AN TỒN - MƠI TRƯỜNG DẦU KHÍ
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ẢNH HƯỞNG NẾU XẢY RA SỰ CỐ TRÀN DẦU
Ở KHU VỰC VỊNH CỬA LỤC
ThS. Vũ Duy Vĩnh
Viện Tài nguyên và Mơi trường biển
Tóm tắt
Sử dụng mơ hình tốn học để đánh giá dự báo sự lan truyền dầu khi xảy ra sự cố tràn dầu là một trong những
phương pháp hiệu quả góp phần xây dựng các phương án ứng cứu sự cố tràn dầu. Trong bài báo này, tác giả áp dụng
mơ hình tốn học để tính tốn mơ hình lan truyền dầu với 18 kịch bản khác nhau, đánh giá mức độ ảnh hưởng nếu xảy
ra sự cố tràn dầu ở khu vực vịnh Cửa Lục, tỉnh Quảng Ninh. Có thể thấy rằng, mức độ ảnh hưởng khi xảy ra sự cố tràn
dầu phụ thuộc vào các yếu tố như lượng dầu tràn, điều kiện thủy động lực và gió khi xảy ra sự cố tràn dầu.
1. Mở đầu
Phương pháp ứng dụng mơ hình tốn học để mơ
phỏng, dự báo lan truyền dầu khi xảy ra sự cố tràn dầu
ngày càng được sử dụng rộng rãi trên thế giới [2, 3, 16, 19,
20, 21, 23, 24]. Với phương pháp này, có thể xác định được
xu hướng biến động theo không gian và thời gian của các
vệt dầu tràn từ vị trí xảy ra sự cố đến khu vực xung quanh.
Từ đó, có thể dự báo mức độ ảnh hưởng của sự cố tràn
dầu, góp phần quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch
thích ứng nhằm giảm thiểu tác động nếu sự cố xảy ra.
Để mơ phỏng q trình tràn dầu khi xảy ra sự cố, tác
giả sử dụng kết hợp 2 loại mơ hình tốn học: mơ hình thủy
động lực và mơ hình tràn dầu trong bộ mơ hình Delft3D
do Viện Thủy lực Delft (Hà Lan) nghiên cứu phát triển. Mơ
hình thủy động lực được thiết lập theo các kịch bản khác
nhau để mô phỏng điều kiện thủy động lực của khu vực
vịnh Cửa Lục, vịnh Hạ Long - Bái Tử Long. Trên cơ sở kết
quả của mô hình thủy động lực, các kịch bản khác nhau
được thiết lập cho mơ hình tràn dầu để mơ phỏng sự
lan truyền của các vệt dầu sau khi xảy ra sự cố tràn dầu.
Phương pháp lưới lồng (NESTHD) cũng được sử dụng để
tạo các số liệu cung cấp cho điều kiện biên mở phía biển
của mơ hình thủy động lực từ mơ hình phía ngồi với lưới
tính thơ hơn [5].
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng tài liệu được số
hóa từ bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000 và 1:50.000 (Cục Bản
đồ - Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005) về địa hình của
khu vực vịnh Cửa Lục và vịnh Hạ Long - Bái Tử Long; tài
liệu thủy văn của các sơng trong vịnh Cửa Lục, sơng Mơng
Dương (Cửa Ơng); tài liệu về điều kiện khí tượng (nhiệt độ
khơng khí, độ ẩm tương đối, bức xạ mặt trời, vận tốc và
hướng gió) được đo đạc tại trạm Bãi Cháy và Cửa Ơng; tài
56
DẦU KHÍ - SỐ 4/2013
liệu về điều kiện hải văn của khu vực (dao động mực nước,
độ muối, nhiệt độ nước, độ cao và hướng sóng) được đo
đạc tại trạm Hịn Gai và Cửa Ơng.
2. Mơ hình lan truyền dầu
2.1. Mơ hình thủy động lực
Mơ hình thủy động lực được sử dụng trong nghiên
cứu này là module Delft3D-Flow trong bộ phần mềm
Delft3D. Đây là phần mềm có khả năng tính tốn - mơ
phỏng 2 hoặc 3 chiều các q trình thủy động lực ở các
vùng cửa sơng - ven bờ biển. Hiện mơ hình này được áp
dụng rộng rãi do có khả năng sử dụng các hệ lưới tính
khác nhau như: hệ thống lưới cầu, hệ thống lưới chữ nhật
và lưới cong trực giao. Cơ sở toán học của Delft3D-Flow
là giải phương trình Navier Stokes với chất lỏng không
nén trong nước nông và phương pháp xấp xỉ Boussinesq.
Sự biến đổi của thành phần vận tốc thẳng đứng trong
phương trình động lượng được bỏ qua. Với mơ hình 3
chiều, thành phần vận tốc thẳng đứng được tính tốn từ
phương trình liên tục [5].
2.2. Mơ hình lan truyền dầu
Mơ hình tràn dầu được sử dụng cho nghiên cứu này
là module Delft3D-Part. Module này nằm trong hệ thống
mơ hình DelftD và có thể dùng để tính tốn sự di chuyển,
phân bố và biến đổi của vật chất (dầu, độ muối, nhiệt độ,
nước thải) đưa vào thủy vực từ một nguồn liên tục hoặc
khơng liên tục [5].
Trong mơ hình tràn dầu được xây dựng tập trung chủ
yếu vào các quá trình vận chuyển, lan truyền, khuyếch tán
và bốc hơi của dầu. Sự vận chuyển có thể được mơ phỏng
2 hoặc 3 chiều. Dầu có thể trơi nổi trên bề mặt nước, có
PETROVIETNAM
thể được vận chuyển trong cột nước như quá trình lan
truyền. Sự lan truyền dầu có liên quan đến chuyển động
sóng (do gió gây ra) theo cơng thức của Delvigne [6]. Bán
kính của nguồn phát tán có thể được xác định theo công
thức của Fay và Hoult [9].
- Sự bốc hơi được giả thiết là bậc một của các quá
trình tiêu hao dầu và tính theo cơng thức của Reed [18].
Theo Reed, giá trị Cv tương đương với 1 cho xăng, dầu
hỏa, dầu diesel và 10 cho các sản phẩm dầu khác. Trong
Delft3D-Part: C = 1 được dùng cho dầu nhẹ (độ nhớt động
học nhỏ hơn 500cSt) và C = 10 cho dầu nặng (độ nhớt
động học lớn hơn 500cSt).
- Tốc độ lan truyền của dầu tràn phụ thuộc vào năng
lượng sóng bị tiêu tán từng phần và kiểu dầu và được tính
theo các cơng thức của Delvigne và Sweeney [7]; NOAA
[17], Delvigne và Hulsen [8]. Tốc độ gió gây ra sóng bạc
đầu được tính tốn theo các cơng thức của Holthuijsen và
Herbers [13].
