Tải bản đầy đủ (.docx) (156 trang)

Tổng hợp văn 12 (cả năm)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.15 MB, 156 trang )

Văn bản: TÂY TIẾN
-Quang DũngBài thơ tiêu biểu nhất trong sự nghiệp sáng tác của nhà thơ
Quang Dũng, giúp nhà athơ này
đến gần hơn với bạn đọc. Đồng thời là thi phẩm tiêu biểu của
thơ ca kháng chiến chống Pháp.
“Tây Tiến biên cương mờ lửa khói
Quân đi lớp lớp động cây rừng
Và bài thơ ấy con người ấy
Vẫn sống muôn đời với núi sơng”
(Giang Nam)
I. THƠNG TIN TÁC GIẢ: Quang Dũng
Từ khóa - Đa tài
- Đề tài: người lính và q hương
- Phong cách thơ: Hồn hậu, phóng khống, lãng mạn, tài hoa
- Nhà thơ - chiến sĩ
- Tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Pháp
Quang Dũng được biết đến trong nền văn học Việt Nam hiện
đại là một người nghệ sĩ đa tài: làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc,
viết kịch, viết truyện... thứ gì người nghệ sĩ này cũng làm giỏi
cả. Trong quá trình sáng tác thơ của mình, thơ ơng nổi bật
với sự hồn hậu, phóng khống, lãng mạn, tài hoa. Ông là một
trong số những nhà thơ tiêu biểu của thơ ca kháng chiến
chống Pháp. Quang Dũng cũng coi trọng sứ mệnh cao quý
của nghệ thuật văn chương nên rất đố kỵ với hạng nhà giàu
muốn đánh đổi tác phẩm văn chương bằng tiền bạc. Khi
nhận được thư của một đại gia mời nhà thơ nổi tiếng đến tận
nhà sáng tác thơ để được biếu tiền, Quang Dũng không ngại
từ chối và chua chát “Văn chương chữ nghĩa rẻ rúng đến thế
ư?”
Dù nổi tiếng, nhà thơ Quang Dũng rất chân chất, khiêm tốn,
sống đạm bạc và khơng thích khoa trương hoặc nói về mình,


tác phẩm của mình. Trong trị chuyện, quan hệ giữa bạn bè,
ơng hay lắng nghe người khác nói, hơn là đặt vấn đề dù ai
cũng biết Quang Dũng có vóc ngườitầm thước, đẹp trai và
rất giỏi về văn nghệ. Là một trong những nhà thơ nổi tiếng
nhất Việt Nam, các tác phẩm của Quang Dũng được thừa
nhận như là một sự khác biệt hoàn toàn trong phong trào thơ
mới những năm 1932-1945.
Câu chuyện thú vị về Quang Dũng:
Người ta hay nhắc lại tính mê chủ nghĩa xê dịch kiểu Nguyễn
Tuân của tác giả Tây Tiến. Nhà văn Đỗ Chu, trong một lần
hợp mặt bạn văn kháng chiến đã bật mí về một quãng đời đầy
chất lãng mạn của Quang Dũng. Nhà thơ rủ một người bạn
họa sĩ nổi tiếng ở Thủ đô, tạo một chiếc xe trâu định hành
phương Nam. Trên đường đi, hai người định kiếm ăn độ nhật
bằng cách ghé vào những nơi phố xá, chỗ đơng người vẽ
tranh bán vì Quang Dũng cũng là một tay vẽ giỏi. Đi giữa

đường thì trâu bị bệnh, khơng kéo xe được nữa, hai người
phải bán trâu và xe đi.
Ông bạn họa sĩ đồng hành nản lịng, bỏ về Bắc. Quang Dũng
một mình, sang xe lửa tiếp tục vào Nam. Khi đến tận Sài
Gòn, nhà thơ lại đáo sang Campuchia, rồi cuối cùng quay về
Hà Nội. Sau đó, vì mê cách mạng, Quang Dũng sang Trung
Quốc để tìm cách mạng hoạt động nhưng cũng khơng xong
nên đành trở lại q nhà. Với gia đình, vốn có thể lực khỏe
mạnh, Quang Dũng gánh vác hết mọi công việc nặng nhọc
trong nhà, lúc nào cũng thể hiện sự quan tâm và lòng yêu
thương vợ con.Với bạn bè, nhà thơ Quang Dũng rất nể trọng
và thường lui tới với các văn nghệ sĩ nổi tiếngnhư Nguyễn
Đình Thi, Văn Cao, Tơ Hồi, Nguyễn Tn, Trần Lê Văn, cơ

Xn Quỳnh, họa sĩ Phan Kế An... Nhà cửa đơn sơ trang trí
với vài bức tranh trên vách do Quang Dũng vẽ bằng mực tàu.
Cả nhà thường ăn uống đạm bạc. Theo lời người con gái út
Bùi Phương Thảo, nhiều khi khách đến chơi nhà, chỉ có vài
đĩa đậu phộng, đậu nành để tiếp khách nhưng mọi người vẫn
trò chuyện nhau vui như bắp rang.
(Nguyễn Thanh - Trích vanchuongviet.org)
II. THƠNG TIN TÁC PHẨM
Bài thơ “Tây Tiến” được sáng tác vào năm 1948 - Khi tác giả
đi tham dự Đại hội thi đua ở làng Phù Lưu Chanh.
Cách ghi nhớ về hoàn cảnh sáng tác chi tiết của bài thơ
như sau:
● 1947: Quang Dũng ra nhập binh đoàn Tây Tiến từng giữ
chức vụ đại đội trưởng.
● 1948: Sau đó 1 khoảng thời gian không lâu điều chuyển
sang đơn vị khác.
● 1948: Tham gia Đại hội thi đua ở Phù Lưu Chanh, bao
nhiêu nỗi nhớ về những người đồng chí, đồng đội của mình
đã thúc giục Quang Dũng viết bài thơ Tây Tiến.
Bài thơ này ban đầu có tên là “Nhớ Tây Tiến” nhưng sau khi
in lại đã được tác giả đổi tên thành “Tây Tiến” (1957)
*Thơng tin về binh đồn Tây Tiến: Tây Tiến là một đơn vị
quân đội được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với
quân đội Lào chống quân đội của thực dân Pháp. Chiến sĩ
trong đoàn qn này phần đơng là thanh niên Hà Nội, trong
đó có nhiều học sinh, sinh viên(như nhà thơ Quang Dũng).
Chiến đấu khắp các địa bàn thuộc tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hịa
Bình, miền Tây Thanh Hóa, Sầm Nứa (Lào), trong những
hồn cảnh rất gian khổ, vơ cùng thiếu thốn, bệnh sốt rét
hoành hành dữ dội, nhưng "họ sống rất lạc quan và chiến đấu

dũng cảm”.


Để hiểu rõ hơn về tác giả Quang Dũng và bài thơ “Tây Tiến",
các em có thể tham khảo bài báo dưới đây được ghi lại bởi
VŨ VĂN SỸ (GHI THEO LỜI KỂ CỦA NHÀ THƠ
QUANG DŨNG)
Đối với tôi, những ngày Tây Tiến không hẳn là những ngày in
kỷ niệm sâu sắc hơn cả. Nhưng có lẽ nhiều người hay hỏi về
bài thơ Tây Tiến của tôi viết ở giai đoạn này.
Tôi nhập ngũ đúng ngày Cách mạng tháng Tám thành cơng.
Năm đó tơi hai mươi sáu tuổi. Trước cách mạng, tôi học Ban
trung học trường Thăng Long. Tốt nghiệp, tôi đi dạy học
tư ở Sơn Tây để kiếm sống. Những ngày đầu vào quân đội,
tôi nhận công tác ở Phịng cơng vụ Bắc Bộ. Phịng này
do anh Nguyễn Văn Chân phụ trách. Tơi làm phái viên của
phịng, có nhiệm vụ đi thu mua vũ khí ở vùng Hà Nam – Sơn
Tây. Thấy tơi có chút học hành, lại u mến văn chương, anh
Chân liền giới thiệu tôi lên chiến khu làm cơng tác báo chí.
Ngày đó văn hóa, văn nghệ, báo chí, tuyên truyền trong quan
niệm và cả trong công việc, ranh giới không rõ. Như vậy là
“sựnghiệp” văn chương của tôi bắt đầu bằng nghề báo. Tôi
trở thành phóng viên tiền phương của tờ báo Chiến đấu
thuộc Khu II. Tờ báo do anh Văn Phác phụ trách, sau này,
anh Văn
Dỗn lên thay.
Tơi u thơ và làm thơ hồn tồn ngẫu nhiên. Thời đi học tơi
rất mê Đường chi tam bách thủ, nhất là những bài dịch của
nhà thơ Tản Đà. Tôi cũng say thơ mới như bất cứ một học
sinh nào thời đó. Nhưng tơi thích thơ Thế lữ hơn cả, đặc biệt

bài Nhớ rừng, bởi tâm trạng sơn dã của nó. Một nhà văn nữa
là Thạch Lam. Thạch Lam khơng chỉ viết văn mà cịn dịch
những bài thơ văn xi của Pháp. Và có lẽ tơi tiếp thu được
gì ở thơ ca Pháp ngày ấy, cũng do đọc các bản dịch này. Khi
làm cơng tác báo chí tơi lại càng thấy thích văn phong của
Thạch Lam. Hà Nội ba mươi sáu phố phường của Thạch Lam
là một tập bút ký giàu chất thơ. Nhưng phải nói đến một cuốn
tiểu thuyết của nhà văn Nga Gôgôn: Tarax Bunba. Tôi
yêu những con người Cô dắc dũng cảm, yêu tự do, sống
phóng khống, gắn bó với thanh gươm, n ngựa và những
chiến công trên những thảo nguyên mênh mông như những
chiến khu di động chống lại bọn phong kiến xâm lược bảo vệ
nền độc lập dân tộc. Tơi thấy có một sự đồng cảm nào đó
giữa mình với các nhân vật của truyện. Sau này đi Tây Tiến,
tơi vẫn cịn mang Tarax Bunba theo trong ba lơ của mình.
Tơi ở báo Chiến đấu đến đầu năm 1947 thì được điều đi học
Trường bổ túc Trung cấp (tức Trường bổ túc trung cấp quân
sự Sơn Tây). Trường chuyên bổ túc kỹ thuật quân sự cho
cán bộ chuẩn bị nhận nhiệm vụ chiến đấu mới.
Việc mặc áo lính, và là một cán bộ trong qn đội, đối với tơi
ngày ấy có ý nghĩa thiêng liêng và tự hào lắm.

Những tháng học ở trường, tơi nhớ mãi hình ảnh vị giáo sư
qn sự người Nhật như một kiểu mẫu sĩ quan mà chúng tơi
mơ ước và kính nể. Giáo sư có cái tên Việt Nam là Lâm Sơn.
Đại tá Lâm Sơn. Ông là sĩ quan cao cấp trong Bộ chỉ huy,
thành lập từ ngày đầu kháng chiến. Giáo sư lên lớp bằng
tiếng Nhật, có người thơng ngơn. Giọng ơng sang sảng nghe
đầy
uy quyền. Kỷ luật trong trường quân sự hồi đó rất nghiêm

khắc, nếu như bây giờ có thể gọi là “quân phiệt”. Giờ học đã
đành, giờ nghỉ cũng rất “khn phép”. Có lần tôi uống cà
phê
về muộn, cảnh vệ bắt được, cứ lo như ngày nhỏ trốn học bị .
Anh biết sau đótơi bị phạt thế nào khơng? Sáng thứ hai đầu
tuần, sau lúc chào cờ, đại tá bắt tơi bị bốn vịng quanh cột
cờ. Tơi bị một cách tự giác, bởi nghĩa rằng , đã mặc áo lính
tất phải chịu những hình phạt đại loại như thế, nếu như mình
vi phạm kỉ luật.
Có lần Bác Hồ đến thăm trường. Tơi nhớ Bác cịn nói cho
chúng tơi nghe một cuốn sách viết về chiến tranh du kích.
Vốn giàu óc tưởng tượng về hành động chiến đấu của người
lính, tơi rất thú hình ảnh người du kích. Bac nói: “lại vơ ảnh,
khứ vơ hình”, nghĩa là đến và đi khơng ai thấy. Chỉ nội mấy
cái âm chữ Hán, đọc lên nghe đã xuất quỷ nhập thần rồi,
chưa
nói đến việc vận dụng nó vào chiến thuật qn sự.
Hơm bế mạc lớp, đồng chí Hồng Văn Thái, Tổng tham mưu
trưởng quân đội, và đồng chí Đàm Quang Trung, có đến dự
và nói chuyện. Sau lớp học, tơi về Trung đồn Tây Tiến, tức
là Trung đồn 54. Anh Tuấn Sơn làm Trung đồn trưởng. Tơi
ở đại đội bộ, làm đại đội trưởng. Tiểu đoàn 212 của tơi là
tiểu đồn trước đây đã từng làm náo động các sân bay Cát
Bi, Bạch Mai... bây giờ chuyển sang nhận nhiệm
vụ Tây Tiến.
Tây Tiến là một chiến dịch tiến quân từ Khu III, Khu IV lên
Khu X tức là Tây Bắc, vùng Điện Biên Phủ. Đây là chiến
dịch có ý nghĩa chiến lược. Năm 1945 khi khắp nơi nổi dậy
cướp chính quyền thì nhân dân vùng này nhiều nơi vẫn chưa
được giác ngộ cách mạng. Năm 1946, trung đoàn Sơn La có

đánh vào Tây Bắc, nhưng mới chỉ có ý nghĩa thăm dò. Đầu
năm 1947 ta thành lập Trung đồn Tây Tiến đầu tiên, gồm
các chiến sĩ tình nguyện của Khu III, Khu IV và tự vệ Thành
Hà Nội trước thuộc Trung đồn Thủ đơ. Đợt Tây Tiến đầu
tiên, ta đánh sâu nhưng phải rút lui ngay, vì lực lượng địch
tập trung và mạnh. Tôi đi đợt hai. Nhiệm vụ của chúng tôi là
mở đường qua đất Tây Bắc. Một nhiệm vụ không kém phần
quan trọng là công tác dân vận gây dựng cơ sở, tranh thủ sự
giác ngộ của nhân dân. Vì thế đi đơi với chức vụ đại đội
trưởng, tơi cịn được cử làm Phó đồn tun truyền Lào Việt.
Giai đoạn này Hà Nội đang có tiếng súng ở ngoại thành.
Chúng tôi xuất phát từ Sơn Tây. Lúc đầu rất đàng hồng đi
bằng ơ tơ, các ơtơ nổi tiếng lúc bấy giờ như của hãng Con


Thỏ, Trung Hà, Từ Đường, Mỹ Lâm... đều được Chính phủ
công làm nhiệm vụ quân sự. Chúng tôi đi qua đường số 6 qua
suổi Rút. Thị trấn Hịa Bình năm ấy cịn tự do. Sau, chúng tơi
chuyển sang hành qn bằng đôi chân, thực sự nếm mùi Tây
Tiến: ăn rừng, ngủ rừng.
Những cái dốc thăm thẳm “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”,
những chiều “oai linh thác gầm thét”, những đêm “Mường
Hịch cọp trêu người”, rồi rải rác dọc biên cương những
“nấm mồ viễn xứ”... tôi mô tả trong bài thơ Tây Tiến là rất
thực, có pha chút âm hưởng Nhớ rừng của Thế Lữ, mà sau
này vơ tình tơi mới nhận ra... trong bài thơ Tây Tiến, tơi cịn
viết “Tây Tiến đồn qn khơng mọc tóc”. Hồi ấy trong đồn
chúng tơi rất nhiều người sốt rét trọc cả đầu. Trong điều kiện
gian khổ, thiếu thốn, mình lại khơng giữ vệ sinh, và lại có giữ
cũng chả được, nên bộ đội khơng những bị ốm, mà cịn chết

vì sốt rét rất nhiều. Chúng tơi đóng qn ở nhà dân, cứ mỗi
lần nghe tiếng cồng nổi lên, lại tập trung đến nhà trưởng
thôn để tiễn một con người vĩnh biệt rừng núi. Tiếng cồng ở
Tây Tiến thật buồn đến nẫu ruột. Kể chuyện lại, bây giờ tôi
vẫn nghe văng vẳng tiếng cồng. Anh Như Trang hồi ấy là tiểu
đồn phó, có viết ca khúc tiếng cồng quân y là vì vậy.
Đối với miền Tây, gay nhất là thuốc, vì đường tiếp tế rất khó.
Tơi nhớ có lần được thuốctừ Khu II gửi lên. Cụ Thi Sơn trong
Mặt trận Liên Việt tặng thuốc (nguyên cụ Thi Sơn là tướng
của Đề Thám). Trong buổi lễ trao thuốc long trọng này, Anh
Hồng Thanh, chính uỷ Trung đoàn, đã thay mặt bộ đội nhận
thuốc. Anh cịn làm cả thơ. Tơi cịn nhớ mấy câu:
Một buổi sớm mọi người đều hoan hỉ
Từ bệnh nhân đến bác sĩ đều vui
Vì được tin kháng chiến chiến Khu II
Vừa gửi tặng 3.000 viên thuốc sốt...
Khơng hiểu cảm động vì có thuốc hay vì nghe thơ, mà anh
Hồng Thanh đọc xong, ai cũng rưng rưng nước mắt...
Tôi muốn gợi thêm một ý của bài thơ Tây Tiến để nói lên cái
gian khổ, thiếu thốn ở miền Tây. Ngay cả khi nằm xuống,
nhiều tử sĩ cũng khơng có đủ manh chiếu liệm. Nói “áo bào
thay chiếu” là cách nói của người lính chúng tơi, cách nói
ước lệ của thơ trước đây để an ủi những đồng chí của mình
đã ngã xuống giữa đường. Bài thơ Tây Tiến tôi làm khi về dự
Đại hội toàn quân ở Liên khu III, làng Phù Lưu Chanh (thuộc
tỉnh Hà Đông cũ nay thuộc về Hà Nội). Tôi làm thơ rất
nhanh, làm xong đọc trước Đại hội, được mọi người hoan
nghê liệt nhiệt. Nhân có Nguyễn Huy Tưởng, đại biểu nhà
văn
ở Việt Bắc về dự, lúc đi, tôi gửi anh luôn. Sau anh Xuân Diệu

cho in ngay ở Tạp chí Văn nghệ. Hồi đó tấm lịng và cảm xúc
của mình ra sao thì viết vậy. Tơi chả có chút lý luận gì về
thơ cả. Dẫu sao bài thơ Tây Tiến có cái hào khí của lãng mạn
một thời gắn với lịch sử kháng chiến anh dũng của dân tộc...
Từ Tây Tiến trở đi tôi làm nhiều thơ hơn. Các bài Đường
mươi hai, Ngược đường số 6, Đôi mắt người Sơn Tây cũng là
những bài thơ mà tơi thích.

Cuối năm 1948, sau chiến dịch Tây Tiến, tơi về làm trưởng
tiểu ban tuyên huấn của Trung đoàn 52... Rồi làm trưởng
đoàn Văn nghệ Liên khu III.Tháng 8 năm 1951, tơi xuất ngũ.
Cịn cái trung đồn Tây Tiến của tơi, hình như sau nàyđược
phân chia, bổ sung để thành lập sư đồn 320 thì phải.
Nhận xét về tác giả và tác phẩm
1. “Quang Dũng đứng riêng một ốc đảo, đặc biệt với bài thơ Tây Tiến,
ơng khơng có điểm gì chung với những nhà thơ khác, ơng đứng biệt lập
như một hòn đảo giữa các nhà thơ kháng chiến”. - Vũ Quần Phương
2. “Một bài thơ kỳ diệu và có một vị trí đặc biệt trong lịng cơng chúng,
một bài thơ được kỷ niệm 60 năm ngày sáng tác (năm 2008), một bài
thơ làm sống dậy cả một trung đoàn, khiến địa danh Tây Tiến trường
tồn trong lịch sử và ký ức mỗi người. Nó như một viên ngọc sáng trong
tâm hồn Việt, tấm lòng Việt và thơ ca Việt”. - Nhà phê bình văn học
Nguyễn Xuân Nguyên
3. Nhà thơ Quang Dũng khu biệt độc lập như một ốc đảo cheo leo giữa
biển khơi xa vắng và lẻ loi hiu quạnh như một vì sao cơ độc trong
khơng gian văn chương kháng chiến, nhưng là một người thơ (2) tài
năng hiếm hoi, khơng khác chi một lồi hoa lạ ngan ngát hương rừng.
Với những bài thơ xuất sắc được nhiều người, đa phần là sinh viên
học sinh và cả những chiến sĩ cách mạng và lính cộng hịa ưa thích,
Quang Dũng, tác giả “Tây Tiến” xứng đáng là ngịi bút thơ áo lính tài

hoa trong thi đàn dân tộc. - Nguyễn Thanh
4. Nhà thơ Quang Dũng như "bóng mây qua đỉnh Việt" và là một áng
mây bay qua sông núi nước Việt. Mây Quang Dũng bay đến đâu, hoa lá
cỏ cây và núi sơng như có hồn theo đến đấy. - Nhà thơ Vân Long
5. “Quang Dũng cũng là một cây bút năng nổ, người ta còn nhớ tên bài
bút ký ‘Xiếc khỉ’ của ông nhưng cần biết rằng bài đó nằm trong cả loạt
bút ký mà Quang Dũng gọi là “tập ảnh” về các sinh hoạt văn hóa văn
nghệ ngoài đời thường của dân thường ở vùng Hà Nội đương thời.”
- Lại Nguyễn Ân
6. “Câu thơ như một tuyệt bút thiên nhiên về sông Mã. Tôi chưa đọc
câu thơ nào viết về sông Mã hay hơn thế. Âm vang của câu thơ là khí
tiết của con sơng chiến trận, quả cảm và dũng mãnh trong độc khúc
binh lửa của mình mà tạo nên chất hiệp sĩ của tứ thơ.“
- Nhà thơ Phan Quế
7. “Tây Tiến là sự tiếp tục của một dòng thơ lãng mạn nhưng đã được
tác giả thổi vào hồn thơ rất trẻ, rất mới, khác hẳn những tiếng thơ bi lụy
não nùng. Cũng khơi nguồn cảm hứng từ một thời gian khổ và oanh liệt
của lịch sử đất nước nhưng Tây Tiến đã được thể hiện một cách đặc sắc
qua ngòi bút Quang Dũng, với một tâm trạng cụ thể- nỗi nhớ đồng đội
trong đoàn quân Tây Tiến. Chính niềm thương nhớ da diết và lòng tự
hào chân thành của tác giả về những người đồng đội của mình đã khiến
người đọc của nhiều thế hệ rung cảm sâu xa và đó cũng chính là âm
hưởng chủ đạo của bài thơ này...” .
– Vũ Thu Hương, in trong Vẻ đẹp văn học cách mạng
8. “... Tây Tiến- tượng đài bất tử về người lính vơ danh...”
- Vũ Thu Hương
9. “... Tây Tiến ... nơi mà con người Tây Tiến, chiến sĩ Tây Tiến, núi
rừng Tây Tiến đã vượt ra ngoài những cảm quan ban đầu của hồn thơ
Quang Dũng để đến với đại ngàn thi hứng. Nơi ấy, cuồn cuộn dòng
chảy lạnh lùng và đa tình, hiện thực và lãng mạn, bi và tráng. Một Tây

Tiến khơng chỉ níu kéo bước chân người lính trong nỗi niềm nhớ... Tất
cả đều gợi ấn tượng của sự “lạ hóa”, của những vẻ đẹp kì ảo khó gọi
tên...”. – Đinh Minh Hằng, in trong Vẻ đẹp văn học cách mạng
10. “...Tây Tiến- sự thăng hoa của một tâm hồn lãng mạn”
- Đinh Minh Hằng
11. “... Tôi làm bài thơ này rất nhanh. Làm xong, đọc trước đại hội
được mọi người hoan nghênh nhiệt liệt. Hồi đó tấm lịng và cảm xúc


của mình ra sao thì viết vậy. Tơi chả chút lị luận gì về thơ cả...” Quang Dũng

III. NỘI DUNG TÁC PHẨM
Bố cục phân tích:
1 14 câu thơ đầu: Hình ảnh người lính Tây Tiến

gắn liền với thiên nhiên miền Tây và những
chặng đường hành quân gian khổ.
2 8 câu thơ tiếp: Kỷ niệm về đêm liên hoan văn
nghệ đốt lửa trại và buổi chiều sông nước Tây
Bắc mênh mang, mờ ảo.
3 8 câu thơ tiếp: Hình tượng người lính Tây Tiến
hào hùng, hào hoa, lãng mạn và bi tráng.
4 4 câu thơ cuối: Khúc vĩ thanh

