lOMoARcPSD|12612758
ĐỀ CƯƠNG KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN CƠ SỞ VĂN HÓA
VIỆT NAM
khoa tiếng anh (Trường Đại học Mở Hà Nội)
StuDocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by Lieu Tai ()
lOMoARcPSD|12612758
Nội dung ơn tập: Cơ sở văn hóa Việt
Nam
Câu 1: Văn hóa là gì?
- Văn hóa là tất cả những gì do con người sáng tạo ra trong quá trình
tồn tại lịch sử của cộng đồng dân tộc.
- Văn hóa là tất cả mọi thứ không phải do tự nhiên tạo ra.
- Văn hóa là 1 cách lựa chọn, đồng thời nó là kết quả của chính sự lựa
chọn đó.
Câu 2: Hình thái và mơ hình văn hóa ?
- Hình thái văn hóa : hình thức thể hiện của văn hóa cho thấy cái riêng, cái
khác biệt trong tính hệ thống của văn hóa.
- Phân loại: 2 loại hình văn hóa:
• Văn hóa nơng nghiệp: lo tạo dựng 1 cuộc sống ổn định, lâu dài, ko xáo trộn,
mang tính trọng tình.
• Văn hóa du mục: lo tổ chức làm sao để có thể thường xuyên di chuyển 1 cách
gọn gàng nhanh chóng, thuận tiện, mang tính chất trọng động.
*Đặc trưng VH gốc nông nghiệp so sánh với VH gốc du mục:
- Đặc trưng gốc (khí hậu, nghề chính):
+Loại hình văn hóa gốc nơng nghiệp trồng trọt là nói đến văn hóa phương
Đơng gồm Châu Á và Châu Phi, điều kiện khí hậu nắng nóng, mưa ẩm nhiều, có
những con sơng lớn, những vùng đồng bằng trù phú, phì nhiêu thích hợp cho
nghề trồng trọt phát triển.
+Loại hình văn hóa gốc chăn ni du mục là loại hình văn hóa gốc hình thành
ở phương Tây, khu vực tây-bắc bao gồm tồn bộ châu Âu, do điều kiện khí hậu
lạnh khơ, địa hình chủ yếu là thảo nguyên, xứ sở của những đồng cỏ, khơng
thích hợp cho thực vật sinh trưởng mà thích hợp chăn ni vì vậy nghề truyền
thống của cư dân phương Tây cổ xưa là chăn nuôi.
- Cách ứng xử với môi trường tự nhiên:
+Do nghề trồng trọt buộc con người phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên,
phải lo tạo dựng cuộc sống lâu dài, không thích di chuyển, thích ổn định =>
trọng tĩnh, hướng nội. Phụ thuộc vào thiên nhiên nên cư dân rất tôn trọng và
sùng bái thiên nhiên, ước mong sống hòa hợp với thiên nhiên.
+Phương Tây do loại hình chăn ni gia súc địi hỏi phải sống du cư, nay đây
mai đó lối sống thích di chuyển => trọng động, hướng ngoại, phát triển VH
Downloaded by Lieu Tai ()
lOMoARcPSD|12612758
công nghiệp. Cuộc sống của dân du mục không phụ thuộc vào thiên nhiên, nảy
sinh tâm lý coi thường thiên nhiên và có tham vọng chinh phục, chế ngự tự
nhiên.
-Lối nhận thức, tư duy:
+Người Việt thiên về lối tư duy tổng hợp và biện chứng (trọng quan hệ); chủ
quan, cảm tính và kinh nghiệm.
+VH gốc DM thiên về tư duy phân tích và siêu hình (trọng yếu tố); khách quan,
lý tính và thực nghiệm => dẫn đến khoa học phương Tây phát triển, thói quen
tơn trọng pháp luật vì vậy mà hình thành rất sớm ở phương tây => dẫn đến lối
sống thực dụng, thiên về vật chất.
