Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

Tiểu luận hoạt động thanh tra của ngân hàng nhà nước việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (156.53 KB, 17 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT


Tiểu luận môn: Luật Ngân hàng
Đề tài: Hoạt động Thanh tra của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam

Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:

Hồ Chí Minh, năm 2022

1
1


MỤC LỤC

2
2


HOẠT ĐỘNG THANH TRA CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM.
I. Vị trí pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Ngân hàng là một tổ chức tài chính kết nối giữa khách hàng thâm hụt vốn và
khách hàng có thặng dư vốn, đây là loại hình tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh
tiền tệ và dịch vụ với nhiệm vụ nhận tiền gửi và sử dụng số tiền gửi này để cấp tín
dụng, cung ứng các dịch vụ thanh tốn. Vào khoảng năm 3500 TCN bắt đầu có sự xuất


hiện việc ký gửi các vật phẩm cá nhân cho các dòng “temple” ở Tây Âu. Đến thời văn
minh Hy Lạp, khoảng thế kỷ VI TCN, xuất hiện hoạt động gửi, nhận, ký gửi tiền cho
vay, hoạt động ngân hàng đã dần trở lên rõ nét. Cho đến năm 1609, Hà Lan thành lập
ngân hàng Amsterdam – là khởi điểm cho ngân hàng kỷ nguyên hiện đại.
Tại Việt Nam, theo cùng dòng chảy lịch sử, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam
chính thức được thành lập theo Sắc lệnh số 15/SL ngày 06/05/1951 của Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Hơn bảy thập kỷ qua, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã khơng ngừng phát
triển và có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển
đất nước. Điều 2 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010 quy định: “Ngân
hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung
ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
Như vậy, theo quy định này, Ngân hàng nhà nước vừa là một cơ quan ngang bộ
trong cơ cấu tổ chức của Chính Phủ, vừa có vị trí là Ngân hàng Trung ương. Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam được thành lập và hoạt động theo mơ hình Ngân hàng Trung
ương trực thuộc Chính Phủ, mơ hình này được xác định dựa trên cơ sở Chính Phủ là
cơ quan hành pháp, thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế, do đó,
Chính Phủ phải nắm trong tay các công cụ kinh tế vĩ mô để sử dụng nó một cách đồng
bộ và phối hợp các cơng cụ nhằm vận hành nền kinh tế trôi chảy và hiệu quả.
II. Cơ quan Thanh tra Ngân hàng Nhà nước.
1. Khái niệm.
Thanh tra là một khâu trong chu trình quản lý nhà nước, đóng vai trị là yếu tố
cấu thành hoạt động của Nhà nước. Đồng thời, đây cũng là phương thức và nội dung
3


quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đảm nhiệm chức năng là phương
tiện phòng ngừa vi phạm pháp luật. Thanh tra còn là phương pháp phát huy dân chủ,
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của nhân dân, cơ quan tổ chức.
Theo khoản 11, Điều 6, Luật Ngân hàng Nhà nước 2010: “Thanh tra Ngân
hàng là hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các đối tượng thanh tra

ngân hàng trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng”. Mục đích của
Thanh tra Ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an tồn, lành mạnh của hệ
thống các tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người gửi tiền và khách hàng của tổ chức tín dụng; duy trì và nâng cao lịng tin của
cơng chúng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm việc chấp hành chính sách,
pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà
nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Cơ quan thực hiện chức năng Thanh tra
Ngân hàng là cơ quan Thanh tra, giám sát Ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam.
2. Cơ cấu, tổ chức.
Cơ quan Thanh tra Ngân hàng đứng đầu là Chánh thanh tra do Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Tổng Thanh
tra Chính phủ. Theo quy định tại Nghị định số 26/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 của
Chính phủ ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra, giám sát ngành
Ngân hàng và Nghị định số 43/2019/NĐ-CP ngày 17/5/2019 của Chính phủ sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2014/NĐ-CP thì Thanh tra, giám sát ngành
Ngân hàng là cơ quan thanh tra nhà nước, được tổ chức thành hệ thống gồm:
a. Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước).
b. Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà
nước chi nhánh).
Theo Quyết định số 20/2019/QĐ-TTg ngày 12/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan Thanh tra,
4


giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, cơ cấu tổ chức của Cơ quan
Thanh tra, giám sát ngân hàng gồm 08 đơn vị:
- Vụ Thanh tra hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phịng, chống tham

nhũng (gọi tắt là Vụ I).
- Vụ Chính sách an toàn hoạt động ngân hàng (gọi tắt là Vụ II).
- Văn phòng.
- Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng I (gọi tắt là Cục I).
- Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng II (gọi tắt là Cục II).
- Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng III (gọi tắt là Cục III).
- Cục Giám sát an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng (gọi tắt là Cục IV).
- Cục Phịng, chống rửa tiền (gọi tắt là Cục V).
3. Chức năng.
Cơ quan Thanh tra, giám sát Ngân hàng là đơn vị tương đương Tổng cục, trực
thuộc Ngân hàng Nhà nước, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước quản lý nhà nước đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng
nước ngồi, quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giám sát ngân hàng, giải quyết
khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, phòng, chống rửa tiền, bảo hiểm gửi tiền;
tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và giám sát ngân hàng trong
các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước; thực hiện
phòng chống rửa tiền, phòng chống tài trợ khủng bố theo quy định của pháp luật và
phân công của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước chi nhánh là đơn vị thuộc cơ cấu tổ
chức của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, giúp Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi
nhánh quản lý nhà nước, tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra, giám sát ngân hàng,
giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, phòng, chống rửa tiền, phòng,
chống tài trợ khủng bố đối với các đối tượng quản lý, thanh tra và giám sát ngân hàng
trên địa bàn theo sự phân công, phân cấp, ủy quyền của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước và theo quy định của pháp luật.
5


III. Hoạt động Thanh tra của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
1. Nguyên tắc của thanh tra Ngân hàng.

Thứ nhất, Thanh tra, giám sát ngân hàng phải tuân thủ theo pháp luật, bảo đảm
chính xác, khách quan, trung thực, cơng khai, dân chủ, kịp thời, không làm cản trở
hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra.
Thứ hai, kết hợp thanh tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật về
tiền tệ và ngân hàng với thanh tra, giám sát rủi ro trong hoạt động của đối tượng thanh
tra, giám sát ngân hàng.
Thứ ba, thanh tra, giám sát ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc thanh
tra, giám sát toàn bộ hoạt động của tổ chức tín dụng. Thanh tra tồn bộ hoạt động của
tổ chức tín dụng bao gồm thanh tra về cơ cấu tổ chức, cơ cấu thành phần Hội đồng
quản trị, Ban kiểm soát, thanh tra cơ cấu tài sản có, cơ cấu tài sản nợ, thanh tra các
hoạt động cấp vốn, kiểm tra sổ sách kế tốn,… Đó là những hoạt động trực tiếp liên
quan đến mức độ an tồn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng.
Thứ tư, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trình tự, thủ tục, thanh tra,
giám sát ngân hàng.
2. Phương pháp thanh tra, giám sát của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước.
Cũng giống như các cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng nhà nước khác trên
thế giới, cơ quan thanh tra ngân hàng ở Việt Nam thực hiện hoạt động thanh tra thông
qua hai phương pháp là: thanh tra qua báo cáo và thanh tra tại chỗ.
Phương pháp thanh tra qua báo cáo: Là việc cơ quan thanh tra giám sát thông
qua báo cáo thống kê định kỳ và các loại báo cáo khác do tổ chức tín dụng gửi đến
theo chế độ báo cáo thống kê để tiến hàng xử lý số liệu, tổng hợp và phân tích tình
hình hoạt động đối với từng Tổ chức tín dụng và tồn hệ thống ngân hàng. Từ đó có
những nhận xét, kiến nghị và cảnh báo cho TCTD vấn đề cần thiết để có những biện
pháp khắc phục kịp thời. Phương pháp thanh tra tư xa có một số hạn chế nhất định đó
là khơng đảm bảo được độ tin cậy của các thơng tin nhận được hoặc tính đầy đủ và
trung thực của các thông tin mà các TCTD cung cấp cho Thanh tra Ngân hàng.
6