- Quá trình kết keo của dầu (thành dạng kem, trôi
nổi, sền sệt) phụ thuộc vào thành phần của dầu. Sự hình
thành keo dầu có thể từ 10 - 100 giờ [25]. Quá trình kết
keo của dầu diễn ra tương đối nhanh, khoảng 0,1 - 3 giờ
[12], là q trình gần như khơng thuận nghịch [25] và làm
cho chất lỏng trở nên nặng hơn, ở trạng thái nửa rắn với
độ nhớt cao (có thể đạt tới giá trị 4,106cP) [4, 11]. Trong
mơ hình tràn dầu, q trình kết keo có thể được biểu diễn
theo cơng thức của Mackay [15], Zagorski và Mackay [26].
Q trình kết keo khơng chỉ ảnh hưởng đến độ nhớt
mà còn tác động đến quá trình bốc hơi của dầu. Theo
Fingas [10], quá trình này khiến độ nhớt tăng lên 2 hoặc
3 bậc đại lượng, tốc độ lan truyền cũng giảm với giá trị
tương ứng và khơng cịn hiện tượng bốc hơi.
- Tỷ trọng của dầu chịu ảnh hưởng của quá trình
bốc hơi và kết keo. Trong mơ
hình lan truyền dầu, tỷ trọng của
dầu được tính tốn theo phương
pháp nội suy tuyến tính giữa tỷ
trọng của nước và dầu.
của vịnh Cửa Lục và mở rộng ra phía ngồi của khu vực
Hạ Long, có kích thước 78 x 56km (khoảng 4.368km2).
Trong đó, diện tích mặt nước khoảng 1.987,4km2 được
chia thành 327 x 286 điểm tính, kích thước các ơ lưới biến
đổi từ 65,25 - 296,5m (Hình 1). Các ơ lưới tính theo chiều
thẳng đứng sử dụng hệ tọa độ với 3 lớp nước từ mặt
xuống đáy, tỷ lệ lần lượt là 33%, 34% và 33% so với độ sâu
tại mỗi điểm tính.
Hệ lưới cong trực giao cũng được sử dụng trong
phương pháp lưới lồng để tính tốn các điều kiện biên
mở phía biển cho mơ hình thủy động lực từ mơ hình phía
ngồi với lưới tính thơ hơn. Phạm vi tính tốn của mơ
hình này mở rộng ra tới gần đảo Bạch Long Vĩ (Hình 1),
có kích thước khoảng 129 x 122km (khoảng 15.738km2).
Trong đó, diện tích mặt nước khoảng 7.905,94km2 được
chia thành 130 x 128 điểm tính với các ơ lưới có kích thước
biến đổi từ 262,75 - 1.357,75m. Lưới tính theo chiều thẳng
của mơ hình này cũng được chia thành 3 lớp nước với tỷ
lệ từ mặt xuống đáy lần lượt là 33%, 34% và 33% so với độ
sâu tại mỗi điểm tính.
Mơ hình thủy động lực khu vực nghiên cứu được thiết
lập và chạy với hai kịch bản khác nhau: kịch bản đặc trưng
cho mùa mưa và kịch bản đặc trưng cho mùa khơ. Bước
thời gian chạy của mơ hình thủy động lực là 0,5 phút.
Các biên lỏng sông của mô hình thủy động lực bao
gồm các sơng: Chanh, Kinh Trai, Bình Hương, Trới, Diên
Vọng và Mơng Dương. Các biên lỏng phía biển bao gồm
kênh Cái Tráp, cửa Lạch Huyện, phía Đơng quần đảo Cát Bà
và biên phía Đơng vịnh Bái Tử Long (Hình 1). Các điều kiện
nhiệt - muối được áp dụng tại tất các các biên lỏng. Ở các
biên lỏng sơng sử dụng các số liệu vận tốc dịng chảy trung
bình theo mùa (mùa mưa và mùa khơ). Các điều kiện biên
lỏng phía biển sử dụng kết quả tính tốn của mơ hình phía
ngồi với lưới tính thơ hơn (phương pháp lưới lồng).
2.3. Thiết lập mơ hình tràn dầu
cho khu vực vịnh Cửa Lục
Với đường bờ khúc khuỷu
và nhiều đảo nhỏ nên tác giả sử
dụng hệ lưới cong trực giao để
tính tốn mơ hình thủy động lực
cho khu vực vịnh Cửa Lục. Phạm
vi tính tốn gồm các vùng nước
Hình 1. Miền và lưới tính của mơ hình
DẦU KHÍ - SỐ 4/2013
57
AN TỒN - MƠI TRƯỜNG DẦU KHÍ
Để đánh giá và hiệu chỉnh cho mơ hình thủy động lực
khu vực nghiên cứu, tác giả đã sử dụng kết quả tính tốn
mực nước của mơ hình tại Hịn Gai so với số liệu quan trắc
mực nước trong cả hai mùa mưa và mùa khơ. Ngồi ra,
tác giả đã so sánh các giá trị tính tốn về dịng chảy của
mơ hình với số liệu quan trắc, dòng chảy tại một số điểm
quan trắc trong miền tính của mơ hình. Lần hiệu chỉnh
cuối cùng cho thấy sự phù hợp giữa tính tốn với số liệu
quan trắc thực tế và các kết quả của mô hình thủy động
lực đủ điều kiện làm đầu vào cho mơ hình tràn dầu.
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả giả thiết loại dầu
tràn là dầu FO có tỷ trọng 920kg/m3, độ nhớt là 1.500m2/s.
Vị trí giả thiết xảy ra sự cố tràn dầu là vị trí có tọa độ
(20°58’52.44”N; 107°3’39.04”E) phía ngồi cảng Cái Lân
(trong vịnh Cửa Lục). Thời gian tính tốn giả định là mùa
mưa và mùa khơ. Vì các hợp chất của dầu biến đổi và di
chuyển phụ thuộc nhiều vào điều kiện thủy động lực nên
đối với mỗi mùa đều tính tốn giả định cho 3 trường hợp:
xảy ra sự cố khi triều lên và triều xuống và nước lớn. Các
q trình vật lý có liên quan: bốc hơi; hòa tan trong nước
và lắng đọng; di chuyển do chênh lệch tỷ trọng và các
quá trình động lực (sóng, gió, dịng chảy); tự phân hủy do
nhiệt độ, vi sinh vật, oxy hóa...
