Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

Chuyên Đề Tăng Cường Và Đổi Mới Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Dân Vận Trong Tình Hình Mới.pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (262.64 KB, 11 trang )

Chuyên đề 1
Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với cơng tác
dân vận trong tình hình mới
A. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1. Vị trí, vai trị của công tác dân vận
Công tác vận động nhân dân thường cịn được gọi là dân vận.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng
của mỗi một người dân khơng để sót một người dân nào, góp thành lực lượng
tồn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và
Đồn thể đã giao cho”1.
Cơng tác dân vận là một trong những công tác cơ bản của Đảng ta, bên
cạnh công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác xây dựng và ban hành đường
lối, chủ trương và cơng tác kiểm tra, giám sát, có ý nghĩa chiến lược trong mọi
thời kỳ cách mạng.
Công tác dân vận bao gồm công tác nghiên cứu, xây dựng, ban hành,
công tác chỉ đạo, tham mưu, giám sát, kiểm tra, xây dựng, tổ chức thực hiện các
chỉ thị, nghị quyết về dân vận; xây dựng lực lượng, tổ chức bộ máy và cán bộ
làm công tác vận động nhân dân...
2. Nội dung cơng tác dân vận
Trong suốt q trình lãnh đạo cách mạng, gắn liền với từng bước trưởng
thành của Đảng, dân vận và gắn bó với nhân dân trở thành một truyền thống tốt
đẹp của Đảng ta.
Tùy từng giai đoạn, thời kỳ khác nhau của cách mạng mà xác định nội
dung và phương thức tiến hành cho phù hợp. Ví dụ, trong giai đoạn hiện nay,
công tác dân vận tập trung vào các nội dung sau:
- Tổ chức, động viên nhân dân, hình thành các phong trào hành động thực
hiện tốt các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh gắn với chăm lo đời
sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân.
Tuỳ từng địa bàn, lĩnh vực, phải biết nắm bắt tình hình, đưa chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào địa phương một
cách nhanh chóng. Căn cứ vào tình hình cụ thể cần khởi xướng và phát động các


phong trào quần chúng phù hợp, đáp ứng nguyện vọng, lợi ích của nhân dân.
Đẩy mạnh các phong trào đoàn kết, giúp đỡ nhau trong việc phát triển
kinh tế hộ, phát triển kinh tế trang trại, xố đói, giảm nghèo, phát triển hộ giàu;
các phong trào nhân đạo, từ thiện...; kết hợp chặt chẽ công tác dân tộc với công
tác tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
1

. Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr. 698.


Xây dựng nếp sống văn minh đô thị; chống buôn lậu, trốn thuế, lậu thuế
cùng các biểu hiện tiêu cực khác trên địa bàn dân cư; vận động nhân dân bỏ vốn
kinh doanh, phát triển sản xuất, dịch vụ, thực hiện tốt các chính sách và pháp
luật của Nhà nước, bảo đảm vệ sinh môi trường; vận động nhân dân tham gia
xây dựng các quỹ từ thiện, nhân đạo, giúp đỡ những gia đình khó khăn, những
người cơ đơn, bất hạnh, người lang thang cơ nhỡ; bảo đảm an ninh, trật tự
đường phố, phòng ngừa và chống tội phạm, tệ nạn xã hội.
Tổ chức các phong trào hướng vào mục tiêu nâng cao năng suất, chất
lượng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh; không ngừng học tập chuyên môn, nâng
cao tay nghề, ý thức tổ chức kỷ luật, ứng dụng và làm chủ công nghệ mới; giải
quyết tốt các mối quan hệ phát sinh hàng ngày giữa tập thể công nhân và người
quản lý doanh nghiệp theo đúng Luật Lao động và Luật Cơng đồn.
Tổ chức các phong trào phải nhằm thực hiện đúng chính sách, pháp luật
của Nhà nước, bảo đảm lợi ích hợp pháp của các bên trong doanh nghiệp; hoàn
thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh; thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phịng, an
ninh và cơng tác xã hội ở địa phương.
Xây dựng và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nhiệm vụ công tác
chuyên môn; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, cơng chức, viên
chức, người lao động; hồn thành nghĩa vụ của đơn vị với Nhà nước; thực hiện
tốt nhiệm vụ quốc phịng, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, đề cao