Phương pháp thanh tra tại chỗ: Là phương pháp được tiến hành bằng cách tổ

chức các đoàn thanh tra tại nơi làm việc của đối tượng thanh tra và tại các tổ chức, cá
nhân là khách hàng của TCTD trên cơ sở kiểm tra, đánh giá việc thực hiện đúng các
quy chế, quy định của ngành, kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp, đầy đủ của các hồ sơ
khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Thanh tra tại chỗ bao gồm thanh tra
định kỳ, thanh tra đột xuất hoặc thanh tra chuyên đề.
Thanh tra định kỳ là thanh tra mà phạm vi có thể mang tính chất tổng thể hoặc
tập trung vào một hoạt động hoặc một rủi ro đặc biệt.
Thanh tra đột xuất được tiến hành khi có một trong những căn cứ sau: có dấu
hiệu rõ ràng về việc vi phạm pháp luật, có những thay đổi lớn về cơ cấu tổ chức, tình
hình xấu trong hoạt động của TCTD.
Thanh tra chuyên đề thông thường diễn ra trước hoặc sau khi có các thay đổi
trong các quy định hoặc khi có yêu cầu cụ thể của lãnh đạo.
Như vậy, hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng nếu chỉ dựa trên việc thanh tra
qua báo cáo thì độ tin cậy chưa được đảm bảo, hoặc nếu chỉ dựa vào thanh tra tại chỗ
thì sẽ gây phiền hà đối với cả cơ quan thanh tra cũng như đối với TCTD. Hai phương
pháp thanh tra này cần có sự phối hợp hài hòa, bổ sung, đan xen với nhau trong từng
hoàn cảnh nhằm đảm bảo an toàn trong hệ thống kinh doanh của các TCTD và phòng
ngừa rủi ro thông qua việc phát hiện kịp thời các rủi ro không được quản lý tốt.
3. Đối tượng thanh tra của Ngân hàng Nhà nước.
Đối tượng thanh tra Ngân hàng là các cơ quan, tổ chức trực tiếp chịu sự thanh
tra của hoạt động thanh tra ngân hàng. Đối tượng thanh tra ngân hàng được hướng dẫn
tại Khoản 1, Điều 2 Nghị định 26/2014/NĐ-CP:
a. Cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước);
b. Đối tượng thanh tra ngân hàng được quy định tại Điều 52 Luật Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam, bao gồm cả ngân hàng chính sách và cơng ty con của tổ chức tín
dụng:

7



- Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi, văn phịng đại diện của tổ
chức tín dụng nước ngồi, tổ chức nước ngồi khác có hoạt động ngân hàng. Trong
trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền
thanh tra hoặc phối hợp thanh tra công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng;
- Tổ chức có hoạt động ngoại hối (là các ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại
hối – sau đây gọi là tổ chức tín dụng được phép), hoạt động kinh doanh vàng; tổ chức
hoạt động thơng tin tín dụng (Ngân hàng chính sách xã hội); tổ chức cung ứng dịch vụ
trung gian thanh tốn khơng phải là ngân hàng như Công ty Cổ phần AIRPAY
(AIRPAY), Công ty Cổ phần thanh tốn điện tử VNPT (VNPT EPAY), Tập đồn Công
nghiệp Viễn thông Quân Đội (VIETTEL), Tổng Công ty viễn thông Mobifone, Công
ty Cổ phần VINID PAY (VINID PAY), v.v..;
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài
tại Việt Nam trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng
thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước.
c. Doanh nghiệp nhà nước do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định
thành lập: Ngân hàng Thương mại cổ phần ngoại thương Vietcombank, ngân hàng
TMCP công thương Việt Nam (Vietin Bank), ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển
Việt Nam (BIDV), ngân hàng TNHH MTV Đại Dương (Ocean Bank), ngân hàng
TNHH MTV Dầu khí toàn cầu (GP Bank), v. v.
d. Đối tượng báo cáo thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động
ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng) theo quy định của pháp
luật về phòng, chống rửa tiền;
đ. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi: Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính
được giao thực hiện chính sách cơng về bảo hiểm tiền gửi. Ở Việt Nam hiện nay, có
duy nhất 1 tổ chức là bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - Tổ chức tài chính nhà nước, hoạt
động khơng vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi, góp phần
duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn,
lành mạnh của hoạt động ngân hàng.