Theo Quyết định số 129/2001/QĐ-TTg ngày 29/8/2011
của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch
Bảng 1. Các kịch bản tính tốn của mơ hình lan truyền dầu
Quốc gia ứng phó với sự cố tràn dầu, mức độ sự cố tràn
dầu được chia làm 3 mức: Mức 1 (cơ sở) - dưới 100 tấn;
mức 2 (khu vực) từ 100 - 2.000 tấn; mức 3 (quốc gia) trên
2.000 tấn. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đưa ra 18
kịch bản tính tốn dựa trên số lượng dầu tràn và thời gian
xảy ra sự cố (Bảng 1).
3. Kết quả và thảo luận
Khi sự cố tràn dầu xảy ra, lượng dầu vào môi trường
nước thường diễn ra theo 3 q trình cơ bản: trơi nổi trên
mặt nước (Floading Oil - FO, kg/m2); kết keo và tồn tại ở
dạng lơ lửng trong nước (Dispersed Oil - DO, kg/m3); bám
dính vào các vật xung quanh hoặc lắng đọng xuống đáy
(Sticking Oil - SO, kg/m3). Với kịch bản thiết lập như trên,
các kết quả tính tốn dự báo cho thấy ảnh hưởng của vệt
dầu tràn sau khi xảy ra sự cố khác nhau phụ thuộc vào các
yếu tố như thời điểm xảy ra sự cố, lượng dầu tràn.
3.1. Lượng dầu tràn là 90 tấn (mức cơ sở)
3.1.1. Kịch bản 1 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời điểm triều lên
trong mùa mưa
Khi sự cố tràn dầu xảy ra, vệt dầu nổi trên mặt nước
nhanh chóng lan rộng và di chuyển về phía Tây - Tây Bắc.
Sau 4 giờ xảy ra sự cố, gần như tồn bộ vùng nước phía
Tây - Tây Nam vịnh Cửa Lục bị bao phủ bởi vệt dầu nổi với
hàm lượng từ 0,03 - 0,01kg/m2. Vệt dầu nổi này
tiếp tục di chuyển về phía Tây Bắc vịnh Cửa Lục
và giảm dần hàm lượng. Sau 10 giờ, dấu vết của
vệt dầu nổi này trên mặt nước còn rất ít và gần
như khơng cịn sau 12 giờ xảy ra sự cố tràn dầu.
Cùng với vệt dầu nổi, một lượng dầu khác bị
kết keo và tồn tại trong nước dưới dạng lơ lửng.
Sau khi xảy ra sự cố, vệt dầu lơ lửng này cũng di
chuyển về phía Tây - Tây Bắc vịnh Cửa Lục với hàm
lượng 0,2 - 0,5.10-6kg/m3. So với vệt dầu nổi trên
mặt nước, vệt dầu lơ lửng trong nước có phạm
vi nhỏ hơn, thời gian tồn tại cũng ít hơn (khoảng
10 giờ sau khi xảy ra sự cố). Trong kịch bản này,
vệt dầu bám cũng hình thành ở ven bờ phía Tây
và Tây Bắc vịnh Cửa Lục. Tuy hình thành chậm
nhưng chỉ sau 12 giờ xảy ra sự cố tràn dầu thì vệt
dầu bám này bắt đầu ổn định, ít biến đổi và tồn
tại khá lâu trong môi trường nước.
3.1.2. Kịch bản 2 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời
điểm triều xuống trong mùa mưa
Vệt dầu nổi biến đổi tương tự kịch bản 1, lúc
58
DẦU KHÍ - SỐ 4/2013
PETROVIETNAM
đầu di chuyển chậm về phía Nam hướng ra phía vịnh Hạ
Long, sau đó mới di chuyển về phía Tây - Tây Bắc vịnh Cửa
Lục. Phạm vi ảnh hưởng của vệt dầu nổi nhỏ hơn so với
kịch bản 1. Vệt dầu lơ lửng lúc đầu di chuyển chậm tạo ra
vùng nước nhiễm dầu ở khu vực giữa vịnh và ảnh hưởng
đến khu vực này nhiều hơn so với vùng nước phía Tây - Tây
Bắc của kịch bản 1. Vệt dầu bám trong trường hợp này
phát triển chậm hơn về phía Tây - Tây Bắc sau đó tồn tại
khá lâu trong môi trường nước như kịch bản 1.
(a)
(c)
3.1.3. Kịch bản 3 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời điểm nước lớn
trong mùa mưa
Vệt dầu nổi ảnh hưởng chủ yếu ở khu vực giữa vịnh
Cửa Lục, vùng nước ven bờ phía Tây - Tây Bắc vịnh Cửa Lục
nhỏ hơn kịch bản 1 (Hình 2a, b). Vệt dầu lơ lửng trong kịch
bản 3 di chuyển chậm tạo ra vùng nước nhiễm dầu ở khu
vực giữa vịnh và phía Tây vịnh Cửa Lục (Hình 2 c, d). Vệt
dầu bám khơng có sự khác biệt nhiều so với kịch bản 1 và
(b)
(d)
(e)
(f)
Hình 2. Sự phân bố và biến động của dầu sau khi xảy ra sự cố tràn dầu trong kịch bản 3a - vệt dầu nổi (kg/m2) sau 1giờ; b - vệt dầu nổi
(kg/m2) sau 7 giờ; c - vệt dầu lơ lửng trong nước (kg/m3) sau 2 giờ; d - vệt dầu lơ lửng trong nước (kg/m3) sau 5 giờ; d - vệt dầu bám (kg/m3)sau
4 giờ; e - vệt dầu bám sau 30 ngày
DẦU KHÍ - SỐ 4/2013
59
AN TỒN - MƠI TRƯỜNG DẦU KHÍ
2. Đến khoảng 12 giờ sau khi xảy ra sự cố vệt dầu bám hầu
như khơng biến động và bao phủ ở tồn bộ dải ven bờ
phía Tây vịnh Cửa Lục (Hình 2 e, f ).
3.1.4. Kịch bản 4 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời điểm triều lên
trong mùa khô
Vệt dầu nổi ảnh hưởng chủ yếu ở khu vực ven bờ
cảng Cái Lân, tồn tại trong môi trường nước ngắn, phạm
vi ảnh hưởng nhỏ hơn so với các kịch bản tương tự trong
mùa mưa. Vệt dầu lơ lửng di chuyển chậm tạo ra vùng
nước nhiễm dầu ở khu vực phía Tây Nam vịnh Cửa Lục
với hàm lượng 0,1 - 0,4.10-6kg/m, chủ yếu ảnh hưởng đến
vùng nước khu vực cảng Cái Lân trong vòng 10 giờ sau
sự cố. Vệt dầu bám phát triển chậm về phía Tây Nam vị
trí xảy ra sự cố tràn dầu do ảnh hưởng của gió Đơng Bắc,
bao phủ tồn bộ dải ven bờ phía Tây Nam và phía Nam
vịnh Cửa Lục.