-Tổ chức cộng đồng:
+Con người NN ưa sống theo nguyên tắc trọng tình nghĩa, trọng đức, trọng văn,
trọng phụ nữ, vai trò của người phụ nữ được đề cao. Lối sống linh hoạt và dân
chủ, trọng tập thể, tính cộng đồng cao => Mặt trái là thói tùy tiện biểu hiện ở tật
co giãn giờ giấc (giờ cao su), sự thiếu tôn trọng pháp luật, tính tổ chức kém,...
+Do cuộc sống du cư nên cần đến sức mạnh để bảo vệ dân cư trong bộ tộc
chống lại sự xâm chiếm của các bộ tộc khác nên người đàn ơng có vai trị quan
trọng => tư tưởng trọng sức mạnh, trọng tài, trọng võ, trọng nam giới. Nguyên
tắc và quân chủ, trọng cá nhân => hình thành lối sống thích ganh đua, cạnh
tranh, máy móc, áp đặt, thiếu bình đẳng.
-Ứng xử với mơi trường xã hội :
+Nông nghiệp: dung hợp trong tiếp nhận: mềm dẻo, hiếu hịa trong đối phó
+Du mục: độc đốn trong tiếp nhận, cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó
Câu 3: Cấu trúc và các thành tố của văn hóa ?
Cấu trúc văn hóa (3phan)
- Văn hóa sản xuất
- Văn hóa vũ trang
- Văn hóa sinh hoạt
Các thành tố của văn hóa:
- Văn hóa vật chất: ăn ở, ăn uống, ăn mặc, ăn ngủ, ăn làm, đi lại , ăn chơi,
cưới xin, sinh đẻ, ma chay,…
- Văn hóa tinh thần: thế giới quan, giá trị, tín ngưỡng, tập tục, nghệ thuật,
ngôn ngữ
-
Downloaded by Lieu Tai ()
lOMoARcPSD|12612758
Câu 4: Văn hóa và mơi trường sống của người Việt/Kinh?
4. Văn hóa và mơi trường sống của người Việt / Kinh.
- Môi trường sống là không gian sống, cung cấp tất cả nguồn tài nguyên thiên
nhiên, là nơi chứa đựng các phế thải do chính con người tạo ra trong hoạt động
sản xuất và sinh hoạt, môi trường sống có trong lành thì con người mới đảm bảo
có sức khỏe.
+ MT tự nhiên bao gồm các thành phần tự nhiên như nước, sinh vật, khí hậu,
địa hình, đất trồng, địa chất… Là mơi trường giúp con người có nhiều điều kiện
để phát triển và tồn tại lâu dài như khơng khí để con người hít thở, đất để xây
dựng nhà cửa, chăn nuôi, trồng trọt…c pháp luật, thể chế, môi trường xã hội là
định hướng các hoạt động của con người theo một khn khổ nhất định, từ đó
có thể hình thành một sức mạnh đồn kết, tập thể, góp phần thúc đẩy sự phát
triển để con người trở nên tốt và có ích cho xã hội hơn.
Dân tộc Kinh hay có tên gọi khác là người Việt, sinh sống dọc suốt chiều dài
đất nước Việt Nam. Người Kinh cư trú khắp các tỉnh thành, nhưng hầu hết tập
trung sống ở vùng đồng bằng và thành thị với nhiệt độ tương đối cao và ẩm, nền
khí hậu chịu ảnh hưởng từ lục địa Trung Hoa chuyển qua và mang tính chất khí
hậu lục địa, có khí hậu cận nhiệt đới ẩm với 2 mùa rõ rệt hè, đông.
. Người Kinh có dân số lớn nhất trong tất cả 54 các dân tộc trong nước với số
dân hơn 73 triệu người.