cảnh giác cách mạng, bảo vệ nội bộ, giữ gìn bí mật của Đảng và Nhà nước.
- Vận động và tổ chức nhân dân thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.
Quy chế dân chủ ở cơ sở là cụ thể hoá phương châm “Dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra” nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu hút
nhân dân tham gia quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng quan liêu, mất dân
chủ và nạn tham nhũng, lãng phí.
Tuỳ theo điều kiện cụ thể, cần lựa chọn những vấn đề sát hợp để vận động
và tổ chức thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở.
Thông tin kịp thời và công khai cho nhân dân biết về các quy định của
Nhà nước và chính quyền địa phương về thủ tục hành chính giải quyết các cơng
việc có liên quan đến dân; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng
năm của cơ sở; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; các nghị quyết của hội
đồng nhân dân và quyết định của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và của
cấp trên liên quan đến địa phương; dự toán và quyết toán ngân sách xã, phường,
thị trấn hàng năm; dự toán và quyết toán thu, chi các quỹ, dự án, các khoản huy
động đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các cơng trình phúc lợi công cộng của
xã, thôn, buôn, làng, ấp, bản và kết quả thực hiện.


Những hình thức để thơng tin cơng khai cho nhân dân gồm: bằng văn bản;
niêm yết công khai; hệ thống truyền thanh và các tổ chức văn hố, thơng tin,
tun truyền cơ sở; các cuộc tiếp xúc cử tri; các kỳ họp của hội đồng nhân dân xã,
của ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể; các hội nghị, các cuộc họp
của thôn, buôn, làng, ấp, bản; tại cuộc họp sơ kết 6 tháng, tổng kết cuối năm,
kiểm điểm hoạt động của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân xã, phường, thị
trấn.
Tổ chức để nhân dân bàn và quyết định trực tiếp các vấn đề quan hệ đến
lợi ích thiết thân của nhân dân, như: chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ
sở hạ tầng và các cơng trình phúc lợi cơng cộng; lập và thu, chi các loại quỹ
theo quy định của pháp luật; xây dựng hương ước, quy ước làng văn hoá, tổ

dân phố văn hố, nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục,
mê tín, dị đoan, các tệ nạn xã hội... Những khoản dân đóng góp, ủng hộ với
mục đích tương trợ, nhân đạo, từ thiện do chính quyền, tuyên truyền, vận động
nhân dân phải theo ngun tắc hồn tồn tự nguyện, khơng được áp đặt, phân
bổ bình quân nhất loạt.
Để thực hiện “dân kiểm tra”, cần tạo điều kiện để nhân dân ở cơ sở thực
hiện giám sát, kiểm tra. Những việc nhân dân ở cơ sở giám sát, kiểm tra gồm:
hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; kết
quả thực hiện nghị quyết của hội đồng nhân dân và quyết định của ủy ban nhân
dân; hoạt động của đại biểu hội đồng nhân dân và cán bộ, công chức nhà nước
hoạt động tại địa phương; giải quyết việc khiếu nại, tố cáo của công dân; dự toán
và quyết toán ngân sách xã, phường, thị trấn; kết quả nghiệm thu và quyết tốn
cơng trình do nhân dân đóng góp xây dựng và các chương trình dự án do Nhà
nước, các tổ chức và cá nhân đầu tư, tài trợ trực tiếp cho cơ sở; quản lý và sử
dụng đất đai; thu, chi các loại quỹ và lệ phí theo quy định của Nhà nước, các
khoản đóng góp của nhân dân; kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc
tiêu cực, tham nhũng liên quan đến cán bộ cơ sở; việc thực hiện chế độ chính
sách ưu đãi, chăm sóc, giúp đỡ thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ; những
gia đình người có cơng với nước, chính sách bảo hiểm xã hội, cứu tế xã hội.
Thông tin cho cán bộ, công chức được biết về chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước liên quan đến công việc của cơ quan; kế hoạch công tác hàng
tháng, hàng quý, hàng năm của cơ quan; nội quy, quy chế cơ quan; kinh phí hoạt
động hàng năm; tuyển dụng, khen thưởng, kỷ luật, nâng bậc lương, nâng ngạch
và đề bạt cán bộ, công chức; các vụ việc tiêu cực, tham nhũng trong cơ quan đã
được kết luận; kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ cơ quan.
Nội dung thơng tin bằng các hình thức: niêm yết bằng văn bản tại cơ quan;
thông báo tại hội nghị cán bộ, công chức cơ quan; thông báo bằng văn bản gửi