8


e. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có nghĩa vụ chấp hành các quy định pháp luật
trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước.
4. Căn cứ để ra quyết định thanh tra.
Để tiến hành thanh tra ngân hàng thì cần có các căn cứ để ra quyết định thanh
tra, căn cứ đó được quy định tại Điều 58 Luật Ngân hàng 2010 như sau:
Thứ nhất, căn cứ vào chương trình, kế hoạch thanh tra. Cụ thể, khoản 5 Điều 3
Luật thanh tra 2010 quy định: Kế hoạch thanh tra là văn bản xác định nhiệm vụ chủ
yếu về thanh tra của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra trong 01 năm do Thủ
trưởng cơ quan thực hiện chức năng thanh tra xây dựng để thực hiện Định hướng
chương trình thanh tra và yêu cầu quản lý của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước
cùng cấp. Có thể hiểu là có thể ra quyết định thanh tra khi có văn bản xác định nhiệm
vụ thanh tra của Ngân hàng nhà nước trong vòng 1 năm do Chánh thanh tra, giám sát
ngân hàng xây dựng để định hướng chương trình thanh tra
Thứ hai, căn cứ vào yêu cầu của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Theo khoản
1 Điều 8 Luật Ngân hàng nhà nước 2010 quy định: “Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
là thành viên của Chính phủ, là người đứng đầu và lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước;
chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về quản lý nhà nước
trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng”. Căn cứ vào khoản 10, Điều 2 Nghị định
16/2017/NĐ-CP thì Ngân hàng nhà nước có nhiệm vụ và quyền hạn là kiểm tra, thanh
tra, giám sát ngân hàng; kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động ngoại hối, hoạt động
kinh doanh vàng, hoạt động phịng, chống rửa tiền; kiểm sốt tín dụng; xử lý các hành
vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng, ngoại hối và phòng,
chống rửa tiền theo quy định của pháp luật. Như vậy, Thống đốc ngân hàng là người
đứng đầu ngân hàng nhà nước Việt Nam nên có quyền tổ chức, chỉ đạo những nhiệm
vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước nên đương nhiên có quyền yêu cầu tiến hành
thanh tra khi thấy cần thiết.

Thứ ba, khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Tại khoản 4 Điều 8 Nghị
định 26/2014/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thanh tra , giám sát ngân hàng thì
Chánh thanh tra, giám sát ngân hàng có nhiệm vụ, quyền hạn sau : Quyết định việc
thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật của đối tượng thanh tra ngân
9


hàng hoặc khi có dấu hiệu rủi ro đe dọa đến sự an tồn hoạt động của tổ chức tín dụng,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài và chịu trách nhiệm trước Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước về quyết định của mình.
Thứ tư, khi có dấu hiệu rủi ro đe dọa sự an tồn hoạt động của tổ chức tín
dụng.
5. Nội dung thanh tra Ngân hàng.
Sau khi có đủ căn cứ để ra quyết định thanh tra ngân hàng thì sẽ tiến hành thanh
tra với nội dung thanh tra được quy định tại Điều 55 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam 2010, theo đó:
a. Thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, việc thực hiện
các quy định trong giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp.
b. Xem xét, đánh giá mức độ rủi ro, năng lực quản trị rủi ro và tình hình tài
chính của đối tượng thanh tra ngân hàng.
c. Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hoặc
ban hành văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về tiền tệ và
ngân hàng.
d. Kiến nghị, yêu cầu đối tượng thanh tra ngân hàng có biện pháp hạn chế, giảm
thiểu và xử lý rủi ro để bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và phòng ngừa, ngăn
chặn hành động dẫn đến vi phạm pháp luật.
đ. Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng.
6. Xử lý đối tượng thanh tra.
Xử lý đối tượng thanh tra là việc xử lý các vi phạm của các đối tượng, các cá

nhân, tổ chức thuộc quy định tại Điều 52 Luật Ngân hàng Nhà nước 2010 về đối tượng
thanh tra ngân hàng. Xử lý đối tượng thanh tra trong hoạt động thanh tra của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam được quy định tại Điều 59 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam 2010. Cụ thể:

