khái niệm giá theo góc độ kinh tế
Lý thuyết cổ điển
- D.Ricardo: giá dựa trên số lượng lao động cần thiết để tạo ra hàng hoá bao
gồm cả các khoản chi phí bổ sung như chi phí phân phối
- Malthus: giá dựa trên giá trị của lao động biểu hiện bằng tiền mà người
mua sẵn sàng bỏ ra để có được hàng hoá
- Bentham: đối với người tiêu dùng, giá được xác định bởi mong muốn sở
hữu hàng hoá; đối với người bán là khoản chi phí mà họ phải bỏ ra để sản xuất ra
hàng hố dó

Lý thuyết ‘cận biên’


- Lý thuyết này nhấn mạnh các yếu tố chủ quan trong việc xác định giá cả
hàng hoá
- Menger: giá trị gắn liền với những đánh giá về sự ước muốn của người
mua và vì vậy, khơng phải dựa trên chi phí sản xuất
- Wieser & Jevon: chính tính hữu ích của hàng hoá giải thích chi phí sản
xuất và giá trị có thể được đo lường trước khi sản xuất

Lý thuyết tân cổ điển
- Marshall: cần phân biệt việc xác định giá ở ngắn hạn và dài hạn
- Giá cả mà người mua sẵn sàng trả để có được hàng hoá phụ thuộc đồng


thời vào ước muốn sở hữu hàng hố đó của họ và chi tiêu mà họ dành cho việc đó
- Ở ngắn hạn, cầu thị trường có tác động rất mạnh đến giá trong khi ở dài
hạn, giá cả được điều chỉnh chủ yếu dựa vào chi phí sản xuất với giả thiết về cạnh
tranh
- Để nghiên cứu giá cả, cần phải sử dụng một công cụ cơ bản là khái niệm
về độ co giãn!

Khiếm khuyết của các khái niệm về giá trên?
- Lý thuyết cổ điển khơng tính đến sự thay đổi về qui mơ DN, sự đa dạng
hoá sản phẩm và sự xuất hiện của quảng cáo


- Lý thuyết tân cổ điển có tính đến các yếu tố trên nhưng chỉ coi đó là
những thay đổi đặc biệt
- Chưa đề cập đến vai trò của cạnh tranh độc quyền

Vai trò của cạnh tranh độc quyền
- Làm biến mất nguyên tắc giá duy nhất (hay giá đồng nhất) và nguyên lý
về tính đồng nhất của sản phẩm
- Chấp nhận cho DN một cấp độ tự do trong việc hình thành giá và lựa chọn
hình thức sản xuất

Từ giá duy nhất đến nhiều giá
- Lý thuyết của Chamberlin về Sự khác biệt hoá sản phẩm
- Người mua và người bán gặp nhau không phải ngẫu nhiên mà theo ý thích
của họ
- Mỗi người bán có sự độc quyền tuyệt đối về sản phẩm của mình những
khơng có độc quyền về cung vì có sản phẩm thay thế
- Chỉ có cạnh tranh độc quyền mới giải thích được sự hình thành giá khi sản
phẩm khác biệt


Hiện tượng nhiều giá trên thị trường


- Đó là chính sách bán cùng loại sản phẩm với các mức giá khác nhau tuỳ
theo các đặc tính riêng gắn với cầu, như người mua là ai?, người tiêu dùng có ngần
ngại khi mua?

Cơ sở của phân biệt giá?
- Sự khác nhau về độ co giãn của cầu trên các đoạn thị trường mà DN có
thể bán sản phẩm
- Sự khác biệt về chất lượng sản phẩm và tính hữu ích của chúng
- Khác biệt về địa lý (lý thuyết Robinson)
- Khái niệm Cầu bậc thang của Michel: cầu của một DN bao gồm nhiều
mức cầu bộ phận đối với những mặt hàng khác nhau trong chủng loại sản phẩm
(hay cịn gọi là cầu thứ phát)

2. Các hình thức biểu hiện của giá theo góc độ marketing
Giá cả mang nhiều tên gọi khác nhau (xem bảng 1).

Bảng 1: Những tên gọi khác nhau của giá cả


Các thuật ngữ thay thế

Loại sản phẩm/ dịch vụ

Giá cả

Hầu hết các loại hàng hố...


Học phí

Các khố học, giáo dục...

Tiền thuê

Nhà ở hay sử dụng các phương tiện nào đó...

