Tải bản đầy đủ (.docx) (15 trang)

So sánh hai mô hình ngân hàng trung ương và một số đề xuất hoàn thiện pháp luật cho mô hình ngân hàng trung ương việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (561.81 KB, 15 trang )

BỘ TƯ PHÁP
ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

MÔN HỌC: LUẬT NGÂN HÀNG
ĐỀ TÀI:
SO SÁNH HAI MƠ HÌNH NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HỒN THIỆN PHÁP LUẬT CHO MƠ HÌNH NGÂN
HÀNG TRUNG ƯƠNG VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:

Hà Nội, Tháng 4/2022


2
1.

Khái qt về 2 mơ hình NHTW

1.1 Mơ hình NHTW trực thuộc Quốc Hội và độc lập với chính phủ
Đây là mơ hình NHTW có vị trí độc lập với Chính phủ, trực thuộc
Quốc hội, độc lập trong việc quyết định cung ứng tiền tệ và thực hiện
Chính sách tiền tệ Quốc gia.
Theo mơ hình này, NHTW là cơ quan quản lý, điều tiết tiền tệ và
phát hành tiền, hoạt động của nó tác động trực tiếp tới sự phát triển của
nền kinh tế, nếu xác định vị trí pháp lý của nó thuộc Chính phủ thì khơng
có gì bảo đảm rằng mọi quyết sách của Chính phủ về tiền tệ sẽ phù hợp
với chủ trương, giải pháp của NHTW và phù hợp với nhu cầu thực tiễn


của thị trường tiền tệ. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường hiện nay,
việc trao cho NHTW vị trí pháp lý độc lập là vô cùng cần thiết, là yếu tố
then chốt để đảm bảo tính hiệu quả trong điều hành CSTTQG ở mỗi
nước.
1.2 Mơ hình NHTW trực thuộc chính phủ
Theo mơ hình này, NHTW nằm trong cơ cấu bộ máy của Chính phủ,
chịu sự điều hành trực tiếp của Chính phủ. Chính phủ có quyền can thiệp
rất lớn, khơng chỉ trên phương diện tổ chức, điều hành mà còn trong
hoạt động thực hiện Chính sách tiền tệ Quốc gia (CSTTQG). NHTW được
ví như cơng cụ của Chính phủ trong việc điều tiết giá trị đồng tiền và
huy động các nguồn tài chính trong nền kinh tế. Mơ hình này được xác
định dựa trên cơ sở: Chính phủ là cơ quan hành pháp, thực hiện chức
năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Do đó, Chính phủ phải nắm trong
tay các công cụ kinh tế vĩ mô để sử dụng nó một cách đồng bộ và phối


3
hợp các công cụ nhằm vận hành nền kinh tế trôi chảy và hiệu quả, cũng
là để thực thi tốt nhiệm vụ của mình, mà thực chất là Chính phủ nắm
NHTW và thông qua NHTW tác động đến CSTTQG.

2.
2.1

So sánh mơ hình NHTW của Việt Nam và Hoa Kỳ
Ưu điểm từng mơ hình

Hoa Kỳ

Việt Nam


NHTW tồn quyền quyết định việc xây dựng và điều hành chính
sách tiền tệ, chính sách tỷ giá, chính sách lãi suất mà khơng bị ảnh
hưởng bởi áp lực chi tiêu của ngân sách hoặc các áp lực chính trị khác.
Đảm bảo tính độc lập nhất định đối với Chính phủ trong việc thực hiện
chức năng nhiệm vụ của NHTW do Quốc hội giao.
- Chính phủ dễ dàng phối hợp chính sách tiền tệ với chính
sách vĩ mô khác nhằm đảm bảo mức độ và liều lượng tác động hiệu quả
của tổng thể các chính sách đối với các mục tiêu vĩ mô trong từng thời
kỳ.

- Được giao quyền lựa chọn mục tiêu mà không chịu sự can thiệp
chỉ đạo từ chính phủ hay cơ quan liên quan khác.
=> Giúp chính phủ thống nhất, phối hợp đồng bộ các chính
sách vĩ mơ, trong đó có chính sách tiền tệ ngân hàng, nhằm đạt được
mục tiêu kinh tế, xã hội chung. Mơ hình này được xem là phù hợp với
yêu cầu cần tập trung quyền lực để khai thác tiềm năng xây dựng kinh
tế trong thời kỳ tiến phát triển. Đảm bảo sự giám sát thường xuyên của


4
chính phủ và kịp thời can thiệp để đảm bảo hài hịa các lợi ích, hạn chế
tình trạng “lạm dụng” vai trị, vị trí của minh và thiếu sự hợp tác với
chính phủ.