Vị trí địa lý: Dân tộc Kinh chủ yếu cư trú ở các vùng đồng bằng ven các con
sông lớn (như sơng Hồng, sơng Thái Bình và rất nhiều các dịng sơng lớn trên
khắp cả nước. Đặc điểm vùng người Kinh cư trú là đóng bằng và châu thổ các
dịng sơng, với hai vựa thóc lớn nhất nước là: đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng
sơng Cửu Long)
Điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Trong q trình hình thành dân tộc Kinh (Việt), trong một thời gian dài, lại cư
trú trong phạm vi rộng, cho nên chịu sự tác động của nhiều yếu tố văn hóa khác
nhau và do đó dẫn đến sự hình thành nhiều sắc thái văn hóa địa phương khác
nhau. Thời Lý - Trần, tên Kinh dùng để phân biệt với tên Trại trong thi cử. Theo
Downloaded by Lieu Tai ()
lOMoARcPSD|12612758
đó người ở kinh đơ thi đỗ trạng ngun gọi là kinh trạng nguyên, người ở vùng
xa kinh đô đỗ trạng nguyên gọi là trại trạng nguyên'.
→ Nông nghiệp lúa nước đã được hình thành và phát triển ở người Việt từ rất
sớm. Trải qua bao đời cày cấy, người Việt đã tổng kết kinh nghiệm làm ruộng
thật sâu sắc: "Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống".
-Ẩm thực: trong các bữa ăn của người Kinh, cơm được nấu từ gạo nếp, gạo tẻ
là món ăn chính, ngồi ra cịn có cháo hoặc xơi. Cơm canh cua cá. Các món
muối (dưa muối, nộm…)
-Nhà của người Kinh thường là nhà trệt, giữa nhà thường đặt bàn thờ gia tiên. Ở
mỗi vùng miền thì người Kinh lại có những kiểu xây nhà khác nhau tùy theo
đặc trưng nơi sống. (Kiểu nhà ba gian hai chái tiêu biểu cho kiểu nhà miền Bắc)
-Ăn mặc giản dị, dễ nhìn (Xưa kia, đàn ơng thường mặc quần chân què, áo
cánh nâu đi chân đất ; ngày lễ tết mặc quần trắng, áo chùng lương đen, đội khăn
xếp, đi guốc mộc. Đàn bà mặc váy đen, yếm, áo cánh nâu, khăn mỏ quạ. Phụ nữ
ngày lễ, hội hè mặc áo dài. Mùa đông, cả nam và nữ thường mặc thêm áo kép
bông. Y phục phân biệt giữa các lứa tuổi chỉ ở màu sắc và cỡ áo quần; giữa kẻ
giàu, người nghèo, y phục có sự phân biệt ở chất liệu vải lụa và chỉ có người
giàu sang mới dùng đồ trang sức.)
Phương tiện giao thơng: xích lơ, thuyền bè, xe máy, ơ tơ….
Câu 5: Tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt Nam?
-
-
Kn tiếp xúc và giao lưu văn hóa: dịch từ thuật ngữ của các nước
phương Tây khái niệm Acculuration (đan xen văn hóa, hỗn dung văn
hóa, giao thoa văn hóa, giao lưu và tiếp biến văn hóa) là sự gặp
gỡ, trao đổi và học hỏi lẫn nhau giữa các nền văn hóa -> phát triển và
tiến bộ văn hóa.
TXVGLVH Việt Nam:
+) Từ cơ tầng văn hóa Đơng Nam Á (nền tảng tạo ra những yếu tố nội sinh
của văn hóa VN cơ tầng văn hóa ấy được tạo từ nhiều yếu tố)
Downloaded by Lieu Tai ()
lOMoARcPSD|12612758
+) Giao lưu và tiếp biến văn hóa với Trung Hoa (theo 2 trạng thái: giao
lưu cưỡng bức và giao lưu không cưỡng bức)
+) Giao lưu và tiếp biến với văn hóa Ấn Độ (có ảnh hưởng sâu đậm dù chỉ
diễn ra trong tầng lớp dân chúng (đạo Phật))
+) Giao lưu và tiếp biến văn háo phương Tây (giao lưu 1 cách cưỡng bức
áp đặt và tiếp nhận 1 cách tự nguyện)
+) Giao lưu và tiếp biến văn hóa trong giai đoạn hiện nay (có tính cấp
thiết, nhanh chóng và đa dạng, cũng phức tạp hơn trước, cũng đòi hỏi giữ
gìn bản sắc dân tộc )
Câu 6: Các đặc trưng/ bản sắc của văn hóa Việt/Kinh ?