Lãi suất

Giá sử dụng tiền...

Lệ phí

Các dịch vụ chuyên nghiệp luật sư, bác sĩ...

Cước

Các dịch vụ vận chuyển, thông tin...

Tiền lương/ tiền cơng

Trả cho hàng hố sức lao động...

Hoa hồng

Cho việc thực hiện các chức năng thương mại...

Theo góc độ ứng dụng marketing vào thực tiễn kinh doanh, có thể định

nghĩa giá cả như sau:

* Với hoạt động trao đổi, giá cả được định nghĩa: "Giá là mối tương quan trao đổi
trên thị trường." Định nghĩa này chỉ rõ:


Giá là biểu tượng giá trị của sản phẩm, dịch vụ trong hoạt động trao đổi. Vì
vậy, khơng thể thiếu vắng giá cả ở bất kỳ một hoạt động trao đổi nào.
Trao đổi qua giá là trao đổi dựa trên giá trị của những thứ đem trao đổi. Vì
vậy, khi thực hiện trao đổi qua giá, trước hết phải đánh giá được giá trị của các thứ
đem trao đổi. Nếu tiêu chuẩn của giá trị là lợi ích kinh tế thì sự chấp nhận một
mức giá phụ thuộc rất lớn vào sự xét đốn lợi ích mà các thành viên tham gia trao
đổi đánh giá về mức giá đó. Một mức giá không được chấp nhận trong trao đổi
thường xuất phát từ vấn đề cốt lõi là lợi ích của một hoặc cả hai bên tham gia trao
đổi không được thỏa mãn. Cho dù giá mang những tên gọi khác nhau nhưng chúng
đều chứa đựng một ý nghĩa kinh tế chung: lợi ích được xác định bằng tiền.

* Với người mua: Người mua là một trong hai thành phần tất yếu của hoạt động
trao đổi.
Trong trao đổi, họ thường là người có tiếng nói cuối cùng về một mức giá
được thực hiện. Người mua tham gia trao đổi nhằm tìm kiếm những lợi ích mà
hàng hóa và dịch vụ có thể thoả mãn nhu cầu và ước muốn của họ. Với họ, hoạt
động trao đổi nào cũng phải trả giá. Mức mà người mua phải trả cho hàng hóa và
dịch vụ dưới hình thức tiền tệ chính là giá cả của hàng hóa và dịch vụ đó.
Người mua định nghĩa giá cả như sau: "Giá cả của một sản phẩm hoặc dịch
vụ là khoản tiền mà người mua phải trả cho người bán để được quyền sở hữu, sử
dụng sản phẩm hay dịch vụ đó."
Định nghĩa này thể hiện rõ quan niệm của người mua về giá:
Giá là chi phí bằng tiền mà người mua phải bỏ ra để có được những lợi ích
mà họ tìm kiếm ở hàng hóa và dịch vụ. Vì vậy, giá thường là chỉ số quan trọng



được sử dụng trong quá trình lựa chọn và mua sắm sản phẩm của người mua. Nó
vừa là "phanh hãm", vừa là cơng cụ kích cầu sản phẩm.
Thích mua rẻ là xu hướng có tính quy luật trong ứng xử về giá của người
mua. Khi mọi điều kiện khác như nhau (chất lượng sản phẩm, danh tiếng nhãn
hiệu, dịch vụ hỗ trợ... như nhau) người mua ln tìm đến những ngưừoi cung ứng
có giá bán thấp nhất.
Giá chỉ là đại diện cho một bộ phận chi phí (được tính bằng tiền) mà người
mua phải bỏ ra để sở hữu và sử dụng sản phẩm. Vì vậy, khơng thể coi là biến số
duy nhất ảnh hưởng tới quyết định của người mua. Trong nhiều trường hợp, các
yếu tố phi giá cả (lối sống, sự nhận thức, tâm lý,...) còn ảnh hưởng tới hành vi của
người mua lớn hơn cả ảnh hưởng của giá cả.
* Với người bán: Trong hoạt động trao đổi, người bán đóng vai trị cung ứng hàng
hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu và ước muốn của người mua và muốn nhận lại
giá trị hành hóa, dịch vụ đó được biểu hiện dưới hình thức giá giá cả.
Định nghĩa giá cả của người bán: "Giá cả của một hàng hóa, dịch vụ là
khoản thu nhập người bán nhận được nhờ việc tiêu thụ sản phẩm đó."
Với người bán, nhận thức về giá của sản phẩm được thể hiện qua đẳng thức sau
đây:
Giá của một đơn vị sản phẩm = Doanh thu/ đơn vị hàng hóa, dịch vụ
Sau đây là một số nhận xét của người làm marketing khi đánh giá về tầm
quan trọng của giá:
Giá là biến số duy nhất của Marketing - mix tạo doanh thu cho doanh
nghiệp. Các quyết định về giá luôn gắn với kết quả tài chính của doanh nghiệp.