10


a. Đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân
hàng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành
chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo
quy định của pháp luật.
b. Tùy theo tính chất, mức độ rủi ro, Ngân hàng Nhà nước còn áp dụng các biện
pháp xử lý sau đây đối với đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng:
- Hạn chế chia cổ tức, chuyển nhượng cổ phần, chuyển nhượng tài sản;
- Hạn chế việc mở rộng phạm vi, quy mơ và địa bàn hoạt động;
- Hạn chế, đình chỉ, tạm đình chỉ một hoặc một số hoạt động ngân hàng;
- Yêu cầu tổ chức tín dụng phải tăng vốn điều lệ để đáp ứng các yêu cầu bảo đảm an
toàn trong hoạt động ngân hàng;
- Yêu cầu tổ chức tín dụng phải chuyển nhượng vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần; cổ đơng
lớn, cổ đơng nắm quyền kiểm sốt, chi phối phải chuyển nhượng cổ phần;
- Quyết định giới hạn tăng trưởng tín dụng đối với tổ chức tín dụng trong những
trường hợp cần thiết bảo đảm an toàn cho tổ chức tín dụng và hệ thống các tổ chức tín
dụng;
- Áp dụng một hoặc một số tỷ lệ an toàn cao hơn mức quy định.
IV. Thực trạng hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
1. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thanh tra của Ngân hàng Nhà nước.
* Các nhân tố khách quan:
Môi trường vĩ mơ về tình hình phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia nói
chung và hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng ảnh

hưởng trực tiếp đến công tác thanh tra ngân hàng.
Môi trường pháp lý là một yếu tố khách quan tác động trực tiếp đến công tác
thanh tra, giám sát của ngân hàng nhà nước. Các quy định của pháp luật trong hoạt
động ngân hàng thường xuyên thay đổi sẽ gây ra khó khăn cho cơng tác thanh tra giám
sát ngân hàng. Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, các điều luật quy định khác nhau
11


hoặc chồng chéo, không phù hợp trong thực tế sẽ khiến cơng tác thanh tra trở lên bất
cập, khó thực hiện và giảm hiệu quả.
* Các nhân tố chủ quan:
Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố tiên quyết cho sự thành công của công tác
thanh tra giám sát của Ngân hàng nhà nước. Tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng cán bộ
thanh tra gồm có: kiến thức tổng hợp và chun mơn, trình độ phân tích đánh giá
những thơng tin, khả năng dự báo, kinh nghiệm thực tế, thái độ đối với cơng việc.
Cơng nghệ thanh tra và trình độ ứng dụng công nghệ cũng quyết định đến sự phát triển
của hệ thống thanh tra giám sát ngân hàng.
2. Một số vụ đại án Ngân hàng xảy ra trong những năm gần đây.
Năm 2020 là năm kết thúc quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng giai đoạn
2016-2020. Diện mạo ngành ngân hàng đã có nhiều thay đổi, tuy nhiên đây có thể là
thời điểm thích hợp để tạo ra một bước chuyển mới, đột phá cho hệ thống bằng cách
"vá" cho được "vết nứt hệ thống quản trị" ngân hàng Việt. Có thể thấy trong vịng
khoảng 5 năm trở lại đây ngành ngân hàng đã phải trải qua một “cú sốc” khi liên tiếp
các vụ án lớn được đưa ra xét xử, hàng chục nghìn tỷ đồng tín dụng cấp sai đã bị phơi
bày, hơn chục lãnh đạo cấp cao của ngân hàng bị đưa ra xét xử với những tội danh na
ná nhau.
Điển hình trong các vụ án lớn ngân hàng Việt thời gian qua được đưa ra xét xử
là 3 đại án liên quan trực tiếp tới 3 ngân hàng buộc Ngân hàng Nhà nước mua lại bắt
buộc 0 đồng từ khoảng thời gian 2015 đến nay. Ngân hàng Xây dựng (VNCB,
CBBank) là ngân hàng thương mại yếu kém đầu tiên buộc Ngân hàng Nhà nước "giải

