Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

Phân tích hiện tượng tha hóa của con người. Vấn đề giải phóng con người trong triết học Mác – Lênin. Tha hóa về quyền lực với tính cách là nguyên nhân phát sinh nạn tham nhũng ở nước ta hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (139.39 KB, 20 trang )

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................2
I. KHÁI QUÁT VỀ KHÁI NIỆM CON NGƯỜI THEO QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC
MÁC – LÊNIN.................................................................................................................. 3
1.1. Một số quan điểm khác nhau về con người trong triết học trước Mác..............3
a. Quan niệm về con người trong triết học phương Đông...................................3
b. Quan niệm về con người trong triết học phương Tây.....................................4
1.2. Quan điểm triết học Mác – Lênin về con người................................................5
II. CÁC PHƯƠNG DIỆN TIẾP CẬN NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA CON
NGƯỜI.............................................................................................................................. 6
2.1. Sự hình thành, phát triển con người là một quá trình gắn liền với lịch sử sản
xuất vật chất.............................................................................................................6
2.2. Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa các mặt sinh học và mặt xã hội. . .7
2.3. Con người tồn tại phát triển trong môi tường cư trú xã hội - hành tinh - vũ trụ 8
2.4. Con người là một thực thế cá nhân, xã hội........................................................9
2.5. Sự thống nhất biện chứng giữa con người giai cấp và con người nhân loại....11
2.6. Con người thống nhất biện chứng giữa tất yếu và tự do:.................................11
III. YÊU CẦU, NHIỆM VỤ TẬP TRUNG THỰC HIỆN MỤC TIÊU “XÂY DỰNG
ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, TỔ CHỨC,
ĐẠO ĐỨC” TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY............................................................12
3.1. Yêu cầu, nhiệm vụ thực hiện mục tiêu............................................................12
3.2. Giải pháp thực hiện mục tiêu..........................................................................13
KẾT LUẬN...................................................................................................................... 19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................20

1


LỜI MỞ ĐẦU
Sinh thời, C.Mác đã đưa ra cách tiếp cận duy vật lịch sử về bản chất của tha
hóa: tha hóa là một hiện tượng xã hội, xuất phát từ con người, từ xã hội loài người;


là lao động bị tha hóa; dẫn đến hệ quả - con người mất dần tính lồi; con người đã
trở thành khơng phải chính mình, quay trở lại chi phối, nơ dịch con người và xã hội
loài người.
Từ cách tiếp cận của C.Mác về tha hóa, tác giả cho rằng, ở Việt Nam hiện nay,
tha hóa là một hiện tượng xã hội khá phổ biến, đang tồn tại ở nhiều lĩnh vực của
đời sống xã hội, cụ thể: tha hóa về hành vi sản xuất (tức hình thái lao động) và sản
phẩm lao động; tha hóa về các quan hệ xã hội; tha hóa các hệ giá trị xã hội; quyền
lực bị tha hóa; tha hóa về hành vi tín ngưỡng và niềm tin tôn giáo. 1. Khi bắt đầu sự
nghiệp triết học của mình, C.Mác đã chịu ảnh hưởng rất lớn của triết học Hêghen.
Cũng giống như các môn đệ khác của phái Hêghen trẻ, C.Mác bắt đầu nghiên cứu
về phạm trù tha hóa - một phạm trù triết học nổi bật nhất, trung tâm nhất của triết
học Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu, C.Mác
phát hiện ra rằng, xuất phát điểm của phạm trù tha hóa của Hêghen có cái gì đó
khơng ổn, không hợp lý. Để nghiên cứu rõ hơn về vấn đề này, nhóm nghiên cứu
quyết định chọn đề tài “Phân tích hiện tượng tha hóa của con người. Vấn đề giải
phóng con người trong triết học Mác – Lênin. Tha hóa về quyền lực với tính
cách là ngun nhân phát sinh nạn tham nhũng ở nước ta hiện nay.”

2


NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT VỀ KHÁI NIỆM CON NGƯỜI THEO QUAN ĐIỂM TRIẾT
HỌC MÁC – LÊNIN
1.1. Một số quan điểm khác nhau về con người trong triết học trước Mác
a. Quan niệm về con người trong triết học phương Đông
Trong lịch sử triết học của nhân loại, vấn đề con người luôn là đề tài được
quan tâm sôi nổi. các nhà khoa học đều cố lý giải đi tìm những câu trả lời để lý giải
về bản chất con người, quan hệ của con người với thế giới xung quanh. Không
những thế ở các lĩnh vực tâm lý học, sinh học, triết học, y học, xã hội học…cũng