Trong hoạt động trao đổi, mong muốn bán được sản phẩm với giá cao là một trong
những biểu hiện đặc trưng trong hành vi thoả thuận về giá của người bán.
Thơng tin về giá ln giữ vị trí số 1 trong việc đề xuất các quyết định kinh

doanh nói chung và các quyết định về giá nói riêng. Quản trị giá được coi là một
trọng tâm của quản trị marketing.

II/ Bản chất kinh tế của phạm trù giá cả (theo Học thuyết CMarx)

1. Giá cả và giá trị hàng hoá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Ở tất cả các giai đoạn phát triển của hình thái xã hội có sản xuất hàng hố,
giá cả luon biểu hiện băng ftiền của giá trị hàng hoá đã được sản xuất ra và tiêu
thụ trên thị trường. Giá trị hàng hoá là giá trị thị trường, giá trị được thừa nhận của
người mua. Giá trị luôn quyết định giá cả thị trường và là nội dung, bản chất của
giá cả. Ngược lại, giá cả là hình thức, là hiện tượng của giá trị. Mức giá thị trường
phụ thuộc rất lớn vào quan hệ cung-cầu về hàng hoá trên thị trường. Giá cả thị
trường và quan hệ cung cầu có mối quan hệ mật thiết với nhau. Phía sau cung cầu
là giá trị trị trường. Giá cả thị trường hình thành ở điểm cân bằng cung cầu và tại
điểm đó, giá cả thị trường ngang bằng với giá trị thị trường. Trên thị trường, khi
cung nhỏ hơn cầu thị giá cao và ngược lại. Song mức cung thị trường lại phụ thuộc
vào giá trị thị trường. Đối với từng loại hàng hoá thì giá cả thường xun tách rời
giá trị của nó. Tuy nhiên, sự tách rời này phải là vô hạn độ mà nằm trong một giới
hạn khách quan do qui luật giá trị qui định.

2.Giá cả và tiền tệ thường xuyên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau


Trong điều kiện bình thường của nền kinh tế, giá cả là yếu tố quyết định
lượng tiền tệ trong lưu thơng và có ảnh hưởng tới tốc độ lưu thơng tiền tệ. Giá cả
quyết định sức mua của tiền tệ và ngược lại tiền tệ cũng ảnh hưởng rất lớn đến giá
cả. Về mối quan hệ này có thể xảy ra một số trường hợp đáng chú ý sau:
- Nếu số tiền giấy thực tế trong lưu thông thấp hơn so với yêu cầu cần thiết
hoặc mức giá của tuyệt đại bộ phận quá cao so với khả năng thanh tốn sẽ dẫn đến
nhu cầu có khả năng thanh tốn nhỏ hơn cung, việc tiêu thụ hàng hoá bị ngưng trệ

ở mức độ khác nhau và làm giảm tốc độ của quá trình táI sản xuất. Tất cả những
điều này dẫn đến khuynh hướng giảm xuống của giá cả. Sức mua triển vọng của
tiền tệ tăng lên so với sức mua hiện tại trong mối quan hệ với giá cả hiện hành.
- Nếu số tiền giấy thực tế trong lưu thơng khơng vượt q u cần cần thiết
thì nhu cầu có khả năng thanh tốn của xã hội tăng lên, giá cả tăng, sức mua thực
tế của tiền tệ giảm sút dẫn đến lượng tiền trong lưu thông phảI nhiều hơn. Lượng
tiền này làm làm cầu tăng lên và do đó, làm giá tăng. Quan hệ này tạo thành vịng
xốy giá-tiền, tiền-giá, giá-giá và tất yếu dẫn đến lạm phát. Lạm phát xét về nguồn
gốc là hậu quả tất yếu của một nền kinh tế mất cân đối với tình trạng năng suất,
chất lượng và hiệu quả kinh tế luôn ở mức thấp.
Chú ý đến mối quan hệ giữa giá cả và tiền tệ là một vấn đề có ảnh hưởng
lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh
nghiệp đòi hỏi vốn hoạt động lớn, chu kỳ kinh doanh dài…. Nghiên cứu mối quan
hệ giá cả-tiền tệ có thể giúp cho doanh nghiệp dự báo chính xác hơn sự biến động
của giá cả hàng hố do mình sản xuất ra và những hàng hố có liên quan. Nghiên
cứu mối quan hệ này cũng rất cần thiết cho sự điều tiét vĩ mô sự phát triển của nền
kinh tế cũng như điều tiết sự hình thành và vận động của giá cả hàng hố. Quản lý
giá vĩ mô đồi hỏi phải sử dụng đồng bộ cả 2 phạm trù giá cả và tiền tệ