cứu". Cho đến thời điểm hiện tại, đây vẫn được ghi nhận là đại án lớn nhất trong lịch
sử ngành ngân hàng khi số tiền thiệt hại cho VNCB được xác định lên đến 18.000 tỷ
đồng. Theo kết quả điều tra, từ tháng 12/2012 đến tháng 5/2014, Phạm Công Danh,
nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị VNCB, nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm
Tổng giám đốc Tập đoàn Thiên Thanh đã đề ra chủ trương, chỉ đạo, tổ chức phân công
cho những nhân viên dưới quyền của VNCB và những nhân viên làm thuê tại Tập
đoàn Thiên Thanh thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho VNCB
hơn 9.000 tỷ đồng.
12


Sau VNCB, sai phạm tại ngân hàng Đại Dương (Oceanbank) đã để lại hậu quả
là con số nợ xấu lên tới 14.000 tỷ đồng cho Oceanbank. Ông Hà Văn Thắm, nguyên
Chủ tịch Hội đồng quản trị Oceanbank đã bị tuyên hình phạt tù chung thân với bốn tội
danh: Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm
trọng; Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng; Lạm
dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản; Tham ô tài sản (điều 165, 179, 280, 278
Bộ luật Hình sự 1999). Ơng Thắm phải bồi thường dân sự hơn 840 tỷ đồng. Theo cáo
trạng, trong quá trình điều hành Oceanbank, bằng thủ đoạn thành lập các công ty sân
sau, ông Thắm chỉ đạo cấp dưới thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật để phục vụ
cho lợi ích cá nhân, dùng nhiều thủ đoạn để rút tiền của ngân hàng, gây thất thoát hàng
ngàn tỷ đồng khơng có khả năng thu hồi. Đến ngày 31/3/2014, các vi phạm của ông
Thắm và đồng phạm dẫn đến nợ xấu của Oceanbank là hơn 14.000 tỷ đồng.
Ngân hàng Dầu khí tồn cầu (GPBank) là trường hợp thứ ba tính cho đến nay
phải áp dụng biện pháp mua lại bắt buộc. Ngày 22/1/2019, vụ án liên quan tới sai
phạm tại GPBank đã được đưa ra xét xử với các bị cáo liên quan đều là những người
đứng đầu ngân hàng là ông Tạ Bá Long, nguyên Chủ tịch HĐQT GPBank và ơng
Đồn Văn An, ngun Phó Chủ tịch HĐQT GPBank. Theo cáo trạng, để có tiền tăng
vốn điều lệ tại GPBank lên 2.000 tỷ đồng năm 2009 và lên 3.018 tỷ đồng năm 2010,
ông Long và ông An đã sử dụng 3 công ty "sân sau" để phát hành 3.380 trái phiếu, bán

cho Cơng ty Tài chính CP Điện lực (EVNFinance). Sau khi được Ngân hàng Nhà nước
chấp thuận việc GPBank tăng vốn điều lệ lên 3.018 tỷ đồng, do khơng có tiền trả gốc
và lãi cho EVN Finance, hai ông này đã bàn cách rút tiền của GPBank để trả nợ. Ơng
Long và An đã dùng cơng ty Thành Trung và công ty Sao Bắc ký thỏa thuận đặt cọc
mua 58% tòa nhà Capital Tower (109 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) và
hợp đồng hợp tác đầu tư dự án "Trung tâm thương mại, văn phòng và nhà ở An Khánh
Sao Bắc GPBank" để rút 3.900 tỷ đồng của GPBank. Số tiền này được dùng để trả nợ
gốc, lãi cho EVN Finance và sử dụng, chi tiêu hết. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ra
cáo trạng truy tố Tạ Bá Long và các đồng phạm về tội "Cố ý làm trái quy định của
Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng".
Có thể thấy qua 3 đại án dù khác nhau về mức độ thiệt hại nhưng đều có chung
đặc điểm là đường đi lòng vòng của dòng tiền và lối hành xử lạm quyền của những
13