tìm đến và khơng ngừng nghiên cứu về nó và mỗi lĩnh vực nghiên cứu đều có ý
nghĩa riêng đối với con người.
Từ thời cổ đại trong triết học phương Đông “con người được xem như là một
vũ trụ thu nhỏ.” Các mối quan hệ giữa người với người, con người với thế giới đều
được các nhà thơng thái thời đó cập nhật và luận giải sâu sắc. sự hài hòa đã khiến
những triết lý trở thành bản sắc của con người phương Đông. ở tôn giáo phương
Đông như Phật giáo, Hồi giáo nhận thức bản chất con người trên cơ sở thế giới
quan duy tâm, thần bí hoặc nhị nguyên luận. với sự chi phối bởi thế giới quan duy
tâm hoặc duy vật chất phác, biểu hiện trong tư tưởng Nho giáo, Lão giáo, quan
niệm về bản chất con người cũng thể hiện một cách phong phú.
Trong triết học Phật giáo, con người là sự kết hợp giữa danh và sắc (vật chất
và tinh thần). Đời sống con người trên trần thế chỉ là ảo giác, hư vô. Triết học Tuân
Tử lại cho rằng bản chất con người khi sinh ra là ác, nhưng có thể cải biến được,
phải chống lại cái ác ấy thì con người mới tốt được.
Có thể nói rằng, với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết học phương
Đơng biểu hiện tính da dạng và phong phú, thiên về vấn đề con người trong mối
quan hệ chính trị, đạo đức. Nhìn chung, con người trong triết học phương Đơng
biểu hiện yếu tố duy tâm, có pha trộn tính chất duy vật chất phác ngây thơ trong
mối quan hệ với tự nhiên và xã hội.
3


b. Quan niệm về con người trong triết học phương Tây
Ở lịch sử triết học phương Tây, vấn đề về con người luôn được tranh luận từ
cổ đại hy lạp trải qua giai đoạn trung cổ, phục hưng đến cận đại ngày nay.
Trong triết học Hy Lạp cổ đại, con người được xem là điểm khởi đầu của tư
duy triết học. Con người và thế giới xung quanh là tấm gương phản chiếu lẫn
nhau. Quan niệm của Arixtốt (384 – 322 TCN) về con người, cho rằng chỉ có linh
hồn, tư duy, trí nhớ, ý trí, năng khiếu nghệ thuật là làm cho con người nổi bật lên,
con người là thang bậc cao nhất của vũ trụ. Nhà tư tưởng này cũng đã phân biệt con

người khác với con vật ở chỗ, con người là “động vật chính trị”.
Đến thời kỳ trung cổ, ở thời kỳ này quan niệm về con người bị chi phối bởi
quan điểm duy tâm của tôn giáo. Theo giáo lý Kito, con người do chúa sáng tạo ra,
con người có thể xác và linh hồn, thể xác mất đi nhưng linh hồn vẫn sẽ ở lại. nhà
thần học Augustine cho rằng Chúa là lực lượng siêu tự nhiên, định đoạt mọi số
phận của con người, ban phước hoặc trừng phạt con người. do vậy ở thời đại này,
triết học chỉ là đầy tớ của thần học.
Sang thời Phục Hưng – cận đại, đây là giai đoạn bước ngoặt đã có nhận thức
mới về nguồn gốc và bản chất của con người thông qua những vấn đề do khoa học,
kĩ thuật đặt ra. đề cao được vai trị trí tuệ, lý tính của con người, xem con người là
một thực thể có trí tuệ. Đó là một trong những yếu tố quan trọng nhằm giải thoát
con người khỏi mọi gông cuồng chật hẹp mà chủ nghĩa thần học thời trung cổ đã áp
đặt cho con người.
Những tư tưởng về con người vẫn tiếp tục phát triển bừng sáng trong triết học
cổ điển Đức. quan niệm được phát triển mạnh mẽ ở cả hai khuynh hướng duy vật
và duy tâm. Nhà duy tâm Hêghen là người trình bày một cách có hệ thống về các
quy luật của quá trình tư duy của con người, làm rõ cơ chế của đời sống tinh thần
cá nhân trong mọi hoạt động của con người, khẳng định vai trò chủ thể của con
người đối với lịch sử. mặt khác, Nhà duy vật Phoiơbắc đã vượt qua những hạn chế
trong triết học Hêghen để hy vọng tìm đến bản chất con người một cách đích thực.
Phoiơbắc phê phán tính chất siêu tự nhiên, phi vật chất, phi thể xác về bản chất con
4