3.Giá cả có mối quan hệ khăng khít với giá trị sử dụng hay tính hữu ích của
hàng hố
Đã là hàng hố nhất thiết phải có giá trị sử dụng. C.Max đã khẳng định: Giá
trị sử dụng và giá trị có sự nhất trí với nhau và là 2 mặt thống nhất của hàng hố.
Giá cả khơng những biểu hiện bằng tiền giá trị mà còn phản ánh giá trị sử dụng
của hàng hoá. Giá trị sử dụng là yếu tố quan trọng chi phối sự hình thành giá cả
hàng hoá. Mối quan hệ giữa giá cả và giá trị sử dụng biểu hiện chủ yếu ở những
điểm sau đây:
- Trên thị trường, giá cả hình thành thống nhất theo một đơn vị giá trị sử
dụng Biểu hiện quan trọng nhất của giá trị sử dụng là chất lượng hàng hố. Vì vậy,

giá cả hàng hố hình thành theo chất lượng của nó.
- Mức giá của hàng hố gắn liền với chi phí sử dụng hàng hố.
- Giá cả phản ánh tính thay thế lẫn nhau trong sản xuất và trong tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa giá cả với giá trị sử dụng của hàng hoá chỉ ra rằng: sự
thống nhất giữa giá trị và giá trị sử dụng là cơ sở cho sự hiện diện của mức giá trên
thị trường. Giá cả và giá trị sử dụng của hàng hoá là hai phương tiện quan trọng
đối với các doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Việc
nghiên cứu mối quan hệ này cũng có ý nghĩa đối với quản lý vĩ mô nền kinh tế.
Thông squa việc tác động đến mối quan hệ giữa giá cả-giá trị-giá tị sử dụng, Nhà
nước thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội đi đơi với q trình táI ản xuất sức lao
động cả về mặt giá trị cũng như hiện vật, khuyến khích hình thành cơ cấu sản
xuất-tiêu dùng tối ưu.

4.Giá cả và các quan hệ kinh tế - xã hội
Trong nền kinh tế hàng hoá, giá cả xuất hiện trong mọi hoạt động kinh tế xã
hội. Do đó, giá cả phản ánh tổng hợp và đồng bộ các quan hệ kinh tế-chính trị-xã
hội. Giá cả cũng có tác động trở lại đến các mối quan hệ nói trên. Nhà nước có thể


can thiệp vào sự hình thành và vận động của giá cả để điều tiết các mối quan chủ
yếu: cung và cầu hàng hố; tích luỹ và tiêu dùng; cơng nghiệp, nông nghiệp và
dịch vụ; thị trường trong nước và thị trường thế giới Tác động đến các mối quan
hệ lớn của nền kinh tế quốc dân thông qua giá cả là một hướng quan trọng của
công tác quản lý vĩ mô nền kinh tế.
Các doanh nghiệp lại khai thác mối quan hệ giữa giá cả và các mối quan hệ
kinh tế theo góc độ khác. Các quan hệ kinh tế, các chính sách của nhà nước về
thuế, tài chính, tiền tệ, xuất nhập khẩu…có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đòi hỏi doanh nghiệp phải hiểu biết và thích
nghi một cách tốt nhất những “lực lượng vĩ mô” này trong quá trình cạnh tranh và
phát triển.


Tóm lại, giá cả là một phạm trù kinh tế khách quan rất tổng hợp. Việc
nghiên cứu giá cả bắt đầu từ nghiên cứu bản chất của nó là cần thiết cho hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp và cho công tác quản lý vĩ mô nền kinh tế.



×