3.1.5. Kịch bản 5 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời điểm triều
xuống trong mùa khô
Khu vực bị ảnh hưởng nhiều do dầu nổi là vùng
nước khu vực cảng Cái Lân, Bãi Cháy và giữa vịnh Hạ
Long với hàm lượng khoảng 0,002 - 0,01kg/m2, giảm
dần hàm lượng sau khoảng 10 - 12 giờ từ khi sự cố tràn
dầu xảy ra. Vệt dầu lơ lửng di chuyển, biến đổi nhanh
và ảnh hưởng đến khu vực cảng Cái Lân (trong vòng 3
giờ) và vịnh Hạ Long (trong vòng 12 giờ) với hàm lượng
0,1 - 0,4.10-6kg/m3. Vệt dầu bám do ảnh hưởng của gió
Đơng Bắc phát triển chậm về phía Nam đến khoảng
10 giờ sau khi xảy ra sự cố tràn dầu. Ven bờ Hòn Gai Bãi Cháy - phía Nam Cửa Lục ảnh hưởng của vệt dầu
bám này.
3.2. Trường hợp lượng dầu tràn là 500 tấn (mức độ khu
vực)
3.2.1. Kịch bản 7 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời điểm triều lên
trong mùa mưa
Sau khi sự cố tràn dầu xảy ra, vệt dầu nổi nhanh
chóng lan rộng về phía Tây - Tây Bắc với mật độ khá lớn
so với kịch bản 1. Sau 4 giờ xảy ra sự cố tràn dầu, gần như
toàn bộ vùng nước phía Tây - Tây Nam vịnh Cửa Lục bị
bao phủ bởi vệt dầu nổi với hàm lượng từ 0,06 - 0,01kg/
m2. Vệt dầu nổi này tiếp tục di chuyển về phía Tây Bắc
vịnh Cửa Lục và giảm dần hàm lượng. Sau khoảng 12
giờ, trên mặt nước cịn rất ít vệt dầu nổi này và gần như
khơng cịn sau 14 giờ. Vệt dầu lơ lửng di chuyển về phía
Tây - Tây Bắc vịnh Cửa Lục với hàm lượng 0,2 - 0,5.10-6kg/
m3, phạm vi ảnh hưởng lớn so với kịch bản 1. Vệt dầu
bám hình thành chậm ở ven bờ phía Tây, Tây Bắc và cả
phía Bắc vịnh Cửa Lục, ổn định và ít biến đổi sau khoảng
12 giờ xảy ra sự cố tràn dầu.
3.2.2. Kịch bản 8 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời điểm triều
xuống trong mùa mưa
Do sự cố tràn dầu xảy ra vào thời điểm triều xuống
nên vệt dầu nổi lúc đầu di chuyển chậm về phía Nam
hướng ra phía vịnh Hạ Long, sau đó di chuyển về phía
Tây - Tây Bắc vịnh Cửa Lục. Phạm vi ảnh hưởng của vệt
dầu nổi lớn hơn so với kịch bản 7 và ảnh hưởng tới một
phần khu vực vịnh Hạ Long nơi tiếp giáp với vịnh Cửa Lục.
Vệt dầu lơ lửng lúc đầu di chuyển chậm tạo ra vùng nước
nhiễm dầu ở khu vực giữa vịnh Cửa Lục, sau đó ảnh hưởng
đến một phần khu vực phía Tây - Tây Bắc. Vệt dầu bám tác
động đến khu vực ven bờ Bãi Cháy - Hòn Gai.
3.1.6. Kịch bản 6 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời điểm nước lớn
trong mùa khô
3.2.3. Kịch bản 9 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời điểm nước lớn
trong mùa mưa
Vệt dầu nổi di chuyển về phía Tây Nam vị trí xảy
ra sự cố, sau đó tiếp tục di chuyển xuống vùng ven
bờ phía Nam ra ngồi vịnh Cửa Lục. Khu vực cảng Cái
Lân, Bãi Cháy và giữa vịnh Hạ Long bị ảnh hưởng nhiều
với hàm lượng khoảng 0,002 - 0,01kg/m2. Vệt dầu lơ
lửng di chuyển và biến đổi nhanh, ảnh hưởng đến khu
vực cảng Cái Lân và giữa vịnh Hạ Long với hàm lượng
0,1 - 0,4.10-6kg/m3 trong khoảng 12 giờ. Vệt dầu bám
phát triển chậm về phía Nam vị trí xảy ra sự cố tràn dầu
do ảnh hưởng của gió Đơng Bắc và ảnh hưởng đến ven
bờ Hịn Gai - Bãi Cháy - cảng Cái Lân và khu vực các đảo
phía Nam vịnh Hạ Long.
Vệt dầu nổi cơ bản giống như kịch bản 7 và 8. Tuy
nhiên, do sự cố tràn dầu xảy ra vào thời điểm nước lớn nên
vệt dầu nổi lúc đầu loang chậm ra xung quanh, sau đó di
chuyển về phía Nam và về phía Tây - Tây Bắc vịnh Cửa Lục.
Vệt dầu nổi chủ yếu ảnh hưởng đến khu vực giữa vịnh Cửa
Lục, tác động đến vùng nước ven bờ nửa phía Tây - Tây
Bắc vịnh Cửa Lục, phạm vi ảnh hưởng nhỏ hơn các kịch
bản 7 và 8. Vệt dầu lơ lửng di chuyển chậm tạo ra vùng
nước nhiễm dầu ở khu vực giữa vịnh và một phần vịnh Hạ
Long (nơi tiếp giáp với vịnh Cửa Lục). Sau khi xảy ra sự cố
tràn dầu khoảng 5 giờ, vệt dầu lơ lửng biến động nhanh,
hàm lượng giảm dần và còn giá trị rất nhỏ sau 1 ngày xảy
ra sự cố. Vệt dầu bám không có sự khác biệt nhiều so với
60
DẦU KHÍ - SỐ 4/2013
PETROVIETNAM
kịch bản 7 và 8, phát triển chậm hơn về phía Tây - Tây Bắc,
ảnh hưởng tới dải ven bờ vịnh Cửa Lục và một phần Bãi
Cháy - Hòn Gai.
3.2.4. Kịch bản 10 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời điểm triều
lên trong mùa khô
Vệt dầu bao phủ khu vực cảng Cái Lân với mật độ
khá lớn (trên 0,08kg/m2) và lan rộng ra xung quanh, ảnh
hưởng đến ven bờ phía Tây Nam vịnh Cửa Lục. Sau đó,
vệt dầu này di chuyển xuống phía Tây Nam, vào vịnh Hạ
Long, tồn tại trong nước khoảng nửa ngày sau khi sự cố
xảy ra. Vệt dầu lơ lửng di chuyển chậm tạo ra vùng nước
nhiễm dầu ở khu vực phía Tây Nam vịnh Cửa Lục với hàm
lượng 0,1 - 0,4.10-6kg/m3. Vệt dầu lơ lửng này không chỉ
ảnh hưởng đến vùng nước khu vực cảng Cái Lân mà còn
tác động đến một phần khu vực phía Bắc vịnh Hạ Long.