người trong triết học Hêghen, đồng thời khẳng định con người do sự vận động của
thế giới vật chất tạo nên. Con người là kết quả của sự phát triển của thế giới tự
nhiên. Con người và tự nhiên là thống nhất, khơng thể tách rời.
Có thể khái qt rằng, các quan niệm về con người trong triết học trước Mác,
dù là đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm hoặc duy vật siêu hình, đều phản
ánh chưa đầy đủ về bản chất con người. Và những hạn chế đó đã được khắc phục

và vượt qua bởi quan niệm duy vật biện chứng của triết học Mác-Lenin về con
người.
1.2. Quan điểm triết học Mác – Lênin về con người
Triết học Mác – Lênin trên cơ sở duy vật biện chứng mang đến quan điểm
hoàn chỉnh về con người. Theo quan điểm chung nhất, con người là thực thể sinh
học xã hội, con người là một sinh vật có tính xã hội, vừa là sản phẩm cao nhất trong
quá trình tiến hóa của tự nhiên và lịch sử xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo mọi thành
tựu văn hóa trên trái đất.
Triết học đã chỉ ra hai yếu tố cấu thành con người là sinh học và xã hội. con
người có mặt tự nhiên, vật chất, tộc loại…đồng thời con người có mặt xã hội, tinh
thần, ngơn ngữ, lao động…hai mặt hợp thành biến đổi và cùng phát triển. bên cạnh
đó, con người vốn là một sinh vật mang đặc tính đầy đủ những đặc trưng của sinh
vật, song con vật có nhiều đặc điểm khác để phân biệt với sinh vật.
Luận điểm nổi tiếng về con người được C. Mác viết trong Luận cương về
Phoi-ơ-bắc (1845): “Bản chất con người khơng phải là một cái gì trừu tượng, cố
hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng
hồ những quan hệ xã hội” 1 .
Với quan niệm đó, C. Mác chỉ ra rằng bản chất con người không phải là trừu
tượng mà là hiện thực, không phải tự nhiên mà là lịch sử. Con người là một thực
thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, nhưng yếu tố xã hội mới là
bản chất đích thực của con người. Ở đây, cá nhân được hiểu với tư cách là những cá
nhân sống, là người sáng tạo các quan hệ xã hội; sự phong phú của mỗi cá nhân tuỳ
1 C.Mác - Ph. Ăngghen (1955), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5


thuộc vào sự phong phú của những mối liên hệ xã hội của nó. Hơn thế, mỗi cá nhân
là sự tổng hợp khơng chỉ của các quan hệ hiện có, mà cịn là lịch sử của các quan
hệ đó.

Như vậy, triết học Mác – Lênin nhìn nhận về con người một cách toàn diện, cụ
thể, xem xét bản chất con người không chung chung, trừu tượng mà đi sâu vào cốt
lõi, hiện thực, cụ thể trong quá trình phát triển của nó.
II. CÁC PHƯƠNG DIỆN TIẾP CẬN NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA CON
NGƯỜI
2.1. Sự hình thành, phát triển con người là một quá trình gắn liền với lịch sử
sản xuất vật chất
Triết học Mác – Lênin tiếp cận sự hình thành, phát triển con người trong lịch
sử sản xuất vật chất và từ đó khẳng định lao động là điều kiện chủ yếu quyết định
sự hình thành và phát triển của con người. Con người phải tìm kiếm mọi điều kiện
cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhhiên như thức ăn, nước uống, hang
động để ở. Đó là quá trình con người đấu tranh với tự nhiên, với thú dữ để sinh tồn.
Trải qua hàng chục vạn năm, con người đã thay đổi từ vượn thành người, điều đó
đã chứng minh trong các cơng trình nghiên cứu của Đácuyn.
Về mặt sinh học, triết học Mác khẳng định thông qua lịch sử sản xuất vật chất,
nhờ lao động mà một lồi sinh vật mới ra đời đó là Homo Sapiens – con người có
lý tính, mang bản chất xã hội. Loa động đã biến đổi bản chất của tự nhiên loài
người, cải tạo khả năng sinh học của con người, bắt bản năng phục tùng lý trí, phát
triển bản năng con người về trạng thái mới về chất. khi lao động sẽ hình thành tất
yếu quan hệ xã hội, thơng qua hoạt động giao tiếp hình thành lên ngơn ngữ, tình
cảm, suy nghĩ tư duy…
C.Mác và Ph.Ănghen đã phân tích như sau: “Có thể phân biệt con người với
súc vật bằng ý thức, bằng tơn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. bản
thân con người bắt đầu bằng việc tự phân biệt với súc vật ngay từ khi con người bắt

6


đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp
sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”2.