2-2 -4 -2–2-2
4-4
2-2-4
2-2

1. 14 câu thơ đầu: Hình ảnh người lính Tây Tiến gắn liền

với thiên nhiên miền Tây và những chặng:
Kiến thức khái quát:
 Câu: 2 câu đầu
- Mở đầu bài thơ bằng một tiếng gọi đầy thiết tha, trìu mến.
- Các hình ảnh xuất hiện trong câu thơ:
+ Hình ảnh dịng sơng Mã - Con sông gắn với chặng đường hành
quân, gắn với những kỷ niệm của binh đồn Tây Tiến
+ Hình ảnh binh đoàn Tây Tiến - Nỗi nhớ trực tiếp hướng tới
binh đoàn Tây Tiến
=> Nhận ra tất cả đã “xa rồi", chỉ còn trong kỷ niệm. Từ “xa rồi”
là điểm rơi thấp nhất của câu thơ, gợi ra một khoảng hụt hẫng.
- Nỗi nhớ được đề cập đến: “nhớ về rừng núi" - nhớ thiên
nhiên Tây Bắc.
- “Nhớ chơi vơi" - Nỗi nhớ thật đặc biệt có thể hiểu theo ý
nghĩa:
+ Đang đứng giữa lưng chừng nỗi nhớ, một nỗi nhớ
da diết, mênh mang
+ Nỗi nhớ quá rộng không biết đi về nẻo nào của
nỗi nhớ thương
- Gieo vần “ơi” - âm mở, tạo ra dư ba cho câu thơ.
 Câu: 2 câu tiếp
- Hai địa danh Sài Khao, Mường Lát vốn là mốc không gian địa
lý nay trở thành mốc thời gian lịch sử, in dấu những kỷ niệm của
một thời chiến binh.
- Hình ảnh người lính Tây Tiến:
+ Sài Khao: Hình ảnh đồn binh mỏi mệt đi giữa một biển
sương mờ phủ lấp
+ Mường Lát: Xóa tan đi sự mệt mỏi, cân bằng lại với
hương thơm của hoa rừng nở về đêm.
+ Dùng từ ngữ rất tinh tế: “hoa về”, “đêm hơi”

 Câu: 4 câu tiếp
- Đặc tả sự dữ dội và bình yên của thiên nhiên Tây Bắc
+ Dốc: khúc khuỷu, thăm thẳm => Từ láy: Địa hình gập ghềnh,
hiểm trở, gấp gãy => Khó đi; “Đèo cao, dốc đứng".
+ Đặc tả độ cao: Cồn mây heo hút - Hình ảnh: những người
lính Tây Tiến đang hành quân qua những đồi núi chập chùng,
núi cao tới nỗi súng có thể chạm vào mây.
+ Hình ảnh “súng ngửi trời": sử dụng BPTT nhân hóa với
mục đích:

● Đặc tả độ cao của núi rừng núi Tây Bắc
● Chất lính: sự dí dỏm, vui nhộn, lạc quan, yêu đời
● Núi: cao thì cao vời vợi
● Vực: sâu thì sâu thăm thẳm
- Đối: lên, xuống ; ngàn thước: khoảng cách lớn
=> Hiểm trở => Người đọc giống như đang “chơi 1 trị bập bênh
chóng mặt”
- Nơi đèo cao, dốc đứng, người lính đưa tầm mắt nhìn về những
bản làng
+ Hình ảnh những nếp nhà Pha Luông ẩn hiện trong làn mưa
+ Gợi ra sự bình n trong chính cảnh vật và trong cả tâm hồn
người lính.
=> Quang Dũng kéo người đọc trở về với sự cân bằng.
 Câu: 2 câu tiếp
- Sự đe dọa nơi “rừng thiêng, nước độc"
+ Thác gầm thét => Thiên nhiên rất dữ dội, hung bạo
+ Cọp trêu người => Sự đe dọa của thú dữ
=> Biện pháp tu từ nhân hóa => Sự nguy hiểm nơi rừng núi Tây
Bắc mà trực tiếp những người lính Tây Tiến phải đối mặt.
 Câu: 2 câu cuối

- Kéo lại sự cân bằng cho người đọc với những hình ảnh thật
mềm mại, nhẹ nhàng
+ “Nhớ ôi Tây Tiến”: Trực tiếp thể hiện cảm xúc - Nỗi nhớ:
Nhớ về những bản làng trong khói bếp ban chiều.
=> Một hình ảnh rất đẹp, rất bình yên, rất tình (tình cảm của
người chiến sĩ với đồng bào).
+ Mai Châu: Địa danh với tên gọi gợi ra sự thanh thoát,
nhẹ nhàng đi kèm với hình ảnh “thơm nếp xơi" tạo ra
những dư vị cảm xúc bình yên trong tâm hồn người đọc.
+ “Mùa em” - Mùa của sự đủ đầy, “mùa con ong đi lấy mật,
con voi xuống sông uống nước, mùa em đi phát rẫy làm
nương” mùa ta gặp nhau, mùa trao yêu thương, vương
luyến nhớ để xa rồi sẽ mãi không quên.
=> Một mùa thật lạ, thật đẹp, thật tình.
 Nhận xét:
Hình ảnh người lính Tây Tiến trên những chặng đường hành
gian khổ đã được Quang Dũng tái hiện trên phông nền của
thiên nhiên miền Tây: hiểm nguy, dữ dội, gập ghềnh nhưng
cũng có những khung cảnh trữ tình, lãng mạn, bình n.
Thiên nhiên khơng làm con người trở nên nhỏ bé, thiên nhiên
tôn vinh con người và khiến con người trở nên đẹp hơn bao
giờ hết.


Phân tích chi tiết:
Lật giở lại từng trang thơ thấm đẫm những kỷ niệm của một đời
chiến binh, ta chợt nhận ra, “Tây Tiến” được bắt đầu bằng 1
tiếng gọi đầy thiết tha, trìu mến như thế:
“Sơng Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Cả bài thơ không một dấu chấm câu, nỗi nhớ tràn từ câu thơ này
sang câu thơ khác, bắt nhịp từ tứ thơ này sang tứ thơ khác. Nỗi
nhớ tích tụ, dồn nén, bật lên thành tiếng gọi thiết tha Tây
Tiến ơi! – Đó cũng chính là cách mà Quang Dũng mở đầu bài
thơ của mình. Cảm xúc hiện hình trong nỗi nhớ chơi vơi. Đó vừa
là trạng thái của nỗi nhớ vừa là trạng thái của cảnh vật được
nhớ. Cả chủ thể và đối tượng dường như đã trộn lẫn vào nhau
mà đồng hiện trong nỗi nhớ chơi vơi ấy. Nỗi nhớ trở thành cội
nguồn cảm hứng sáng tạo và làm nên cấu trúc của thi phẩm.
Mạch bài thơ là mạch nhớ, là sự đan dệt của kỉ niệm, với những
sực nhớ miên man, những vụt hiện bất chợt... Cũng từ đây nỗi
nhớ dậy lên làm một nguồn sinh khí, nó soi tràn đến đâu mn
vàn hình sắc trong kí ức tươi tắn, sống dậy đến đó. Nhờ nỗi nhớ
mà những hình ảnh của những ngày qua cồn cào sống dậy.
Chính nỗi nhớ chơi vơi đã dẫn ngòi bút tác giả đi miên man
trong thế giới thơ. Tất cả kỉ niệm về quãng thời gian không thể
nào quên với đồng đội chiến đấu trên vùng Tây Bắc hùng vĩ,
hiểm trở mà cũng rất thơ mộng ấy bỗng trở thành tiếng gọi hối
thúc, cất lên thành tiếng thơ, tiếng lòng của người chiến sĩ, thành
âm vang của cả thời đại, của cả dân tộc trong những năm đầu
của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Hình ảnh dịng sơng Mã gắn với bao tháng ngày gian khổ, con
sông mang âm điệu của núi rừng, của địa bàn hoạt động gắn với
1 đời chiến binh nay cũng đã xa rồi, binh đoàn Tây Tiến
cũng đã xa rồi, tất cả chỉ còn lại trong hồi ức mà thơi. Có thể
thấy từ “xa rồi” cũng chính là điểm rơi thấp nhất của câu thơ
này, nó giống như 1 khoảng hụt hẫng khi những kỷ niệm chỉ
giống như những thước phim trôi qua để lại biết bao nhiêu cảm
xúc đong đầy.
Nỗi nhớ đầu tiên được nhắc tới chính là nỗi nhớ về thiên nhiên

Tây Bắc, về địa bàn hoạt động của binh đồn Tây Tiến. Giữa
khoảng khơng gian nhớ thương quá rộng lớn, mênh mang, da
diết, cồn cào, tâm trí của nhà thơ khơng biết đặt để vào đâu cho
phải, thế nên mới tạo ra một cách dùng từ thật lạ: “nhớ chơi
vơi”. Chỉ với 2 câu thơ đầu tiên, những ký ức gắn với binh đoàn
đã từ từ hiện ra lung linh huyền diệu, trong chuyến độc hành
quay về với những ký ức, nhà thơ Quang Dũng thêm 1 lần đi lại
những con đường đã qua. Dọc theo khúc độc hành của nỗi nhớ
thương, thi nhân tìm về những miền đất gắn với kỷ niệm một đời
chiến binh:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
Từ hai câu thơ khơi nguồn đầy thiết tha trìu mến ấy, mạch chảy
dịng tâm sự hồi niệm của nhà thơ mở ra lan tỏa như mỗi chuỗi
kỉ niệm giờ đây thức dậy, lay động và xôn xao trong lòng. Hai
địa danh Sài Khao, Mường Lát vốn dĩ là những mốc không gian
địa lý in đẫm kỷ niệm của một thời chiến binh, nay trở thành
mốc thời gian lịch sử giúp người chiến sĩ năm nao nhớ lại những

kỷ niệm trong bao chặng được hành quân vất vả. Và ở câu thơ
tiếp theo này, hình ảnh “đồn qn mỏi” giữa Sài Khao sương
lấp đập mạnh gây ấn tượng. Sự chân thực sinh động của hình
ảnh thơ khiến ta như hình dung thấy tư thế, dáng vẻ của đồn
qn trong gian lao, cơ cực của những ngày phải đương đầu với
trận mạc, đối đầu với thiếu thốn, khó khăn. Chân thực song
cũng rất lãng mạn khi hình ảnh đồn qn mỏi lại được miêu tả
trong một khung cảnh đẹp huyền ảo của thiên nhiên. Những
tiếng sương lấp, hoa về, đêm hơi khiến cho tồn bộ cảnh thực
chợt nhịa đi, gây được ấn tượng nhiều chiều trung, tâm trí người
đọc. Hình ảnh “hoa về trong đêm hơi” nhanh chóng kéo bạn đọc

trở về với sự cân bằng. Không gian được liên tưởng tới là
địa danh Mường Lát trong những cuộc hành quân đẫm sương
đêm, hoa nở giữa rừng thơm ngát, khiến những bước chân giữa
đêm khuya tưởng nặng nề những nay lại được tiếp thêm sức
mạnh. Quang Dũng quả thực dùng từ rất tinh tế. Là hoa về chứ
không phải hoa nở, là đêm hơi chứ không phải đêm sương, cách
dùng từ này khiến người đọc cảm thấy được sự nhẹ nhõm
của khơng gian. Bao nhiêu mỏi mệt từ đó mà tan biến. Cũng với
hình ảnh đồn qn cách mạng trong cuộc kháng chiến chống
Pháp, nhà thơ Tố Hữu lại mở ra một trường liên tưởng khác:
“Những đường Việt Bắc của ta,
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”
Thiên nhiên như cùng hát lên, cùng âm điệu với khúc qn hành
của người lính ra trận. Cịn trong thơ Quang Dũng, bối cảnh
thiên nhiên hiện ra trong kí ức và tâm trạng là những hình ảnh
sóng đơi của sự trái ngược:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Đây là đoạn thơ mang dáng dấp của 1 bài thơ tứ tuyệt, đặc tả
bước hành quân gian lao của người lính vệ quốc mở ra trong
không gian nhiều chiều. Thiên nhiên Tây Bắc hiểm trở, gập
ghềnh cũng được vẽ ra 1 cách chân thực ở đoạn thơ này. Ta như
nghe thấy bước chân và hơi thở trên đường trường chiến gian lao
của người lính qua câu thơ đầy những vần trắc: "Dốc lên khúc
khuỷu dốc thăm thẳm". Những con dốc là hình ảnh đầu tiên
được đề cập tới. Những con dốc được miêu tả bằng từ láy tượng

hình “khúc khuỷu, thăm thẳm” khiến người đọc dễ dàng
liên tưởng tới địa hình gấp gãy. Từ dốc này đến dốc khác, liên
tiếp nối nhau, con đường hành qn phía trước vừa khó đi, vừa
nguy hiểm. Chưa dừng lại ở đó, câu thơ thứ 2 miêu tả độ cao
của những ngọn núi nơi đây:
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Hình ảnh những người lính trên chặng đường hành quân với
những khoảnh khắc tinh nghịch, dí dỏm, đậm chất lính. Đường
hành qn dài thăm thẳm mn trùng, có khoảnh khắc đi lên
cao tới mức tưởng như đang đi giữa biển mây. Đây cũng là
ngun cớ có hình ảnh nhân hóa “súng ngửi trời”.


Cảm giác của người đọc liên tưởng tới khung cảnh đầu mũi súng
chạm vào mây, người lính tinh nghịch dí dỏm liên tưởng tới hình
ảnh súng đang chạm tới trời. Chi tiết này càng thể hiện sự hào
hoa, lãng mạn trong chất thơ của Quang Dũng. Nó rất giống với
liên tưởng trong thơ của Chính Hữu:
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”
Cảnh vừa khắc nghiệt, gian khổ, đan xen nét tinh nghịch của anh
bộ đội cụ Hồ chính là điểm nhấn cho đoạn thơ này. Chưa dừng
lại ở đó, cảnh thiên nhiên Tây Bắc còn được tái hiện trong
câu thơ tiếp theo:
“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”
Biết bao nhiêu gian lao thử thách, vừa như muốn quật ngã người
lính cách mạng, lại vừa như kích thích họ đi tới, dẫn tới của sự
chinh phục. Cảnh rừng núi hiểm trở với dốc lên khúc khuỷu,
với hun hút cồn mây, với độ cao thấp đến choáng ngợp của

"ngàn thước lên cao ngàn thước xuống", khiến người đọc dường
như đang chơi 1 trò bập bênh chóng mặt. Núi cao thì cao vời
vợi, vực sâu thì sâu thăm thẳm. Câu thơ mang dáng dấp của 2 vế
tiểu đối sử dụng các cặp từ đối lập để đặc tả địa thế hiểm trở của
núi rừng nơi đây. Thế nhưng sau tất cả những gian khổ
đe dọa bởi địa hình hiểm trở, người ta vẫn nhìn thấy sự sống của
con người khi dừng lại ngắm nhìn những nếp nhà Pha Luông:
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Những nếp nhà Pha Luông nằm giữa biển mưa bụi, mưa nhẹ
nhàng, êm đềm. Những chiến sĩ Tây Tiến dừng chân nơi đèo
cao, ngắm nhìn khoảnh khắc bình yên hiếm hoi sau những chặng
đường hành quân vất vả. Tôi tự hỏi lịng mình, trong giây phút
được lắng lại nhiều phần tâm hồn như vậy, người chiến binh Tây
Tiến liệu có đang nhớ về q hương của mình hay khơng?
Hồi niệm về đồn binh Tây Tiến cịn có hình ảnh người lính
dẫn chặng đường hành quân vất vả bởi núi cao, vực sâu, mưa sa,
sương phủ, khơng ít người trong số họ đã gục ngã, Quang Dũng
không hề giấu giếm hiện thực đau thương ấy, nhà thơ tái hiện lại
trong những vần thơ của mình:
Anh bạn dãi dầu khơng bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời
Nhà thơ nói về " anh bạn " là nói về những đồng chí, đồng đội
của mình, ngày nối ngày, đêm nối đêm, mưa nắng đói rét bệnh
tật thiếu thốn mệt mỏi tới mức kiệt sức. Từ "gục" có phần nặng
nề nhưng bị xóa nhịa đi và được cân bằng trở lại, bằng hình ảnh
"bỏ quên đời". Cái chết với người lính Tây Tiến rất đỗi nhẹ
nhàng và thanh thản. Kết cấu đối sánh đan xen giữa thiên nhiên
và con người tạo nên 1 sự đối chiếu thầm lặng để rồi từ đó tơn
vinh sức mạnh của con người, dù con người có nhỏ bé trước
thiên nhiên hiểm trở và dữ dội, hiểm nguy đe dọa họ từ mọi

phía, mọi nơi.
Giữa những gập ghềnh, gấp gãy nơi rừng thiêng nước độc, người
lính cịn bị đe dọa bởi thác
dữ, thú rừng:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

“Chiều chiều” và “đêm đêm” diễn tả khoảng thời gian tuần
hoàn, lặp đi lặp lại. Điều này chứng tỏ thác dữ, thú rừng không
phải xuất hiện ngày một ngày hai, mà lặp đi lặp lại ngày nào
cũng như vậy. Sự đe dọa dường như bủa vây từ mọi phía, người
lính trong hồn cảnh phải chống chọi với thiên nhiên núi rừng
khắc nghiệt. Thế nhưng, giữa nơi rừng thiêng nước qua con mắt
hào hoa lãng mạn của chiến binh Tây Tiến một thời người ta vẫn
nhìn thấy được những khung cảnh bình yên, nỗi nhớ chợt ùa về
Mai Châu xinh đẹp:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xơi.
Hình ảnh gắn với tình qn dân chợt hiện về, đó là khoảnh khắc
những bữa ăn của đồng bào chuẩn bị cho cán bộ cách mạng, để
rồi sau bao tháng ngày nhớ lại, vẫn thấy vương vấn đâu đây nếp
nhà cơm lên khói, những bữa cơm tỏa thơm nếp xôi. Trong bài
thơ “Tiếng hát con tàu” Chế Lan Viên từng viết:
Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch
Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng
Đất Tây Bắc tháng ngày khơng có lịch
Bữa xơi đầu còn nhớ tỏa mùi hương.
Trong những vần thơ này, Quang Dũng đã lựa chọn 1 địa danh
có tên nghe thật mềm mại, êm ái, gợi ra sự bình yên “Mai Châu”
nếu như không lựa chọn địa danh này mà thay nó bằng “Lai

Châu” có lẽ sự duyên dáng của câu thơ sẽ vơi đi vài phần. Đặc
biệt lưu ý, ở trong câu thơ cuối có 1 danh từ nghe rất lạ, đó là
“mùa em”. Đất trời có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông nhưng trong
những vần thơ của nhà thơ Quang Dũng lại có 1 mùa thật lạ đó
là mùa em. Mùa em là mùa con ong đi lấy mật, mùa con voi
xuống sông uống nước, mùa em đi phát rẫy làm nương, mùa ta
gặp nhau mùa trao yêu thương mùa vương luyến nhớ để xa rồi
sẽ mãi mãi không quên. Mùa em ở đây cũng chính là mùa của sự
đủ đầy.
Khái quát:
Với những kỉ niệm về binh đoàn Tây Tiến rất khó mờ phai trong
tâm trí, lại thêm bút pháp hoài niệm rất đỗi tài hoa, qua hàng loạt
những hình ảnh trái ngược mà hài hồ bổ sung cho nhau,
Quang Dũng đã làm sống dậy hình ảnh người lính Tây Tiến,
rừng núi Tây Tiến trong nỗi nhớ thật chơi vơi về Tây Tiến.
Những chuỗi kỉ niệm về thiên nhiên và con người đó như những
thước phim vừa chân thực sinh động vừa rất huyền ảo, tình cảm
và tài hoa đã góp phần tạo nên thành cơng cả về nội dung và
nghệ thuật của đoạn trích. Cái hay của nhà thơ này là bên cạnh
những nét đậm tô hiện thực, Quang Dũng vẫn bộc lộ rõ những
góc nhìn đầy lãng mạn của một chàng trai Hà Nội. Có người
nhận định rằng với bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng đã dựng nên
bức tượng đài bằng thơ về hình tượng người lính đánh Pháp
trong cuộc kháng chiến mà dũng cảm và cũng đầy chất thơ của
nhân dân ta.


2. 8 câu thơ tiếp: Kỷ niệm về đêm liên hoan văn nghệ đốt lửa
trại và buổi chiều sông nước Tây Bắc mênh mang, mờ ảo:


Kiến thức khái quát:
 Câu: 4 câu đầu
Kỷ niệm về đêm liên hoan văn nghệ đốt lửa trại.
- Doanh trại: Nơi sinh hoạt và chiến đấu của những người lính
- Từ “bừng” - nhãn tự của câu thơ, khiến người đọc liên tưởng
tới một nguồn sáng bất ngờ, đột ngột.
- Cụm từ “hội đuốc hoa” gợi ra khơng khí của lễ hội
- Tiếng reo vui “kìa em” thể hiện niềm vui, sự bất ngờ khi nhìn
thấy những cơ gái dân tộc xúng xính trong bộ xiêm ý lộng lẫy.
- Đêm liên hoan văn nghệ trong tiếng nhạc dập dìu - âm thanh
của tiếng kèn.
- Có những vũ điệu của quân và dân
- Ánh sáng, âm nhạc, tình người đã đưa tâm hồn người lính trở
về miền đất lạ và xây nên những hồn thơ
 Câu: 4 câu tiếp
Buổi chiều sông nước Tây Bắc mênh mang, mờ ảo
- Không gian: sông nước Châu Mộc
- Thời gian: Chiều sương
- Người đi: Chiến binh Tây Tiến
- Người ở lại: đồng bào Tây Bắc
- Câu hỏi tu từ: có thấy, có nhớ thiên nhiên nơi đây và
con người nơi đây hay khơng?
- Hình ảnh đối lập “dịng nước lũ - hoa đong đưa”:
Hình ảnh cánh hoa trơi trên dịng nước lũ thật thơ mộng,
thể hiện góc nhìn lãng mạn của người chiến binh thủa ấy.
 Nhận xét:
Bút pháp lãng mạn hào hoa, phép nhân hố thần tình, cách
dùng điệp từ và câu hỏi tu từ khéo léo đã quyện hồ với nỗi
nhớ chưa bao giờ ngi ngoai trong sâu thẳm tâm trí nhà thơ
về đồng đội, đồng bào và thiên nhiên miền Tây Tổ quốc, tất cả

tạo nên điểm sáng lấp lánh của tâm hồn một người chiến sĩ
thiết tha với Tây Tiến, với quê hương.