tồn thể cán bộ cơng chức; thơng báo cho người phụ trách các bộ phận của cơ

quan và yêu cầu họ thông báo đến cán bộ, công chức làm việc trong các bộ phận
đó; thơng báo bằng văn bản cho cấp ủy, ban chấp hành cơng đồn cơ quan.
Những việc cán bộ, công chức tham gia ý kiến, thủ trưởng cơ quan quyết
định là: chủ trương, giải pháp thực hiện nghị quyết của Đảng, pháp luật của
Nhà nước liên quan đến công việc của cơ quan; kế hoạch công tác hàng năm;
nội quy, quy chế của cơ quan; tổ chức phong trào thi đua; báo cáo sơ kết, tổng
kết của cơ quan; các biện pháp cải tiến tổ chức và lề lối làm việc, thực hành tiết
kiệm, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu dân; kế
hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, đề bạt cán bộ công
chức trong cơ quan theo quy định; thực hiện các chế độ, chính sách liên quan
đến quyền và lợi ích của cán bộ, cơng chức.
Các hình thức lấy ý kiến tham gia trong cơ quan: tham gia trực tiếp
với người phụ trách trong cơ quan; thông qua hội nghị cán bộ, công chức cơ
quan; phát phiếu hỏi ý kiến để cán bộ, công chức tham gia ý kiến.
Những việc cán bộ, công chức giám sát, kiểm tra: việc thực hiện chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, kế hoạch công tác hàng năm; thực
hiện nội quy, quy chế cơ quan; việc sử dụng kinh phí, chấp hành chính sách, chế
độ quản lý và sử dụng tài sản của cơ quan; thực hiện các chế độ, chính sách của
Nhà nước về quyền và lợi ích của cán bộ, công chức; giải quyết khiếu nại, tố cáo
trong nội bộ cơ quan.
Đối với các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước và các đơn vị
khác, căn cứ Nghị định và Quy chế dân chủ do Chính phủ ban hành và tình hình
thực tế đơn vị để lựa chọn các vấn đề vận động, tổ chức nhân dân thực hiện tốt
Quy chế dân chủ ở cơ sở.
- Tổ chức động viên nhân dân tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững
mạnh:
Vận động nhân dân tham gia góp ý kiến nhận xét, phê bình sự lãnh đạo
của tổ chức đảng, phê bình cán bộ, đảng viên trong các dịp tổng kết năm, đại hội
đảng bộ, chi bộ; dựa vào các đoàn thể, nhất là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh để giới thiệu những đồn viên, hội viên ưu tú để bồi dưỡng, kết nạp

Đảng; vận động nhân dân tham gia đóng góp ý kiến về việc xử lý kỷ luật đảng
viên, bố trí đảng viên vào các chức vụ lãnh đạo chính quyền, đồn thể và giới
thiệu nhân sự cấp ủy.
3. Các chủ trương về công tác dân vận của Đảng từ Đổi mới tới nay
Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác dân vận.
Bước vào công cuộc đổi mới, Đảng ta phát huy những bài học kinh
nghiệm thành công của công tác vận động quần chúng trong cuộc kháng chiến


chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tiếp tục khơi dậy các nguồn lực của đất
nước, đạt những thành tựu to lớn trong phát triển mọi mặt đất nước. Để cụ thể
hóa đường lối, chủ trương của Đại hội lần thứ VI của Đảng về công tác vận
động quần chúng, ngày 27-3-1990 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (Khóa VI) đã ban hành Nghị quyết 8B-NQ/TW “Về đổi mới công
tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”.
Trên cơ sở Nghị quyết 8B, trong 22 năm qua cùng với các Nghị quyết Đại
hội Đảng nhiệm kỳ từ Khóa VII đến XI Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều
văn bản nhằm tiếp tục cụ thể hóa, thể chế hóa nội dung Nghị quyết này, để tổ
chức thực hiện, đưa Nghị quyết vào cuộc sống, phù hợp với từng đối tượng, tầng
lớp quần chúng nhân dân; từng loại hình tổ chức chính trị - xã hội; đồn thể
nhân dân và với từng bối cảnh tình hình, giai đoạn phát triển của đất nước:
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa
VII), tháng 6-1992 đã chủ trương sơ kết việc thực hiện Nghị quyết 8B, khảo sát
tình hình đời sống và tâm trạng các tầng lớp nhân dân; đề ra nhiệm vụ tiếp tục
thực hiện Nghị quyết 8B của địa phương mình, ngành mình; u cầu các cấp ủy
hằng năm có chương trình cơng tác quần chúng, tổ chức phối hợp, kiểm tra và
kịp thời xử lý những vấn đề mới phát sinh trong nội bộ nhân dân.
- Nghị quyết số 07-NQTW/BCT, ngày 17-11-1993 của Bộ Chính trị
(Khóa VII) về tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất.
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa

IX) tháng 10-2003 “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu,
nước mạnh, xã hội cơng bằng, dân chủ, văn minh”.
- Chỉ thị số 69-CT/TW, ngày 20-6-1996 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy
mạnh thực hiện Nghị quyết 8B.
- Quyết định số 290-QĐ/TW, ngày 25-02-2010 của Bộ Chính trị (Khóa
X) ban hành “Quy chế cơng tác dân vận của hệ thống chính trị”, trong đó xác
định rõ: dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với
tồn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta; là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự
lãnh đạo của Đảng và củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà
nước với nhân dân… là trách nhiệm của tất cả các tổ chức trong hệ thống chính
trị, của mọi cán bộ, đảng viên, cơng chức, đồn viên, hội viên các đồn thể nhân
dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang.
Chỉ thị số 18/200/CT-TTg, ngày 21-9-2000 của Thủ tướng Chính phủ về
tăng cường cơng tác dân vận, trong đó nêu rõ: các Bộ trưởng Thủ trưởng cơ
quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp phải chỉ đạo và có kế
hoạch thường xuyên tuyên truyền, giáo dục nhận thức về công tác dân vận; nâng


cao năng lực quản lý nhà nước, sửa đổi lề lối làm việc theo hướng dân chủ hóa
và cơng khai hóa, chống quan liêu, cửa quyền, tham nhũng.
- Hướng dẫn số 01/HDLB-TC-DVTW, ngày 05-5-2000 của Ban Tổ chức
Trung ương và Ban Dân vận Trung ương về chức năng, nhiệm vụ tổ chức bộ
máy và biên chế cán bộ của Ban Dân vận địa phương; Thông báo số 1037TB/BTCTW, ngày 21-3-2005 của Ban Tổ chức Trung ương về tiếp tục thực hiện
Hướng dẫn này.
- Hướng dẫn số 80-HD/BDVTW, ngày 28-02-2012 của Ban Dân vận
Trung ương “Về việc thành lập và hoạt động của tổ dân vận thơn, bản, khóm, ấp,
tổ dân phố, khu dân cư”.
- Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị (Khóa X)
“Về cơng tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
- Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung

ương Đảng (Khóa X), tháng 01-2008 về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân
Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
- Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 25-7-2008 của Ban Chấp hành Trung
ương (Khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh
niên trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”…
- Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05-8-2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
- Nghị quyết số 09-NQ/TW, tháng 4-2002 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về
“Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cựu chiến binh trong giai
đoạn mới”.
- Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 06-8-2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời
kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị (Khóa IX)
“Về cơng tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”.
- Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 09-12-2011 của Bộ Chính trị (Khóa XI)
về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ
đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Trên cơ sở tổng kết các chủ trương, đường lối về công tác dân vận, đặc
biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa
VI), tức là Nghị quyết 8B-NQ/TW “Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng,
tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”, Ban Chấp hành Trung ương
đã ban hành Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) "Tăng cường và đổi
mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới".


B. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHỦ TRƯƠNG VỀ
CÔNG TÁC DÂN VẬN
I. KẾT QUẢ VÀ NGUYÊN NHÂN
1. Thành tựu

Cơng tác dân vận thời gian qua đã góp phần tạo sự đồng thuận trong xã
hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi cơng
cuộc đổi mới, bảo đảm quốc phịng, an ninh, ổn định chính trị, nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối
với công tác vận động nhân dân được đổi mới:
1.1- Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách phù
hợp lợi ích của nhân dân:
Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khố đã ban
hành nhiều chủ trương về cơng tác dân vận. Có nhiều chủ trương, chính sách
phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, xoá đói, giảm nghèo; nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần; phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
1.2- Công tác lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc, các đồn thể chính trị - xã
hội đạt những kết quả:
- Hệ thống tổ chức Mặt trận Tổ quốc, các đồn thể chính trị - xã hội
được kiện toàn, củng cố, đổi mới phương thức hoạt động; giữ vai trò nòng cốt
trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện Quy chế dân chủ ở
cơ sở.
- Quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đồn viên, hội viên được
chăm lo, bảo vệ; cơng tác tập hợp, phát triển đồn viên, hội viên được chú
trọng; công tác giáo dục thế hệ trẻ được quan tâm.
1.3- Đổi mới, tăng cường các hình thức hoạt động, vận động nhân
dân:
Đã có nhiều hình thức hoạt động vận động nhân dân, tích cực tham gia
xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, đẩy mạnh các
phong trào thi đua yêu nước, thúc đẩy các hoạt động đối ngoại nhân dân và
công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài.
2. Nguyên nhân
a) Nguyên nhân khách quan
Đảng ta là Đảng tiên phong có bản lĩnh, quan điểm chính trị, đường lối