2.2. Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa các mặt sinh học và mặt xã
hội
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng
thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố
xã hội.
Con người là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự
nhiên. Các giai đoạn mang tính sinh học mà con người trải qua từ sinh thành, phát
triển đến mất đi quy định bản tính sinh học trong đời sống con người. Như vậy, con
người trước hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trong những cá nhân con người
sống, là tổ chức cơ thể của con người và mối quan hệ của nó đối với tự nhiên.
Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm - sinh lý, các giai đoạn
phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người.
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con
người một cách toàn diện, cụ thể, trong tồn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà
trước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trị lao động sản xuất của con người:
“Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, bằng tơn giáo, nói chung bằng
bất cứ cái gì cũng được”3. Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản
xuất vật chất. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải
vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngơn ngữ
tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành
bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng
đồng xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của
con người luôn bị quy định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau nhưng thống nhất
2 C.Mác và Ph. Ănghen, Tồn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1955, tập 3, tr. 29
3 C.Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1955, tập 3, tr. 29

7



với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môi
trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hoá... quy định
phương diện sinh học của con người. Hệ thống các quy luật tâm lý - ý thức hình
thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm,
khát vọng, niềm tin, ý chí. Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội
giữa người với người.
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh
trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối quan hệ sinh
học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã
hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái sản suất xã hội;
nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ các giá trị tinh thần.
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa
mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi
con người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn
mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với lồi vật. Nhu cầu sinh
học phải được nhân hố để mang giá trị văn minh của con người, và đến lượt nó,
nhu cầu xã hội khơng thể thốt ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học. Hai mặt trên
thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con
người tự nhiên - xã hội.
2.3. Con người tồn tại phát triển trong môi tường cư trú xã hội - hành tinh - vũ
trụ
Con người tồn tại và phát triển luôn luôn ở trong một hệ thống mơi trường xác
định. Đó là tồn bộ điều kiện tự nhiên, xã hội, hay cả điều kiện vật chất lẫn tinh
thần có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của con người và xã hội.
Trong triết học Mác - Lênin, con người được tiếp cận trong hệ thống con người –
môi trường cư trú, từ trái đất đến vũ trụ.
Ở môi trường tự nhiên, con người là một bộ phận của giới tự nhiên, giao tiếp
với tự nhiên và phụ thuộc vào tự nhiên. Thu nhận và sử dụng các nguồn lực của
8



giới tự nhiên để cái biến chúng cho hợp với chính mình. Mặt khác, con người thuộc
về giới tự nhiên, con người phải tuân theo các quy luật tự nhiên, phụ thuộc vào các
q trình cơ, lý, hóa, sinh của hành tinh. Khoa học tự nhiên phát hiện được sự
tương tác giữa “nhịp điệu vũ trụ” với “nhịp điệu sinh học”. từ đó cho thấy rằng con
người mang thuộc tính xã hội – hành tinh – vũ trụ và phụ thuộc vào môi trường cư
trú.
Khác với môi trường tự nhiên thì mơi trường xã hội con người trở thành một
thực thể xã hội và mang bản chất xã hội. Thực chất môi trường xã hội ảnh hưởng
trực tiếp và quyết định đến con người, sự tác động của môi trường tự nhiên đến
từng cá nhân con người thường phải thông qua môi trường xã hội và chịu ảnh
hưởng sâu sắc đến xã hội.
C.Mac khẳng định: “Chừng nào lồi người cịn tồn tại thì lịch sử của họ và
lịch sử tự nhiên quy luật lẫn nhau” 4. Như vậy, bản chất con người là tổng thể hài
hịa giữa các thuộc tính tự nhiên – sinh học – xã hội.
2.4. Con người là một thực thế cá nhân, xã hội
Trong triết học Mác - Lênin, quan hệ giữa cá nhân và xã hội là vấn đề có ý
nghĩa lớn được đề cập một cách toàn diện và sâu sắc trên cơ sở của chủ nghĩa duy
vật lịch sử. Mác nói rằng: “Con người là một thực thể xã hội mang tính cá nhân”5.
Cá nhân là khái niệm chỉ con người cụ thể trong một xã hội nhất định với tư
cách là một cá thể, một thành viên của xã hội ấy do những đặc điểm riêng biệt của
mình mà phân biệt với những thành viên khác của xã hội. Xã hội được biểu hiện ở
nhiều cấp độ khác nhau, cao nhất là xã hội loài người (toàn thể nhân loại), thấp hơn
là những hệ thống xã hội như quốc gia, dân tộc, giai cấp, chủng tộc.
Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội có những nội dung thống nhất với quan hệ
giữa cá nhân và tập thể, chúng đều dựa trên cơ sở lợi ích, biểu hiện mối quan hệ