Phân tích chi tiết:
4 câu đầu: Kỷ niệm về đêm liên hoan văn nghệ đốt lửa trại ấm
áp tình quân dân
Khi nỗi nhớ đã thành vần thành điệu, khoảng cách để trở về bắt
lấy những ký ức đẹp đẽ chỉ cần một thoáng chốc. Và cứ thế,
trong suốt dọc chặng đường tìm về mn nẻo nỗi nhớ, niềm
thương của một thời chiến binh gian khổ, Quang Dũng đưa
người đọc trở về với đêm liên hoan văn nghệ đốt lửa trại thấm
đẫm tình người, tình đời:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa”
Hình ảnh tiếp theo được gợi nhắc trong những vần thơ là “doanh
trại” - nơi chiến đấu, sinh hoạt gắn bó với biết bao kỷ niệm tươi
đẹp của một thời chiến binh. Đêm ấy, sau những chặng đường
hành quân gian lao, vất vả, buổi liên hoan văn nghệ cùng đồng
bào Tây Bắc đã diễn ra trong niềm vui hân hoan, háo hức. Từ
“bừng” giống như nhãn tự của câu thơ này bởi chỉ với một từ
duy nhất cả không gian núi rừng Tây Bắc đen tối, âm u nay tràn
ngập ảnh sáng ấm áp của ngọn lửa, xua đi giá lạnh, xua đi những
mệt nhọc vất vả hiểm nguy nơi chiến trường vừa qua. Chỉ một từ
ngữ xuất hiện, mở ra một không gian ánh sáng cho cả câu thơ.
Ánh sáng ấy được bắt nguồn từ những ngọn lửa, theo cách “lãng
mạn anh hùng” nhà thơ gọi đó là “đuốc hoa” – hình ảnh của
những ngọn đèn xuất hiện trong những lễ hội trang trọng. Phải
chăng, khơng khí của đêm liên hoan văn nghệ này cũng chính là
sự rạo rực, tưng bừng, tươi vui, hân hoan như những ngày lễ hội
của nhân dân miền núi cao Tây Bắc.
Cả doanh trại bừng sáng bởi ánh lửa bập bùng, Quang Dũng viết

tiếp những dịng thơ:
“Kìa em xiêm áo tự bao giờ”
Điểm nhìn thay đổi, khơng gian rộng lớn của núi rừng hay ánh
sáng bập bùng của những ngọn lửa giờ đã chuyển sang hình ảnh
của những cơ gái dân tộc xúng xính trong xiêm y lộng lẫy.
“Kìa em” - cụm từ này được sử dụng thật giống với một tiếng
reo vui bởi sự xuất hiện đột ngột, bất ngờ của những người con
gái đó. Họ ngạc nhiên và có đơi chút ngơ ngác bởi trong đơi mắt
của những chàng trai Hà Nội lúc bấy giờ là hình ảnh của những
cơ gái Thái, cơ gái Lào xinh đẹp, giàu sức sống, họ mang theo
bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình cùng với đó là
những tình cảm quân dân thật đáng trân trọng dành cho những
người cách mạng.
Không gian núi rừng đang say theo tiếng nhạc, những bom đạn
của chiến tranh vốn dĩ chẳng thể giết chết tâm hồn của những
chàng trai Hà Nội lãng mạn, tài hoa. Họ yêu nước, yêu đời,
yêu người và ln giữ cho mình một điều rất riêng biệt đó là
chất thơ:
“Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
Đêm liên hoan văn nghệ có ánh sáng, có âm thanh của tiếng
khèn - nhạc cụ đặc trưng của những dân tộc miền núi cao Tây
Bắc thêm vào đó cịn là những vũ điệu của tình người, tình qn
dân. Tình cảm đẹp đẽ ấy, có phải đơi lần hay là rất nhiều lần ta
đã gặp trong thơ:


chăng? Quá khứ vọng về là những hình ảnh mờ mờ ảo ảo, lung
“Tôi gõ cửa ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm
Bà mẹ đón tơi trong gió đêm

- Nhà mẹ hẹp nhưng còn mê chỗ ngủ
Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ
Rồi mẹ ơm rơm lót ổ tôi nằm”
Để rồi:
Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm
Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng
Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm
Của những cọng rơm xơ xác gầy gò
(Hơi ấm ổ rơm - Nguyễn Duy)
Hay trong một vần thơ khác:
“Các anh về mái ấm nhà vui
Tiếng hát câu cười
Rộn ràng xóm nhỏ
Các anh về tưng bừng trước ngõ
Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau
Mẹ già bịn rịn áo nâu
Vui đàn con ở rừng sâu mới về.”
(Bộ đội về làng - Hồng Trung Thơng)
Và ở trong những vần thơ của Quang Dũng vẫn là thứ tình cảm
quân dân chứa chan đến vậy. Để rồi men say của đất trời, men
say của tình đời tình người đã đưa tâm hồn của những chiến binh
Tây Tiến một thủa đến những miền đất lạ để xây lên những hồn
thơ. Tạm thời rũ bỏ những mệt nhọc, căng thẳng của chiến
trường bom đạn, giây phút ấy tuy ngắn ngủi nhưng những niềm
vui hiếm hoi này đã trở thành động lực lớn lao tiếp bước cho
những ngày tháng gian khổ sau này để thêm quyết tâm chiến đấu
và chiến thắng mọi kẻ thù. Đêm liên hoan văn nghệ đốt lửa
trại đã giúp cho mỗi bạn đọc thấy được chất thi sĩ trong tâm hồn
những người chiến sĩ. Và đối với cá nhân Quang Dũng, đó là
những kỷ niệm rất đẹp ơng khơng thể nào quên đi.

4 câu tiếp: Kỷ niệm về một buổi chia tay trong chiều sương
Châu Mộc
Trong hồi ức của Quang Dũng, Tây Bắc không chỉ là miền đất
của tranh đấu bảo vệ Tổ quốc, mà còn là nơi hiện hữu của thiên
nhiên thơ mộng trữ tình. Trong những trang thơ thi phẩm Tây
Tiến, chiều sương trên cao nguyên Châu Mộc được tác giả khắc
họa đầy tài hoa, có sắc màu điểm tơ, có đường nét tinh tế:
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trơi dịng nước lũ hoa đong đưa”
Đoạn thơ trên diễn tả cảnh thiên nhiên Tây Bắc trong hoài niệm
của Quang Dũng, được khơi nguồn từ hai câu thơ đầu, như tiếng
gọi âm vang từ miền ký ức xa vắng:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
Giữa khói sương của hồi niệm, Quang Dũng nhớ về một “chiều
sương ấy”- khoảng thời gian chưa xác định rõ ràng nhưng dường
như đã khắc sâu thành nỗi nhớ niềm thương trong tâm trí nhà
thơ. Đó có thể là khi đồn qn chia tay một bản làng Tây Bắc

linh huyền hoặc: “hồn lau nẻo bến bờ”, “dáng người trên độc mộc” và
“hoa đong đưa”. Cảnh vật hiện lên qua nét vẽ của Quang Dũng dù rất
mong manh mơ hồ nhưng lại rất giàu sức gợi, rất thơ, rất thi sĩ, rất đậm
chất lãng mạn của người lính Hà thành:
“Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc”
Câu hỏi tu từ với phép điệp “có thấy”, “có nhớ” dồn dập như gọi về
biết bao kỷ niệm của một thời đã xa. Trong tâm tưởng của nhà thơ, cây
lau tưởng như vô tri vơ giác cũng mang hồn. Cách nhân hố có thần đã

khiến thiên nhiên trở nên đa tình thơ mộng hơn. Thiên nhiên mang
“hồn” là bởi nhà thơ có cái nhìn hào hoa nhạy cảm hay bởi nơi đây còn
vương vất linh hồn của những đồng đội của nhà thơ? Sự cảm nhận tinh
tế hoà quyện với thanh âm da diết của nỗi nhớ đã làm vần thơ thêm
chứa chan xúc cảm. Trong thơ, “hồn lau” dường như luôn mang một
tâm tình, một suy ngẫm, một nỗi buồn man mác nhớ thương:
“Ngàn lau cười trong nắng
Hồn của mùa thu về
Hồn mùa thu sắp đi
Ngàn lau xao xác trắng”
(Lau mùa thu- Chế Lan Viên)
Bên cạnh thiên nhiên, hình ảnh con người thấp thoáng trở về trong hồi
ức của Quang Dũng . “trên độc mộc”- chiếc thuyền làm bằng cây gỗ
lớn, bóng dáng con người hiện lên đầy kiêu hùng, dũng cảm mà tài hoa
khéo léo giữa dòng nước xối xả, mạnh mẽ đặc trưng của miền Tây. Phải
chăng tư thế đó đủ để người đọc nhận ra vẻ đẹp riêng của con người
Tây Bắc, của đoàn binh Tây Tiến trong những năm tháng gian khổ mà
hào hùng? “dáng người” ở đây có thể là dáng hình của người Tây Bắc,
cũng có thể là chính những chiến sĩ Tây Tiến đang đối mặt với thách
thức của thiên nhiên dữ dội chăng? Dù hiểu theo cách nào, dáng người
trong thơ Quang Dũng cũng luôn khảm sâu trong tâm trí nhà thơ, ln
hiên ngang kiêu hùng mà uyển chuyển, tài hoa và khéo léo. “Dáng
người” ấy hình như cứ trở đi trở lại giữa những vần thơ được Quang
Dũng gửi tình, như ta đã gặp:
“Bến vắng chiều xuân hoa gạo rơi
Sông xanh hiền triết lặng trơi xi
Đị ngang một chuyến qua mưa bụi
Nhớ mãi người đi... bóng dáng người”
Và đây:
“Trơi dịng nước lũ hoa đong đưa”

Có thể khẳng định rằng, đây là một trong những chi tiết “đắt” nhất mà
Quang Dũng tạo nên cho bức tranh thiên nhiên miền Tây, đố hoa giữa
dịng là hội tụ của cái nhìn đa tình vốn có trong tâm hồn người lính Hà
Thành trẻ tuổi và vẻ thơ mộng của cảnh sắc nơi đây. Nói như thế là bởi,
ta nghiệm ra rằng, hình ảnh “hoa đong đưa” khi đang “trơi dịng nước
lũ” là hình ảnh đối lập khơng thể có trong thực tại nhưng lại rất hợp lý
khi đặt giữa mạch cảm hứng trữ tình của bài thơ. Cánh hoa như đơi mắt
đong đưa, lúng liếng với người lính trẻ hay bởi tâm hồn các anh quá
hào hoa, quá lãng mạn u đời nên mới có thể nhìn thiên nhiên bằng
cái nhìn đa tình đến như thế?
Bằng bút pháp lãng mạn với phép nhân hoá, Quang Dũng đã vẽ nên nét
vẽ thần tình, thâu tóm trọn vẹn vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc, gửi
gắm vào đó cả nỗi nhớ niềm thương luôn cháy bỏng trong trái tim ông.
Phải yêu lắm đồng đội, yêu lắm thiên nhiên và con người nơi đây thì
Quang Dũng mới có thể diễn tả tinh tế vẻ đẹp của chiều sương Châu
Mộc một cách tự nhiên đến như vậy!


3. Hình tượng người lính Tây Tiến hào hùng, hào hoa lãng
mạn và bi tráng:

Kiến thức khái quát:
 Câu: 2 câu đầu
“Tây Tiến đồn binh khơng mọc tóc
Qn xanh màu lá dữ oai hùm”
- “Đồn binh”: lực lượng đơng đảo, đội qn mạnh
=> khí thế, như một cách nói đầy hiên ngang và tự tin.
- “Khơng mọc tóc”, “xanh màu lá”: để ngụy trang hay do hoàn
cảnh sống khắc nghiệt
=> hình ảnh chân thực nhưng đó cũng là cách nói dí dỏm hóa,

vui tươi hóa của Quang Dũng về những người đồng đội của
mình.
- “dữ oai hùm”: tinh thần vượt lên trên khó khăn vì mục tiêu
chiến đấu phía trước. Nét hào hùng được nhấn mạnh giữa một
hiện thực nhiều gian khổ.
=> Những chi tiết tả thực đã khắc họa diện mạo rất độc đáo,
đồng thời phản ánh hiện thực gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật nơi
chiến trường. Tác giả khơng hề né tránh hiện thực, và điều đó
thể hiện tấm lòng yêu nước, căm thù giặc càng thêm mãnh liệt
nơi những người lính Tây Tiến. Mượn hình ảnh ẩn dụ để gợi tả
chất kiêu hùng: đối lập giữa cái yếu đuối về thể chất (xanh xao
tiều tụy) là sức mạnh của tinh thần, ý chí, ngang tàn, lẫm liệt
(“dữ oai hùm”). Qua đó ta thấy được khí thế và quyết tâm của
người lính Tây Tiến.
 Câu: 2 câu đầu
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.”
- “Mắt trừng” là đôi mắt mở to, đầy cảnh giác.
- “Gửi mộng qua biên giới” là giấc mộng lập công, giấc mộng
chiến thắng và sớm ngày giành được chiến thắng trước quân thù.
- Mơ về Hà Nội với “dáng kiều thơm”: người chiến sĩ Tây Tiến
phần lớn là thanh niên trí thức xuất thân từ thủ đơ, ra đi theo
tiếng gọi của Tổ quốc. Giấc mơ của họ không phải sự bi lụy mà
là động lực để họ vững tin hơn trong những tháng ngày gian khổ
=> tâm hồn lãng mạn của người lính trẻ.
=> Nhịp thơ thiết tha hơn, nối dài lý tưởng hào hùng nhưng cũng
rất đỗi hào hoa của những người lính, những sinh viên tuổi đời
còn rất trẻ đã quyết tâm gánh lấy “mối nợ” với non sông.
 Câu: 4 câu tiếp
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
- Sử dụng hầu hết từ Hán Việt tăng sự trang trọng cho câu thơ và
giảm bớt sự bi thương trước bao mất mát, hy sinh của người
lính Tây Tiến.
+ “biên cương”: nơi xa xôi, hoang vu, tạo cảm giác tiếc thương,
khơng khí như chùng xuống, xót xa.
+ “mồ viễn xứ” là những nấm mồ ở những nơi xa vắng
hoang lạnh.
+ “áo bào”: Chiếc áo lính các anh đang mặc. Điều kiện chiến
tranh khắc nghiệt, thiếu thốn đến không có cả chiếu để bọc
thi thể người lính đã hi sinh.

- “về đất”: nói giảm, nói tránh để giảm bớt đau thương và cũng
là sự ngợi ca, trân trọng dành cho người anh hùng của quê
hương đất nước.
- “rải rác”: số lượng ít ỏi, khơng tập trung trên một khu vực mà
là rừng sâu biên giới ít có người qua lại, khơng có điều kiện
hương khói.
- “chẳng tiếc đời xanh”: cách nói ngang tàng, ngạo nghễ và đầy
tự tin, hiên ngang, khơng ngại ngần hy sinh, gian khó.
- “Sơng Mã gầm lên khúc độc hành” là sự nghiêng mình tiễn đưa
đầy thành kính với các anh trong khúc hùng ca sơng Mã.
=> Người lính ra đi khơng hẹn ngày về, hy sinh cả tuổi trẻ cả
thanh xuân.
=> Không trốn tránh hiện thực, tác giả đã khắc họa sự hi sinh
của người lính một cách thanh thản, thầm lặng và cao cả, gây
xúc động lịng người, lay động thiên nhiên.
Nhận xét:

Hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên với vẻ đẹp: hào hùng,
hào hoa, lãng mạn và bi tráng. Đó là những con người bình
thường nhưng phi thường, vượt lên gian khổ, hiểm nguy, sẵn
sàng hy sinh cho sứ mệnh giành lại độc lập, tự do cho Tổ
quốc. Tinh thần ấy, những con người nhỏ bé ấy đã làm lên
1 dân tộc anh hùng.


Phân tích chi tiết:
2 câu đầu: Bức chân dung tự họa độc đáo, lạ thường của người lính
Tây Tiến với những chi tiết tả thực sống động, hào hùng:
Chiến tranh đã qua đi, tấm áo hịa bình ấp ơm mảnh đất hình chữ S đã
được nhiều thập kỉ, đã hàn gắn được phần nào bao vết thương đớn đau,
bao mất mát hy sinh của một thời lửa đạn. Nhưng ngày hơm nay, trong
nền hịa bình này, ta đọc lại “Tây Tiến” để một lần nữa nhớ về thế hệ
các anh, những người lính trẻ trung và dũng cảm, trong mạch nguồn nỗi
nhớ khi xưa
của nhà thơ Quang Dũng. Bức tượng đài bằng thơ về các anh vẫn luôn
sừng sững, sống mãi hững vẻ đẹp hào hùng của một thời trai trẻ:
“Tây Tiến đồn binh khơng mọc tóc
Qn xanh màu lá dữ oai hùm”
Nhà thơ dùng từ “đoàn binh” để khẳng định một lực lượng đơng đảo,
“đồn binh” Tây Tiến là đội quân mạnh và hừng hực khí thế. Đầy hiên
ngang và tự tin, nhịp thơ như nhịp bước chân hành quân của người lính,
đưa ta đến gần hơn với bức chân dung về các anh, từ ngoại hình bên
ngồi đến cảm xúc, ý chí nung nấu trong tâm can. Đó là những người
lính đầu “khơng mọc tóc”, da “xanh màu lá”. Ấy là sự ngụy trang đề
phòng quân địch. Nhưng chân thực hơn, ấy là sự tàn phá của bệnh tật,
của hoàn cảnh sống thiếu thốn trăm bề. Nơi rừng thiêng nước độc, nơi
chiến trường xa xơi, binh đồn Tây Tiến làm sao tránh khỏi những cơn

sốt rét rừng, những lần thiếu thuốc men, lương thực, khó khăn cứ nối
tiếp khó khăn, sự khắc nghiệt vẫn ln thử thách ý chí người lính trẻ
như thế:
“Cuộc đời gió bụi pha xương máu
Đói rét bao lần xé thịt da
Khn mặt đã lên màu tật bệnh
Đâu còn tươi nữa những ngày hoa!”
(“Lên Cấm Sơn” - Thôi Hữu)
Nhưng ở đây, giọng thơ “Tây Tiến” lại sục sơi khí thế, căng tràn ý chí,
viết về gian khổ, khó khăn nhưng nhà thơ Quang Dũng vẫn luôn song
hành đem đến những vần thơ đầy quyết tâm:“dữ oai hùm”. Nét hào
hùng được nhấn mạnh giữa một hiện thực nhiều gian khổ, đậm tơ
những hình ảnh chân thực nhưng đó cũng là cách nói dí dỏm hóa, vui
tươi hóa của Quang Dũng về
những người đồng đội của mình. “Dữ oai hùm” là hình ảnh khẳng định
tinh thần vượt lên trên khó khăn vì mục tiêu chiến đấu phía trước, bệnh
tật, thiếu thốn không thể đánh bại được ý chí quyết tâm của những
người lính Tây Tiến. Những chi tiết tả thực đã khắc họa một diện mạo
rất độc đáo về người lính đang chiến đấu nơi biên cương Tổ quốc, đồng
thời phản ánh hiện thực gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật nơi chiến trường.
Mượn hình ảnh ẩn dụ để gợi tả chất kiêu hùng, cách viết đối lập giữa
cái yếu đuối về thể chất, xanh xao tiều tụy, đầu “khơng mọc tóc”, da
“xanh màu lá” với sức mạnh của tinh thần, ý chí, ngang tàng, lẫm liệt,
sức mạnh “dữ oai hùm”, Quang Dũng đã đem đến những nét phác họa
đầu tiên về người lính Tây Tiến rất hào hùng, dũng cảm và lạc quan.
2 câu tiếp: Tâm hồn hào hoa và lãng mạn của những chàng trai Hà
Thành:
Khắc họa về đồng đội mình, Quang Dũng tiếp tục đem đến những hình
ảnh chân thực, khơng chỉ về đời sống mà còn về tâm hồn hào hoa, lãng
mạn của các anh:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.”
Là đôi mắt mở to, đầy cảnh giác, ánh mắt “trừng” của người lính Tây
Tiến vẫn ln hướng về bên kia biên giới, ánh mắt của sự căm thù, của
ý chí quyết tâm chiến đấu và chiến thắng kẻ thù:
“Quân thù kia ơi! Một bầy man rợ
Bay đừng hòng khuất phục đời ta

Bay định đốt ta thành hòn than quỳ lạy
Trong ánh lửa hồng ta xuất hiện một vòng hoa”
(“Bài ca chim Chơrao” - Thu Bồn)
Quả thực ánh mắt trừng mà Quang Dũng khắc họa có sức mạnh như lời
tuyên chiến trước quân thù, rất oai phong, hào hùng. Và gửi theo ánh
mắt của quyết tâm và lòng kiên trì ấy là giấc mộng chinh phu, giấc
mộng lập công danh, đền nợ nước trả thù nhà. Những chàng trai tuổi
đời cịn rất trẻ đã khơng do dự xếp bút nghiên lên đường ra mặt trận,
sẵn sàng gánh trên vai “món nợ” núi sơng. Chỉ với một hình ảnh thôi
mà nhà thơ Quang Dũng đã khiến ta yêu nhiều và khâm phục nhiều tinh
thần của người lính Tây Tiến. Những năm tháng ấy, các anh khi cảnh
giác trước quân địch, khi cũng ấp ôm nỗi nhớ niềm thương về thị thành
quê hương: “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Mơ về Hà Nội với
“dáng kiều thơm”, với hình ảnh những thiếu nữ Hà thành duyên dáng
trong tà áo dài thướt tha, một giấc mơ lãng mạn và hào hoa mà ta chỉ có
thể bắt gặp ở tâm hồn người lính trẻ với xuất thân chủ yếu là thanh niên
trí thức thủ đô, ra đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Giấc mơ
của họ không phải sự bi lụy, tầm thường mà là động lực để họ vững tin
hơn trong những tháng ngày gian khổ. Không những vậy “dáng kiều
thơm” ấy còn một lần nữa đem đến màu sắc hiện thực cho câu thơ,
Quang Dũng đã đem những gì thật chất, đúng nhất về người lính Tây
Tiến lên những trang thơ của mình. Ta cảm nhận và trân trọng vẻ đẹp

chân thực nhưng cũng rất đỗi hào hoa, lãng mạn ấy.
4 câu cuối: Lý tưởng cao đẹp, vẻ đẹp bi tráng, coi cái chết nhẹ tựa
lông hồng, sự hy sinh cao cả của người lính Tây Tiến:
Khép lại đoạn thơ, Quang Dũng đưa ta vào nơi biên cương hẻo lánh rải
rác những ngôi mộ không bia. Sự lạnh lẽo, hoang vắng tràn vào từng
câu chữ cho thấy sự khốc liệt và hơn hết là những đau thương, mất mát
của cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa: “Rải rác biên cương mồ viễn
xứ”. Trên nền hiện thực ấy, những người lính bước qua con đường đầy
máu và mộ phần để tiếp ra chiến trường giành lại tự do cho dân tộc mà
khơng hề nao núng. Chính vì thế, Quang Dũng sử dụng một loạt những
từ Hán Việt như “biên cương”, “viễn xứ” làm cho câu thơ trở nên trang
trọng, mang trong mình khơng khí cổ kính, như đang kể lại những trận
chiến lừng danh thuở xưa của cha ông ta. Lồng ghép vào trong đó là lý
tưởng của một thời đại mới “chẳng tiếc đời xanh” – “Quyết tử cho Tổ
quốc quyết sinh”. Chúng ta nhận thấy rõ sự đối lập khốc liệt giữa
những sự vật: “chiến trường” - là mưa bom bão đạn, là cái chết cận kề,
“đời xanh” – là tuổi trẻ, là ước vọng, là tương lai. Quang Dũng đã thay
đồng đội mình, những anh hùng Tây Tiến, tuyên ngôn đầy ngạo nghễ,
thể hiện sự lạc quan và tràn đầy chất lính: “Chiến trường đi chẳng tiếc
đời xanh”. Bên cạnh sự hào hùng là bi tráng. Với Quang Dũng, chết
không bao giờ là hết. Bằng việc sử dụng hình ảnh “áo bào thay chiếu”,
ơng đã bi tráng hóa cái chết của con người, tráng lệ hóa sự hi sinh của
người lính, “anh về đất” biến cái chết trở thành một sự nghỉ ngơi sau
những quãng đường xơng pha chiến trận làm khơng khí cả bài thơ bi
nhưng không hề lụy. Cái chết của các anh, sự hy sinh của các anh luôn
là sự nhắc nhớ trong trái tim đồng đội, đồng bào, sự hi sinh ấy lặng lẽ,
âm thầm nhưng luôn cao cả và đáng trọng:
“Nằm khuất nơi đâu ven rừng đá lạnh
Trọn đời làm chiến sĩ vô danh” (Thu Bồn)
Trở lại với những vần thơ “Tây Tiến”, Quang Dũng không trốn tránh hiện

thực mà đã khắc họa sự hi sinh của người lính một cách thanh thản, thầm
lặng và cao cả, gây xúc động lòng người, lay động thiên nhiên. Và “Sông
Mã” được nâng tầm như một chứng nhân lịch sử, chứng kiến hết tất cả tội
ác của kẻ thù và cả những chiến công hiển hách của binh đồn Tây Tiến:
“Sơng Mã gầm lên khúc độc hành”. Tiếng gầm cuối cùng ấy là khúc tráng
ca, là khúc nhạc thiêng tiễn đưa anh linh của những người chiến sĩ về với
cha ông, về với đất mẹ. Vẻ đẹp bi tráng về những người lính Tây Tiến từ đó
mà cứ vang vọng mãi trong tâm khảm bạn đọc.