- Tăng tính chủ động và giảm độ trễ của chính sách tiền tệ nhờ sự
độc lập trong việc thực thi chính sách.
- Giúp chính phủ nắm trong tay nguồn lực tài chính ổn định,
tập trung của nên kinh tế để thực hiện các mục tiêu mà chính phủ đặt
ra.


- Tăng hiệu quả của mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh
tế, giảm thâm hụt ngân sách và ổn định hệ thống tài chính

- Tự chủ về cơ chế tổ chức và cơ chế tài chính, nhân sự. Có trách
nhiệm giải trình đầy đủ và minh bạch.

2.2

Nhược điểm từng mơ hình

.Hoa Kỳ
Việt Nam
- Mơ hình này tạo nên sự thiếu đồng bộ trong việc thực hiện các
mục tiêu kinh tế, xã hội của Chính phủ và NHTW.


5

– Điểm hạn chế chủ yếu của mơ hình là NHTW sẽ mất đi sự
chủ động trong việc thực hiện CSTT. Sự phụ thuộc vào chính phủ có thể
làm cho NHTW xa rời mục tiêu dài hạn của mình là ổn định giá trị tiền
tệ, góp phần tăng trưởng kinh tế. thẩm quyền của NHNN trong xây dựng
và điều hành CSTT cịn hạn chế, NHNN có mức độ độc lập thấp và chịu
sự can thiệp hành chính tồn diện của Chính phủ.

- Khó có sự kết hợp hài hịa chính sách tiền tệ do NHTW thực hiện
và chính sách tài khóa do Chính phủ chi phối để quản lí vĩ mơ một cách
có hiệu quả. NHTW khó tránh được sự chi phối chính trị
– Về lý thuyết khi áp dụng mơ hình NHTW trực thuộc chính

phủ thì tỷ lệ lạm phát khó duy trì ở tỷ lệ thấp hơn là mơ hình độc lập với
chính phủ vì chính phủ có thể lợi dụng NHTW để bù đắp thâm hụt ngân
sách.
– Chính phủ là nơi quyết định chính sách (cả về mục tiêu lẫn
chỉ tiêu hoạt động) cũng như can thiệp vào quá trình triển khai thực thi
CSTT. Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt
động của NHTW, nhất là trong việc thực hiện mục tiêu ổn định giá trị
đồng tiền. Đây chính là trường hợp của NHNN Việt Nam hiện nay và trên
thực tế thì mức độ độc lập tự chủ này đã bắt đầu bộc lộ những mặt hạn
chế, bất cập. Làm giảm tính linh hoạt trong việc điều hành thực hiện
CSTT quốc gia, thậm chí đơi khi gây ra sự chậm trễ trong chính sách
phản ứng trước các diễn biến khó lường trên thị trường tài chính tiền tệ
ảnh hưởng đến sự ổn định của đồng tiền.


6

– Vì là cơ quan của Chính phủ nên có khi NHNN phải thực hiện
những nhiệm vụ không phù hợp với mục tiêu của CSTT, chẳng hạn như
tái cấp vốn để khoanh, xóa nợ các khoản vay của NHTM Nhà nước… Như
vậy NHNN Việt Nam chỉ được coi là cơ quan quản lý hành chính nhà
nước, giống như các bộ khác chứ không phải là thiết chế đặc biệt dù tổ
chức, hoạt động của NHNN ảnh hưởng rất lớn đến tính an tồn của hệ
thống ngân hàng, sự ổn định của giá trị đồng tiền, an ninh tiền tệ của
một quốc gia.

3.