- Nền văn hóa hình thành từ nền tảng nơng nghiệp trồng lúa nước kiểu tiểu
nơng.
- Nền văn hóa đề cao giá trị văn hóa gia đình truyền thống
- Đậm tính cộng đồng, tự trị của văn hóa làng xã
- Nền văn hóa thấm đậm, bao trùm tinh thần yêu nước, ý thức quốc gia –
dân tộc
- Đa dân tộc, thống nhất trong đa dạng
- Thích ứng và tiếp biến hài hịa các nền văn minh nhân loại.
những đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam kết tinh thành quả lao động,
đấu tranh hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc
Câu 7: Tính cách dân tộc của người Việt/Kinh ?
- Khả năng đối phó rất linh hoạt với mọi tình thế và lối sống ứng xử mềm dẻo.
- Tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng để tạo nên sức mạnh vượt qua những
khó khăn thử thách.
- Giản dị chất phác, ưa đơn giản, ghét cầu kỳ xa hoa. - Tấm lòng rộng mở, giàu
cảm xúc lãng mạn.
- Cần cù chịu thương chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ.
- Trọng tuổi tác, trọng người già.
- Tập tính hoạch tốn kém, khơng quen lường tính xa.
Downloaded by Lieu Tai ()
lOMoARcPSD|12612758
- Tác phong tuỳ tiện, kỷ luật không chặt chẽ.
- Tâm lý bình quân chủ nghĩa.
- Nhân ái, vị tha, rộng lượng.
- Nặng tình nhẹ lý, chín bỏ làm mười.
- Tâm lý sống lâu lên lão làng, đề cao chủ nghĩa kinh nghiệm.
Những đặc trưng nổi trội này trong tính cách người Việt Nam có thể làm rõ hơn
nữa ở một số điều cơ bản sau:
Thứ nhất, tính cách mềm dẻo, lối ứng xử linh hoạt, điều này bắt nguồn từ
hoàn cảnh sống của người Việt cổ. Một tấc đất có giá trị như một tấc vàng, buộc
con người phải mãi đổ nhiều mồ hơi cơng sức, thậm chí cả tính mạng khai khẩn,
gìn giữ, tận dụng để trồng cấy mọi thứ có thể trồng, đa canh, xen canh, theo thời
vụ, cấy các loại giống cây phù hợp với địa hình, khí hậu, q trình đó tạo nên
cho người Việt Nam một tính cách năng động, mềm dẻo. Hơn nữa với điều kiện
tự nhiên dầy đặc sơng nước “văn hố sông nước” mềm mại uyển chuyển, đồng
thời cũng dữ dội bão táp “nhất thuỷ nhì hoả” đã làm cho người nông dân Việt
Nam giỏi chịu đựng hơn, bền bỉ hơn cũng như quyết liệt và táo bạo hơn.
Về mặt xã hội: “Sống giữa các nền văn minh lớn như Trung Quốc, Ấn Độ…các
nước lớn có nền văn minh phát triển ln tìm cách “đồng hố văn hố” đối với
người Việt”. Vì vậy ngày từ đầu, người Việt cổ muốn tồn tại, gìn giữ được “cái
tơi” của mình, dĩ nhiên là phải có thái độ ứng xử linh hoạt, khơng thể cứng khi
cần mềm, không thể “bài” khi cần “nhập”. Chấp nhận nhường để tránh tổn thất
cho mình” .