4. 4 câu thơ cuối: Khúc vĩ thanh:
Kiến thức khái quát
 Câu 1 câu đầu:
- Người đi không hẹn ước => Ra đi chiến đấu không ước hẹn
ngày về, tinh thần hi sinh vì nước, xả thân vì dân tộc, vì lý
tưởng vĩ đại trong tim.
- Người đi ở đây là tác giả: Tác giả đã ra đi không hẹn ngày về
lại đơn vị cũ. Trong khi đoàn binh hàng quân càng về phía Tây
càng xa cách, hi vọng ngày lặp lại càng mong manh. Trong
khoảng cách không gian dịu vợi, nỗi nhớ đồng đội của nhà thơ
càng tỏa ra mênh mông.
 Câu 1 câu tiếp:
- Đường lên thăm thẳm một chia phôi: Mỗi bước chân hành
quân đi lên, dốc đèo và những bản làng mờ sương lùi lại phía
sau. Hồn cảnh chiến đấu rất khắc nghiệt, có bao nhiêu gian khổ,
thiếu thốn nên hành trình chiến đấu là những hy sinh tiếp nối,
càng khó có hi vọng trở về.
+ Do hoàn cảnh lịch sử quá ngặt nghèo, cuộc kháng chiến
chống Pháp giai đoạn đầu chẳng khác nào lấy trứng chọi đá, địi
hỏi phải lấy tính mạng để đổi độc lập tự do. Bao thế hệ thanh

niên cầm súng ra chiến trường với tinh thần “quyết tử cho Tổ
quốc quyết sinh”.
=> Ý thơ lột tả lí tưởng chiến đấu cao cả của anh bộ đội cụ Hồ,
làm nổi bật phẩm chất yêu nước anh hùng của họ.
 Câu: 2 câu cuối:
- Mùa xuân năm ấy: Thời điểm thành lập binh đoàn Tây Tiến
- Do tinh thần bi tráng ấy mà mùa xuân thành lập đoàn quân trở
thành một mốc lịch sử ghi nhận công lao to lớn của những con
người anh hùng bỏ mình vì nước.
- Những trái tim và linh hồn ấy còn ở lại với Sầm Nứa, tan vào
với núi sông nên sẽ bất tử với thời gian.
- Sầm Nứa: Địa danh lịch sử, nơi đoàn binh Tây Tiến đã giải
phóng thành cơng có trận đánh vang dội tại đây.
- Về phía tác giả: Nỗi nhớ trào lên trong lịng da diết bởi lẽ có
bao nhiêu kỉ niệm chiến đấu với đoàn quân kể từ mùa xuân ấy,
do đó người đi xa mà tâm hồn vẫn gần gũi. Nhà thơ ở nơi này
mà tâm hồn đã gợi lại nơi Sầm Nứa trên kia, vẫn gắn bó với
đồn qn. Sự phân thân ấy cho thấy tình đồng chí, đồng
đội thắm thiết của nhà thơ.
=> Cách nói chẳng về xi thể hiện thái độ bất cần, khinh bạc,
thể hiện chất lãng tử
kiêu hùng nên tinh thần hi sinh mang vẻ đẹp lãng mạn.
=> Cảm hứng “lãng mạn, anh hùng” trong những vần thơ Quang
Dũng


Văn bản: NGƯỜI

LÁI ĐỊ SƠNG ĐÀ
-Nguyễn Tn-


“...Đọc "Sơng Đà" thấy Tổ quốc ta thật là giàu đẹp. Chỉ nói
riêng Than Uyên có nào mỏ xi măng thiên tạo, mỏ thạch anh
làm thủy tinh ngũ sắc và đồ sứ, mỏ than mở, mỏ lân tinh, mỏ
đồng, mỏ chì...Cảnh Tây Bắc thì tuyệt đẹp, ở đâu tác giả cũng
nổi hứng nghệ sĩ muốn cắm ngay giá vẽ mà vẽ. Núi lớp lớp
mênh mơng như biển, sơng trắng xóa như từng súc lụa tung
trải rã, những thung lũng lúa chín vàng chóe lên, trên đó mây
trắng điểm lơ lửng như thêu nổi ... Nhưng "Sơng Đà" khơng
chỉ nói vẻ đẹp thiên nhiên mà cịn đi tìm vẻ đẹp của lịng
người. Ơng gọi đó là chất vàng mười của tâm hồn con người
Tây Bắc. Ơng ngược dịng lịch sử tìm chất vàng đó ở những
chiến sĩ cách mạng kiên cường đã theo gương bất khuất ở nhà
tù Sơn La, ở những cán bộ hoạt động bí mật hồi Tây Bắc bị
giặc chiếm đóng, đã vượt qua những thử thách khủng khiếp
để gây cơ sở cách mạng, ở những chiến sĩ quân đội, những
anh chị em dân công hồn tiến quân vào.”
(Nguyễn Đăng Mạnh -‘'Sông Đà" Trích "Nhà văn Tư tưởng
và phong cách" NXB Văn học -1983)
I. THƠNG TIN TÁC GIẢ: Nguyễn Tn

Từ
khó
a

 Tài hoa, uyên bác
 Phong cách nghệ thuật: ngông
 Nhà văn – nghệ sĩ
 Suốt đời tôn thờ và phụng sự cái đẹp
 Mạnh mẽ, tự do, phóng túng, ý thức về cái “tơi” cá

nhân”
u tiếng Việt và có những đóng góp trong việc phát
triển tiếng Việt

Nguyễn Tuân là gương mặt nhà văn tiêu biểu của nền văn
học Việt Nam hiện đại, nhà trí thức giàu lịng u nước và
tinh thần dân tộc. Lịng u nước của nhà văn thường khơng
được phát biểu một cách trực tiếp mà ẩn đằng sau những bức
tranh thiên nhiên, những giá trị văn hóa cổ truyền. Nguyễn
Tuân là nhà văn tài hoa, uyên bác. Thể hiện sự tài hoa,
Nguyễn Tuân thường nhìn nhận và khám phá mọi sự vật, hiện
tượng ở phương diện thẩm mĩ và miêu tả con người ở góc độ
tài hoa nghệ sĩ. Thể hiện sự uyên bác, văn Nguyễn Tuân đầy
ắp những hiểu biết phong phú, đa dạng về nhiều lĩnh vực
khác nhau của đời sống từ các bộ môn nghệ thuật. Nguyễn
Tn cịn là người có cá tính mạnh mẽ và phóng khống. Ơng
khơng thích những cái gì bằng phẳng, nhợt nhạt cũng như
khơng ưa mọi khn phép gị bó. Trái lại, nhà văn ln có
hứng thú với những biểu hiện mạnh mẽ, phi thường của tạo
vật và con người. Vì vậy khi nhắc đến Nguyễn Tuân là
chúng ta nhắc đến một hồn văn tự do, phóng túng và rất
ngơng.

Câu chuyện thú vị về Nguyễn Tn:
Tình bạn Nguyễn Tn - Ngơ Tất Tố
Nhà văn Nguyễn Tuân sinh năm 1910, so với nhà văn Ngơ
Tất Tố (sinh năm 1894) thì thuộc thế hệ “đàn em”, nhưng
sinh thời, hai ơng đã từng có những kỷ niệm rất mật thiết với
nhau, như bạn bè đồng trang lứa.
Tác giả Vang bóng một thời có lần nhớ lại: Hồi ấy (quãng

những năm ba mươi), nhiều đêm Ngơ Tất Tố thường ngồi ở
tịa soạn một báo nọ trong góc phố Hàng Da để viết bài.
Nguyễn Tuân trẻ trai thường hay đi chơi về khuya nên thỉnh
thoảng lại tạt qua đây ngủ nhờ. Bao giờ cũng vậy, trông thấy
bộ dạng Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố lại vui vẻ hỏi: “Thế nào,
có vui và đơng lắm khơng? Thơi bác thức, tôi đi ngủ đây”. Và
Nguyễn Tuân tâm sự: “Nhiều đêm về oi ả q, tơi chỉ muốn
ngủ, cịn viết gì thì viết, mai hãy hay. Nhìn những trang viết
dở của bác Tố trên bàn, tự nhiên trong người thấy đứng đắn
trở lại. Và ngồi vào trước tờ giấy trắng, vừa ngáp vừa nhìn
ơng bạn vong niên ngon giấc sau khi đã viết một số trang
kia”.
Đấy là một kỷ niệm với Ngơ Tất Tố lúc ơng cịn sống, trong
đó Nguyễn Tn khơng hề phủ nhận vai trị “động viên” tinh
thần của bậc đàn anh trong quá trình sáng tác.
Sau khi Ngơ Tất Tố mất (1954), năm 1962, Nguyễn Tn có
viết lời giới thiệu cho cuốn Tắt đèn tái bản, ông được trả
nhuận bút tới... 500 đồng. Giới xuất bản cho đấy là mức
“tuyệt trần cao của loại văn đề tựa” (vì theo Nguyễn Tuân cho
biết, phở lúc bấy giờ chỉ ba hào một bát). Chưa hết, khi vào
vai Chánh tổng trong phim Chị Dậu (chuyển thể từ tiểu
thuyết Tắt đèn), ngồi thù lao vai diễn, Nguyễn Tn càng có
thêm nhiều quần chúng biết đến. Ông kể lại: “Đi trên hè phố,
nhiều người tơi khơng quen nhưng nhìn tơi với nụ cười
cảm tình với một nhân vật màn ảnh họ vừa nhận ra”.
Đối với Nguyễn Tn, ơng có niềm vui thật trọn vẹn khi nhớ
về tình bạn giữa ơng và Ngơ Tất Tố: Một tình bạn buổi ban
đầu đến với văn chương, một tình bạn trong những năm
kháng chiến gian khổ, một tình bạn trên trang sách mà ơng
viết lời giới thiệu và một tình bạn trên những thước phim mà

ơng tham gia một cách tâm huyết.
Phạm Quang Chung
II. THÔNG TIN TÁC PHẨM
● Tác phẩm được viết trong thời kì xây dựng CNXH ở miền Bắc.
Đó là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trong
kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958.
● Tuỳ bút “Người lái đị Sơng Đà” được in trong tập tùy bút “Sông
Đà” (1960), gồm 15 bài tuỳ bút và một bài thơ ở dạng phác thảo.
● Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội,
công nhân và đồng bào các dân tộc. Thực tiễn xây dựng cuộc sống
mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo.
● ·Ngoài phong cảnh Tây Bắc uy nghiêm, hùng vỹ và tuyệt vời thơ
mộng, Nguyễn Tuân còn phát hiện những điểm quý báu trong tâm
hồn con người mà ông gọi là “thứ vàng mười đã được thử lửa, là
chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc.”


Cách ghi nhớ về hoàn cảnh sáng tác chi tiết của bài như sau:
Sông Đà – 1960 – Chuyến đi thực tế năm 1958 – phong cảnh thiên
nhiên tuyệt mĩ – “Chất vàng mười trong tâm hồn con người”
Để hiểu rõ hơn về tác giả Nguyễn Tuân và tùy bút Người lái đị
sơng Đà, các em có thể tham khảo bài báo dưới đây:
Nguyễn Tuân (1910-1987) là một cây bút bậc thầy về nghệ thuật sử
dụng ngôn ngữ trong nền văn xi Việt Nam hiện đại. Song song
với những đóng góp về chủ đề, nội dung, tư tưởng cho nền văn học
nước nhà, ở phương diện hình thức nghệ thuật văn học thì Nguyễn
Tn là người có cơng khơng nhỏ trong việc làm cho thể tùy bút đạt
đến trình độ nghệ thuật cao. Với thể tùy bút, Nguyễn Tuân đã góp
phần làm phong phú ngơn ngữ dân tộc, ơng đem đến cho văn xuôi
Việt Nam một phong cách viết đặc biệt tài hoa và độc đáo.

Có thể khẳng định thành cơng lớn nhất của Nguyễn Tn trên
phương diện hình thức nghệ thuật thể loại tùy bút chính là ở nghệ
thuật sử dụng ngôn ngữ. Thành công ấy được tạo nên bởi ý thức lao
động nghệ thuật nghiêm túc, công phu của nhà văn. Tiếp cận các tác
phẩm văn xuôi của Nguyễn Tuân, chúng ta nhận thấy mỗi trang viết
của ông ln có ý thức rất sâu về vai trị và hiệu quả nghệ thuật của
câu văn. Vì vậy, việc sử dụng các biện pháp tu từ để làm đẹp cho
câu văn theo một chuẩn mực thẩm mĩ là một trong những nét nổi
bật trong phong cách ngôn ngữ tùy bút Nguyễn Tuân.
Khảo sát các biện pháp tu từ trong văn xuôi Nguyễn Tuân chúng ta
thấy được tài năng, sự sáng tạo trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ
của nhà văn bậc thầy họ Nguyễn và góp phần khẳng định phong
cách nghệ thuật của nhà văn. Trong khuôn khổ bài viết ngắn, chúng
tơi chỉ có thể góp thêm một cách khám phá mới về sự “chệch
chuẩn” trong câu văn Nguyễn Tuân qua tùy bút Người lái đị sơng
Đà bằng việc chỉ ra và phân tích các phương tiện tu từ cú pháp mà
nhà văn đã sử dụng với mong muốn sẽ hiểu được phần nào những
đặc điểm, sự sáng tạo về cấu trúc trong câu văn Nguyễn Tuân, góp
phần trong việc phân tích, hiểu hơn về tác phẩm Người lái đị sơng
Đà.
Qua khảo sát tùy bút Người lái đị sơng Đà của Nguyễn Tuân,
chúng tôi nhận thấy trong tác phẩm nhà văn đã sử dụng các biện
pháp tu từ nổi bật sau:
Thứ nhất, sóng đơi cú pháp là biện pháp tu từ có gốc gác từ văn
chương biền ngẫu thời trung đại. Trong phú, văn tế, câu đối, thơ và
cả trong văn xuôi, từng cặp câu, từng ngữ đoạn thường đối nhau
chan chát về từ loại, thanh điệu, ý nghĩa. Trong những trang viết của
mình, Nguyễn Tuân đã vận dụng thủ pháp sóng đơi một cách linh
hoạt, làm cho câu văn hài hịa, đầy ấn tượng.
Ví dụ trong câu: “Bờ sơng hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông

hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích thuở xưa”. Phép sóng đôi tạo
cho câu văn thế cân đối, đều đặn, nhịp nhàng, làm hiện lên hình ảnh
một dịng sơng vừa huyền sử, vừa thơ mộng lại vừa trữ tình. Việc
lặp lại cấu tạo một câu như vậy đã không làm mất đi sự năng động,
linh hoạt trong cấu trúc của câu văn. Sử dụng phép sóng đơi làm
câu văn Nguyễn Tn vừa mang sắc thái đĩnh đạc, cổ kính, lại vừa
rất mới mẻ, hiện đại. Có được hiệu quả này là do Nguyễn Tuân đã
biết xử lí tinh tế, lựa chọn và sử dụng từ ngữ một cách mới mẻ cùng
với phép so sánh tu từ sáng tạo.
Thứ hai, sóng đơi cú pháp thực ra cũng là một kiểu phép điệp: điệp
cấu trúc. Nhưng sự lặp lại chỉ diễn ra ở từng cặp đối ứng, nên khả
năng mở rộng, phức hóa câu dù sao vẫn bị hạn chế. Phép điệp của
tu từ cú pháp là sự biến đổi về chất so với sóng đơi, phá vỡ giới hạn

của nó, mở ra nhiều hướng phát triển phong phú cho câu. Bởi “Phép
điệp trong câu có tác dụng kích thích tâm lí của người tiếp nhận:
một yếu tố nào đó xuất hiện nhiều lần sẽ khiến người ta chú ý”. Về
phía người viết, phép điệp có tác dụng tơ đậm, khắc sâu một ấn
tượng, một cảm xúc, một nhận xét, và trong nhiều trường hợp, nó
tạo nên một nét nhấn trong âm điệu lời văn.
Ở Người lái đị sơng Đà, phép điệp được Nguyễn Tuân sử dụng
trong nhiều câu văn nhằm tô đậm hình ảnh miêu tả với một sắc thái
mới, gây ấn tượng với người đọc. Ví dụ: “Lại như quãng mặt ghềnh
Hát Lng, dài hàng trăm cây số nước xơ đá, đá xơ sóng, sóng xơ
gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi
nợ xuýt bất cứ người lái đị sơng Đà nào tóm được qua đấy”. Trong
câu văn, phép điệp được sử dụng đã phát huy triệt để hiệu quả nghệ
thuật. Hình ảnh nước, đá, sóng liên tiếp, trùng điệp, hịa lẫn vào
nhau được gợi nên một cách đầy ấn tượng nhờ cách diễn đạt sáng
tạo “nước xơ đá, đá xơ sóng, sóng xơ gió”. Câu văn của Nguyễn

Tuân như một bức tranh 3D sống động khiến cho người đọc có
cảm giác như mình đang tận mắt chiêm ngưỡng cảnh tượng kì vĩ
thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc.
Hay ở câu: “Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi, lại réo to mãi
lên. Tiếng nước thác nghe như là ốn trách gì, rồi lại như là van
xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”. Câu văn
lặp lại “như là” ba lần với thủ pháp so sánh kép gợi cho người đọc
một ấn tượng mạnh về tiếng thác nước. Với cách miêu tả của
Nguyễn Tn, người đọc cảm nhận được cái kì bí, man sơ của cảnh
rừng thiêng nước độc.
Ở câu: “Làm cái nghề vận tải đường nước này thật là vất vả, người
cứ dựng đứng lên mà luôn tay, luôn chân, luôn mắt, luôn gân và
luôn tim nữa”. Cái khác biệt ở câu này không phải là sự lặp lại từ
“luôn” mà là những yếu tố đi kèm với nó. “Ln tay”, “luôn chân”,
“luôn mắt” là những kết hợp quen thuộc, đến “ln gân” đã có vẻ lạ
lẫm, nhưng khi nghe “ln tim” thì người đọc khơng khỏi băn
khoăn khi dùng từ như vậy. Nếu dùng riêng ra, “ln tim” có vẻ vô
nghĩa, nhưng đặt trong quan hệ với những “luôn tay”, “ln chân”,
“ln mắt” thì nó bỗng phát ra một ý nghĩa phong phú và thú vị
không ngờ.
Ở những câu văn như trên, yếu tố lặp tuy khơng đóng vai trị là
những “tín hiệu thẩm mĩ”, nhưng nhờ vai trị liên kết của nó, vẻ đẹp
trong hình ảnh của các câu vừa tỏa ra nhiều hướng, lấp lánh nhiều
màu, lại vừa cùng chụm vào soi sáng ý nghĩa của một đối tượng.
Trong sử dụng phép lặp, Nguyễn Tuân luôn song song kết hợp với
phép so sánh tu từ mới lạ càng làm cho câu văn tăng sức độc đáo và
giàu giá trị biểu đạt.
Thứ ba, tách câu (còn gọi là chiết cú) “là một biện pháp tu từ cú
pháp nhằm tách các bộ phận của một câu có cấu trúc ngữ nghĩa ngữ pháp thống nhất thành những phát ngôn biệt lập bằng một chỗ
ngừng, hay một dấu chấm ngắt câu, với một dụng ý đặc biệt, hoặc

do nhịp cảm xúc của giọng văn”. Xét trong nội bộ một câu, biện
pháp tách câu “là sự cố ý vi phạm chuẩn mực cú pháp”. Những câu
như thế không thể đứng độc lập. Tuy nhiên trong văn bản, nó lại tồn
tại một cách hồn tồn hợp lí. Thành phần thiếu khuyết trong câu
tách biệt (chẳng hạn danh từ làm chủ ngữ) dường như đã được giải
thích bằng sự có mặt của nó ở câu trước đó mà nó có quan hệ tất
yếu về ngữ nghĩa.
Câu tách biệt thường có cấu tạo khá giống nhau. Nó có thể là một
từ, một cụm danh từ, cụm tính từ hoặc cụm động từ được tách ra từ
một câu. Văn chương Nguyễn Tuân không hề đơn điệu. Luôn phức


hóa, nhưng khi cần, ơng cũng biết đơn giản hóa đến tối đa. Trong
Người lái đị sơng Đà, Nguyễn Tn ưa sử dụng lối tách câu với
một dụng ý tu từ rõ rệt. Có khi là để khẳng định, nhấn mạnh. Ví dụ:
“Hùng vĩ của sơng Đà khơng phải chỉ có thác đá. Mà cịn đó là
những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông ở chỗ ấy chỉ
lúc đúng ngọ mới có mặt trời. Có vách đá thành chẹt lịng sơng Đà
như một cái yết hầu”.
Cũng có khi, Nguyễn Tuân tách câu để miêu tả nhịp điệu diễn biến
của sự việc, hay nhịp điệu cảm xúc vừa là để nhấn mạnh, bằng cách
chen vào những câu liên tưởng như: “Thuyền tôi trôi trên sông Đà.
Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê,
quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua
một nương ngô nhú lên mấy lá ngơ non đầu mùa. Mà tịnh khơng
một bóng người”. Câu văn “Mà tịnh khơng một bóng người” trở
thành một ngữ trực thuộc trong đoạn văn trên để nhấn mạnh không
gian tĩnh lặng nên thơ của khúc sông mà nhà văn miêu tả.
So với ngôn ngữ khoa học, việc dùng các kiểu câu tách ra là một sự
vi phạm chuẩn mực. Để đạt hiệu quả tối đa trong miêu tả, Nguyễn

Tuân sử dụng tách câu như một thủ pháp nghệ thuật cần thiết.
Thứ tư, giải ngữ còn gọi là phụ chú ngữ, là biện pháp tu từ cú pháp,
trong đó, người ta “dùng một từ, một cụm từ hay một câu, một
chuỗi câu xen vào câu chính để lí giải, nhấn mạnh hoặc bổ sung
một giọng điệu khác với giọng điệu kể hay giọng trình bày các lập
luận”. Giải ngữ được dùng khá phổ biến trong văn chính luận, trong
văn xuôi nghệ thuật và thỉnh thoảng trong thơ.
Trong lời văn Nguyễn Tn, có những giải ngữ chỉ nhằm giải thích
thuần túy, giúp người đọc hiểu rõ về đối tượng. Ví dụ trong câu:
“Tôi không muốn sau này làm phim truyện hoặc phim kí sự (tơi
khơng muốn dùng mấy chữ phim tài liệu) màu về sông Đà, nếu
muốn phản ánh lên cái dữ tợn và cái lớn của sông Đà của thác
sông Đà, cũng phải đưa ống quay phim lên tàu bay”.
Có trường hợp, giải ngữ đảm trách chức năng của một định ngữ
nghệ thuật. Ấy là khi qua giải ngữ, tác giả cấp cho ta những thông
tin cụ thể, tỉ mỉ, chính xác về một khía cạnh nào đó của đối tượng:
“Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh dũng cảm dám ngồi vào một cái
thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay
xuống đáy cá hút sơng Đà - từ đáy cái hút nhìn ngược lên vách
thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao tới vài sải”.
Giải ngữ vốn tồn tại trong câu văn Nguyễn Tuân như một nhánh
phụ, ít quan trọng so với các thành phần khác, do vậy, dùng nó,
thêm một dịp nhà văn được tự do phát triển câu văn theo sở thích
của mình. Giải ngữ cũng góp phần làm toát lên cái giọng văn riêng,
hết sức đặc biệt của Nguyễn Tn.
Tóm lại, là một cây bút ln có ý thức sáng tạo, đổi mới trên cả hai
bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn
chương, trên các trang viết của mình, Nguyễn Tuân đã thể hiện
nhiều khổ cơng tìm tịi, sáng tạo. Mỗi câu văn của Nguyễn Tn là
cả một “lộ trình”. Đó là lộ trình hiện đại hóa của câu văn quốc ngữ,

vừa phản ánh khá rõ nét những đặc điểm phong cách ngôn ngữ của
một cá nhân. Nguyễn Tuân luôn luôn nỗ lực tránh những lối mịn,
vượt những khn mẫu, dùng phép tắc chung theo cách riêng
của mình để nói lên tiếng nói của chính mình. Với cách nói vừa
chuẩn mực vừa “chệch chuẩn”, câu văn của Nguyễn Tn vì thế
ln hấp dẫn với những hình ảnh mới lạ, độc đáo và nhiều khi cũng
bắt buộc người đọc phải dừng lại một chút để suy ngẫm mới có thể
hiểu hết được.
Nguyễn Thị Mỹ Lài (Theo Văn nghệ Tiền Giang số 76)