Tìm hiểu mở rộng về FED – Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ


a, Lịch sử hình thành
Cuộc khủng hoảng năm 1907, tiền đề cho sự ra đời của FED
Ngay sau khi nước Mỹ được thành lập, Quốc hội có ý định
thành lập một NHTW nhưng vấp phải sự phản đối về sự tập trung quyền
lực tài chính. Một hệ thống khơng tập trung và có quy mơ nhỏ hơn dần
định hình và phát triển, họ cho rằng các ngân hàng hồn tồn có thể tự
quản lý. Tuy nhiên, một loạt biến động trong lĩnh vực ngân hàng ở Mỹ,
đỉnh điểm là năm 1907 cho thấy một hệ thống NHTW là cần thiết để
điều phối thị trường.
Năm 1907, Mỹ đã có 22.000 ngân hàng. Ở hầu hết các thị
trấn, người dân có thể lựa chọn các ngân hàng địa phương hoặc ngân
hàng được quản lý bởi nhà nước. Mặc dù đứng trước nhiều lựa chọn, các
nhà đầu tư thành thị thường có xu hướng chọn các cơng ty tín thác. Các


7
cơng ty tín thác xuất hiện vào đầu những năm 1890, các công ty này sẽ
lấy tiền gửi của khách hàng đi đầu tư cổ phiếu và trái phiếu. Đến năm
1907, các công ty này bắt đầu thực hiện những hoạt động rủi ro hơn đó
là bảo lãnh và phân phối cổ phần, sở hữu và điều hành các dự án bất
động sản về đường sắt.
Từ năm 1896 đến năm 1906, Mỹ có tốc độ tăng trưởng trung
bình đạt gần 5%. Đây là điều phi thường khi những thảm họa như: đám
cháy Baltimore 1904 và trận động đất San Francisco 1906 đã lấy đi
khoảng 2% GDP. Tuy nhiên. Augustus Heinze và Charles Morse đã vay
một lượng tiền lớn, sử dụng chúng thao túng giá cổ phiếu United Copper.
Nền kinh tế Mỹ bắt đầu giảm tốc vào những năm 1907, khiến giá của
một số loại hàng hóa tụt dốc, trong đó có kim loại, cổ phiếu của United
Copper giảm mạnh. Để ngăn chặn đà giảm của thị trường, Augustus
Heinze và Charles Morse đã bắt đầu sử dụng đến số vốn ngân hàng của

họ. Chính điều này đã gây ra rắc rối cho một nhóm các ngân hàng nhỏ
hơn, gây nên lỗi dây chuyền và cuối cùng ảnh hưởng đến công ty tín
thác Knickerbocker Trust. Tiền gửi tại Knickerbocker Trust tăng từ 10
triệu lên hơn 60 triệu, biến nó thành quỹ tín thác lớn thứ 3 ở Mỹ. Khi hệ
thống tài chính rõ ràng khơng cịn an tồn, người Mỹ bắt đầu cất trữ tiền
mặt tại nhà. Lúc này khi cơ hoảng loạn dâng trào và lãi suất tăng vọt lên
125%, ông trùm Morgan triệu tập tất các chủ ngân hàng lớn tới nhà
riêng và tuyên bố không cho ai về nếu mọi người chưa thống nhất xong
kế hoạch giải cứu (bao gồm các cam kết tài chính). Đây có thể coi là
diễn biến kịch tích nhất trong tồn bộ lịch sử ngành tài chính Mỹ. Các tư
nhân đều thống nhất rằng nước Mỹ khi đó cần một NHTW do Chính phủ
thành lập. Các ngân hàng cần một thiết chế do chính phủ tài trợ, có khả


8
năng cho họ vay một số lượng tiền mặt không giới hạn với nhiều loại tài
sản thế chấp khác nhau.
Đảo Jekyll thần bí: Cái nơi của cục dự trữ liên bang Mỹ
Năm 1910, một đồn tàu rèm che kín mít chậm rãi tiến về miền
Nam, điểm dừng cuối cùng là đảo Jekyll thuộc bang Georgia. Những
người ngồi trong toa tàu đều là những nhà tài phiệt ngân hàng quan
trọng nhất của nước Mỹ và không một ai trong số họ biết rằng mục đích
của chuyến đi này. Các thế lực tai to mặt lớn mà đứng đầu là là J.P.
Morgan đã thành lập một câu lạc bộ đi săn trên đảo Jekyll. ⅙ của cải thế
giới dồn vào tay các hội viên của CLB này và tư cách hội viên chỉ có thể
được kế thừa chứ khơng được chuyển nhượng. Lúc này có người cần sử
dụng hội sở của CLB trong khoảng 2 tuần, trong phạm vi 50 dặm, hội sở
được đảm bảo xung quanh khơng có sự xuất hiện của bất kỳ kẻ săn tin
nào. Sau khi chuẩn bị hoàn tất, những vị khách bắt đầu xuất hiện tại hội
sở, đó đều là những nhân vật tầm cỡ, cho ra đời dự luật Aldrich - đây sẽ