Thứ hai, tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng tạo nên sức mạnh. Đây là
phẩm chất rõ nét của người Việt Nam trong quá trình khai khẩn thiên nhiên, lập
làng, lập ấp, lập trại và trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo
vệ thành quả lao động đó. Tính cộng đồng được thể hiện trên hai mặt đó là cơng
cộng và cơng ích. Đây là nét vượt trội của người Việt Nam in dấu ấn trong hai
tiếng trách nhiệm trước cộng đồng dòng họ - làng xã - đất nước. Tính cách đồn
kết tạo nên sức mạnh cộng đồng của người Việt Nam bắt nguồn từ những đòi
hỏi khách quan đó.
Thứ ba, giản dị, khoan dung, nhân ái, đó là kết quả của cả một truyền
thống dân tộc. Tính cách này được bồi đắp bởi tính ơn hồ của cư dân trồng lúa
nước. Với đời sống đầy vất vả nhiều may rủi và thất bại, với thực tiễn “Ba tháng
Downloaded by Lieu Tai ()
lOMoARcPSD|12612758
trông cây không bằng một ngày trông quả” khiến những người nơng dân quanh
năm vất vả ln sống trong tình trạng thấp thỏm, lo âu trước những biến động
của thời tiết, những tai họa của thiên nhiên có thể cướp trắng những công lao
của cả cộng đồng. Tâm lý “nước lụt thì lút cả làng” đã khiến con người phải
đùm bọc lẫn nhau.
Thứ tư, với nền tảng của “văn hoá hỗn dung”, tính cách người Việt Nam
được soi sáng bởi “triết lý dung hợp” và được biểu hiện tập trung trong chữ
“Hồ” đã góp phần tạo nên sự đặc sắc trong tính cách của cha ơng chúng ta.
Trong q khứ, để bảo vệ quê hương, đất nước đã phải đổ biết bao công sức mồ
hôi, nước mắt, xương máu mới có được, đã khiến cho người Việt Nam sớm có
tinh thần độc lập, ý chí kiên cường, tự khẳng định cái tơi của dân tộc, tự tạo cho
mình một vị thế độc lập, một thế đứng độc lập trong cộng đồng nhân loại. Xuất
phát từ điều kiện lịch sử đó, người Việt Nam đã sớm xuất hiện tinh thần tìm mọi
cách để tạo nên sức mạnh cho mình. Đã biết kế thừa học hỏi, thâu tóm cái hay,
cái đẹp của người khác và tiếp biến, chuyển hoá cho phù hợp với bản thân mình.
Đồng tâm, hiệp lực trong lao động, đoàn kết trong đấu tranh chống xâm lược.
GS. Phan Ngọc cho rằng: Tư duy dung hoà chi phối toàn bộ văn hoá truyền
thống Việt Nam. Với một dân tộc được thử thách và rèn luyện, có bản lĩnh và ý
chí độc lập tự cường đã tạo lập cho mình một nền văn hoá dung hợp, người Việt
Nam đã tạo cho mình một biệt tài riêng, tính cách riêng độc đáo là biến cái của
người khác thành cái của mình.
Thứ năm, trong tính cách người Việt Nam cũng bộc lộ rất rõ những mặt
hạn chế tiêu cực. Ví như đức tính kiên nhẫn nếu qua đi sẽ dẫn đến nhu nhược,
an phận, cam chịu thậm chí mềm yếu, yếu hèn. Người Việt Nam có hành vi đẹp
là tưởng nhớ tổ tiên, anh hùng, người có cơng với nước… song sùng bái mọi
thứ, tuyệt đối hoá quá khứ dẫn đến con người qn mất bản thân mình, trơng
chờ, thụ động, thậm chí là mê tín dị đoan, làm tâm thức con người u tối.