Nhận xét về tác giả và tác phẩm:
1. Chỉ người ưa suy xét đọc Nguyễn Tuân mới thấy thú vị, vì văn Nguyễn Tuân
không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức.Một ngày không xa, khi mà
văn chương Việt Nam được người Việt Nam ham chuộng hơn bây giờ, tôi dám
chắc những văn phẩm của Nguyễn Tn sẽ cịn có một địa vị xứng đáng hơn
nữa. (Vũ Ngọc Phan)
2. "Khi thì trang nghiêm cổ kính, khi thì đùa cợt bơng phèng, khi thì thánh thót
trầm bổng, khi thì xơ bồ bừa bãi như là ném ra trong một cơn say chếnh choáng,
khinh bạc đấy, nhưng bao giờ cũng rất đỗi tài hoa"(Nguyễn Ðăng Mạnh)
3. Nguyễn Tuân là một nhà văn cả đời đi tìm kiếm cái thực và cái đẹp. Thực ra,
sự thực và cái đẹp của cuộc sống là hai cái đích mà dường như bất kì ngịi bút
chân chính nào cũng hướng tới nhưng không dễ chiếm lĩnh và chạm vào được.
Nguyễn Tuân cũng trên hành trình tìm kiếm nhưng tác phẩm của ông đã chạm
được đến cái đẹp, nhất là cái đẹp truyền thống và cái thực phồn hoa chốn thành
thị. Nguyễn Tuân là người thưởng thức cái đẹp với tư cách người có văn hóa, có
vốn tri thức, biết giá trị của đối tượng mình chiêm ngưỡng. (Nguyễn Đình Thi )
4. Giáo sư Nguyễn Ðăng Mạnh có nhận định: "Hạt nhân của phong cách nghệ
thuật Nguyễn Tuân có thể gói gọn trong một chữ ngơng. Cái ngơng vừa có màu
sắc cổ điển, kế thừa truyền thống tài hoa bất đắc chí của những Nguyễn
Khuyến, Tú Xương, Tản Ðà,... và trực tiếp hơn là cụ Tú Lan, thân sinh nhà văn;

vừa mang dáng vẻ hiện đại, ảnh hưởng từ các hệ thống triết lý nổi loạn của xã
hội tư sản phương Tây như triết lý siêu nhân, quan niệm về con người cao đẳng,
thuyết hiện sinh...”
5. Ông xứng đáng được mệnh danh là "chuyên viên cao cấp tiếng Việt", là
"người thợ kim hoàn của chữ" (Ý của Tố Hữu), Tinh thần tự nguyện dấn thân,
bám trụ ở thành trì cái Ðẹp là biểu hiện sinh động của một nhân cách văn hóa
lớn. Nhà văn Nguyễn Tuân "đặc Việt Nam"(chữ dùng của Vũ Ngọ)
6 ...Đọc Người lái đị sơng Đà, ta có ấn tượng rõ rệt về sự tự do của một tài
năng, của một đấng hóa cơng thực sự trong nghệ thuật ngôn từ... Khi gân guốc,
khi mềm mại, khi nghiêm nghị như một nhà bác học, khi hồn nhiên như một
đứa trẻ thơ, những trang viết, những câu văn của Nguyễn Tuân mang hơi thở ấm
nóng của cuộc đời phức tạp, phong phú, đa dạng. Sự tự ý thức sâu sắc về tài
năng của mình khơng phải là một biểu hiện tiêu cực, trái lại, nó tạo nên sự giải
phóng năng lượng rất cần thiết để nhà văn có thể sáng tạo nên những tác phẩm
kì vĩ...”. (Phan Huy Đông, in trong Vẻ đẹp văn học cách mạng).
7.“... Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra một con Sông Đà không phải là thiên nhiên
vô tri, vô giác, mà là một sinh thể có hoạt động, có tính cách, cá tính, có tâm
trạng hẳn hoi và khá phức tạp. Nó có hai nét tính cách cơ bản đối lập nhau như
tác giả nói- “hung bạo và trữ tình...” .( Nguyễn Đăng Mạnh).
8. “... Nguyễn Tuân- một cây bút vốn luôn khao khát những cảm giác, cảm xúc
mới lạ, nồng nàn, say đắm...”. (Nguyễn Đăng Mạnh).
9. Lật mở từng trang viết của nhà văn Nguyễn Tn, khơng khó để nhận thấy
những con người phi thường, những cảm xúc dữ dội, mãnh liệt, những khung
cảnh ấn tượng nơi thác ghềnh, rừng thiêng, núi cao, bão, gió - Tất cả được thâu
tóm qua lăng kính 'vạn hoa' của nhiều ngành nghệ thuật và diễn tả bằng ngòi bút
sắc bén, ngang tàng. Dường như, cá tính khơng thể trộn lẫn ấy nảy sinh từ cẩn
tắc, từ trăn trở khơn ngi trên hành trình đi tìm cái đẹp của một con người rất
mực tài hoa mà cuộc sống trong đời thực cũng rất lạ lùng...
( Trích Bài đăng trên báo giấy Đời sống & Pháp luật số 71)
10. “Và từ ấy đến nay, cho dù đã có biết bao người khác, vẽ và kể chuyện về

sông Đà, làm thơ và ca hát với sông Đà thì có lẽ vẫn chưa ai vượt hơn được
Nguyễn Tuân trong việc biến vùng sông nước ấy thành nghệ thuật, thành một
gợi cảm mênh mông” (Đỗ Kim Hồi).
11. “Qua bài tùy bút, đặc biệt là qua đoạn tả cuộc vượt thác của ơng lái đị,
Nguyễn Tn muốn nói với ta rằng: Chủ nghĩa anh hùng đâu chỉ có ở nơi chiến
trường. Nó ở ngay trong cuộc sống của nhân dân ta hằng ngày phải vật lộn với
thiên nhiên vì miếng cơm manh áo. Và trí dũng tài ba khơng phải tìm ở đâu đâu,
mà ở ngay những người dân lao động bình thường kia. Cuộc đời ơng lái đị vô
danh nơi ngọn thác hoang vu khuất nẻo kia là cả một thiên anh hùng ca, là cả
một pho nghệ thuật tuyệt vời” (Nguyễn Đăng Mạnh).
12. Trong cái vội vàng, cái cẩu thả của những tác phẩm xuất bản gần đây, những
sản phẩm đã hạ thấp văn chương xuống mực giá trị của một sự đua đòi, người ta
lấy làm sung sướng khi thấy một nhà văn kính trọng và yêu mến cái đẹp, coi
công việc sáng tạo là công việc quý báu và thiêng liêng.
( Nhà văn Thạch Lam)


III. NỘI DUNG TÁC PHẨM:
1. Lời đề từ: Cảm hứng chủ đạo – ý nghĩa lời đề từ
- “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dịng sơng”
- “Chúng thủy giai đơng tẩu - Đà giang độc bắc lưu”
- Cội nguồn sáng tác của tác phẩm bắt nguồn từ cảm hứng ngợi ca, yêu
mến quê hương đất nước và yêu mến những vẻ đẹp tìm thấy trong cuộc
sống: Vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của con người.
+ Thiên nhiên: lời đề từ đã gợi mở những vẻ đẹp khác nhau của Sông
Đà mà tác giả đã chỉ ra trong bài viết của mình. Nguyễn Tuân đã
nhận ra điều khác thường của dịng sơng để định hướng suy nghĩ
chủ quan hướng tới thể hiện sự khác thường đó.
+ Con người: đó là hình ảnh người lái đị như một người nghệ sĩ trí
dũng, tài hoa, được nhìn nhận, khám phá và miêu tả với tâm thế

làm chủ thiên nhiên và là người nghệ sĩ thực thụ trong công việc
lao động hàng ngày.
- Tác phẩm cũng ghi dấu ấn trong lòng đọc giả về Nguyễn Tuân –
người nghệ sĩ với phong cách nghệ thuật vơ cùng độc đáo. Ơng tìm đến
sơng Đà – dịng sơng duy nhất chảy về hướng Bắc – giống như việc tìm
đến chính bản ngã của bản thân mình – một phong cách nghệ thuật độc
đáo. Như TS. Phan Huy Dũng nhận định: “Độc đáo tìm độc đáo. Đó
là Nguyễn Tn và Sơng Đà.”

2. Hình tượng sơng Đà:
a) Con sông Đà hung bạo:
 Sự hùng vĩ hung bạo qua diện mạo:
 Ở những quãng sông hẹp, đá bờ sông dựng vách thành

- “Mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời” => người đọc
vừa hình dung được độ cao của vách đá hai bên bờ sông, vừa cảm nhận
được cái lạnh lẽo, âm u của những khúc sông hẹp. Đá ở bờ sông đã
chắn hết ánh nắng, chúng khơng cho bất kì tia nắng nào rọi xuống mặt
sông trừ lúc giữa trưa. Bởi thế quãng sông này luôn âm u, lạnh lẽo đến
rợn người.
- “Vách đá thành chẹt lịng Sơng Đà như một cái yết hầu” => So sánh
với một bộ phận nhỏ hẹp ở cổ họng con người => cách miêu tả chính
xác, sinh động. Để tô đậm cảm giác của con người trước quãng sơng
nhỏ hẹp, Nguyễn Tn sử dụng liên tiếp hai hình ảnh: “đứng bên này
bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách”, “Có quãng con nai con hổ
đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia.”
- “Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy
lạnh...tắt phụt đèn điện.” => Liên tưởng độc đáo, so sánh cảm giác của
con người giữa thiên nhiên hoang sơ với một khoảnh khắc của đời sống
hiện đại giữa chốn thị thành => Những so sánh liên tưởng của tác giả

vừa chính xác tinh tế, bất ngờ và lạ lẫm. Từ kho ấn tượng của mình,
nhà văn sáng tạo ra những hình ảnh gây chấn động trước tưởng tượng
và cảm xúc mỗi người đọc.
 Đặc tả mặt ghềnh Hát Lóong: “dài hàng cây số nước xơ đá, đá xơ
sóng, sóng xơ gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào
cũng muốn đòi nợ xuýt bất cứ con thuyền nào tóm được qua đây”.
- Biện pháp nhân hóa => Khúc sông giống như một kẻ lưu manh lúc
nào cũng thích gây gổ, lúc nào cũng muốn địi nợ xuýt người lái đò.
- Thủ pháp điệp từ, điệp ngữ: “nước xơ đá, đá xơ sóng, sóng xơ gió.”
Những thanh trắc được gieo liên tiếp tạo âm hưởng dữ dội với nhịp
điệu khẩn trương, dồn dập như vừa xô, vừa đẩy, vừa hợp sức với gió,
với sóng, với đá khiến cho cả ghềnh sơng như sơi lên giữa dịng.
- Câu văn đang đi bằng những nhịp ngắn bỗng duỗi dài ra theo lối tăng
tiến khiến cho những ảnh hưởng của sóng, của gió càng trở nên mãnh
liệt.
=> Hình thái của dịng sơng được nhà văn nén lại trong một thứ văn
cheo leo, gây chấn động mạnh vào thần kinh cảm thụ nghệ thuật của
người đọc.

 Ở những cái hút nước chết người nơi quãng Tà Mường Vát.
 Về hình thù nó giống như cái giếng bê tơng thả xuống để chuẩn bị
làm móng câu. Về âm thanh nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị
sặc, nó kêu ặc ặc như tiếng rót dầu sơi
=> Với cách dùng từ tượng thanh, nhà văn Nguyễn Tuân đã khiến
người đọc như được nghe thấy âm thanh của một con thủy quái khổng
lồ đang bị bóp cổ.
 Sự chết chóc hiện ra khi nhà văn so sánh “trên mặt cái hút xốy tít
đáy cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn”, rồi tường thuật “có
những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối
ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lịng sơng đến mươi phút

sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới”.
 Qua góc nhìn điện ảnh, ơng hình dung có một nhà quay phim nào đó
dũng cảm dám ngồi trên chiếc thuyền thúng cùng với máy quay, để cái
hút nó hút cả thuyền, cả người và máy quay xuống tít đáy thế rồi quay
ngược ống kính lên thu ảnh. Cái thước phim màu quay tít ấy đã truyền
cảm giác sợ hãi đặc biệt cho người đọc. Nó giống như chúng ta đang sợ
hãi ghì chặt lấy mép ghế khi phải ngồi xem cái cảnh tượng hãi hùng
của một thước phim 3D.
 Đặc tả thác nước:
- Âm thanh hãi hùng, ghê rợn của nước: khi thì như là “ốn trách gì”
rồi lại như là “van xin”, rồi lại như là khiêu khích, giọng “gằn và chế
nhạo”.
=> Một câu văn ngắn mà đủ các cung bậc âm thanh của tiếng thác vừa
thể hiện vốn từ phong phú vùa thể hiện trình độ thẩm âm tinh tế của tác
giả.
- Hình ảnh so sánh: “rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang
lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa,
rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng” => Nhà văn
đã sử dụng ngôn từ để tái hiện âm thanh, những giai âm của bản nhạc
giao hưởng hùng tráng, của sóng, cử gió, của thác đá.
=> Dám lấy lửa để tả cái vốn đối lập với lửa – dòng nước; dám lấy
rừng để tả sơng, có lẽ chỉ có Nguyễn Tn mới ngơng ngạo vậy thôi!
=> Với phong cách viết tài hoa kết hợp với vốn kiến thức uyên bác
Nguyễn Tuân đã tạo ấn tượng mạnh mẽ mạnh vào giác quan người đọc
một hình ảnh dữ dội đến khủng khiếp khi miêu tả những hút nước của
Sông Đà.

 Hung bạo ngay cả trong tâm địa:
 Trùng vi thạch trận trên sơng: Vịng đầu nó bày ra năm cửa trận trong
đó có tới bốn cửa tử mà chỉ có một cửa sinh duy nhất, cái cửa sinh nằm

lập lờ nơi phía tả ngạn sơng. Vịng thứ hai nó lại tăng thêm nhiều cửa tử
để đánh lừa con thuyền, cửa sinh chúng chuyển mãi qua phía bờ hữu
ngạn. Vịng thứ ba thì cả hai bên gần tả hữu bờ sông đều là luồng chết,
cửa sinh duy nhất nằm ở giữa hòn đá hậu vệ của con thác.
=> Trận đồ bát quái khó nhằn, gây nỗi ám ảnh với bất cứ ai muốn đi
qua.
- Mỗi hòn đá là một tên lính thủy hung tợn, tên nào cũng trông cũng
“ngỗ ngược, nhăn nhúm” sẵn sàng giao chiến. Cả một trận địa đá với
những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm đã được bày sẵn ra sẵn sàng dìm
chết con thuyền. Khi thì nó mai phục để đột nhiên nhổm cả dậy vồ lấy
thuyền nơi khúc sông ngoặt, khi thì nó lại tỏ ra sơ hở để dụ con thuyền
vào rồi bất ngờ quay lại đánh khuýp quật vô hồi, khi đã giáp lá cà thì
nó đâm thẳng vào hông thuyền, bẻ gãy cán chèo rồi đá trái, thúc gối,
giở đủ địn âm địn tỉa...
=> Sơng Đà trở thành loài thủy quái hung ác, hiểm độc.
=> Những tri thức về quân sự, võ thuật, thể thao, điện ảnh được tung ra
để vẽ thành hình thành dạng thành tính cách của con sông độc đáo này.


Phân tích chi tiết:
Phải là Nguyễn Tn và có lẽ chỉ có Nguyễn Tn mới khơng ngại nhọc
cơng dị đến ngọn nguồn lạch sơng, truy tìm đến tận nơi gốc tích khai sinh
của sơng Đà. Sơng Đà phát ngun ở huyện Cảnh Đông tỉnh Vân Nam Trung Quốc lấy tên là Ly Tiên, khi đi qua một vùng núi Ác đến nửa đường
thì xin nhập quốc tịch Việt Nam, trưởng thành mãi lên đến ngã ba Trung Hà
thì nhập vào với sơng Hồng. Sơng có tổng cộng bảy mươi ba con thác dữ
và có tổng chiều dài là 983 km. Có thể thấy rằng, khơng phải là một nhà địa
lý học, nhưng tất cả những kiến thức Nguyễn Tuân đem đến cho ta qua
những trang văn của mình đều là những kiến thức bổ ích và có giá trị
nghiên cứu cao. Nguyễn Tuân bây giờ, không coi sông Đà là một sinh thể
vô tri nữa, đối với ông, đây là một nhân vật, một con người, một tâm hồn

mà ông khao khát được khám phá và tuyệt nhiên dịng sơng này, thật phù
hợp với nhà văn của “núi cao, vực sâu, thác dữ của những phong
cảnh tuyệt mĩ” như Nguyễn Tuân.
Nguyễn Tuân tài tình lắm, tài tình nhất là trong việc lựa chọn những nhân
vật chính trong tác phẩm của mình. Tơi cịn nhớ Huấn Cao trong “Chữ
người tử tù” được miêu tả một cách “hào sảng” khi nói về tài năng, sức
vóc, khi miêu tả cảnh tưởng viết chữ nơi ngục tù,.. tơi vẫn cịn nhớ hình ảnh
ơng Lý Văn trong truyện “Ném bút chì”, với sức ngang tàng của cái “bút
chì” ấy có thể lụy cả một cành tre, cho đến cái nghệ thuật cầu kỵ trong việc
lồng ghép cả một tích truyện vào trong chiếc đèn xẻ rãnh của ông Cử Hai
làm cho cậu con Ngộ Lang. Những cái nghệ thuật cầu kỳ phức tạp nhưng
đầy ý nghĩa đó chẳng thể nào bắt gặp được nữa ở giữa xã hội hiện đại bây
giờ... Và cách lựa chọn nhân vật của Nguyễn Tuân, vẫn luôn cầu kỳ như
vậy. Nguyễn Tn tìm đến với nhân vật “sơng Đà” cũng là thêm một lần
nữa tìm về cái đẹp, thêm một lần nữa ghi dấu ấn bản ngã của chính bản
thân mình lên những trang văn.
Trong những trang văn của Nguyễn Tn, sơng Đà hàm chứa trong đó hai
vẻ đẹp thoạt nghe tưởng chừng đối lập: hung bạo và trữ tình. Đó là 2 vẻ đẹp
được phác họa ra từ cái nhìn chủ quan của tác giả và vẻ đẹp khách quan của
dịng sơng. Dưới quyền năng ngơn từ của Nguyễn Tuân, nhân vật sông Đà
được hiện lên với hai vẻ đẹp – 2 nét tính cách đối lập: hung bạo và trữ tình.
Lúc hung bạo, con sơng giống như một con quái thú gầm gào, điên cuồng
chỉ trực muốn nuốt những ai ngang qua khúc sơng này; khi trữ tình, dịng
sơng lại trở về với vẻ hiền hịa, sóng sánh chất thơ và bất chợt trở nên thân
thiết với con người giống như một “cố nhân”.
Nguyễn Quang Bích đã từng có một phát hiện thú vị về sơng Đà, được thể
hiện qua 2 câu: “Chúng thủy giai đông tẩu – Đà giang độc bắc lưu” được
hiểu là mọi dịng sơng đều chảy về hướng Đơng, duy chỉ có sơng Đà là
chảy về hướng Bắc. Có thể thấy rằng, ngay từ việc lựa chọn cho nhân vật
của mình, Nguyễn Tuân cũng đã bộc lộ được “tạng văn, tạng người” của

mình. Được đánh giá là một nhà văn của chủ nghĩa “xê dịch”, Nguyễn
Tuân gắn cuộc đời của mình với chiếc vali, với những chuyến đi để tìm
kiếm cái đẹp, ghi lại những điều đó trong trang văn của mình. Lần này,
Nguyễn Tuân kéo vali ngược đường lên Tây Bắc, để tìm kiếm những vẻ
đẹp của sông Đà, điều này thật hợp lý khi sau này nhận định về Nguyễn, đã
có rất nhiều những nhà phê bình nói ơng là nhà văn của những cảm giác
mạnh, của núi cao, vực sâu, của những phong cảnh tuyệt mỹ và việc tìm
đến, viết về dịng sơng này thực sự là một cách giải thích hợp lý cho cảm
hứng sáng tạo của Nguyễn Tuân.
Cá tính độc đáo của sơng Đà, sự khác biệt của dịng sơng này chính là điều
thu hút, thơi thúc Nguyễn Tn phải lên đường, phải viết. Để rồi lời đề từ
Nguyễn Tn chọn cho tác phẩm của mình đó là: “Đẹp vậy thay tiếng hát
trên dịng sơng”. Một cảm hứng ngợi ca, tự hào về vẻ đẹp non sông đất
nước đã được thể hiện ngay từ “lối đi vào” của tùy bút đặc sắc này.
Trong những trang văn của Nguyễn Tuân, sơng Đà hàm chứa trong đó hai
vẻ đẹp thoạt nghe tưởng chừng đối lập: hung bạo và trữ tình. Đó là 2 vẻ đẹp
được phác họa ra từ cái nhìn chủ quan của tác giả và vẻ đẹp khách quan của
dịng sơng. Dưới quyền năng ngơn từ của Nguyễn Tn, nhân vật sông Đà
được hiện lên với hai vẻ đẹp – 2 nét tính cách.
Sự hung bạo của Đà giang đã được Nguyễn Tuân thể hiện một cách rất tài
tình trong thiên tùy bút này. Sông Đà hung bạo, lắm thác nhiều ghềnh:

“Đường lên Mường Lễ bao xa
Trăm bảy cái thác, trăm ba cái ghềnh”
(Ca dao)
Sự hung bạo ấy còn được thể hiện qua dịng chảy ngỗ ngược của nó:
“Chúng thủy giai đông tẩu – Đà giang độc bắc lưu”, một dịng chảy riêng,
khơng khn mình vào lẽ thường. Như đã nói ở trên, sơng Đà bắt nguồn từ
Trung Quốc, xin nhập quốc tịch Việt Nam. Nó phải trải qua rất nhiều triền
núi đá. Vì vậy, ở phần thượng lưu của sơng Đà có rất nhiều thác dữ, nhiều

luồng chết, nhiều vực xốy... Từ đó, Nguyễn đã tìm thấy những tính cách
hung bạo khác thường của dịng sơng. Nhưng khi xi về phần hạ lưu, lịng
sơng như được mở rộng ra, con thác khơng cịn nữa, dịng nước trơi êm
đềm, hiền hịa qua đơi bờ cỏ cây tươi tốt và sông Đà lại hiện lên vô cùng
lãng mạn, thơ mộng, trữ tình. Ngồi ra, Nguyễn nhìn thấy sự hung bạo của
con sông Đà không chỉ tập trung ở thác dữ, ở luồng chết, ở vực xốy. Ơng
cịn nhìn thấy sự hung bạo ấy ở những qng sơng huyền bí, hoang vu đặt
giữa điệp trùng của núi rừng Tây Bắc.
Cái hùng vĩ, sừng sững của sông Đà được thể hiện ngay ở cảnh đá bờ
sông: “đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sơng chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ
mới có mặt trời. Có vách đá thành chẹt lịng Sơng Đà như một cái yết hầu.
Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hịn đá qua bên kia vách. Có qng con nai
con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Ngồi trong khoang đò qua
quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè
một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà
thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”.
Cảnh đá bờ sông được miêu tả dựng vách thành, sự so sánh và liên tưởng
khá độc đáo khiến con sông Đà hiện ngay ra trước mắt người đọc như
thành quách sừng sững, đứng án ngữ ngay trước mặt những du khách khi
đặt chân đến đây. Người đọc có cảm giác đá ven sơng vừa cao, vừa hiểm
trở. Bằng nghệ thuật so sánh độc đáo, Nguyễn Tuân đã cho thấy sự nguy
hiểm của dịng sơng, một nơi hẹp như thế mà lưu tốc dòng nước vốn nhanh
bây giờ lại xiết hơn nữa. Cứ thử tưởng tượng con thuyền nào mà kẹt vào
cái khe ấy thì tiến khơng được, lùi cũng khơng xong chỉ chờ sóng nước và
đá đập cho tan xác mà thôi. Vách đá cao tới mức ánh mặt trời khơng thể
xun qua, có những qng sơng chỉ đúng lúc ngọ mới có mặt trời - tức là
khi mặt trời giữa trưa lên cao nhất mới le lói vài tia sáng nơi qng sơng
này. Đó cũng chính là lý do khiến cho những người đi thuyền qua qng
sơng có cảm giác lạnh lẽo, âm u dù đang là mùa hè. Vừa miêu tả hình
ảnh, vừa miêu tả cảm giác, nhà văn đã đem đến cho người đọc những trải