là bản phác thảo đầu tiên của Hệ thống Dự trữ Liên bang Mỹ.
Ngày 23/12/1913, Tổng thống Woodrow Wilson đã ký Luật Dữ trữ
Liên bang, qua đó thành lập cục Dự trữ Liên Bang Mỹ (FED).
b, Cơ cấu tổ chức và hoạt động của FED
FED sử dụng ba cơng cụ chính là mua bán trái phiếu chính phủ, quy
định lượng tiền mặt dự trữ, thay đổi lãi suất các khoản vay từ FED.
Đạo luật Dự trữ Liên Bang 1913 bao hàm rất nhiều ý tưởng, để
chống lại sự phản đối với mơ hình NHTW tại Mỹ. Thể chế mới này sẽ
không mang tên NHTW, mà được gọi là Hệ thống Dự trữ Liên bang


9
(Federal Reserve System). Đây không phải là một thể chế riêng lẻ mà là
một tập hợp các ngân hàng dự trữ của từng khu vực được điều hành bởi
một Bang Thống đốc, các thành viên của hội đồng này do Tổng thống đề
cử và Quốc hội phê chuẩn chứ không phải do các ngân hàng tự bầu lên.
Có thể nói cấu trúc của FED rất khác biệt so với các NHTW khác. Ở FED
tồn tại 4 cấp: Hội đồng Thống đốc, Ủy ban Thị trường mở, 12 ngân hàng
chi nhánh và các ngân hàng thành viên khác nhỏ hơn.
Hội đồng Thống đốc là bộ phận chịu trách nhiệm về phần lớn các
Chính sách tiền tệ, 7 người nằm trong hội đồng này được Thống đốc đề
cử và được Thượng viện thông qua. Hội đồng Thống đốc của FED là cơ
quan độc lập của chính phủ liên bang, khơng chịu sự can thiệp của Quốc
hội nhưng phải báo cáo định kỳ. (1slide riêng)
Uỷ ban Thị trường mở (FOMC) - Uỷ ban gồm 7 thành viên của Hội
đồng Thống đốc cùng với chủ tịch của 5 ngân hàng chi nhánh. Những
ngân hàng chi nhánh có nhiệm vụ thực hiện các nhiệm vụ nhỏ hơn. Mỗi
ngân hàng chi nhánh có 1 Chủ tịch và kiểm soát hàng ngàn ngân hàng
thành viên trong khu vực đó. (1slide riêng)
c, Vai trị của FED

Thuở sơ khai, nhiệm vụ đầu tiên của FED là đảm bảo tính thanh
khoản cho các ngân hàng nằm tránh hoảng loạn trong trường hợp có 1
tổ chức ngân hàng tín dụng vỡ nợ. Vai trị này vẫn được FED chu tồn
đến ngày hơm nay. Ngồi ra, FED cịn đóng vai trị là cơ quan điều tiết,
là đơn vị phát hành tiền và cho vay thay vì trước đó các ngân hàng tự
mình in tiền . Lãi suất ngân hàng đều giao phó cho thị trường trên cơ sở
cạnh tranh hoàn toàn giữa các ngân hàng.


10
Về sau, cơ quan này cịn có nhiệm vụ ổn định giá cả, công ăn việc
làm và ấn định lãi suất dài hạn. Trong cuộc khủng hoảng tài chính tồn
cầu 2007-2008, can thiệp của FED trong năm 2008-2013, hạ mức lãi
suất xuống thấp nhất để đảm bảo thanh khoản. FED thực sự đã trở
thành đơn vị dẫn đường, tránh khủng hoảng kinh tế trong thời gian này
khi đưa ra chương trình kích cầu với tên gọi quen thuộc “Nới lỏng định
lượng”. Theo chương trình này, hàng tháng FED đã cung ứng một lượng
tiền 85 tỷ USD để mua lại trái phiếu và tài sản rủi ro. Đầu năm 2013, khi
thấy nền kinh tế có dấu hiệu hồi phục, FED đã quyết định giảm xuống
cịn 75 tỷ USD cho chương trình này tính từ tháng 1/2014 trở đi.
Tuy nhiên, FED cũng hứng chịu nhiều lời phê bình từ những người
trong giới tài chính ngân hàng và khơng ít nhà lãnh đạo của các nước
trên thế giới. Họ cho rằng thời Alan Greenspan cịn làm chủ tịch, chính
FED là nơi châm ngịi, kích động khủng hoảng tài chính 2007-2008. Dưới
triều đại này, cách thức giao dịch truyền thống đã bị xóa sổ, thay vào đó
là là các sàn chứng khốn bằng hệ thống máy tính điện tử. Gía cổ phiếu
và kỳ hạn hàng hóa phình lên như bong bóng. Tệ hơn nữa, theo đà hám
lợi và để khuyến khích giải tỏa khó khăn trên thị trường bất động sản, vố
giá đã bị bơm quá cao tại Mỹ. Trong giai đoạn này, FED đã bật đèn xanh
cho các ngân hàng cho vay bất kỳ ai, dù người được cấp tín dụng có khả