người đứng đầu dẫn tới nợ xấu ngân hàng không thể kiểm sốt. Khơng chỉ thành lập
các cơng ty “sân sau” để lách luật tăng vốn ảo cho ngân hàng mà nhiều ơng chủ ngân
hàng Việt cịn thành lập các “sân sau” để rút ruột ngân hàng bằng các hợp đồng tín
dụng “theo chỉ đạo”. Theo chia sẻ của một vị từng có nhiều năm kinh nghiệm làm
thành viên HĐQT độc lập của một số ngân hàng thương mại, “với việc một vị vừa làm
Chủ tịch HĐQT, vừa làm Chủ tịch Hội đồng tín dụng ngân hàng, có thể sau một đêm
vị này đã tạo ra cho mình một khối tài sản khổng lồ từ tín dụng ngân hàng”. Đây là
điều dễ hiểu khi một người nắm trong tay quá nhiều quyền lực với một khối tài sản
lớn, khó tránh khỏi sự lạm quyền. Đi đầu trong áp dụng các quy tắc quản trị hiện đại
theo thông lệ quốc tế, ngân hàng là ngành đầu tiên có quy định về việc Chủ tịch
HĐQT không được kiêm Tổng giám đốc của ngân hàng. Cùng với đó, Luật Tổ chức
tín dụng năm 2010 cũng quy định mỗi cá nhân không được sở hữu quá 5%, tổ chức
không sở hữu quá 15%; cá nhân và tổ chức liên quan không được sở hữu quá 20% vốn
của ngân hàng. Tuy vậy, bằng nhiều cách khác nhau, các ơng chủ ngân hàng vẫn tìm
cách "lách luật" như nhờ người khác đứng tên cổ phần, nhờ người đứng tên doanh

nghiệp nắm giữ cổ phần ngân hàng để từ có được quyền lực quyết định tại ngân hàng
đó. Những quy định nêu trên khơng chỉ nhằm hạn chế sự lạm quyền của một ơng chủ
mà cịn theo thơng lệ quốc tế để phân tách rạch rịi giữa vai trò quản trị và điều hành
hệ thống ngân hàng. Cụ thể, vai trò của HĐQT là đại diện cho những người góp vốn
đề ra chiến lược, mục tiêu, phương hướng hoạt động của ngân hàng cho Ban Điều
hành. Còn Ban Điều hành mà đứng đầu là Tổng Giám đốc có nhiệm vụ thực hiện
những mục tiêu, phương hướng do HĐQT đề ra. HĐQT khơng có quyền can dự vào
các quyết định điều hành của Tổng giám đốc.
Tuy nhiên, với Việt Nam từ quy định đến thực tiễn áp dụng cịn là một chặng
đường dài dích dắc, đặc biệt thấy rõ ở các ngân hàng tư nhân. Khơng ít Chủ tịch
HĐQT ngân hàng đóng vai trị “độc tơn”, tham gia vào tất cả các quyết định lớn của
ngân hàng trong cả định hướng và điều hành, gần như quyền trùm lên Tổng Giám đốc.
Kinh qua nhiều đại án liên quan tới các ngân hàng Việt có thể thấy kết luận nêu trên
không phải là riêng lẻ mà là “đặc thù” quản trị của hệ thống ngân hàng Việt.