Tính dung hồ là một giá trị căn bản của văn hoá Việt Nam, giúp cho nền
văn hoá và con người Việt Nam trở nên sinh động, giàu có. Nhưng với bản tính
này cũng làm cho chúng ta dễ mắc phải sự tuỳ tiện, thoả hiệp, ba phải, cẩu thả
và vơ ngun tắc. Ngồi ra, cũng cần phải kể đến những mặt yếu do hoàn cảnh
khách quan và hạn chế của lịch sử đã đem lại đã để lại trong tính cách của người
Việt Nam như: tác phong lề mề, chậm chạp, lãng phí thời gian, ý thức kỷ luật và
pháp luật kém. Tâm lý “phép vua thua lệ làng” là một cách ứng xử thường gặp
của cộng đồng người Việt Nam… đều là những lực cản trong công cuộc đổi mới
hôm nay.
Downloaded by Lieu Tai ()
lOMoARcPSD|12612758
Câu 8: Văn hóa ăn uống và văn hóa ăn mặc của người Việt/Kinh ?
a. Văn hoá ẩm thực( ăn uống)
- Quan niệm về ăn và dấu ấn nông nghiệp trong cơ cấu bữa ăn.
+ Việt Nam là một nước nơng nghiệp, với tính thiết thực nên ăn rất quan
trọng (có thực mới vực được đạo; Trời đánh cịn tránh miếng ăn). Mọi
hành động của người Việt đều lấy ăn làm đầu (ăn chơi, ăn mặc, ăn
cắp...).
+ Cơ cấu bữa ăn của người Việt bộc lộ dấu ấn của truyền thống văn hố
nơng nghiệp lúa nước: đó là cơ cấu thiên về thực vật, trong đó lúa gạo
đứng đầu bảng (bữa ăn gọi là bữa cơm). Sau lúa gạo đến rau quả, trong
đó đặc thù là rau muống và dưa cà, ngồi ra cịn có các loại gia vị. Thứ
ba là các loại thuỷ sản, sản phẩm của vùng sông nước, từ các loài thuỷ
sản mà chế tạo ra một loại đồ chấm đặc biệt là nước mắm và mắm các
loại (trong bữa cơm bao giờ cũng có bát nước mắm). Ở vị trí cuối cùng
là thịt (gà, vịt, trâu, bị, chó...).
+ Đồ uống - hút truyền thống thì có trầu cau, thuốc lào, rượu, nước chè,
vối...
- Tính tổng hợp trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt được thể hiện:
+Trong cách chế biến đồ ăn: món ăn thường có đủ ngũ chất (bột, nước,
khoáng, đạm, béo) đảm bảo dinh dưỡng; đủ ngũ vị (chua, cay, ngọt, mặn,
đắng); đẹp hài hoà của ngũ sắc (trắng, xanh, vàng, đỏ, đen).
+ Trong cách ăn: mâm cơm của ngưòi Việt bao giờ cũng có nhiều món,
tác động vào các giác quan. Cái ngon của bữa ăn là sự tổng hợp của
nhiều yếu tố: thức ăn, thời tiết, chỗ ngồi, người ăn cùng, không khí bữa
ăn.
- Tính cộng đồng và tính mực thước trong nghệ thuật ẩm thực của người
Việt, thể hiện:
Downloaded by Lieu Tai ()
lOMoARcPSD|12612758
+ Cùng ăn và trong lúc ăn rất thích chuyện trị (thú uống rượu cần).
Trong bữa ăn cần có văn hố cao (ăn trơng nồi). Vì ăn chung nên mọi
người đều phụ thuộc lẫn nhau nên phải ý tứ khi ngồi và mực thước khi
ăn.
+ Qua nồi cơm và chén nước mắm mà trong bữa ăn ai cũng dùng. Nồi
cơm là tinh hoa của đất, nước mắm là tinh hoa của nước (là cái khởi đầu
và trung tâm trong ngũ hành).
- Tính linh hoạt trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt, thể hiện:
+ Trong cách ăn: có bao nhiêu món ăn và bao nhiêu người ăn là có bấy
nhiêu cách tổng hợp khác nhau.