năng trả nợ hay không. Đến khi dây truyền vỡ nợ xuất hiện, thị trường
bất động sản và hệ thống tài chính ngân hàng bị kéo vào cơn lốc khủng
hoảng kinh tế tài chính chưa từng thấy.
d, Tại sao FED có thể tác động tới nền kinh tế toàn cầu?
Ngày nay đồng USD đã trở thành đồng tiền chung cho nhiều hoạt


11
động thương mại quốc tế, được dụng để định giá cho nhiều hàng hóa
trao đổi khác nhau, đặc biệt với các mặt hàng quan trọng trên thế giới
như: vàng, dầu mỏ,.. Vì thế mà Cục Dự trữ Liên bang Mỹ là cơ quan kiểm
sốt đồng USD nên có khả năng tác động gián tiếp kiểm sốt thị trường
tồn cầu. Điều đó khiến cho mọi động thái, chính sách của FED đều
được cả thế giới theo dõi. Ngoài ra, kho dự trữ của FED còn là nơi tập
trung tiền và vàng nhiều nhất thế giới, đến 25% trữ lượng vàng, hầu hết
là vàng nước ngồi gửi vào.

4.

Hướng đi nào cho mơ hình NHTW Việt Nam – Bài học rút ra và

đề xuất hồn thiện
4.1

Bài học rút ra

Khi Chính phủ là nơi quyết định chính sách (cả về mục tiêu lẫn chỉ
tiêu hoạt động) cũng như can thiệp vào quá trình triển khai thực thi
CSTT, đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt
động của NHTW, nhất là trong việc thực hiện mục tiêu ổn định giá trị

đồng tiền. Đây chính là trường hợp của NHNN Việt Nam hiện nay và trên
thực tế thì mức độ độc lập tự chủ này đã bắt đầu bộc lộ những mặt hạn
chế, bất cập. Làm giảm tính linh hoạt trong việc điều hành thực hiện
CSTT quốc gia, giảm tính ổn định của đồng tiền
4.2

Đề xuất hoàn thiện

Thứ nhất, điều hành linh hoạt các giải pháp tín dụng nhằm kiểm
sốt quy mơ, tăng trưởng tín dụng hợp lý, hướng vào các lĩnh vực sản
xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; kiểm


12
sốt chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Tiếp tục triển
khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người dân và doanh
nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 và thiên tai.
Thứ hai, đẩy mạnh thực hiện các giải pháp để kiểm soát và xử lý nợ
xấu; ngăn ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu mới phát sinh; ngăn ngừa tình
trạng đầu tư chéo, sở hữu chéo và sở hữu có tính chất thao túng, chi
phối trong các tổ chức tín dụng có liên quan. Tăng cường cơng tác thanh
tra, giám sát hoạt động của tổ chức tín dụng, đặc biệt là đối với các lĩnh
vực tiềm ẩn rủi ro cao.
Thứ ba, tập trung đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động ngân
hàng và hoạt động thanh tốn khơng dùng tiền mặt. Tiếp tục hồn thiện
khn khổ pháp lý tạo thuận lợi cho chuyển đổi số ngành ngân hàng,
đáp ứng yêu cầu đối với các mơ hình kinh doanh và sản phẩm dịch vụ
mới trên nền tảng công nghệ thông tin, ngân hàng số, thanh toán số.
Tăng cường đảm bảo an ninh, an tồn trong hoạt động thanh tốn và
chuyển đổi số.