4 C.Mác và Ph.Ănghen, Tồn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1955, tập 1, tr. 267
5 C.Mác và Ph.Ănghen, Những tác phẩm đầu tay, Mátxcơva, tr. 590


9


giữa cái bộ phận và cái toàn thể, đồng thời thể hiện tính biện chứng vừa thống nhất,
vừa mâu thuẫn.
Trong bất cứ giai đoạn nào, cá nhân cũng không tách rời khỏi xã hội. Là một
hiện tượng lịch sử, quan hệ cá nhân - xã hội luôn luôn vận động, biến đổi và phát
triển, trong đó, sự thay đổi về chất chỉ diễn ra khi có sự thay thế hình thái kinh tế xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác. Trong giai đoạn cộng sản ngun
thuỷ, khơng có sự đối lập giữa cá nhân và xã hội. Lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
là thống nhất. Khi xã hội phân chia giai cấp, quan hệ cá nhân và xã hội vừa có
thống nhất vừa có mâu thuẫn. Những người bị bóc lột khơng có tư cách và điều
kiện để trở thành cá nhân thực sự. Những thành viên thuộc giai cấp bóc lột có đặc
quyền, đặc lợi, được khẳng định tư cách cá nhân đặc trưng cho mỗi thời đại như cá
nhân phong kiến, cá nhân tư sản. Các kiểu cá nhân này đối lập về lợi ích với quần
chúng nhân dân lao động trong xã hội. Trong chủ nghĩa xã hội, những điều kiện của
xã hội mới tạo tiền đề cho cá nhân, để mỗi cá nhân phát huy năng lực và bản sắc
riêng của mình, phù hợp với lợi ích và mục tiêu của xã hội mới. Vì vậy, xã hội xã
hội chủ nghĩa và cá nhân là thống nhất biện chứng, là tiền đề và điều kiện của nhau.
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, xã hội giữ vai trò quyết định đối
với cá nhân. Bởi vậy, thực chất của việc tổ chức xã hội là giải quyết quan hệ lợi ích
nhằm tạo khả năng cao nhất cho mỗi cá nhân tác động vào mọi quá trình kinh tế, xã
hội, cho sự phát triển được thực hiện. Xã hội càng phát triển thì cá nhân càng có
điều kiện để tiếp nhận ngày càng nhiều những giá trị vật chất và tinh thần. Vì vậy,
thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu và lợi ích chính đáng của cá nhân là mục tiêu
và động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội. Bất cứ vấn đề gì, dù là phạm vi nhân loại
hay cá nhân, dù trực tiếp hay gián tiếp, nếu lợi ích cá nhân và xã hội là thống nhất
thì chính ở đó bắt gặp mục đích và động lực của sự nỗ lực chung vì một tương lai
tốt đẹp


10


2.5. Sự thống nhất biện chứng giữa con người giai cấp và con người nhân loại
Con người mang tính nhân loại, đây là thuộc tính vốn có hình thành trong suốt
chiều dài lịch sử. Tính nhân loại là khái niệm chỉ những thuộc tính chủng loại
người mang bản chất xã hội, thể hiện trong nhân cách, năng lực, quan hệ, phẩm
chất con người như tư duy, tưởng tượng, tình cảm, ý chí, hoạt động, nhân ái, dũng
cảm, vị tha, xả thân, …Tính nhân loại phản ánh nhu cầu và sự tất yếu cùng tồn tại
của con người, xã hội người, thể hiện tính cộng đồng trong văn nghệ của các dân
tộc.
Trong xã hội có giai cấp thì con người mang tính giai cấp. Mỗi con người là
một thành viên ở một giai cấp mang địa vị kinh tế xã hội riêng.
Cả hai thuộc tính nhân loại và tính giai cấp luôn song hành và bổ trợ cho nhau.
Con người tồn tại thông qua những cá nhân hiện thực với tư cách là chủ thể hành
động xã hội. Dù trật tự kinh tế xã hội có bị thay đổi nhưng tính nhân loại vẫn ln
ln tồn tại. Cịn trong xã hội chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì khơng bao giờ
có “lợi ích cá nhân thuần khiết” mà nó phải có sự kết hợp giữa các giai cấp. Như
vậy hoạt động thực tiễn không thể tách rời lợi ích giai cấp. mỗi cá nhân trong một
giai cấp vừa mang bản chất của một giai cấp nhất định, vừa mang bản chất chung
của con người và lồi người đó là tính nhân loại.
2.6. Con người thống nhất biện chứng giữa tất yếu và tự do:
Ở mỗi thời kỳ lịch sử, vấn đề tự do và tất yếu cũng là một vấn đề luôn được
triết học quan tâm nghiên cứu. Ph.Ăngghen viết: “Người ta không thể bàn bạc đúng
đắn về đạo đức và pháp quyền mà lại khơng nói đến cái gọi là tự do ý chí, đến trách
nhiệm của con người, đến quan hệ giữa tất yếu và tự do”.
Triết học Mác - Lênin thừa nhận các quy luật của giới tự nhiên bên ngồi, các
quy luật đó là hình thức biểu hiện của tính tất yếu trong giới tự nhiên. Tính tất yếu
trong giới tự nhiên phản ánh khuynh hướng vận động, phát triển chủ yếu của các
quá trình tự nhiên. Tính tất yếu đó thể hiện dưới hình thức các quy luật khách quan.