14


3. Trách nhiệm thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước trong các vụ đại án.
Qua công tác thanh tra, giám sát và thực tiễn xét xử các vụ án kinh tế, dân sự,
hình sự liên quan đến hoạt động ngân hàng trong thời gian qua cho thấy các sai phạm
chủ yếu phát sinh từ những năm trước đây, xuất phát từ các nguyên nhân khách quan
và chủ quan như: Do lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, ngân hàng là lĩnh vực nhạy cảm, hấp
dẫn đối với các loại tội phạm bên ngoài và cám dỗ với một bộ phận cán bộ, nhân viên
ngân hàng thối hóa biến chất; một số ngân hàng chạy theo tối đa hóa lợi nhuận bất
chấp quy định của pháp luật, quy định của ngành, thể chế luật pháp, cơ chế chính sách
quản lý chậm đổi mới, chưa theo kịp với yêu cầu thực tiễn phát triển hoạt động tiền tệ
ngân hàng; Mở rộng hội nhập và cuộc cách mạng công nghệ phát triển làm xuất hiện
thêm nhiều loại hình tội phạm mới ngày càng tinh vi, phức tạp.
Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ ra những mặt hạn chế, chủ quan liên quan tới

năng lực và trình độ quản lý điều hành của một số ngân hàng thương mại (NHTM) cịn
yếu kém; cơng tác thanh tra giám sát, kiểm sốt nội bộ cịn yếu nên chậm phát hiện vụ
việc để xảy ra những tồn tại vi phạm; việc đôn đốc, kiểm tra, giám sát thực hiện kết
luận, quyết định xử lý về thanh tra còn nhiều hạn chế, dẫn đến việc khắc phục, chỉnh
sửa, thực hiện kiến nghị sau thanh tra của một số TCTD cịn kéo dài, chưa đúng tiến
độ; chất lượng cơng tác giám sát từ xa chưa cao nên chưa phát huy được vai trò trong
việc phát hiện, đánh giá, cảnh báo các tiềm ẩn rủi ro đối với hệ thống TCTD…
Trước các tồn đọng này, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo kiểm điểm nghiêm
túc, làm rõ trách nhiệm của từng tập thể và cá nhân, xem xét nguyên nhân của những
tồn tại, hạn chế để có biện pháp khắc phục một cách căn bản, toàn diện, bảo đảm chất
lượng, hiệu quả, hiệu lực của công tác thanh tra, giám sát cũng như vai trò quản lý nhà
nước của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng. Đặc biệt, các cá nhân có
hành vi sai phạm, vi phạm pháp luật hình sự đã bị Tịa án các cấp xét xử và nhận các
mức án theo đúng tính chất, mức độ của hành vi vi phạm.
Ngoài ra, để khắc phục, chấn chỉnh và chủ động đối phó với các loại sai phạm,
tội phạm trong ngành ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đã và đang chủ động thực hiện
các giải pháp sau như: Tiếp tục tăng cường đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác
thanh tra, giám sát ngân hàng phù hợp với yêu cầu thực tiễn của Việt Nam và các
15


thơng lệ, chuẩn mực quốc tế; hồn thiện mơ hình tổ chức và hoạt động của Cơ quan
Thanh tra, giám sát ngân hàng; nâng cao khả năng cảnh báo sớm đối với những rủi ro
tiềm ẩn mang tính hệ thống và ngăn ngừa nguy cơ vi phạm pháp luật của các TCTD;
nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát an tồn vi mơ và giám sát an tồn vĩ mơ; tăng
cường thanh tra toàn diện, pháp nhân TCTD; tăng cường chất lượng cán bộ.
Theo giới chuyên gia trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, đây là hệ quả tất
yếu của quá trình sàng lọc, đào thải. Những sai phạm trong hệ thống ngân hàng đã,
đang được phát hiện và xử lý nghiêm minh, tạo niềm tin cho dư luận vào sự phát
triển minh bạch của hệ thống ngân hàng thời gian tới. Điều lớn nhất còn đọng lại

sau những cú "ngã ngựa" như đã được cảnh báo trước này là hệ thống ngân hàng
của đất nước đã chứng tỏ bản lĩnh khi vững vàng vượt qua sóng gió, khơng có
những bất thường và xáo trộn ảnh hưởng đến người dân. Đúng như nhận định của
nhiều chuyên gia kinh tế, động thái này đang góp phần thanh lọc hệ thống ngân
hàng.

16


17



×