Thứ tư, NHTWTW thực hiện quyết liệt, hiệu quả cải cách hành
chính, cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh, duy
trì chỉ số chiều sâu và nâng cao độ phủ thơng tin tín dụng nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp được tiếp cận tín dụng cơng
bằng, minh bạch. Tiếp tục đổi mới việc tổ chức cơ chế một cửa, số hóa,
điện tử hóa trong giải quyết thủ tục hành chính nhằm nâng cao chất
lượng phục vụ, góp phần xây dựng Chính phủ số, nền kinh tế số.
Thứ năm, các công cụ lãi suất, tỷ giá cũng cần tiếp tục điều hành
linh hoạt theo hướng tiến dần đến mục tiêu tự do hoá. Việc điều hành


13
cần tiếp tục gắn liền với điều hành tỷ giá. Đặc biệt, để khắc phục một số
hạn chế của lãi suất cơ bản, hiện nay trong việc thực hiện vai trị lãi suất
mang tính định hướng thị trường, ngân hàng trung ương có thể tiến tới
sử dụng lãi suất liên ngân hàng làm lãi suất định hướng trên cơ sở phát
triển thị trường này. Vấn đề quan trọng là ngân hàng trung ương cần
tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện công cụ lãi suất thông qua việc lựa
chọn lãi suất định hướng phù hợp với mức độ phát triển của thị trường
tiền tệ và các quy định của luật Ngân hàng. Một số phương án có thể
xem xét như: sử dụng lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu làm lãi
suất định hướng; hoặc kết hợp sử dụng lãi suất chiết khấu và lãi suất
liên ngân hàng định hướng như trường hợp của ngân hàng dự trữ liên
bang Mỹ, ngân hàng trung ương Nhật; hoặc sử dụng mức lãi suất tiền
gửi tại ngân hàng trung ương và lãi suất cho vay của ngân hàng trung
ương như trường hợp của Úc, New Zealands, ngân hàng trung ương
Châu Âu; hoặc sử dụng lãi suất thị trường mở phát triển.
Thứ sáu, nghiệp vụ hối đối cần tiếp tục hồn thiện theo hướng
điều hành linh hoạt, bám sát diễn biến thị trường và phù hợp với mục
tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Việc đẩy nhanh tốc độ xử lý

của các ngân hàng nhà nước đối với đề nghị của các ngân hàng về
nghiệp vụ hối đối có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo cho ngân hàng
nhà nước thực hiện vai trò cung ứng vốn VND kịp thời cho các ngân
hàng.
Thứ bảy, công cụ nghiệp vụ thị trường mở cần được tiếp tục hồn
thiện để trở thành cơng cụ điều tiết tiền tệ chủ yếu. Theo đó, ngân hàng
trung ương có thể thực hiện linh hoạt về thời điểm và khối lượng giao


14
dịch để tác động đến tiền dự trữ của hệ thống ngân hàng và sau đó đến
lãi suất của thị trường tiền tệ. Lãi suất trên thị trường mở cần trở thành
lãi suất tham chiếu cho các loại lãi suất khác. Để làm được như vậy, việc
nghiên cứu để mở rộng thêm nhiều loại hàng có thể giao dịch trên thị
trường là một đòi hỏi bức xúc : đề nghị chính phủ trình quốc hội cho
phép được sử dụng các loại trái phiếu được giao dịch trên thị trường tiền
tệ nói chung và thị trường mở nói riêng với thời hạn ngắn, nghiên cứu
khả năng sử dụng các loại chứng khốn do các tổ chức tín dụng nhà
nước phát hành làm công cụ cho nghiệp vụ thị trường mở.
5. Kết luận
Để phát huy hơn nữa thị trường tiền tệ Việt Nam, ngân hàng trung
ương cần sớm hồn thiện các khn khổ pháp lý cần thiết cho hoạt động
thị trường (nhất là các quy định về thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn
hạn). Bên cạnh đó, ngân hàng trung ương cần phối hợp với Bộ tài chính
cải tiến đấu thầu tín phiếu kho bạc cần để cho thị trường quyết định và
các kỳ hạn của tín phiếu cần đa dạng hơn để thu hút các thành viên
tham gia cũng như tạo điều kiện phát triển nghiệp vụ thị trường mở.
Ngoài ra, để thị trường tiền tệ phát triển hơn nữa, việc tổ chức phổ biến,
hướng dẫn các thành viên tiếp cận với các công cụ thị trường tiền tệ và
các mô hình hoạt động trên thị trường các nước cũng là một vấn đề hết

sức cần thiết.


15



×