11


cịn tính tất yếu xã hội được sinh ra từ hoạt động của con người trải qua nhiều thế
hệ, là sản phẩm của quá trình phát triển lịch sử.
Bên cạnh tính tất yếu thì tính tự do là tiền đề, điều kiện cho hoạt động sáng tạo
của con người. Con người ngày càng được tự do chi phối tự nhiên và xã hội một
cách tự giác. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tự do không phải chỉ là tự
do tư tưởng của một cá nhân muốn nghĩ thế nào tùy ý, bất chấp quy luật khách
quan bên ngồi, mà tự do phải là sự nhận thức tính tất yếu và làm theo tính tất yếu
đó.
Như vậy, con người tự do không đối lập với tất yếu mà chúng đồng hành cùng
nhau, con người nhận thức sâu sắc về quy luật tất yếu để hoạt động tự giác. Lịch sử
xã hội loài người là lịch sử mà con người vươn lên giành lấy tự do ngày càng cao
hơn. Con người muốn tự do, trước hết cần giải phóng về mặt xã hội, ổn định tự chủ
kinh tế tạo điều kiện hoạt động tốt nhất để đạt được tự do.
III. YÊU CẦU, NHIỆM VỤ TẬP TRUNG THỰC HIỆN MỤC TIÊU “XÂY
DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG,
TỔ CHỨC, ĐẠO ĐỨC” TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
3.1. Yêu cầu, nhiệm vụ thực hiện mục tiêu
Tại Đại hội Đảng lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiệm vụ Đảng
ta đề ra đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây
dựng văn hóa Đảng: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh
hơn nữa xây dựng chỉnh đốn Đảng tồn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ
chức và cán bộ”6. Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức là “nền tảng”, là “cái gốc”
cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của
Đảng. Xây dựng Đảng về đạo đức thể hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với xây
dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.


6 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG, tr.190, HN, 2021

12


Phương hướng của Đảng là tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Đảng, hết lòng, hết sức
phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn
Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh
đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của
Nhà nước.
3.2. Giải pháp thực hiện mục tiêu
 Thứ nhất, tăng cường xây dựng Đảng về chính trị
Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: Kiên định và không ngừng vận dụng, phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tiễn
Việt Nam trong từng giai đoạn.
Cần nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo của Đảng trong hoạch định đường lối,
chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại.
Đây là nhận thức mới phù hợp với bối cảnh tình hình thế giới, diễn biến rất nhanh
chóng, phức tạp, tác động đến nước ta.
Về tổ chức thực hiện nghị quyết, việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghị quyết
Đảng đây vẫn là khâu yếu, còn hạn chế, năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ chưa
đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Từ đó cần kịp thời thể chế, cụ thể hoá, triển khai
đúng đắn, hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Nâng cao
lập trường, bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, tính chiến đấu của cấp uỷ, tổ chức
đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt
các cấp, cán bộ cấp chiến lược.
Thực hành dân chủ trong Đảng gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của

Đảng. Đây là nhiệm vụ, giải pháp rất quan trọng, là một vấn đề thuộc bản chất của
Đảng ta.
 Thứ hai, coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng

13


Để xây dựng đảng về tư tưởng vững mạnh, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội
dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và
hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên
truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường
lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Cần nắm chắc, dự báo đúng, định hướng chính xác, xử lý đúng đắn, kịp thời
các vấn đề tư tưởng trong Đảng, trong xã hội. Chú trọng nắm bắt, định hướng dư
luận xã hội, bảo đảm thống nhất tư tưởng trong Đảng, đồng thuận cao trong xã hội.
Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận
về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam. Gắn kết tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận, định hướng chính
sách… Chú trọng cập nhật kết quả tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; sớm kết
luận những vấn đề lý luận đã chín, đã rõ, phát triển, hoàn thiện đường lối, chủ
trương xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên
đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh,
ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu
hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.
 Thứ ba, tập trung xây dựng Đảng về đạo đức
Xây dựng Đảng về đạo đức là công việc thường xuyên, lâu dài, kết hợp chặt
chẽ “xây” và “chống” với quyết tâm chính trị và sự nỗ lực cao của tồn Đảng, của
mỗi tổ chức đảng, của từng đảng viên, đặc biệt là trách nhiệm nêu gương của người
đứng đầu.

Nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên.
Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, thực hiện thường xuyên, sâu, rộng, có hiệu
quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với
việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị.
Thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao
càng phải gương mẫu, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ
viên Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí
14


lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan toả, thúc đẩy các phong trào
cách mạng. Coi trọng kiểm tra, giám sát trong Đảng kết hợp với phát huy vai trò
giám sát của cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, báo chí và nhân dân đối với
cán bộ, đảng viên thực hiện các quy định nêu gương.
Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần
“Đảng ta là đạo đức, là văn minh” cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống
văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Xây dựng các chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán
bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày. Đẩy mạnh
giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và
trách nhiệm của mình, ln vững vàng trước khó khăn, thách thức và khơng bị cám
dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực
hành đạo đức cách mạng.
 Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng Đảng về tổ chức
Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị
tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tổng kết các mơ hình thí điểm về tổ chức bộ
máy của Đảng và hệ thống chính trị, khắc phục sự chồng chéo và những bất hợp lý
trong tổ chức của Đảng và tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.
Rà sốt, sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối
quan hệ cơng tác của các loại hình tổ chức cơ sở đảng phù hợp với tiến trình đổi
mới, sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị. Nâng cao vai

trị, trách nhiệm giáo dục, quản lý, rèn luyện, kiểm tra, giám sát đảng viên; đổi mới
nội dung, phương thức hoạt động, sinh hoạt của chi bộ.
Nâng cao chất lượng đảng viên. Phát hiện, quy hoạch, bồi dưỡng, phát huy vai
trò những đảng viên ưu tú, có triển vọng, chuẩn bị nguồn cán bộ chủ chốt các cấp.
Đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên trong cơng nhân trực tiếp sản xuất, trí thức
và doanh nhân. Phát hiện, bồi dưỡng, kết nạp vào Đảng những thanh niên ưu tú
trưởng thành trong phong trào lao động, học tập, trong lực lượng vũ trang, tạo
nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị các cấp.
Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm
chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết
15


là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực
nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo,
dám đương đầu với khó khăn, thử thách. Thực hiện tốt quy định về kiểm soát
quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; xử lý nghiêm minh,
đồng bộ kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ có
vi phạm, kể cả khi đã chuyển cơng tác hoặc nghỉ hưu.
 Thứ năm, tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám
sát, kỷ luật đảng
Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế nhằm giữ nghiêm kỷ luật,
kỷ cương, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Cải
tiến, đổi mới phương pháp, quy trình, kỹ năng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật
đảng bảo đảm khách quan, dân chủ, khoa học, đồng bộ, thống nhất, thận trọng, chặt
chẽ, khả thi, trong đó tập trung vào các cơ chế, biện pháp chủ động phát hiện sớm
để phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên; có
chế tài để phịng ngừa, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm kỷ luật đảng.
Triển khai quyết liệt, thường xuyên, toàn diện, đồng bộ công tác kiểm tra,
giám sát, kỷ luật đảng, phục vụ thực hiện nhiệm vụ chính trị, cơng tác xây dựng,

chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng,
người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những nơi dễ xảy ra vi phạm, nơi có nhiều bức
xúc nổi cộm, dư luận quan tâm; xử lý kịp thời, kiên quyết, triệt để, đồng bộ,
nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Tăng cường quản lý, kiểm tra,
giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp để kịp
thời phát hiện, ngăn chặn từ xa, từ đầu, giải quyết từ sớm, không để vi phạm nhỏ
tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng, lãng phí nguồn lực, khơng hiệu quả.
 Thứ sáu, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào
nhân dân để xây dựng Đảng
Về nhận thức, Đại hội XIII nhấn mạnh: Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong
nhận thức, hành động của các cấp uỷ đảng, hệ thống chính trị về cơng tác dân vận;