Do ảnh hưởng của gió Đơng Bắc, vệt dầu bám phát triển
chậm về phía Tây Nam vị trí xảy ra sự cố tràn dầu. Sau
khoảng 12 giờ xảy ra sự cố, vệt dầu bám gần như khơng
biến động và bao phủ tồn bộ dải ven bờ phía Tây - Tây
Nam và phía Nam vịnh Cửa Lục, ven bờ Tuần Châu, các
đảo phía Nam vịnh Hạ Long.
3.2.5. Kịch bản 11 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời điểm triều
xuống trong mùa khơ
(a)
(b)
(c)
(d)
(e)
(f)
Hình 3. Phân bố và biến động của dầu sau khi xảy ra sự cố tràn dầu trong kịch bản 11, a - vệt dầu nổi (kg/m2)
sau 4 giờ; b - vệt dầu nổi (kg/m2) sau 7 giờ; c - vệt dầu lơ lửng trong nước (kg/m3) sau 2 giờ; d - vệt dầu lơ lửng
trong nước (kg/m3) sau 5 giờ; d - vệt dầu bám (kg/m3) sau 4 giờ; e - vệt dầu bám (kg/m3) sau 30 ngày
Vệt dầu nổi nhanh
chóng di chuyển về
phía Nam - Tây Nam
vị trí xảy ra sự cố (khu
vực cảng Cái Lân), sau
đó di chuyển xuống
phía Nam ra ngoài vịnh
Cửa Lục. Khu vực bị
nhiễm dầu là khu vực
cảng Cái Lân, Bãi Cháy
và giữa vịnh Hạ Long
với hàm lượng khoảng
0,002 - 0,01kg/m2. Sau
đó, vệt dầu này tiếp tục
ảnh hưởng đến vùng
giữa và Tây Nam vịnh
Hạ Long, giảm dần
hàm lượng sau 14 - 18
giờ xảy ra sự cố (Hình
3 a, b). Vệt dầu lơ lửng
di chuyển và biến đổi
khá nhanh, ảnh hưởng
đến vùng nước khu
vực cảng Cái Lân và
vịnh Hạ Long với hàm
lượng 0,1 - 0,4.10-6kg/
m3 (Hình 3 c, d). Vệt
dầu bám phát triển
chậm về phía Nam, ảnh
hưởng đến ven bờ Hịn
Gai, Bãi Cháy và phía
Nam Cửa Lục. Khoảng
12 giờ sau khi xảy ra
sự cố, vệt dầu bám gần
như khơng biến động
và ảnh hưởng đến một
DẦU KHÍ - SỐ 4/2013
61
AN TỒN - MƠI TRƯỜNG DẦU KHÍ
phần dải ven bờ Hịn Gai, Bãi Cháy, Tuần Châu và khu vực
phía Nam vịnh Hạ Long (3 e, f ).
3.3.2. Kịch bản 14 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời điểm triều
xuống trong mùa mưa
3.2.6. Kịch bản 12 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời điểm nước
lớn trong mùa khơ
Vệt dầu nổi gần như bao phủ tồn bộ khu vực vịnh
Cửa Lục sau 4 giờ xảy ra sự cố, sau đó tiếp tục di chuyển
xuống phía Bắc vịnh Hạ Long và giảm dần sau 10 giờ khi
sự cố xảy ra. Vệt dầu lơ lửng di chuyển chậm tạo ra vùng
nước nhiễm dầu ở khu vực giữa vịnh Cửa Lục, đồng thời
tác động đến một phần khu vực phía Tây - Tây Bắc và một
phần phía Bắc vịnh Hạ Long (nơi tiếp giáp với vịnh Cửa
Lục). Vệt dầu lơ lửng này tồn tại trong môi trường nước
khoảng 15 giờ. Vệt dầu bám phát triển chậm hơn về phía
Tây - Tây Bắc và Bắc vịnh Cửa Lục trong pha triều xuống,
sau đó tác động đến một phần của khu vực ven bờ Bãi
Cháy - Hịn Gai. Tồn bộ vùng ven bờ phía trong vịnh Cửa
Lục đều bị ảnh hưởng do vệt dầu bám. Sau khoảng 16
giờ xảy ra sự cố, vệt dầu bám gần như không biến động,
tồn tại khá lâu trong môi trường nước. Trong kịch bản này,
mặc dù lượng dầu tràn lớn nhưng ảnh hưởng tới vùng ven
bờ Hòn Gai và Bãi Cháy do dầu bám không lớn lắm.
Vệt dầu nổi di chuyển về phía Tây Nam vị trí xảy ra
sự cố (khu vực cảng Cái Lân), sau đó di chuyển xuống
vùng ven bờ phía Nam ra ngồi vịnh Cửa Lục vào vùng
biển Bãi Cháy - Hòn Gai. Khu vực bị ảnh hưởng nhiều là
cảng Cái Lân (khoảng 6 giờ đầu xảy ra sự cố), Bãi Cháy
và giữa vịnh Hạ Long với hàm lượng khoảng 0,002 0,01kg/m2. Sau đó, vệt dầu này tiếp tục gây ảnh hưởng
đến vùng giữa vịnh Hạ Long và giảm dần hàm lượng sau
12 - 15 giờ xảy ra sự cố. Vệt dầu lơ lửng di chuyển và biến
đổi khá nhanh, ảnh hưởng đến khu vực cảng Cái Lân
(trong 3 giờ đầu) và rải rác ở giữa vịnh Hạ Long với hàm
lượng 0,1 - 0,4.10-6kg/m3 (trong khoảng 12 giờ). Do ảnh
hưởng của gió Đơng Bắc, vệt dầu bám phát triển chậm về
phía Tây Nam đến khoảng 10 giờ sau khi xảy ra sự cố và
ảnh hưởng đến ven bờ cảng Cái Lân, Hòn Gai - Bãi Cháy.
Sau 12 giờ xảy ra sự cố, vệt dầu bám gần như không biến
động và ảnh hưởng một phần dải ven bờ Hòn Gai - Bãi
Cháy, Tuần Châu và khu vực các đảo phía Nam, Đơng Nam
vịnh Hạ Long.