+ Trong dụng cụ ăn: đó là đơi đũa - đó là sự mơ phỏng động tác của con
chim nhặt hạt, xuất phát từ thói quen ăn những thứ khơng thể nào dùng
tay bốc hoặc mó tay vào, nơi có sẵn tre làm vật liệu. Tập qn này đã
hình thành nên triết lý: tính cặp đơi, tính tập thể.
- Tính biện chứng trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt, thể hiện ở sự
đặc biệt chú trọng đến quan hệ âm dương của thức ăn, của cơ thể và của
con người với tự nhiên.
+ Để tạo nên những món ăn có sự cân bằng âm dương. Người Việt phân
chia thức ăn theo ngũ hành: hàn (lạnh - thuỷ), nhiệt (nóng - hoả), ơn (ấm
- mộc), lương (mát - kim), bình (trung tính - thổ). Người Việt tuân thủ
nghiêm ngặt luật âm dương bù trừ và chuyển hố khi chế biến. Tập qn
dùng gia vị ngồi việc kích thích dịch vị cịn có tác dụng điều hồ âm
dương (gừng đi với bí đao, rau cải, cá...).
+ Để tạo nên sự quân bình âm dương trong cơ thể, người Việt sử dụng
thức ăn như những vị thuốc điều chỉnh sự mất qn bình âm dương trong
cơ thể. Ví dụ: sốt cảm lạnh ăn cháo tía tơ, gừng; sốt cảm nắng thì ăn
cháo hành.
+ Để đảm bảo quân bình âm dương giữa con người với mơi trường,
người Việt có thói quen ăn uống theo vùng khí hậu, theo mùa. Ăn theo
Downloaded by Lieu Tai ()
lOMoARcPSD|12612758
mùa là tận dụng môi trường tự nhiên phục vụ cho con người, hồ mình
vào tự nhiên, tạo nên sự cân bằng giữa con người với tự nhiên.
+ Tính biện chứng trong ăn uống không chỉ thể hiện ở việc ăn phải đúng
mùa mà phải biết chọn đúng bộ phận có giá trị (chuối sau, cau trước);
đúng trạng thái có giá trị (tôm nấu sống, bống để ươn); đúng thời điểm
có giá trị. Thời điểm có giá trị là lúc thức ăn đang trong quá trình âm
dương cân bằng vì vậy rất giàu chất dinh dưỡng.
b. Văn hoá mặc
- Quan niệm về mặc và dấu ấn nông nghiệp trong chất liệu may mặc của
người Việt + Đối với người Việt, quan trọng sau ăn là mặc. Mặc không
chỉ là sự ứng phó với mơi trường tự nhiên mà nó cịn có ý nghĩa xã hội
rất quan trọng (quen sợ dạ, lạ sợ quần áo). Mặc là cái không thể thiếu
được trong mục đích trang điểm, làm đẹp của con người (người đẹp vì
lụa, lúa tốt vì phân, chân tốt về hài, tai tốt về hoa). Ăn mặc giúp cho con
người khắc phục những nhược điểm về cơ thể, tuổi tác (cau già khéo bổ
thì non, nạ dịng trang điểm lại giịn hơn xưa).
Mỗi dân tộc có kiểu ăn mặc và trang sức riêng, vì vậy, cái mặc trở
thành biểu tượng của văn hoá dân tộc. Cái riêng trong cách ăn mặc của
người Việt thể hiện trong chất liệu may mặc.
+ Chất liệu may mặc: có nguồn gốc từ thực vật là sản phẩm của
nghề trồng trọt, cũng là những chất liệu mỏng, nhẹ, thống, rất phù hợp
với xứ nóng. Đó là tơ tằm, từ tơ tằm người Việt đã dệt ra nhiều loại khác
nhau (Lụa, gấm, đũi, nái, lĩnh...). Bên cạnh đó cịn có vải dệt bằng sợi tơ
đay, gai, bơng.