nghiệm chân thực nhất. Nguyễn Tuân cho người đọc cảm nhận bằng trực
cảm như chính mình được lái đị qua quãng sông hẹp với những vách đá
dựng đứng hai bên. Cái lạnh rợn người được so sánh như ta đang đứng giữa
mùa hè mà ngột ngạt bởi cái chật hẹp, tối đến bất ngờ và sâu thăm thẳm
như đứng ở dưới một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào
trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện. Một câu văn tràn dòng
với những liên tưởng của liên tưởng cho thấy sự tài hoa và uyên thâm trong
việc sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân. Cảm giác này giống như xung
quang ta đang là ánh sáng chan hịa, đi tới qng sơng ấy đột nhiên tối sầm
và lạnh, ta đang cố ngóng lên tìm nguồn sáng thì thấy hai bên bờ đá dựng
vách thành cao vút. Cảm giác vừa hụt hẫng, vừa lo sợ. Cái tài của Nguyễn
Tuân là chỉ bằng những dòng viết lại tạo ra được thứ cảm giác rất chân thực
cho bạn đọc.
Cũng như đá bờ sơng, thì“qng mặt ghềnh Hát Lng, dài hàng cây số
nước xơ đá, đá xơ sóng, sóng xơ gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt
năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đị Sơng Đà nào tóm
được qua qng đấy”. Bằng kết cấu trùng điệp: nước xô đá, đá xô sóng,
sóng xơ gió” tác giả đã làm rõ sự nguy hiểm của con sơng hung dữ, sẵn
sàng lấy đi tính mạng bất cứ tay lái nào khinh suất. Khơng có từ nào trực
tiếp tả ghềnh đá nhưng người đọc hình dung rõ diện mạo con sông. Quãng
dài ghềnh đá nổi trên mặt sơng, nước mạnh xơ ghềnh tạo sóng dữ, sóng
cuộn trào sinh ra gió thổi rít lên gùn ghè, gùn ghè quanh năm suốt tháng.
Con sông đến đây đã trở thành một kẻ thù nguy hiểm của con người. Với
nghệ thuật nhân hóa con sơng như một kẻ thù tính khí thất thường, địi nợ


vơ dun cớ khơng bỏ sót một ai. Ấy mới thấy hết cái hung bạo của sông
Đà. Sự kết hợp ngẫu nhiên hay có lựa chọn giữa tên địa danh với đặc điểm
của sông Đà ở quãng sông này? Chỉ biết khi Nguyễn tả luồng gió gùn ghè
nơi mặt ghềnh lại nằm đúng vị trí Hát Lng. Đọc tên địa danh mà phải nén

hơi, uốn lưỡi như chính như chính mình vừa phải đi qua chỗ nước giữ, với
sóng, với đá, với ghềnh thác của sông Đà.
Đá dựng vách thành và nước trên sơng đã nguy hiểm biết bao thì những cái hút
nước ở quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La lại ghê rợn hơn nữa. “Nước ở
đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc. Trên mặt cái hút xốy tít đáy, cũng
đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn. Không thuyền nào dám men gần những
cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là
ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài
bờ vực. Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu, những cái
giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sơi vào. Có những thuyền đã bị cái
hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và
đi ngầm dưới lịng sơng đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông
dưới”. Những cái bẫy ghê sợ, chết người! Vẫn là nghệ thuật so sánh liên tưởng
độc đáo kèm theo biện pháp nhân hóa nước biết thở và kêu nghe đã đủ cho
người đọc rùng mình nhưng Nguyễn Tn khơng dừng lại ở đó mà tiếp tục thử
độ lì trong giác quan của người đọc khi so sánh và liên tưởng với cái cửa cống
cái bị sặc nước. Khi dịng chảy siết, nó thở và kêu, nhưng kêu như thế nào thì
nhà văn lại tiếp tục tả những cái hút nước ở độ sâu: cái hút xốy tít đáy, như cái
giếng sâu cho thấy độ mạnh của dòng nước; với bề rộng: quay lừ lừ như những
cánh quạ đàn; rồi âm thanh: những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu
sơi vào, cuối cùng là độ nguy hiểm: Có những thuyền đã bị cái hút nó hút
xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm
dưới lịng sơng đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sơng dưới. Hình
ảnh sơng Đà qua ngịi bút của Nguyễn, có lẽ khơng chỉ làm những người lái đị
qua đây cảm thấy rùng rợn mà chính người đọc cũng như vừa tự mình chèo
thuyền qua qng sơng này mà thử cảm giác. Thế nên khi chèo thuyền men qua
những vực nước sông Đà cần phải chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô
sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ
vực. Cảm giác lạnh người và rợn tóc gáy vì câu văn tác động mạnh mẽ vào trực
cảm của người đọc. Những cái hút nước sông Đà qua những dịng văn Nguyễn

Tn mang dáng vẻ của lồi thủy quái vừa đáng sợ, vừa nguy hiểm. Những bộ
phim tài liệu ghi lại về sự dữ dội của sông Đà cũng đã từng đưa ra những câu
chuyện thật về dịng sơng hung bạo này, nhiều người trong chuyến hành trình
lên thượng nguồn đã phải rất vất vả và can đảm để có thể vượt qua quãng những
cái hút nước chết người này.
Cho cảm giác thật đến từng mi-li-met nhà văn sử dụng trường liên tưởng trùng
điệp. Khi nhập vào vai một anh thợ quay phim táo tợn muốn truyền cho người
đọc cảm giác lạ đã dũng cảm ngồi vào một chiếc thuyền thúng rồi thả mình và
thuyền văng xuống cái hút nước sơng Đà. Nhìn từ đáy cái hút nước ấy nhìn lên
vách thành hút chênh nhau đến vài sải tay. Người xoay theo thuyền cả thuyền,
người, máy ảnh quay tít. Nhìn lên nước sơng Đà trong cái hút ấy làm bằng một
màu xanh ngọc bích của một khối pha lê đúc dày như sắp vỡ tan ụp vào cả
người quay lẫn người xem, khiến ai cũng như đang khiếp hãi để ngồi ghì lấy cái
mép lá rừng vừa bị cho vào cái cốc pha lê mà quay tít như vừa rút ra cái gậy
đánh phèn. Liên tưởng của liên tưởng để người đọc có thể cảm nhận rõ nhất.
Phải có sự am hiểu về kiến thức trong lĩnh vực điện ảnh thì Nguyễn mới có thể
viết được những câu văn như thế. Câu chữ như đang nở hoa trên dịng sơng Đà
và trên trang văn của Nguyễn.
Hung bạo của dịng sơng Đà cũng thể hiện rất rõ qua dự dữ dội của những
con thác. 73 con thác trên dịng sơng dài hàng trăm cây số này. Tiếng thác réo
nghe càng ghê sợ hơn! “Như là ốn trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như
là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Tiếng thác rống như tiếng một ngàn con
trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông
rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Nghệ thuật
so sánh, nhân hóa tài ba cùng những liên tưởng “rất đắt”, Nguyễn Tuân đã cho
thấy một cảnh tượng thác nước hùng vĩ, nguy hiểm tận độ. Lần đầu tiên trong
thơ văn có người lại dùng lửa để miêu tả nước, hai nguyên tố có sức hủy diệt rất
lớn lại ln tương khắc với nhau, có nước thì khơng có lửa, ngược lại, có lửa thì
khơng có nước. Vậy mà Nguyễn Tuân đã làm được điều đó như một nghệ sĩ bậc
thầy! Trước mắt người đọc là cả một rừng vầu, tre nứa hàng ngàn cây đang bị

đốt cháy và phát ra tiếng nổ nhưng chưa hết, trong khu rừng vầu, rừng tre đang
cháy ấy lại được thả vào đó hàng ngàn con trâu mộng to khỏe, nên khi da của

chúng bị đốt cháy và nóng thì chúng sẽ lồng lộn mà phá tan rồi tìm đường thốt
thân. Khi chạy nó va đập mạnh vào những cây tre, cây nứa tạo nên những tiếng
nổ lớn, liên hoàn như âm thanh vang la não bạt, kinh thiên động địa. Hình ảnh
của Nguyễn tác động mạnh mẽ lên hệ thần kinh người đọc để mang đến cảm
giác chân thực và sống động nhất. Con sông ấy như một kẻ lắm mưu, nhiều kế
để khiêu khích người lái đị. Nó biết: ốn trách, van xin, khiêu khích, giọng gằn
mà chế nhạo. Bộ mặt và tâm địa của một người xấu xa, lắm mưu, nhiều kế - kẻ
thù số một của con người.
Khi thác đá hiện ra, sau câu văn ngắn như một tiếng reo ngỡ ngàng, thích thú:
Tới cái thác rồi, nhà văn đã đồng thời tả cả đá và nước thác với sóng bọt đã
trắng xóa cả một chân trời đá. Tính từ “trắng xóa” lặp lại nhiều lần gây ấn
tượng về sóng, về gió, về bọt nước trào sôi dữ dội, lại gợi tả làn hơi nước như
mờ đi trên một diện rộng mênh mông của mặt sông; cùng với hình ảnh “chân
trời đá”, câu văn miêu tả của Nguyễn Tuân đã làm hiện ra sự hùng vĩ tới
chống ngợp của thác đá sơng Đà.
Đá sơng Đà cùng với nước với sóng với gió sơng Đà được miêu tả qua một hình
ảnh nhân hóa đặc sắc: Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lịng
sơng... mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện... là một số hòn bèn nhổm cả dậy
để vồ lấy thuyền. Sử dụng thuật ngữ của quân sự, Nguyễn Tuân đã gợi dậy cái
sự bí ẩn và hiểm ác của đá sơng Đà trong sự vĩnh hằng của thiên nhiên khi ngàn
năm mai phục, khi dữ dằn, đột ngột hiện ra sau cái dập dềnh của sóng để nhổm
cả dậy vồ lấy thuyền.
Một loạt những thuật ngữ của quân sự, võ thuật, thể thao như “thạch trận”,
“cuộc giáp lá cà”, “hàng tiền vệ”, “boong-ke”, “pháo đài”... một hệ thống
dày đặc những động từ mang sắc thái nhân hóa, đặt trong những câu văn ngắn,
dồn dập: mặt sơng rung tít như thác nước reo hò... hò la... ùa vào... bẻ gãy...
thúc gối... đội thuyền... đánh miếng địn độc hiểm... tóm lấy thuyền... khp quật

vu hồi... khiến thác đá sông Đà thực sự trở thành một chiến trường với những
trận “hỗn chiến” ác liệt giữa con người với thiên nhiên. Sự ác liệt còn được tô
đậm thêm bởi những âm thanh mãnh liệt của một trận nước vang trời thanh la
não bạt... Có lúc thác đá được động vật hóa để làm tăng thêm sự hung hãn
hoang dại trong hình ảnh dịng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sơng
đá. Thậm chí, sự hiểm ác và sức mạnh ghê gớm phi phàm của thác đá sơng Đà
cịn được nhà văn đẩy lên đến mức độ thần linh trong hình ảnh ẩn dụ về binh
pháp của thần sơng, thần đá.
Tùy theo hình dạng, kích thước của đá và cách nhìn của nhà văn mà đá sông Đà
được miêu tả trong những cảm nhận khác nhau, khi thì “ngỗ ngược”, “nhăn
nhúm méo mó” bởi sự gồ ghề, lúc to lớn qua dáng “bệ vệ oai phong lẫm liệt”,
khi này là tảng đá với những cạnh sắc nhọn hất ngược lên đem đến cảm nhận về
sự “xấc xược” trong cái “hất hàm” thách thức, lúc khác lại là tảng đá nhẵn
xanh xuôi chảy từ trên xuống qua hình ảnh thằng đá tướng... tiu nghỉu cái mặt
xanh lè thất vọng... Thác đá sơng Đà cịn vơ cùng xảo quyệt khi dụ chiếc thuyền
của đối phương, khi dàn sẵn trận địa và nhất là khi bày thạch trận mai phục và
tấn cơng con người: Vịng đầu, mở ra năm cửa... cửa sinh nằm lập lờ ở phía tả
ngạn; vòng thứ hai tăng thêm nhiều cửa tử... cửa sinh lại bố trí lệch qua phía
hữu ngạn; vịng thứ ba bên phải, bên trái đều là luồng chết... luồng sống lại ở
ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác...Thạch trận dàn bày với sự phức tạp và
nguy hiểm bủa vây từ đá, nước, sóng trên sơng Đà, địi hỏi người lái đị cần phải
có chiến lược, tập trung thì mới có thể tránh được những miếng địn hiểm ác.
Nghệ thuật nhân hóa cùng những từ láy gợi hình đầy sức biểu cảm và nhân hóa
là những tính từ chỉ tính cách, thái độ, cảm xúc đã giúp Nguyễn Tuân làm hiện
lên một trong những phần khủng khiếp nhất của sơng Đà, đó là thác đá trên
dịng sơng. Kết hợp với sóng, gió và nước thác, đá sơng Đà khơng im lìm như
đặc tính vốn có tự ngàn năm mà sống động, dữ dằn, thét gào, ác hiểm khiến đá
sông Đà không chỉ lộ “diện mạo” mà cả “tâm địa” của thứ kẻ thù số một của
con người Tây Bắc, gợi liên tưởng đến câu đồng dao về thần sơng, thần núi
trong truyện cổ:

Núi cao sơng hãy cịn dài
Năm năm báo oán đời đời đánh ghen
Ở đây người đọc vẫn nhận ra chất Nguyễn (tức phong cách của Nguyễn Tn)
trong nhân vật của Nguyễn Tn có chút gì đó hơi khinh bạc, tài tử. Như vậy,
chính cái hùng vĩ, dữ dội của sóng, thác, nước sơng Đà là yếu tố tơn ơng lái đị
lên hàng oai phong tối thượng. Đó là điều kiện để nhân vật Nguyễn Tuân thể
hiện các ngón nghề của mình. Thiên nhiên Tây bắc đẹp đẽ, kì thú, những con
người Tây Bắc thực sự là thứ vàng mười của đất nước, tài hoa như vậy mới trị
được con sơng này, bắt nó phục vụ cuộc sống cho mình.


b) Con sơng Đà trữ tình:

Phân tích chi tiết:

Con sơng Đà hung bạo, dằn dữ, khắc nghiệt bao nhiêu thì càng thơ
mộng, duyên dáng, trữ tình bấy nhiêu. Mạch ý chuyển đổi bằng 1 câu
văn thật lạ: "Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ". Từ cảm giác hồi hộp
gieo neo đến rừng rợn, người đọc lại được chiêm ngưỡng dịng sơng ở
góc độ lãng mạn, trữ tình.
 Dáng vẻ diễm lệ yêu kiều:
- “Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân
tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai
và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”
=> Từ “áng” lại đi liền với “tóc” và “tóc’’ đi liền với “trữ tình”, cách
kết hợp này cho ta thấy dịng Sơng Đà đẹp như một cơ gái Tây Bắc với
mái tóc dài duyên dáng đang thả dài trong sương khói.
 Dịng sơng như dải lụa đào:
- Sắc màu của nước thay đổi theo mùa. “Mùa xuân dịng xanh ngọc
bích”. Màu ngọc bích là màu vừa có sắc vừa có ánh sáng, thứ ánh sáng

mát dịu mà quyến rũ toát ra từ bên trong. Mùa thu “nước Sơng Đà lừ
lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa”. Chính sự thay
đổi màu nước ấy đã khiến dịng sơng ln ln mới mẻ.
- Trên sơng cịn có những con thuyền đi én lướt trên sơng, có những
con cá dầm xanh, cá anh vũ “bụng trắng như bạc rơi thoi” quấy vọt lên
mặt nước.
=> Tất cả đem đến cho Sông Đà một vẻ đẹp vừa hiện thực vừa huyền
ảo lại rất duyên dáng dịu dàng giàu chất thơ.
 Vẻ đẹp tâm hồn thơ mộng:
- Nhà thơ Tản Đà đã từng lấy tên núi tên sông làm bút danh thì cảm
nhận: “Dải sơng Đà bọt nước lênh đênh/ Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu
tình.” Cịn Nguyễn Tn, ơng thấy dịng sơng như một người tình nhân
chưa quen biết. Rồi có lúc Nguyễn Tn lại thấy sơng như một “cố
nhân”.
=> Đó là người bạn tâm giao, một người bạn khi gần thì dạt dào cảm
xúc mà khi xa thì mn vàn nhung nhớ. Một người bạn đã lâu rồi
không gặp, mà khi gặp vẫn luôn cảm nhận được đủ đầy những xúc
cảm trong tâm hồn.
- “Chao ôi! Trông con sơng vui như thấy nắng giịn tan sau kì mưa
dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng. Đi rừng dài ngày rồi lại bắt
ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm âm ấm như gặp lại cố nhân”. Có
thể nói nhà văn đã lồng cảnh vào cảnh, tình vào tình để thú nhận với
chính mình về nỗi đắm say, phải lòng trước vẻ đẹp duyên dáng tuyệt
mỹ của sóng nước Đà giang và mây trời Tây Bắc, để cảm xúc thăng
hoa, để thi ca lai láng, để dòng Sơng Đà hiện lên với cảnh sắc đắm say
lịng người.
 Vẻ đẹp đượm màu sắc cổ tích:
- “Thuyền tơi trơi trên Sơng Đà...” Câu văn mở đầu tồn thanh bằng,
nhẹ nhàng và êm ái. Như thể nó chứa đựng bên trong lời tự tình của
con sơng, tạo tâm thế của một cuộc du ngoạn, gợi hình ảnh con đị lặng

lẽ trôi.
- “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sơng hồn nhiên như một
nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” => Cái độc đáo của nhà văn khi miêu tả bờ
sông là ở chỗ, người ta thường lấy cái cụ thể để so sánh làm rõ cái trừu
tượng hoặc ít cụ thể hơn. Nhưng ở đây Nguyễn Tuân lại là ngược lại
ông đã lấy cái trừu tượng để so sánh làm mờ cái cụ thể.
- Ta hiểu vì sao ở đây tác giả lại thèm nghe một tiếng còi sương. Phải
chăng nhà văn Nguyễn Tuân đang thèm muốn một âm thanh để thoát
khỏi cái “lặng tờ” của cảnh vật? Chính điều này đã khiến cả cảnh vật
và con người đều như đang chìm vào khơng gian đượm màu cổ tích.

Cảm hứng lãng mạn ln có xu hướng tạo ra những ấn tượng mạnh mẽ
bởi sự tương phản – trong tùy bút Người lái đị sơng Đà, sự tương phản
đã hiện hữu ngay trong đối tượng miêu tả, bởi làm nên dịng sơng Đà
thực sự, ngồi chất hung bạo, khơng thể khơng nhắc đến chất thi vị trữ
tình đằm thắm. Vẫn là dịng sơng ấy, nhưng sau khi dịng sơng vặn
mình vào một cái bến cát, khi những bọt nước cuối cùng của sóng gió
thượng nguồn xèo xèo tan trong trí nhớ, ngịi bút tài hoa của Nguyễn
Tn đã dẫn người đọc đến một sông Đà êm đềm như một giấc mơ, dịu
hiền như một miền cổ tích.
Nguyễn Tuân miêu tả hình dáng sơng Đà nhìn từ trên cao xuống để
phát hiện ra vẻ đẹp tồn diện của con sơng, thơ mộng, mềm mại và đẹp
ngay từ hình dáng. Từ trên cao, tác giả nhìn thấy con sơng Đà dài như
một sợi dây thừng ngoằn ngo dưới chân mình. Nó biết mềm mại, uốn
lượn qua các dãy núi, triền đồi, các ghềnh thác để làm cho mình trở nên
dịu dàng, nữ tính.
Sơng Đà đâu chỉ lắm thác nhiều ghềnh đầy hiểm nguy cho người lái đò
mà còn đậm nét thơ mộng, trữ tình: “Con Sơng Đà tn dài tn dài
như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây
Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo

đốt nương xuân”. Một câu văn với nghệ thuật kết cấu trùng điệp và
cách so sánh liên tưởng gần gũi, sông Đà đã hiện lên như một cô thiếu
nữ của mảnh đất Tây Bắc đẹp e lệ, dịu dàng. Cô gái ấy có mái tóc tn
dài, mềm mại. Mái tóc ấy lại được ẩm hiện trong mây trời của Tây Bắc,
của khói sương mờ ảo khi người dân đốt nương làm rẫy vào mùa xuân
với những chùm hoa ban với sắc trắng, sắc tím và màu đỏ tươi của hoa
gạo tháng ba – phảng phất vị Đường thi. Nếu nhìn và cảm nhận, con
sơng hiện lên hiền hịa và dịu dàng như một cơ gái đang e lệ với mái
tóc dài bng xõa, trên mái tóc đen óng ả ấy cài điểm những bông hoa
ban, hoa gạo sặc sỡ sắc màu, và cô thẹn thùng che mặt bằng một tấm
khăn voan mỏng manh màu trắng khi bước những bước chân ngập
ngừng, e ấp về nhà chồng. Cịn gì đẹp, thơ mộng và trữ tình hơn khi ví
dịng sơng Đà với hình ảnh một cô thiếu nữ đang thẹn thùng cất bước
chân về nhà chồng. Ngịi bút của Nguyễn khơng chỉ thể hiện sự tài hoa
mà cịn là sự tinh tế thơng qua sự liên tưởng độc đáo và cách so sánh
trùng điệp, một cách so sánh tài hoa, đượm chất phong tình. Hơn nữa,
nếu để ý hẳn độc giả bạn đọc sẽ nhận thấy trong thơ ca cổ trung đại, các
bậc tao nhân thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho con người.
Làm sao quên được hình ảnh:
“Cổ tay em trắng như ngà
Đuôi mắt em sắc như là dao cau
Nụ cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen”
Ngược lại, đến với Nguyễn, con người là chuẩn mực để so sánh. Ông
kéo thiên nhiên lại gần với con người. Với Nguyễn Tuân, con người là
trung tâm của vũ trụ, là một tiểu vũ trụ. Vì vậy, ơng nhìn sơng Đà như
áng tóc của người thiếu nữ.
Nước Sơng Đà cịn thay đổi theo mùa, nó đẹp nhất là mùa xn và mùa
thu: “Mùa xn dịng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh
màu xanh canh hến của Sông Gâm Sơng Lơ. Mùa thu nước Sơng Đà lừ

lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ
giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”. Nguyễn tả sắc
xanh của nước sông Đà cũng lạ lẫm, màu xanh ngọc bích, sắc xanh
trong vắt như pha lê, ngọc thạch mà mắt người có thể nhìn thấu đáy. Để
thấy được sắc xanh như màu xanh của sông Đà là hiếm và khác biệt với
nhiều dịng sơng khác Nguyễn Tn đã so sánh màu sắc của nước sông
Đà với màu nước của sông Gâm, sông Lô là màu xanh đục lờ lờ canh
hến. Sắc nước mùa thu của sông Đà tựu thân nó khơng thể coi là đẹp


nhưng cái đẹp đáng nói ở đây chính bởi sự làm duyên của con sông.
Mùa thu nước sông Đà dần thay màu, nó lừ lừ và rồi chín đỏ như mặt
người đang tím bầm vì rượu bữa, hoặc của một người đang bất mãn,
đang bực bội mỗi độ thu về. Xanh trong, dịu dàng là thế vào mùa xuân
mà lại chuyển ngay sang sắc tím đỏ giận dỗi vào mùa thu. Thế mới biết
tính khí của con sơng kia cũng thất thường lắm, dịu dàng đấy mà giận
dỗi được ngay. Khơng chỉ có tính cách đa dạng mà chúng ta thấy sông
Đà hiện lên như một cô gái biết trưng diện, biết điệu đà bởi mỗi mùa cô
ấy tự thay tấm áo đã cũ màu, khốc cho mình tấm áo mới, ln ln
thay đổi, ln tự làm mới mình để đẹp hơn, hấp dẫn hơn. Con Sông Đà
gợi cảm với vẻ đẹp của nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt
há Dương Châu”, làm cho người đi rừng dài ngày bất ngờ gặp lại con
sông “vui như thấy nắng giịn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại
chiêm bao đứt quãng”. Với nghệ thuật so sánh cụ thể Nguyễn đã cho
người đọc thấy được tình cảm, cảm xúc của mình đối với con sơng của
miền tây tổ quốc, không chỉ đơn thuần là cảm xúc của một con người
đối với một con sơng mà đó là xúc cảm của những “cố nhân” sau bao
ngày xa cách. Niềm vui ấy như tiếng cười giòn tan trong ánh nắng của
mặt trời bừng chói sau một kì mưa dầm ẩm ướt, hay như một giấc
chiêm bao ngọt ngào nhưng ta choàng tỉnh giấc và giờ đây lại được nối