3.3. Trường hợp lượng dầu tràn là 2.100 tấn (mức độ
quốc gia)
3.3.1. Kịch bản 13 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời điểm triều
lên trong mùa mưa
Vệt dầu nổi nhanh chóng lan rộng và di chuyển về
phía Tây - Tây Bắc với mật độ khá lớn, sau khoảng 4 giờ đã
bao phủ gần như tồn bộ vùng nước phía Tây - Tây Nam
vịnh Cửa Lục với hàm lượng từ 0,009 - 0,01kg/m2; sau đó
di chuyển về phía Tây Bắc vịnh Cửa Lục và giảm dần hàm
lượng. Đến khoảng 15 giờ sau khi sự cố, vệt dầu nổi cịn
rất ít trên mặt nước và gần như khơng cịn sau 18 giờ xảy
ra sự cố. Vệt dầu lơ lửng di chuyển về phía Tây - Tây Bắc
vịnh Cửa Lục với hàm lượng 0,2 - 0,5.10-6kg/m3, so với kịch
bản 1 phạm vi ảnh hưởng tương đối lớn. So với vệt dầu
nổi trên mặt nước vệt dầu lơ lửng trong nước có phạm vi
nhỏ hơn, thời gian tồn tại trong môi trường nước ít hơn
(chỉ khoảng 13 - 15 giờ sau khi xảy ra sự cố). Vệt dầu bám
hình thành chậm ở ven bờ phía Tây, Tây Bắc và cả phía Bắc
vịnh Cửa Lục. Khoảng 12 giờ sau khi xảy ra sự cố, vệt dầu
bám ổn định và tồn tại lâu trong môi trường nước. Do
ảnh hưởng của trường gió nên lượng dầu tràn dù khá lớn
nhưng vệt dầu bám chỉ ảnh hưởng đến dải ven bờ phía
trong vịnh Cửa Lục.
62
DẦU KHÍ - SỐ 4/2013
3.3.3. Kịch bản 15 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời điểm nước
lớn trong mùa mưa
Do lượng dầu tràn lớn nên chỉ sau 4 giờ xảy ra sự cố,
gần như tồn bộ khu vực phía Tây vịnh Cửa Lục bị bao phủ
bởi dầu nổi với hàm lượng từ 0,008 - 0,01kg/m2. Sau đó,
vệt dầu nổi tiếp tục phát triển và biến đổi về mật độ, ảnh
hưởng tới một phần khu vực vịnh Hạ Long. Vệt dầu lơ lửng
di chuyển chậm, tạo ra vùng nước nhiễm dầu ở khu vực
nửa phía Tây của vịnh Cửa Lục. Sau 5 giờ xảy ra sự cố, vệt
dầu lơ lửng này tiếp tục lan rộng, hàm lượng giảm dần và
ảnh hưởng một phần (nhỏ) đến khu vực vịnh Hạ Long. Vệt
dầu bám phát triển chậm hơn về phía Tây - Tây Bắc, gần
như không biến động sau 13 giờ xảy ra sự cố, ảnh hưởng
tới toàn bộ dải ven bờ vịnh Cửa Lục và một phần khu vực
Bãi Cháy - Hòn Gai.
3.3.4. Kịch bản 16 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời điểm triều
lên trong mùa khô
Do lượng dầu tràn lớn nên sau 1 giờ xảy ra sự cố, khu
vực cảng Cái Lân đã bị bao phủ bởi vệt dầu với mật độ trên
0,01kg/m2, sau đó vệt dầu này lan rộng ra xung quanh, ảnh
hưởng đến vùng ven bờ phía Tây Nam vịnh Cửa Lục. Vệt
dầu nổi ảnh hưởng đến khu vực phía Tây Nam vịnh Cửa
Lục và phía Bắc vịnh Hạ Long, tồn tại trong nước 14 - 18 giờ
sau khi xảy ra sự cố. Vệt dầu lơ lửng di chuyển chậm, tạo ra
vùng nước nhiễm dầu với hàm lượng 0,1 - 0,4.10-6kg/m3,
ảnh hưởng đến khu vực cảng Cái Lân và phía Bắc vịnh Hạ
Long. Do ảnh hưởng của gió Đơng Bắc (trong mùa khơ),
PETROVIETNAM
vệt dầu bám phát triển chậm về phía Tây Nam. Khoảng 12
giờ sau khi xảy ra sự cố, vệt dầu bám gần như khơng biến
động, bao phủ tồn bộ dải ven bờ phía Tây - Tây Nam và
phía Nam vịnh Cửa Lục. Do lượng dầu tràn lớn nên vệt dầu
bám còn xuất hiện ở khu vực ven bờ Hòn Gai - Bãi Cháy và
một số đảo ở phía Nam vịnh Hạ Long.
3.3.5. Kịch bản 17 - sự cố tràn dầu xảy ra tại thời điểm triều
xuống trong mùa khô
Vệt dầu nổi di chuyển nhanh từ khu vực cảng Cái Lân
về phía Nam - Tây Nam, sau đó di chuyển xuống phía Nam
ra ngồi vịnh Cửa Lục vào vịnh Hạ Long. Khu vực bị ảnh
hưởng nhiều là vùng nước khu vực cảng Cái Lân, Bãi Cháy
và giữa vịnh Hạ Long với hàm lượng khoảng 0,005 - 0,01kg/
m2. Vệt dầu này tiếp tục ảnh hưởng đến vùng nước giữa
vịnh Hạ Long, Tây Nam vịnh Hạ Long và giảm dần hàm
lượng sau 16 - 20 giờ xảy ra sự cố (Hình 4 a, b). Vệt dầu lơ
lửng với hàm lượng 0,1 - 0,4.10-6kg/m3 di chuyển và biến đổi
nhanh, tồn tại trong nước khoảng 14 - 16 giờ (Hình 4 c, d),
ảnh hưởng chủ yếu đến khu vực vịnh Hạ Long và cảng Cái
Lân trong 3 giờ sau khi xảy ra sự cố. Vệt dầu bám phát triển
chậm về phía Nam vị trí xảy ra sự cố tràn dầu do ảnh hưởng
của gió Đơng Bắc. Trong 10 giờ sau khi xảy ra sự cố, vệt dầu
bám phát triển chậm và ảnh hưởng đến ven bờ Hịn Gai Bãi Cháy - phía Nam Cửa Lục. Khoảng 12 giờ sau khi xảy ra
sự cố, vệt dầu bám gần như không biến động và ảnh hưởng
một phần dải ven bờ Hòn Gai - Bãi Cháy, Tuần Châu và hầu
hết các đảo phía Nam vịnh Hạ Long (Hình 4 e, f).