16


có cơ chế phát huy vai trị của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị
trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới.
Cần phát huy vai trị, sự tham gia của nhân dân trong xây dựng, ban hành tổ
chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên
cơ sở bảo đảm hài hồ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân, giữa các
vùng, miền; quan tâm đến các đối tượng yếu thế trong xã hội.
Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hoá, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà
nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân
dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống
chính trị, phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả cơng
việc, sự hài lịng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá
chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên.
 Thứ bảy, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phịng, chống tham nhũng, lãng
phí

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, với
quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn. Kết
hợp chặt chẽ giữa tích cực phịng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh,
kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham
nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, lãng phí, khơng có vùng cấm.
Củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn
dân tộc.
Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà
nước về kinh tế - xã hội, về kiểm tra, giám sát và phòng, chống tham nhũng, lãng
phí, nhất là các quy định về kiểm sốt quyền lực, trách nhiệm người đứng đầu,
trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; cơ chế bảo vệ,
khuyến khích những người làm cơng tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý tham
nhũng cũng như với người tố cáo, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí,
đồng thời xử lý nghiêm những người lợi dụng chống tham nhũng, lãng phí để vu
17


khống, gây mất đồn kết nội bộ; kiểm sốt có hiệu quả tài sản, thu nhập của người
có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Bên cạnh đó cần đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương, nâng cao thu nhập
và có chính sách nhà ở, bảo đảm cuộc sống để cán bộ, công chức, viên chức yên
tâm công tác.
 Thứ mười, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng
trong điều kiện mới
Về xây dựng quy chế, quy định, quy trình, cần tiếp tục cụ thể hoá phương thức
lãnh đạo của Đảng ở tất cả các cấp bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể
và cơng khai để cán bộ, đảng viên và nhân dân biết, giám sát việc thực hiện. Đẩy
mạnh việc phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ
việc thực hiện phân cấp, phân quyền, chống tha hố quyền lực; có cơ chế để các địa
phương phát huy quyền chủ động, sáng tạo, gắn với đề cao trách nhiệm, đồng thời

bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý thống nhất của Trung ương.
Về phương pháp, phong cách, lề lối làm việc, cần đổi mới phương pháp,
phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới
cơ sở; xây dựng và thực hiện phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, trọng
dân, gần dân, hiểu dân, vì dân, bám sát thực tiễn, chịu khó học hỏi, nói đi đơi với
làm.

KẾT LUẬN
Vấn đề tha hóa con người, trong quan điểm của C.Mác và Ăngghen trong giai
đoạn hiện nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn,
là cơ sở lý luận khoa học để Đảng và nhà nước ta nhận diện các biểu hiện của sự
tha hóa con người để từ đó có những biện pháp đồng bộ, quyết liệt khắc phục sự
tha hóa này. Điều này đã minh chứng cho sự đúng đắn, khoa học, giá trị vượt thời
đại của chủ nghĩa Mác – Lênin và một lần nữa bác cỏ những luận điệu xuyên tạc,
18


bôi nhọ, vu khống cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin đã lỗi thời và khơng cịn ý
nghĩa thời đại.
Trong thời đại ngày nay, khi đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc tiếp tục
diễn biến phức tạp, thì sự phát triển của con người phải gắn liền với giải phóng dân
tộc và giải phóng xã hội khỏi những quan hệ áp bức, bóc lột và nơ dịch, thơng qua
cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vì độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, tạo ra những điều kiện xã
hội mang tính nhân văn. Qua đó, để con người có thể “sáng tạo ra bản thân mình
bởi chính mình”, để mỗi dân tộc và tồn nhân loại thực hiện sự chuyển hóa từ
“vương quốc của tất yếu” lên “vương quốc tự do” theo tư tưởng về sự giải phóng
con người trong học thuyết Mác.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1, TS. Ngọ Văn Nhân, tên giáo trình
2, GS.TS. Phạm Văn Đức (chủ biên), Giáo trình triết học Mác – Lê nin, Nxb Hà
Nội, 2019.
3, ThS. Nguyễn Thị Duyên, Tìm hiểu luận điểm của C.Mác về bản chất con người
và ý nghĩa trong phát huy nguồn lực con người Việt Nam hiện nay (2021),
/>19


4, ThS. Trần Thị Tươi, Quan điểm triết học Mác - Lênin về tự do và tất yếu trong
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (2021),
/>5, ThS. Bùi Hải Ninh – ThS. Trần Bá Tấn, Xây dựng Đảng về đạo đức theo Nghị
quyết Đại hội XIII (2021), />6, PGS.TS Nguyễn Viết Thông, Những nội dung mới về xây dựng, chỉnh đốn Đảng
trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng (2021), />
20



×