lại. Niềm vui của sự hân hoan và mãn nguyện sau bao nỗi đợi chờ.
Sông Đà với Nguyễn như một “cố nhân”, nhưng khổ nỗi cố nhân này
lại “lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy rồi chốc lại bẳn tính, thác
lũ, gắt gỏng ngay đấy”. Ấy thế mà khi được gặp lại cố nhân lại trào
dâng một cảm giác đằm đằm, ấm ấm. Phải chăng bởi con sông kia quá
gợi cảm và quyến rũ. Nét quyến rũ của một “người tình nhân chưa quen
biết”.
Sơng Đà cịn có những khoảng khơng gian, những cảnh sắc đầy thơ
mộng: “Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lí đời Trần đời
Lê, qng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”. Cái lặng lẽ của
thanh bình, n ả mà có lẽ bất cứ một tâm hồn khó tính nào cũng muốn
ở trọ nơi đây. Có những cảnh hoang vu, hoang sơ đến kì lạ: “Bờ sơng
hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sơng hồn nhiên như một nỗi niềm cổ
tích tuổi xưa”. Chút hoang dại của lịch sử đất nước thời khai thiên lập
địa, chút hồn nhiên của tuổi thơ với bao mơ mộng gửi theo những câu
chuyện cổ tích mà mẹ, bà thường hay kể, tất cả lại về đây hội tụ trên bờ
sông Đà vừa hoang vu, vừa hồn nhiên, thơ trẻ.
Cảnh sơng Đà cịn là “những nương ngơ nhú lên những lá ngô non đầu
mùa, những cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu
cúi đầu ngốn cỏ gianh đẫm sương đêm”. Một cảnh thơ mộng, tuyệt đẹp
trong mùa xuân với sự sống đang cựa mình, sinh sơi. Thực và mộng
chảy tràn vào nhau. Trong lúc đang thưởng thức cảnh sắc thiên nhiên
thơ mộng và tuyệt đẹp như thế, nhà văn bỗng cảm thấy “thèm được
giật mình vì một tiếng cịi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường
sắt Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu”, được đánh thức bởi sự hiện diện
của con người. Thiên nhiên tuy đẹp đấy nhưng hoang sơ, “tịnh khơng
một bóng người”, “một nương ngơ nhú lên mấy lá ngơ non đầu mùa”
mà khơng có ai chăm sóc, mà dường như từ đời Lí đời Trần đời Lê,
quãng sông này cũng vắng lặng như thế mà thôi. Từ quá khứ nhà văn
trở về với hiện tại và hướng tới tương lai đẹp đẽ. Đất đai ở đây sẽ có

con người khai phá, đường xá sẽ được mở, những ngôi làng thị trấn sẽ
được mọc lên, khắp nơi đều đầy ắp tiếng cười. Rõ ràng cảnh vật nếu
khơng có con người thì vẫn chỉ là hoang sơ, tẻ nhạt mà thôi! Đang
mộng mơ bên cảnh sông Đà, Nguyễn Tuân có mối giao cảm kì lạ với
lồi vật: “Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi ánh cỏ sương,
chăm chăm nhìn tơi lừ lừ trơi trên một mũi đị. Hươu vểnh tai, nhìn tơi
khơng chớp mắt mà như hỏi tơi bằng cái tiếng nói riêng của con vật
lành: Hỡi ơng khách sơng Đà, có phải ơng cũng vừa nghe thấy một
tiếng cịi sương?”. Con vật hỏi người hay chính người đang say trong

cảnh mộng mà tự hỏi mình. Cảnh sơng Đà thơ mộng là thế, có những
khoảng lặng diệu kì khiến con người ta rơi vào cảm giác thần tiên để
rồi tiếng đập nước của “đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng
trắng như bạc rơi thoi đuổi mất đàn hươu vụt biến” đánh thức người
đang mộng. Nguyễn Tuân đã dùng cái động để tả thật tài tình cái tĩnh
lặng kì diệu. Trở về với thực tại, lênh đênh trên dòng nước xanh ngọc
đẹp đẽ, phẳng lặng, nhà thơ có sự đồng điệu trong cảm xúc về sơng Đà
như Tản Đà khi trước: “Dải sông đà bọt nước lênh đênh – Bao nhiêu
cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết”. Con
sơng Đà như một sinh vật có linh hồn, dịng nước trơi lững lờ “như nhớ
thương những hịn đá thác xa xơi để lại trên thượng nguồn, như đang
lắng nghe những giọng nói êm êm của người xi”. Con sơng trở nên
hiền hịa và thơ mộng, nó “trơi những con đị mình nở chạy buồm vải
nó khác hẳn những con đị đi én thắt mình dây cổ điển trên dịng
trên”. Đó là niềm mong ước của nhà văn nửa muốn gìn giữ những nét
nguyên sơ của con sông, nửa muốn cải tạo mà khai phá nó để phục vụ
con người – đó phải chăng cũng là lịng u nước thầm kín của
Nguyễn?
Đà giang hiện lên qua ngòi bút của Nguyễn Tuân thơ mộng, lãng mạn,
trữ tình đồng thời vơ cùng kiều diễm. Nếu ở đoạn văn trên, Nguyễn

Tuân miêu tả con sông Đà hung bạo với những kiến thức nền chủ yếu
là quân sự hay võ thuật cùng những câu văn ngắn, nhiều động từ, nhiều
thanh trắc thì đến đoạn văn này,
Nguyễn Tuân chủ yếu sử dụng kiến thức du lịch, kiến thức lịch sử và
kiến thức văn học với câu văn vươn dài ra như nhịp chèo khoan thai
của “thuyền tôi trôi trên sông Đà”. Nếu để ý, người yêu văn hẳn sẽ
nhận thấy có đến mười bốn câu văn Nguyễn Tuân kết thúc toàn với
thanh bằng để tạo cảm giác mênh mang mềm mại. Người yêu văn có
thể dễ dàng chuyển thẳng những đoạn văn Nguyễn Tn viết về dịng
sơng Đà ở hạ lưu thành những bài thơ trữ tình viết bằng văn xuôi.
Phong cách Nguyễn Tuân này trước cách mạng ta chỉ bắt gặp ở nhà văn
Thạch Lam với lối viết truyện khơng mâu thuẫn, khơng kịch tính,
khơng gay cấn, truyện như một bài thơ trữ tình viết bằng văn xi. Đến
đây, ta lại bắt gặp ở nhà ngôn ngữ tài ba Nguyễn Tuân một phong cách
nghệ thuật tương tự.


3. Hình tượng người lái đị sơng Đà:
a. Cách giới thiệu nhân vật
- Nguyễn Tuân để cho người lái đò sông Đà xuất hiện trong tâm thức
của người đọc đặt trong mối tương quan giữa thạch thủy trận của Đà
giang.
- Mối tương quan tưởng chừng như đối lập: Dịng sơng Đà hung bạo,
dữ tợn, thiên nhiên bao la, choáng ngợp trong khi hình ảnh của con
người bé nhỏ.
- Thế nhưng khơng, đối lập lại với điều này là tầm vóc của con người
lao động bình thường thống chốc trở nên vĩ đại, lớn lao, phi thường.
=> Dịng sơng và con người soi chiếu vào nhau để từ đó phát hiện ra
những vẻ đẹp của riêng mình.


b. Lai lịch, ngoại hình
 Lai lịch:
- Ơng đị q ở Lai Châu làm nghề chèo đị trên dịng sơng Đà đã hơn
10 năm. Với khoảng thời gian chinh chiến này, đủ để đôi tay của ông
vững vàng và trở thành một tay lái lão luyện: “Trên sông Đà ông xuôi,
ông ngược trên 100 lần rồi và chính tay ơng giữ lái độ 60 lần.
- Ông là một con người từng trải, là linh hồn của mn thủa sơng nước
Đà giang, ơng hiểu dịng sơng như chính bản thân mình. Đối với người
lái đị sơng Đà, dịng sơng này là nơi để ơng ghi lại những dấu ấn, viết
những bản thiên hùng ca trong cuộc đời của mình. Nó thân thuộc tới
mức, như cách ơng nhớ một bài văn, nhớ từng dấu chấm, dấu phẩy, dấu
chấm than và cả những đoạn xuống dòng.
=> Nguyễn Tuân thể hiện sự cảm phục của mình với người lái đị bằng
những hình ảnh so sánh đầy chất văn, cuộc sống của ơng lão, đơn giản
bình thường nhưng cũng vơ cùng phi thường.
 Ngoại hình:
- Là một ơng lão 70 tuổi với mái tóc bạc phơ. Cái đầu bạc quắc thước
đặt trên một thân hình cao to gọn quánh những chất sừng, chất mun và
hai cánh tay trẻ tráng. Nhãn giới của ơng cao vời vợi, tiếng nói ào ào
như nước thác trước mặt ghềnh sông. Hai chân khuỳnh khuỳnh như lúc
nào cũng kẹp chặt một cái cuống lái trong tưởng tượng, tay ông dài lêu
nghêu. => một con người cưỡi sóng, đạp gió là vẻ đẹp của người anh
hùng lao động giữa cuộc sống đời thường.
- Ơng lái đị được tác giả miêu tả bằng những cảm nhận phong phú từ
các giác quan, cảm hứng của người nghệ sĩ và bằng kho từ ngữ phong
phú, giàu giá trị tạo hình để cho người đọc có được đủ đầy nhất những
con người sinh ra từ sóng nước Đà Giang.

c. Phẩm chất, tính cách
Ơng lái đị – con người tài hoa, trí dũng vơ song:

- Cơng việc hàng ngày của ơng là vượt thác ghềnh, phá thạch trận vòng
vây của thủy thần ác qi. Bằng kinh nghiệm của mình, ơng xử lý tình
huống nguy hiểm một cách khéo léo, dứt khốt, táo bạo, tài tử đến kỳ
diệu.
- Nhà văn đã đặt hình ảnh của người lái đị, trong trận chiến với Đà
giang dữ dội, hung bạo, quỷ quyệt, để làm nổi bật vẻ đẹp của người lao
động bình thường: “Tơi xin ghi ở đoạn này cái hình ảnh chiến đấu
gian lao của người lái đị trên chiến trường Sơng Đà, trên một quãng
thủy chiến ở mặt trận Sông Đà.”
 Tương quan lực lượng: thoạt nhìn thì đây là cuộc đấu khơng cân sức:
- Bên này là thiên nhiên lớn lao, dữ dội và hiểm độc với sức mạnh được
nâng lên hàng thần thánh, có sóng nước hị reo, quyết vật ngửa con
thuyền, có thạch trận với đủ ba lớp trừng vi vây bủa được trấn giữ bởi
những hòn đá ngỗ ngược, hỗn hào và nham hiểm.
- Bên kia là con người nhỏ bé, khơng hề có phép màu, vũ khí trên tay
chỉ là chiếc cán chèo trên một con đò đơn độc hết chỗ lùi.

 Cuộc chiến đấu: chia thành 3 chặng:
- Trùng vi thạch trận thứ nhất:
+ Đá sông dàn thạch trận, mở ra năm cửa: bốn cửa tử và một cửa sinh.
Những hòn đá bệ vệ, oai phong lẫm liệt. Sóng nước thì hị la vang dậy,
ùa vào bẻ gãy cán chèo. Thác nước sông Đà mưu mô xảo quyệt tới mức
như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái, thúc gối vào bụng, vào
hơng thuyền.
+ Ơng lái đò lúc bấy giờ đã bị thương vẫn nhất định giữ lấy mái chèo,
hay chân kẹp chặt cuống lái, mặt méo bệch đi nhưng tiếng chỉ huy vẫn
ngắn gọn, tỉnh táo. Ơng đị thực thụ là một người chiến sĩ, người chỉ huy vô
cùng bản lĩnh, dũng cảm.
- Trùng vi thạch trận thứ hai:
+ Đá sông tăng thêm nhiều cửa tử, cửa sinh bố trí lệch sang bờ hữu ngạn.

Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sơng đá, bám lấy thuyền
rồi lỗi vào tập đồn cửa tử.
+ Với ơng đị “cưỡi lên thác sơng Đà phải cưỡi đến cùng như cưỡi hổ”.
Ông “nắm chặt lấy bờm sóng, đúng guồng rồi ơng đị ghì cương lái mà lái
miết một đường chéo về phía cửa đá”. Chinh chiến đã lâu, ơng đị thuộc
lịng binh pháp của thần sơng, thần đá nơi đây, cho nên ông lão đã vận dụng
sáng tạo những chiến thuật của mình để giành lấy chiến thắng cuối cùng.
“Đứa thì ơng tránh và rảo bơi chèo lên, đứa thì ơng đè sấn chặt đơi ra để
mở đường tiến.” Ông lão ấy đã giao chiến với tướng đá, quân đá thạch trận
sông Đà như một dũng sĩ anh hùng giữa đời thường.
- Trùng vi thạch trận thứ ba:
+ Bên phải, bên trái đều là luồng chết, luồng sống ở giữ bọn đá hậu vệ
+ Ông lái đò hiện lên với sự nhịp nhàng, điêu luyện khi chèo lái con
thuyền: “Vút, vút, cửa ngoài, của trong lại cửa trong cùng thuyền như
một mũi tên tre xuyên qua nhanh hơn nước, vừa xuyên vừa tự động lái
được, lượn được.”
+ Nguyễn Tuân đã đưa ra một phép so sánh độc đáo và chính xác, gây
được nhiều ấn tượng trong lịng đọc giả đó là hình ảnh người lái đị và
người lái xe đang lao xuống dốc đèo. Người lái xe khi nguy nan vẫn cịn
chỗ để bám víu, đó là phanh tay, có tiến lên, lùi lại cịn đối với người lái đị
bây giờ thì khơng cịn đường lùi “Cái thuyền mà lao xuống thác thì chả có
cái phanh nào cả, chỉ có lao đi chứ khơng lùi lại, khơng lao trúng tim luồng
nước thì thuyền quay ngang mà úp xuống chứ khơng có lùi gì cả”.
=> Trong trận thủy chiến, ơng lái đị như một chiến tướng “tả xung hữu
đột”, phát huy trọn vẹn, đủ đầy tài trí sự linh hoạt ứng biến của mình. Vượt
qua ba trùng vi thạch trận với rất ít cửa sinh, ơng lái đị đã thành cơng trong
việc phá vỡ trùng vi thạch trận này để giành thắng lợi về cho mình.
=> Miêu tả ơng lái đị, Nguyễn Tn muốn đưa ra một triết lý, một thông
điệp: “Giữa thế giới tàn độc, dữ dội và nham hiểm, thế giới man dại đầy
những cạm bẫy ấy, con người vẫn dũng cảm, vẫn đủ kinh nghiệm tìm lại

luồn sinh bằng sự trải nghiệm và trí tuệ tuyệt vời của mình.”
 Ơng lái đị – người nghệ sĩ giữa sông nước Đà giang:
- Trận thủy chiến dữ dội như vậy, khó khăn như vậy thế nhưng bằng tài
năng, trí dũng của mình, ơng lái đị đã vượt qua tất cả những khó khăn để
trở về với cuộc sống thanh bình. “Thế là hết thác, dịng sơng vặn mình vào
một cái bến cát có hang lạnh...sơng nước lại thanh bình...đêm đó nhà đị đốt
lửa trong hang đá, nước ống cơm lam mà bàn tán về cá anh vũ, cá dầm
xanh...” - Ơng lái đị bây giờ, trải qua hết những thời khắc khó khăn vất vả
đề trở về với những phút giây thanh bình, mơ mộng, quên đi khoảnh khắc
mình vừa cận kề với cái chết, quên đi khoảnh khắc phải đối mặt với thủy
quái. Có thể thấy, ơng lái đị sơng Đà là một dũng tướng mang trong mình
tâm thái của một người nghệ sĩ: ung dung, tự do, tự tại. Đó là một cao
nhân, đồng thời cũng là một “tao nhân”.
=> Viết về người lái đị sơng Đà, ngịi bút Nguyễn Tn hiện lên với tràn
đầy cảm hứng lãng mạn. Cảm hứng ấy thấm sâu và lan tỏa trong những câu
văn viết về đời thực, viết về con người thực. Cảm hứng lãng mạn được sử
dụng trong tùy bút, đặc biệt khi viết về người lái đò đã tạo nên một khúc ca
tươi đẹp, hào sảng khi viết về con người lao động .


Phân tích chi tiết:
Trước 1945, Nguyễn Tuân thường say mê miêu tả vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ trong
những con người đặc tuyển, xuất chúng, vì thế, cái đẹp và người tài thường cô
đơn, lạc lõng giữa cuộc đời, và trong hoàn cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến
ở Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX, đó là những vẻ đẹp vang bóng một thời
thường đem đến sự ngưỡng mộ ngậm ngùi, nuối tiếc. Sau 1945, quan niệm
thẩm mĩ của nhà văn đã có những thay đổi cơ bản. Vẫn nhìn con người từ
phương diện tài hoa nghệ sĩ nhưng bây giờ, Nguyễn Tuân cho rằng bất cứ
người lao động nào khi đạt tới trình độ điêu luyện giỏi giang trong cơng việc
của mình đều có thể coi là nghệ sĩ và xứng đáng được tôn vinh ở vẻ đẹp tài hoa

nghệ sĩ. Trong những sáng tác sau năm 1945, Nguyễn Tuân đã khám phá vẻ đẹp
tài hoa nghệ sĩ của những con người lao động bình thường trong cuộc sống đời
thường, qua đó mà bộc lộ tấm lòng trân trọng, yêu mến đối với họ. Người lái đị
sơng Đà trong tùy bút cùng tên cũng là một nhân vật được nhà văn khám phá và
thể hiện không chỉ ở vẻ đẹp tài hoa mà cịn trí dũng.
Ơng lái đị sinh ra và lớn lên bên bờ sơng Đà, ngay ngã ba sông Đà nên con
sông là máu thịt của quê hương đã ngấm vào trái tim, khối óc nên ông lái gắn
bó, yêu thương và thấu hiểu tường tận, cặn kẽ dịng sơng.
Khi Nguyễn Tn có dịp kiến diện với người lái đị thì cũng là lúc người lái đò
đã 70 tuổi, cái tuổi của buổi xế chiều. Ơng làm nghề lái đị dọc sơng Đà mười
năm liền và đã nghỉ đôi chục năm. Ấy thế mà ơng có ngoại hình thật đặc biệt
«ơng có thân hình quắc thước sánh như chất sừng, chất mun trông trẻ tráng
q». Những nét ngoại hình ấy vì đâu mà có, phải chăng mười năm trong nghề,
dấu ấn của công việc đã in đậm trên ngoại hình ơng lão: Tay ơng lêu nghêu như
cái sào. Chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh, gò lại như kẹp lấy một cuống
lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sơng, nhỡn
giới ơng vịi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù.
Bả vai của ơng có vết củ nâu trịn, dấu tích tì sào của nghề lái đị mười năm liền
trên sơng nước, vượt qua bao ghềnh thác mà Nguyễn Tuân đã ca ngợi là thứ
huân chương siêu hạng. Chỉ bằng vài nét khắc họa tài hoa mà Nguyễn Tuân đã
chạm khắc vào tiềm thức của người đọc một hình ảnh nhân vật ông lái đò gần
gũi với với môi trường lao động trên sông nước, sinh ra trên sông nước và để
sống với sông nước. Một con người suốt một đời chiến đấu với thác, đá, sóng,
nước sơng Đà để tồn tại và xây dựng quê hương Tây Bắc. Những dòng này
được nhà văn viết ra không chỉ để giới thiệu ngoại hình một con người mà cịn
để ca ngợi sự gắn bó, u q nghề ở chính con người đó.
Và để khắc họa vẻ đẹp trí dũng tài hoa của ơng đò, Nguyễn Tuân đã miêu tả một
cuộc vượt thác nguy hiểm và ngoạn mục trong đó nổi bật sự tương phản giữa
một thiên nhiên ác hiểm, hung bạo với con người trí dũng ngoan cường, đó
cũng là “trận thủy chiến” dữ dội giữa một bên là những trùng vi thạch trận của

đá thác, nước thác cùng sóng gió với một bên là chiến thuyền then đuôi én
mỏng manh và những người lái đò nhỏ bé, đơn độc. Đối thủ ghê gớm của ơng
đị trong cuộc vượt thác là cả một đoàn quân đá hung bạo, dữ dằn. Những thuật
ngữ của quân sự, võ thuật, thể thao như “dàn sẵn trận địa... dụ thuyền đối
phương... đánh khuýp quật vu hồi...” đã nhân cách hóa dịng sơng khiến cho
thiên nhiên sơng Đà với sóng dữ, thác dữ, đá dữ trở nên hung hãn, hiểm ác như
“một thứ kẻ thù số một của con người.” Tác giả còn sử dụng một loạt các từ láy
miêu tả diện mạo gớm ghiếc của đám đá sơng Đà khi thì ngỗ ngược, nhăm
nhúm, méo mó, xấc xược thách thức, khi tiu nghỉu cái mặt xanh... một loạt
những động từ đặt trong các nhịp câu ngắt ngắn, nhanh, dồn dập: “nước thác
reo hò... hò la... ùa vào... bẻ gẫy... đá trái... thúc gối... đội thuyền... bám lấy
thuyền...” rồi sử dụng cấu trúc điệp để tả “nước xô đá, đá xơ sóng”... hay
“sóng đánh hồi lùng, đánh địn tỉa, đánh đòn âm...” Tất cả đã làm hiện lên sự
hung bạo vô cùng của sông Đà khi cùng một lúc các sức mạnh thiên nhiên kết
hợp với nhau tấn công những con thuyền đơn độc và con người nhỏ bé. Thiên
nhiên sơng Đà cịn vơ cùng xảo quyệt trong việc dàn trận tấn công con người.
Để đưa con thuyền vượt thác sông Đà khúc thượng nguồn, những người lái đò
phải đối đầu với cả một trùng vi thạch trận trên dịng sơng, trong đó, “vịng đầu,
mở ra năm cửa... cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn... vịng hai tăng thêm nhiều
cửa tử... cửa sinh lại bố trí lệch qua phía hữu ngạn... vịng thứ ba bên phải, bên
trái đều là luồng chết... luồng sống... lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con
thác...” Sự dữ dằn, hung bạo và hiểm ác của thiên nhiên sơng Đà chính là
những tình huống đầy thử thách để nhân vật bộc lộ vẻ đẹp trí dũng tài hoa của
mình khi người lái đị ln phải tỉnh táo, khơn ngoan, khéo léo, càng phải ngoan
cường, dũng cảm mới có thể đưa con thuyền an toàn vượt qua những trùng vi
thạch trận trên dịng sơng.