3.3.6. Kịch bản 18 - sự
cố tràn dầu xảy ra tại
thời điểm nước lớn
trong mùa khơ
(a)
(b)
(c)
(d)
(e)
(f)
Hình 4. Phân bố và biến động của dầu sau khi xảy ra sự cố tràn dầu trong kịch bản 17, a - vệt dầu nổi (kg/m2)
sau 4 giờ; b - vệt dầu nổi (kg/m2) sau 12 giờ; c - vệt dầu lơ lửng trong nước (kg/m3) sau 2 giờ; d- vệt dầu lơ lửng
trong nước (kg/m3)sau 5 giờ; d - vệt dầu bám (kg/m3) sau 4 giờ; e - vệt dầu bám (kg/m3) sau 30 ngày
Vệt dầu nổi di
chuyển về phía Tây
Nam vị trí xảy ra sự
cố (khu vực cảng Cái
Lân), sau đó di chuyển
xuống vùng ven bờ
phía Nam ra ngồi
vịnh Cửa Lục vào
vùng biển Bãi Cháy Hòn Gai. Các khu vực
bị ảnh hưởng nhiều là
cảng Cái Lân (khoảng
6 giờ đầu khi xảy ra
sự cố), Bãi Cháy, giữa
vịnh Hạ Long với hàm
lượng khoảng 0,005
- 0,01kg/m2. Vệt dầu
nổi sau đó tiếp tục
ảnh hưởng đến vùng
giữa vịnh Hạ Long và
giảm dần hàm lượng
sau khoảng 12 - 15
giờ xảy ra sự cố. Vệt
dầu lơ lửng di chuyển
và biến đổi khá
nhanh với hàm lượng
0,1 - 0,4.10-6kg/m3,
chủ yếu ảnh hưởng
đến khu vực cảng Cái
Lân (sau 3 giờ xảy ra
DẦU KHÍ - SỐ 4/2013
63
AN TỒN - MƠI TRƯỜNG DẦU KHÍ
sự cố), giữa và Đông Nam vịnh Hạ Long (sau 14 - 16 giờ
xảy ra sự cố). Do ảnh hưởng của gió Đơng Bắc, vệt dầu
bám phát triển chậm về phía Tây Nam vị trí xảy ra sự cố,
ảnh hưởng đến ven bờ cảng Cái Lân, Hòn Gai - Bãi Cháy.
Sau 12 giờ xảy ra sự cố, vệt dầu bám gần như không biến
động, ảnh hưởng đến một phần dải ven bờ Hòn Gai Bãi Cháy, Tuần Châu và hầu hết các đảo phía Nam, Đơng
Nam vịnh Hạ Long.
4. Kết luận
Trên cơ sở tính tốn, phân tích kết quả dự báo lan
truyền dầu với 18 kịch bản khác nhau ở khu vực giữa vịnh
Cửa Lục, tác giả thấy rằng mức độ ảnh hưởng khi xảy ra sự
cố tràn dầu phụ thuộc vào các yếu tố: lượng dầu tràn, thời
điểm xảy ra sự cố và điều kiện gió. Trong đó:
- Nếu sự cố tràn dầu xảy ra vào mùa mưa thì khu vực
chịu ảnh hưởng nhiều nhất là khu vực phía Tây - Tây Bắc
và phía Bắc vịnh Cửa Lục. Cũng vào mùa mưa, nếu sự cố
tràn dầu xảy ra vào các thời điểm triều xuống và nước lớn,
khu vực bị ảnh hưởng mở rộng xuống khu vực ven bờ Hòn
Gai - Bãi Cháy và vịnh Hạ Long. Khu vực bị ảnh hưởng do
dầu tràn sẽ tăng lên khi lượng dầu tràn tăng. Với lượng
dầu tràn ở mức cơ sở, khu vực phía Tây vịnh Cửa Lục bị ảnh
hưởng nhiều. Với lượng dầu tràn ở mức khu vực và quốc
gia, gần như toàn bộ vịnh Cửa Lục và một phần vịnh Hạ
Long bị ảnh hưởng bởi dầu tràn.
- Nếu sự cố tràn dầu xảy ra vào mùa khơ thì khu vực
chịu ảnh hưởng nhiều nhất là phía Tây Nam vịnh Cửa Lục
và phần lớn vịnh Hạ Long. Cũng vào mùa khô, nếu sự cố
tràn dầu xảy ra vào các thời điểm triều xuống và nước
lớn, khu vực bị ảnh hưởng là khu vực phía Tây - Tây Nam
vịnh Cửa Lục, vịnh Hạ Long. Nếu sự cố tràn dầu xảy ra vào
thời điểm triều lên, vịnh Cửa Lục sẽ bị ảnh hưởng lớn hơn
trường hợp sự cố xảy ra vào thời điểm triều xuống và nước
lớn. Với lượng dầu tràn ở mức cơ sở, khu vực phía Tây Nam
vịnh Cửa Lục và một phần phía Bắc vịnh Hạ Long (tiếp
giáp với vịnh Cửa Lục) bị ảnh hưởng nhiều. Với lượng dầu
tràn ở mức khu vực và quốc gia, ngồi khu vực bị nhiễm
dầu thì cả vùng nước phía Đơng Nam và Tây Nam vịnh Hạ
Long cũng bị ảnh hưởng.
- Ảnh hưởng do sự cố tràn dầu ở khu vực này khác
nhau tùy thuộc vào pha mực nước triều vào thời điểm xảy
ra sự cố tràn dầu. Nếu sự cố tràn dầu xảy ra ở giữa vịnh Cửa
Lục thì tác động do dầu tràn vào vùng nước phía trong
vịnh Cửa Lục nhiều hơn khi thời điểm xảy ra sự cố vào pha
triều lên, ngược lại khi xảy ra sự cố vào thời điểm nước lớn
hoặc pha triều xuống thì ngồi tác động đến vùng Cửa
64
DẦU KHÍ - SỐ 4/2013
Lục, các vệt dầu tràn còn tác động đến khu vực phía Bắc
vịnh Hạ Long.
- Nếu xảy ra sự cố tràn dầu ở khu vực giữa vịnh Cửa
Lục thì vệt dầu nổi sẽ di chuyển và phát triển nhanh trong
10 - 24 giờ (tùy thuộc vào lượng dầu tràn), do đó cần
nhanh chóng ứng cứu sự cố để hạn chế tối đa tác động
của vệt dầu này. Bên cạnh đó, vệt dầu lơ lửng dù tồn tại
trong thời gian ngắn nhưng cũng tác động lớn đến môi
trường và rất khó xử lý, do đó cần phải xử lý nhanh để hạn
chế ảnh hưởng đến môi trường.
- Khi xảy ra sự cố tràn dầu ở khu vực giữa vịnh Cửa
Lục, ngoài vệt dầu nổi và lơ lửng trong nước, một lượng
dầu đáng kể khác có thể biến đổi và bám dính vào bề
mặt đáy các bờ đảo... Vệt dầu này sau khi phát triển
hồn tồn, gần như ít biến đổi và khó xử lý (chìm dưới
đáy). Vì thế, có thể gây hậu quả nghiêm trọng đến môi
trường nước, đặc biệt ở các khu vực ven bờ Bãi Cháy Hòn Gai, khu vực đảo Tuần Châu và các đảo phía Nam
vịnh Hạ Long.