- Trang phục qua các thời đại và tính linh hoạt trong cách ăn mặc:
trang phục có thể chia ra làm nhiều loại; theo giới tính; theo mục đích;
theo chức năng. Cách thức trang phục của người Việt qua các thời đại bị
chi phối bởi hai yếu tố: khí hậu và công việc sản xuất nông nghiệp.
Downloaded by Lieu Tai ()
lOMoARcPSD|12612758
+ Đồ mặc phía dưới của phụ nữ là váy (từ thời kỳ Hùng Vương) là
đồ mặc có thể ứng phó rất hiệu quả với khí hậu nóng bức và phù hợp với
công việc đồng áng. Đồ mặc của đàn ông ban đầu là chiếc khố (Thời
Nguyễn lính khố xanh - địa phương, lính khố đỏ - quân thường trực, lính
khố vàng - phục vụ vua). Khi quần thâm nhập vào Việt Nam thì nam giới
tiếp thu sớm nhất, nhưng đã cải biến linh hoạt thành quần lá toạ. Đây là
một sáng tạo linh hoạt phù hợp với khí hậu nóng bức, mặc mát như váy
của phụ nữ, thích hợp với lao động đồng áng đa dạng. Ngày lễ hội, dùng
quần ống sớ, có màu trắng, đũng cao, ống hẹp.
+ Đồ mặc phía trên của phụ nữ ổn định qua các thời đại là cái
yếm. Yếm do phụ nữ thường tự cắt may, nhuộm lấy, có nhiều màu: nâu
để đi làm ở nông thôn, trắng để di làm ở thành thị, hồng, đào, thắm vào
những ngày lễ hội. Đàn ông khi lao động thường cởi trần. Cách ăn mặc
này trở thành chuẩn mực của cái đẹp (Đàn ơng đóng khố đuôi lươn, đàn
bà yếm thắm hở lườn mới xinh). Khi lao động hoặc trong những hoạt
động bình thường, nam nữ thường mặc áo ngắn có 2 túi phía dưới, có thể
xẻ tà, hoặc khơng.
+ Màu sắc ưa thích là màu âm tính phù hợp với truyền thống ưa tế
nhị, kín đáo. Miền Bắc là màu nâu, gụ của đất; miền Nam là màu đen màu của bùn, xứ Huế ưa màu tím trang nhã phù hợp với phong cách đế
đơ. Trong lễ hội, phụ nữ mặc bên ngoài áo dài thâm hoặc nâu, bên trong
mới là các lớp áo cánh nhiều màu. Mấy chục năm gần đây, do ảnh hưởng
của phương Tây, chiếc áo dài cổ truyền đã được cải tiến thành chiếc áo
dài tân thời vừa tăng cường phô trương cái đẹp cơ thể một cách trực tiếp
kiểu phương Tây, vừa kế tục và phát triển cao độ phong cách tế nhị, kín
đáo cổ truyền (dương ở trong âm). Chiếc áo dài vừa đáp ứng được nhu
cầu của thời đại, vừa duy trì được bản sắc dân tộc, vì vậy nó đã trở thành
biểu tượng cho y phục truyền thống của dân tộc. Đàn ông vào dịp hội hè
cũng mặc áo dài nhưng là áo the đen.
Downloaded by Lieu Tai ()
lOMoARcPSD|12612758
+ Trang phục khác cịn có thắt lưng mục đích giữ cho đồ mặc dưới
khỏi tuột. Trên đầu đội khăn, đàn bà vấn tóc bằng một mảnh vải dài đi gà. Có thể phủ ra ngồi chiếc khăn vng, chít hình mỏ quạ. Đàn
ơng để tóc dài búi tó củ hành. Khi làm vấn khăn đầu rìu, lúc sang trọng
đội khăn xếp. Trên khăn hoặc thay cho khăn là nón có quai giữ, đàn ơng
sau này đội mũ. Đồ trang sức có vịng các loại, nhuộm răng đen, xăm
mình.
Downloaded by Lieu Tai ()