Ở vịng vây thứ nhất của thạch trận, khi sóng thác đánh miếng địn độc hiểm
nhất, ơng đị mặt “méo bệch” đi – cách sử dụng từ độc đáo đã giúp nhà văn làm
hiện ra không chỉ là gương mặt biến dạng, trắng bệch vì đau đớn mà cịn nhợt

nhạt vì phải dầm lâu trong nước lạnh. Sự đau đớn của ơng đị cịn được gián tiếp
miêu tả trong một cảm nhận của thị giác và xúc giác: “mặt sơng trong tích tắc
lịa sáng như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng”
– đây vẫn là cách miêu tả thông qua cảm giác quen thuộc của Nguyễn Tuân –
vết thương đau đớn của ông đò đã dược thể hiện bởi cảm giác toé đom đóm và
rát bỏng như lửa cháy. Trong trận hỗn chiến gian lao khi tương quan lực lượng
quá chênh lệch với sóng thác sơng Đà, ơng đị đã dũng cảm, cố nén vết thương
đau đớn, ngoan cường khéo léo đưa con thuyền vượt vòng vây thứ nhất của
thạch trận trên sông Đà. Qua cách miêu tả tiếng hô chỉ huy ngắn gọn, tỉnh táo
của người cầm lái, Nguyễn Tuân đã khơng giấu được lịng ngưỡng mộ và cảm
phục trước bản lĩnh kiên cường, sự dũng mãnh, bình thản của người lái đị.
Tới vịng vây thứ hai của thạch trận, ơng đị khơng chỉ dũng mãnh, kiên cường
mà cịn thể hiện sự thơng minh của một người lái đị dày dặn kinh nghiệm –
người nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, người đã “thuộc quy luật”
của dịng sơng, thác đá... Ông được miêu tả như một dũng tướng tài ba đang
điều khiển, thuần phục con ngựa bất kham của sóng thác sơng Đà khi nắm chắc
bờm sóng... ghì cương... phóng nhanh vào cửa sinh; kinh nghiệm dày dặn và trí
nhớ siêu phàm của ơng đị được thể hiện trong chi tiết ông nhớ mặt từng đứa
trong bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước để có cách ứng phó phù hợp. Những
động tác linh hoạt, uyển chuyển điêu luyện của ơng đị khi lái miết một đường
chéo, khi tránh mà rảo bơi chèo, khi đè sấn lên mà chặt đơi... cho thấy những
biện pháp kì diệu của một tay lái ra hoa – trí tuệ và tài hoa con người thậm chí
đã chiến thắng cả thần sơng, thần đá.
Ở vòng vây cuối, sự hiểm ác của thác đá đã được nhà văn miêu tả trong hình
ảnh ẩn dụ tài hoa về cổng đá cánh mở cánh khép – đó là cả một mặt trận đá
trùng điệp trong đó bức tường phòng ngự vững chắc của lũ đá hậu vệ kết hợp
với những mũi tấn công ào ạt, tới tấp khơng ngưng nghỉ của sóng dữ. Nhiệm vụ
của ơng đị là phải phóng thẳng thuyền, chọc thủng một luồng sinh duy nhất ở
ngay giữa cửa bọn đá hậu vệ trấn giữ, trong khoảnh khắc cánh “cổng đá” mở
giữa những đợt sóng thác dữ dội. Hình ảnh con thuyền lao vút qua khe hẹp được

miêu tả trong những câu văn ngắn mà bản thân cách ngắt câu, sự kết hợp những
động từ và danh từ nối tiếp: vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng...
đã thể hiện sự điêu luyện khéo léo và sức mạnh của ơng đị. Tốc độ phi thường
của con thuyền dưới bàn tay vừa lái, vừa xun, vừa lượn của ơng đị khơng chỉ
thể hiện qua những động từ giàu sắc thái gợi hình và biểu cảm: “vút... vút”...
qua hình ảnh so sánh về một mũi tên tre mà còn được gợi tả tinh tế qua làn hơi
nước mà con thuyền xuyên qua – bởi với cách so sánh về một mũi tên tre xuyên
qua hơi nước, con thuyền khơng cịn lướt trên mặt nước mà đã thực sự bay
trong làn hơi nước trên mặt sóng. Tài năng của ơng đị khi ấy đã bao hàm cả trí
tuệ, sự trải nghiệm, sức mạnh thể lực, trình độ điêu luyện và bản lĩnh kiên
cường – tất cả đều đạt tới mức phi phàm, kì diệu.
Trí tuệ, khéo léo, dũng cảm và mạnh mẽ, ơng đị đã thể hiện rõ nét vẻ đẹp tài
hoa nghệ sĩ và trí dũng phi thường khi cùng thuyền vượt qua ghềnh thác, khi
bao giờ cũng giữ thế chủ động để tìm cho mình một cửa sinh duy nhất giữa bát
ngát trận đồ cửa tử của những trùng vi thạch trận hiểm ác, dữ dằn; khi khơng
bao giờ cho phép mình chùn bước, sợ hãi hay sai lầm dẫu chỉ trong khoảnh
khắc; khi ln có thể trình diễn nghệ thuật lái đị điêu luyện của một tay lái ra
hoa. Sau khi chiến thắng thiên nhiên hung bạo, người lái đò lại “đốt lửa trong
hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh... chả
thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ
tướng dữ quân tợn.” Đối với họ, đây không phải là cuộc chiến vĩ đại, đây là
những nhiều bình thường họ phải trải qua trong cơng việc lao động của mình.
Tiếp nhận những điều phi thường bằng tâm thế bình thường, đó là tâm hồn của
một cao nhân đồng thời cũng là một tao nhân. Thái độ bình thản ấy càng làm
đậm thêm tầm vóc lớn lao của những người anh hùng trong cuộc sống đời
thường bịn rịn khi họ coi việc chiến đấu và chiến thắng sông Đà dữ dội, hiểm
ác, việc giành sự sống từ những cửa tử của ghềnh thác sông Đà chỉ là chuyện
thường ngày.
Người lái đị trí dũng và tài hoa trên dịng sơng hung bạo và trữ tình. Vẻ đẹp của
những người lái đị là vẻ đẹp bình dị, thầm lặng nhưng cũng đầy trí tuệ và sức

mạnh, đầy ý chí và nghị lực, tài năng và tài hoa, có khả năng chinh phục thiên
nhiên, bắt nó phải phục vụ con người xây dựng đất nước. Đó chính là “chất
vàng mười” của con người Tây Bắc nói riêng và người lao động Việt Nam nói
chung trong thời kì mới.


IV. Mở bài và kết bài tham khảo
Mở bài 1:
Việt Nam - đất nước - nơi những dịng sơng thương nhớ chảy về
đã dệt nên bao vần thơ đẹp. Đã có sơng Hương thơ mộng trong
trang viết của Hồng Phủ Ngọc Tường hay của Thu Bồn, đã có
"Vàm cỏ Đơng" tha thiết chở phù sa trong thơ của Hoài Vũ, có
"Sơng Hồng tiếng hát bốn nghìn năm" trong thơ Chế Lan Viên...
Và nay ta lại có Sơng Đà trong trang viết tài hoa tài hoa của nhà
văn Nguyễn Tuân. Nhất định phải có một tiên cảm tiên giác
nghệ thuật sáng suốt nào mách cho người nghệ sĩ tài hoa về
nguồn cảm hứng sơng Đà hàng chục năm trước khi “dịng sơng
ánh sáng” đó thực sự là một địa chỉ lớn của thơ ca, nhạc họa, sân
khấu. Và từ ấy đến nay, cho dù đã có bao nhiêu người khắc, vẽ,
kể chuyện về sông Đà, làm thơ và ca hát với sơng Đà thì có lẽ
chưa ai vượt được Nguyễn Tn trong việc biến vùng sông nước
ấy thành nghệ thuật, thành một gợi cảm mênh mông.
Mở bài 2:
Trong lịch sử nhân loại, mỗi dịng sơng lớn đều bồi đắp lên một
nền văn minh. Trong địa hạt văn học Việt Nam, mỗi dịng sơng
đều gắn với một phong cách nghệ thuật. Ta được chiêm ngưỡng
một dịng sơng mênh mơng, hoang vắng, buồn man mác thấm
đượm nỗi nhớ nhà trong Tràng Giang của Huy Cận hay một
khung cảnh đìu hiu, cách biệt của thiên nhiên sông nước Kinh
Bắc trong bài thơ Bên kia sơng Đuống của Hồng Cầm. Nếu

những bài thơ trên chỉ là điều kiện chỉ là cái cớ để các nhà thơ
bày tỏ lịng mình thì đến với Người lái đị sông Đà người đọc
mới cảm nhận được rõ nét về một tác phẩm viết về một dịng
sơng thực sự. Dưới ngịi bút của Nguyễn Tn hình ảnh dịng
sơng độc bắc lưu hiện lên rất riêng và độc đáo.
Mở bài 3:
Tây Bắc ư? có riêng gì Tây Bắc
Khi lịng ta đã hóa những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu
(Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)
Trong những ngày tháng cả nước rộn ràng lên đường theo
tiếng gọi của tâm hồn Tây Bắc để xây dựng lại miền quê của
Tổ quốc, có biết bao nhà văn, nhà thơ đã thực hiện quá trình
lột xác để đến với Cách mạng. Một trong những nhà nghệ sĩ
yêu nước ấy là Nguyễn Tuân - cây độc huyền cầm của nền
văn học Việt Nam, người đã mang lại những tờ hoa thơm thảo
cho đời. Nguyễn Tuân đến với Tây Bắc qua tùy bút người lái
đò sông Đà - một tác phẩm thể hiện rõ nét và sâu sắc phong
cách nghệ thuật độc đáo của ông. Tùy bút sông Đà là những
trang văn được viết bằng ngôn ngữ điêu luyện, những đoạn tả
đèo cao, vực sâu, thác nước dữ dội, hoặc cảnh thiên nhiên đẹp
đến tuyệt đỉnh, nhưng lấp lánh giữa những vẻ đẹp ấy là hình
ảnh con sơng Đà hiện lên vừa hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng rất
nên thơ, trữ tình và lãng mạn.

Kết bài 1:
u sơng Đà cũng chính là u Tổ quốc và yêu con người
Việt Nam - Những đồng tác giả của trăm vẻ đẹp từng làm
đắm đuối lòng ta trên trăm dáng sông xuôi (ý thơ của Nguyễn

Khoa Điềm). Sông Đà càng đẹp, càng sinh động thì ơng lái đị
hiện lên càng anh dũng, ngoan cường trong lao động, ta lại
càng thấy được bản lĩnh, tấm lòng và tài năng của Nguyễn
Tuân. Nhà văn đã phát hiện ra trong con người bình dị ấy “
thứ vàng mười đã qua thử lửa” của núi rừng Tây Bắc. Cuộc
sống quanh ta vốn rất cũ kỹ, tầm thường, gió vẫn thổi, mây
vẫn trơi, ngày lại qua ngày.. nhà văn chính là người đã mang
lại cho ta một thế giới mới, tinh khôi hơn, diệu kì hơn. Và
Nguyễn Tn đã làm trịn sứ mệnh của một nhà văn, ơng đã
góp phần mang đến cho Thế giới những sắc màu mới. Bước
vào thế giới của Nguyễn Tuân, chúng ta như bước vào một
chân trời với màu sắc huyền bí riêng biệt, hấp dẫn và độc đáo.
Đó là chân trời của cái đẹp, của tài hoa và sự un bác.
Kết bài 2:
Đọc “Người lái đị sơng Đà” người ta càng hiểu hơn lý do vì
sao cái đẹp trong văn của Nguyễn Tuân được gọi là cái đẹp
đạt đến độ hồn thiện, hồn mỹ. Bằng tình u thiên nhiên
đất nước kết hợp với ngôn từ độc đáo, tài hoa, Nguyễn Tuân
đã tái hiện lên một khung cảnh Tây Bắc thật hùng vĩ mà cũng
thật trữ tình, làm ta thêm tự hào về núi sông Tổ quốc nguy
nga, tráng lệ. Sông Đà quả là một quà tặng vô giá của thiên
nhiên là một cơng trình nghệ thuật tuyệt vời của bậc thầy tùy
bút Nguyễn Tuân.
Kết bài 3:
Thành công xuất sắc của tùy bút Người lái đị sơng Đà đó là
bức tranh thiên nhiên rất thực hịa quyện với cảm hứng mãnh
liệt và niềm đam mê của Nguyễn Tuân. Những đặc sắc nghệ
thuật với rất nhiều biện pháp tu từ và kho ngôn ngữ phong
phú ngùn ngụt chất liệu sức sống khiến dịng sơng Đà của
thiên nhiên vĩnh viễn trở thành dịng sơng nghệ thuật. Đọc

Người lái đị sơng Đà, ta yêu thêm con người Việt Nam cần
cù, dũng cảm, ta tự hào về núi sông Tổ quốc nguy nga, tráng
lệ. Sông Đà quả là quà tặng của thiên nhiên, là hồn thiêng đất
Việt.



Văn bản: VIỆT BẮC
-Tố Hữu“ Lịch trình tiến triển về thơ của Tố Hữu đi song song với lịch
trình tiến triển về tư tưởng và trình độ giác ngộ, về sức hoạt
động của Tố Hữu.
Thơ Tố Hữu không phải là một trị tiêu khiển mà là một khí
cụ đấu tranh, một công tác vận động của người cách mạng.
Người Tố Hữu là một thi sĩ, một chiến sĩ nhưng chúng ta
đừng quên cốt cách của nó là thi sĩ.”
(Lời giới thiệu tập Thơ của Tố Hữu,Văn hóa Cứu quốc Việt Nam xuất bản, 1946)

I - THÔNG TIN TÁC GIẢ: Tố Hữu

Từ
khó
a

- Lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng => Nhà thơ, chiến

- Chặng đường thơ song hành cùng chặng đường
Cách mạng
- Phong cách thơ: trữ tình chính trị.
- Quan niệm thơ: "Viết thơ phải xứng đáng là người
chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn hóa tư tưởng."

- Ngồi vai trị nhà thơ, ơng cịn là một nhà chính trị
tài ba.

Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền văn nghệ cách
mạng Việt Nam. Chặng đường thơ của Tố Hữu ln gắn bó
và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng đầy
gian khổ, hy sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của
dân tộc, đồng thời cũng là những chặng đường vận động
trong quan điểm tư tưởng và bản lĩnh nghệ thuật của chính
nhà thơ. Xuân Diệu từng nhận xét rằng: “...Tố Hữu đã đưa
thơ chính trị lên đến trình rất đỗi trữ tình...” Nhà thơ quan
niệm : "Muốn có thơ hay, trước hết, phải tạo lấy tình. Nhà
thơ chân chính phải khơng ngừng phấn đấu, tu dưỡng về lập
trường tư tưởng; xác định thật rõ ràng tầm nhìn, cách nhìn.
Tự nguyện gắn bó chân thành là yêu cầu cao nhất đối với
người nghệ sĩ trong quan hệ với đất nước, với nhân dân.
Ngoài ra, các nhà thơ Cách mạng cịn phải kiên quyết đấu
tranh, khơng khoan nhượng trước những biểu hiện lệch lạc,
với cái xấu cái ác. Tóm lại, viết thơ phải xứng đáng là người
chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn hóa tư tưởng." Vì thế
nhà thơ vừa mang trong mình chất thi sĩ, vừa mang trong
mình chất chiến sĩ lý tưởng, nhiệt huyết, kiên trung.
II. THÔNG TIN TÁC PHẨM:
Để hiểu hơn về tác phẩm cũng như những dụng ý nghệ thuật
của tác giả, tham khảo bài viết dưới đây:

TỐ HỮU TÂM SỰ VỀ BÀI THƠ “VIỆT BẮC”
Bài thơ của một người sống trong thực tiễn cách mạng, không
phải khách du lịch ngắm cảnh. Đó là tâm tình của người cách
mạng, khơng phải tâm tình của cá nhân, là cái tơi cá nhân mà

cái tơi cá nhân của tơi hịa vào cái tơi chung của cách mạng,
nhân dân. Đất nước thành máu thịt của tơi và ngược lại. Tơi
rất thích hai câu thơ của Chế Lan Viên:
“Khi ta ở chỉ là nơi ta ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”
Tơi hoạt động ở Việt Bắc mười mấy năm, sống cùng đồng
bào các dân tộc ít người, chia sẻ nhau từng cơn sốt rừng, từng
sự thiếu thốn, hiểm nguy. Khi về Hà Nội, tôi cảm thấy đã để
lại một phần đời ở Việt Bắc. Đó là lí do tơi viết “Việt Bắc”.
“Mình và ta”, thông thường cũng như trong ca dao, được
dùng để chỉ hai người gắn bó với nhau bằng tình cảm tha
thiết.
Một số bài phê bình, phân tích bài thơ như một chuyến chia li
giữa một chàng trai dưới xuôi và một cô gái dân tộc, hay khá
hơn, là cái tôi thi sĩ chia tay với cảnh vật núi rừng, con người
Việt Bắc. Đó là cách phân tích dựa vào ca dao, tục ngữ hay
của đời sống bình thường. Nhưng bài thơ này có cuộc sống
độc lập riêng.
“Mình, ta” khơng phải dùng cho ngôi thứ nhất và ngôi thứ
hai, không phải một từ chỉ chủ thể, một từ chỉ khách thể mà
cả hai đều chỉ chủ thể. Tơi nhắc lại “Mình và ta” ở đây đều
chỉ chủ thể.
“Nghĩa là mình ấy, ta ấy đều là một phần của đời sống thi sĩ
đã trải qua ở Việt Bắc. Cái phần đời này trò chuyện, quyến
luyến với phần đời kia. Cho nên cuộc chia tay khơng phải
diễn ra bình thường trong thời gian, không gian cụ thể mà
diễn ra trong máu thịt, trong tâm hồn nhà thơ. Sự chia ly bản
thân mình là cuộc chia ly khó khăn nhất, đắm đuối nhất, tha
thiết nhất. Phải hiểu đúng cách dùng hai từ “mình”, “ta” này
của tác giả mới hiểu đúng bài thơ.

Có cách hiểu bốn câu:
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ bồn bồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hơm nay
Hay ở cảm giác tha thiết, bâng khng, bồn chồn mà lịng ai
cũng có. Ba trạng thái tâm trạng: bâng khuâng hụt hẫng, niềm
vui rời bỏ, bồn chồn không yên dạ. Khổ thơ vẽ lên cảnh chia
li da diết như phải dứt đi khối tình đau đáu. Nhưng “áo chàm”
có phải là hình ảnh hốn dụ để nói đến đồng bào Việt Bắc?
Hiểu như thế q đơn giản và lệ thuộc. Cách đó khơng phải là
cách để hiểu thơ ca. Tuy đồng bào Việt Bắc mặc áo chàm
nhiều và có thể mặc khi đưa tiễn cán bộ nhưng áo chàm ở đây
mang ý nghĩa hoàn toàn khác. Màu chàm nâu trong tâm thức
người Việt là màu đơn sơ, chân thực, khơng kiểu cách, lịe
loẹt. Nó biểu hiện sự chân thành, giản dị. Hơn nữa, ở đây cả
chủ thể và khách thể đều hòa chung làm một nên:
“Áo chàm là biểu tượng cho tấc lòng chung thủy của mọi người.”


Cái tình tha thiết, bâng khuâng bồn chồn thì lời thơ nào tả cho
hết được? Tình cảm càng thắm đượm, càng nồng nàn thì ngơn từ
càng bất lực. Những người thân yêu ruột thịt gặp nhau hay xa
nhau lâu ngày cịn có hành động nào hơn lời nói là nắm tay, là
ôm chầm lấy nhau? Cái ngôn ngữ của bàn tay nóng ấm gắn liền
với trái tim đầy xúc động, run rẩy hơn mọi lời nói khác, nhất là
cuộc chia lí với chính mình này. Cho nên biết nói gì cho thỏa
chứ khơng phải khơng biết nói gì, khơng có gì để nói.
Chú ý đến hai câu:
“Mình về rừng núi nhớ ai”

“Mình về có nhớ núi non”
Nỗi nhớ như tiếng gọi trong thung lũng. Có một lời vang lên là
có tiếng vọng lại ấm áp hơn, tha thiết hơn. Không cảm thấy cuộc
phân li nữa mà chỉ thấy nỗi nhớ lớn lên, bền bỉ và thắt chặt mọi
người trong kí ức chung đẹp đẽ. “Hắt hiu lau xám” đối với “đậm
đà lòng son” và làm nổi bật nhau hơn. Tấm lòng dân Việt Bắc
bền vững như núi rừng Việt Bắc.
Câu thơ:
“Mình đi mình có nhớ mình
Tân Trào Hồng Thái, mái đình cây đa”
điệp lại ở đoạn sau khẳng định sự khơng thể chia cắt của chủ thể.
“Ta mình”, “mình ta” phân đôi này chỉ là phân đôi nỗi nhớ, một
về Hà Nội, một ở Việt Bắc. Còn sự chung thủy sắt son thì khơng
gì có thể lay chuyển. Có khi là sự tạo điểm nhấn, chẳng hạn câu:
“Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”
Đó là so sánh giữa cái vơ tận và cái vơ cùng, như tấm lịng người
mẹ, tình cha. Đó khơng phải là lời khẳng định hay chứng tỏ tình
cảm vì lịng người này đã sống trong lịng người kia rồi cần gì
phải phơ bày nữa. Đó là lời buộc thốt tự đáy lịng. Có sống cùng
đồng bào dân tộc trong những ngày kháng chiến gian lao mới
hiểu hết haicâu:
“Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi.”
Có những ngày lũ rừng về xối xả, cuồn cuộn, mưa rừng ào ào,
gạo trôi, sắn bị cuốn, địch phục kích sau lưng, những đêm bị cơn
sốt rét rừng hành hạ, được các mế, các chị cưu mang, đổ nước lá
khế vào miệng cho uống... mới thấm thía tình người, tình keo
sơn gắn bó. Khi anh sống ở đó rồi anh ra đi anh có cảm giác nhớ
từng rừng nứa bờ tre, nhớ cả những vật vơ tri bình thường. Nỗi
nhớ bắt nguồn từ tình người và lan tỏa vào cảnh vật. “Đây” và

“đó” cũng chỉ là một địa điểm mà thơi.
Hình ảnh “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” cũng chưa phải
là mộc mạc nhất. Hình ảnh “người mẹ nắng cháy lưng địu con
lên rẫy bẻ từng bắp ngô” chẳng hạn. Cuộc sống hiện lên như nó
vốn có. Nếu ta thờ ơ, bàng quan thì chẳng thấy có gì nên thơ
nhưng nếu có một chút lưu luyến gắn bó, lặp tức thấy có ngọn
lửa lung linh bền bỉ của sự sống.
“Phách” là một loại cây ở rừng Việt Bắc. Khi mùa thu đến thì lá
ngả vàng làm cả rừng vàng rực lên. Câu thơ chỉ tả hình ảnh giản
dị như thế chứ khơng có ý tả tiếng rừng, nhạc rừng gì cả! Cịn
“ngọn hoa chuối”, nhìn ở đồng bằng thì khơng có cảm giác gì,
nhưng nhìn ở vùng núi, giữa đám lau lách, cỏ hoa thì lại có giá
trị đặc biệt. Nó cho cảm giác bơng hoa thật chứ khơng mong
manh, chóng tàn như những lồi hoa khác. Khơng phải là cảnh
đẹp, cảnh vật nở bừng hoa mà tác giả muốn tả cảnh đẹp để làm

nổi bật con người trong đó. Con người lao động bình dị và tiếng
hát ân tình thủy chung. Cảnh vật và con người hịa quyện, tơn
nhau lên. Con người Việt Bắc hiện lên như thế: đâu cũng có
cảnh đẹp, đâu cũng có con người ân tình. Trong chiến tranh du
kích, Việt Bắc là căn cứ địa vững vàng. Rừng che giấu bộ đội,
cán bộ, khiến giặc có mắt như mù: mặt khác rừng núi là thiên la
địa võng mà hễ quân giặc lạc vào là lạc lối, là mắc cạm bẫy, là
uổng mạng.
“Rừng vây quân thù”
Vì sao? Vì rừng núi là quê hương của ta, là sức mạnh của quê
hương. Quê hương ân nghĩa chở che những người con đang anh
dũng chiến đấu bảo vệ đất đai, núi sông. “Lũy sắt dày, bốn mặt
sương mù” không nên hiểu theo nghĩa đen mà là trận địa lòng
dân, cả đất trời núi sơng Việt Bắc. Thiên nhiên Việt Bắc cũng

góp phần đánh giặc, làm nên chiến thắng. Khó có thể tả hết khí
thế hào hùng của quân và dân ta thuở ấy. Hàng ngàn vạn người
ra trận, từng đoàn từng đoàn bộ đội, dân cơng đi như sóng cuộn,
rung chuyển cả núi rừng, đêm đốt đuốc sáng rừng. Cho nên tả
thế khơng có gì cường điệu. Một loạt điệp từ, từ láy, gợi hình gợi
thanh, ấn tượng, khiến người đọc cảm thấy sự hối hả, ln
chuyển khơng ngừng của những đồn quân ra trận. Nhịp 2/2 như
nhịp bước hành quân mạnh mẽ, oai hùng. Anh hùng, kiêu hãnh,
đạp bằng mọi gian nguy tiến lên phía trước.
Khí phách ấy dồn nén và bật ra thành câu thơ:
“Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”
Sự xuất hiện điệp từ “vui” trong đoạn thơ thể hiện sự cộng
hưởng của niềm vui dạt dào, mạnh mẽ và lâu bền trong giai đoạn
1953 - 1954 lịch sử. Việt Bắc là trái tim cách mạng của cả nước,
gắn liền với hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những năm Bác
sống và làm việc ở Việt Bắc, từ khắp mọi nơi trong cả nước,
nhân dân một lòng một dạ hướng về Người. Người là linh hồn
của Việt Bắc. Khổ thơ cuối tổng kết tình cảm người ra đi với
Việt Bắc và nhấn mạnh giá trị của quê hương cách mạng trong
đời sống tinh thần của người Việt Nam.
Viết theo thể thơ lục bát uyển chuyển có khả năng lột tả được
những tình cảm dịu dàng tha thiết. Nó hồn tồn tương ứng với
nội dung tình cảm của người ra đi. Bài thơ có hai nhân vật trữ
tình: “Mình và ta”, nhưng cả “mình và ta” đều là biểu hiện của
chủ thể tác giả.
Khi ấy, 1954, tác giả chia tay Việt BẮc như chia tay một phần
đời sống của mình: một đời sống gian khổ nhưng vui tươi, ân
nghĩa, sâu sắc, da diết, tràn đầy ấn tượng và hạnh phúc.
Chính vì thế mà lưu luyến, hồi nhớ lại tất cả. Việt Bắc đã trở
thành quê hương tinh thần của chính tơi (Tố Hữu), của tơi và

của mọi người. Cho nên nỗi niềm riêng của tôi trong bài thơ đã
thành nỗi niềm, tình cảm chung của cán bộ, chiến sĩ, của nhân
dân.
(Nguyễn Quang Thiều (chủ biên): “Tác giả nói về tác
phẩm. Hỏi chuyện các tác giả có tác phẩm giảng dạy
trong nhà trường.”)

\


×