Tài liệu tham khảo
1. Agency for Toxic Substances and Disease Registry
(ATSDR). Toxicological profile for fuel oils. Agency for Toxic
Substances and Disease Registry, Public Health Service,
U.S. Department of Health and Human Services, Atlanta,
G.A.
2. Vũ Thanh Ca. Mơ hình số trị tính tốn lan truyền dầu
trong sự cố tràn dầu vùng cửa sông và ven bờ. Tuyển tập
Báo cáo Hội thảo Khoa học lần thứ 10. Viện Khí tượng Thủy
văn. 2007: p. 48 - 55.
3. Lê Văn Công, Nguyễn Thọ Sáo, Nguyễn Trung
Thành, Nguyễn Quang Thành. Mơ phỏng q trình lan
truyền và biến đổi vệt dầu trên biển Đông bằng mô hình
tốn. Tạp chí các Khoa học về Trái đất. 9/2011.
4. J.Bos. Behavior of oil at sea. Tech.
Rijkswaterstaat, Directorate North Sea. June 1980.
Rep.,
5. Delft Hydraulics. Delft3D - Part: User manual version
1.0. 1999.
6. G.A.L.Delvigne, J.Roelvink, C.E.Sweeney. Research
on vertical turbulent dispersion of oil droplets and oiled
particles. 1986.
7. G.A.L.Delvigne, C.E.Sweeney. Natural dispersion of
oil. Oil & Chemical Pollution. 1988; 4: p 281-310.
8. G.A.L.Delvigne, L.J.M.Hulsen. Simplified laboratory
measurements of oil dispersion coefficient: application in
PETROVIETNAM
computations of natural oil dispersion. Proc. 17th Arctic &
Marine Oil Spill Program, Vancouver, 1994: p. 173 - 187.
9. J.Fay, D.Hoult. Physical processes in the spread of oil
on a water surface. Report DOT-CG-01 381- A, U.S. Coast
Guard, Washington, D.C. 1971.
10. M.Fingas. Chemistry of oil and modelling of spills.
J. Adv. Mar. Tech. Conf. 1994; 11: p.41 - 63.
11. M.Fingas, B.Fieldhouse. Oil spill behaviour and
modeling. Paper presented at Eco-Informa ’96, Lake Buena
Vista, Florida. 4 - 7 November 1996.
12. M.Fingas, B.Filedhouse, J.Mullin. Water-in-oil
emulsions results of formation studies and applicability to
oil spill modeling. Spill Science & Technology. 1999; 5 (1):
p. 81 - 99.
13. L.H.Holthuijsen, T.H.C.Herbers. Statistics of
breaking waves observed as whitecaps in the open sea.
Journal of Physical Oceanography. 1986; 16(2): p. 290 297.
14. E.Howlett,
E.Anderson,
M.L.Spaulding.
Environmental and geographic data management tools for
oil spill modeling applications. Twentieth Arctic and Marine
Oilspill Program (AMOP) Technical Seminar, Vancouver,
British Columbia. June 11 - 13, 1997: p. 893 - 908.
15. D.Mackay, S.Paterson, K.Trudel. A mathematical
model of oil spill behavior on water with natural and
chemical dispersion. Report EPS-3-EC-77-19. 1980.
16. Nguyễn Hữu Nhân. Báo cáo tổng kết dự án nghiên
cứu triển khai: Xây dựng phần mềm và hệ thống cơ sở dữ liệu
phục vụ công tác cảnh báo, tư vấn và đánh giá thiệt hại do sự
cố tràn dầu tại Khánh Hịa. Trung tâm Khí tượng Thủy văn
Quốc gia. 2005.
17. NOAA. ADIOS User’s manual, version 1.1. 1994.
18. Mark Reed. The physical fates component of the
natural resource damage assessment model system. Oil &
Chemical Polution, W.Rodi. Turbulence Models and their
Applications in Hydraulics: A State of the Art Review, IAHR.
1989; 5: p. 99 - 123.
19. M.L.Spaulding, V.Kolluru, E.Anderson, E.Howlett.
Application of three dimensional oil spill model (WOSM/
OILMAP) to hindcast the Braer Spill. Spill Science and
Technology Bulletin. 1994; 1(1), p. 23 - 35.
20. Sở Tài nguyên và Môi trường Tp. Hồ Chí Minh.
Phương án ứng phó sự cố tràn dầu trên địa bàn Tp. Hồ Chí
Minh. 2010.
21. V.Stanovoy, I.Neelov. Modeling of accidental
oil spills in the region of the Northern Sea Route.
Geophysical Research Abstracts. SRef-ID: 1607-7962/gra/
EGU05-A-02516 © European Geosciences Union. 2005; 7.
22. Nguyễn Văn Tiến. Về giá trị đa dạng sinh học ở vịnh
Hạ Long. Tạp chí Di sản Văn hóa. 2004; 8: p. 85 - 87.
23. Vũ Duy Vĩnh. Mô phỏng quá trình lan truyền dầu
khi xảy ra sự cố tràn dầu tại khu vực cửa sông Bạch Đằng.
Tuyển tập báo cáo khoa học Hội nghị Khoa học Công nghệ
Môi trường. Nhà xuất bản Bách khoa Hà Nội. 10/2007.
24. Vũ Duy Vĩnh. Mơ phỏng q trình lan truyền dầu
khi xảy ra sự cố tràn dầu tại khu vực ven biển Hải Phịng. Tạp
chí Dầu khí. 2012; 3: p. 48 - 56.
25. R.B.Wheeler. The fate of petroleum in the marine
environment. Special Report, Exxon Production Research
Company. August 1978.
26. W.Zagorski, D.Mackay. Water in oil emulsions: a
stability hypothesis. Proc. 5th Annual Artic Marine Oilspill
Program Technical Seminar, Environment Canada, Ottawa.
1982.
Evaluation of possible impacts in case of oil spill accident
in Cua Luc Bay
Vu Duy Vinh
Institute of Marine Environment and Resources
Summary
The rapid increase in shipping activities in Cua Luc Bay (North of Ha Long Bay) will pose a higher risk of oil spill
accidents to the area, especially to its coastal zone. Based on a numerical model with 18 different scenarios, the
impacts of possible oil spill accidents on the study area have been assessed. The results show that the level of impacts
depends on the amount of oil release and hydrodynamic and wind conditions when the oil spill occurs.
DẦU KHÍ - SỐ 4/2013
View publication stats
65