cách mạng, kinh nghiệm lãnh đạo vững vàng; dân tộc ta, nhân dân ta có bề dầy
truyền thống cách mạng, ln tin tưởng đi theo Đảng, vượt qua mọi khó khăn
thử thách, giành được những thành tựu to lớn, đánh đuổi mọi kẻ thù xâm lược,


thống nhất, bảo vệ độc lập chủ quyền đất nước và ngày nay đã và đang đạt được
những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới đất nước.
b) Nguyên nhân chủ quan
- Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta ln chăm lo hồn thiện về
quan điểm, chủ trương, đường lối đổi mới; luật pháp, cơ chế chính sách, trong
đó có cơng tác dân vận đáp ứng u cầu của công cuộc đổi mới đặt ra. Những
thành tựu của công cuộc đổi mới mang lại đã giữ được lịng tin và khơi dậy tinh
thần tích cực hăng hái của các tầng lớp nhân dân tham gia vào các phong trào
cách mạng, thi đua yêu nước.
- Nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị đối
với công tác dân vận của Đảng ngày càng được coi trọng, chuyển biến rõ nét.
Các giải pháp đồng bộ về tháo gỡ cơ chế chính sách, đổi mới nội dung phương
thức tuyên truyền vận động, tập hợp, phát động quần chúng được tăng cường,
tích cực thực hiện ở các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, cơ sở,
các khu dân cư.
- Bộ máy tham mưu về công tác dân vận được tăng cường, củng cố; chức
năng nhiệm vụ của ban dân vận các cấp được xác lập cụ thể hơn. Tổ chức Mặt
trận và các đoàn thể, các hội quần chúng được tăng cường củng cố, phát triển, có
nhiều cố gắng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động thiết thực hơn với
nhiệm vụ chính trị của đất nước và quyền lợi, nguyện vọng của đoàn viên, hội
viên, của nhân dân.
II. HẠN CHẾ, YẾU KÉM VÀ NGUYÊN NHÂN
1. Hạn chế, yếu kém
1.1- Việc xây dựng các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân
vận:

- Chưa đánh giá và dự báo chính xác những diễn biến, thay đổi cơ cấu
xã hội, thành phần dân cư, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân...
để có chủ trương, chính sách phù hợp.
- Một số chính sách chưa đáp ứng nguyện vọng, lợi ích của nhân dân.
1.2- Triển khai và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng
về công tác dân vận:
- Việc thể chế hoá chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác dân vận
chưa kịp thời, nhất là cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân
làm chủ".
- Nhiều bức xúc chưa được giải quyết; quyền làm chủ của nhân dân ở
nhiều nơi bị vi phạm, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà
nước.


1.3- Công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết:
Công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các nghị quyết, chỉ
thị của Đảng về công tác dân vận chưa được quan tâm đúng mức.
2. Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém
a) Nguyên nhân khách quan
- Công cuộc đổi mới đất nước là một quá trình vừa làm vừa nghiên cứu
tổng kết kinh nghiệm, hoàn thiện về quan điểm đường lối, cơ chế, chính sách,
luật pháp, nên khơng thể tránh khỏi những hạn chế, yếu kém nói chung và cơng
tác dân vận nói riêng.
- Những tác động của mặt trái cơ chế kinh tế thị trường, những khó khăn
về kinh tế-xã hội của đất nước, về đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
do tác động của khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế tồn cầu. âm mưu thâm
độc của các thế lực thù địch tăng cường các hoạt động chống phá chia rẽ khối
đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với
nhân dân.
b) Nguyên nhân chủ quan

Tình hình trên đây có ngun nhân khách quan, nhưng chủ yếu do
những nguyên nhân chủ quan.
- Về nhận thức đối với công tác dân vận:
Một số cấp uỷ đảng chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trị của công
tác dân vận; chưa thấy hết trách nhiệm và chưa quan tâm đúng mức lãnh đạo,
chỉ đạo công tác này.
- Về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên:
Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo,
quản lý cịn thiếu gương mẫu, suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống.
- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận chậm
được đổi mới, chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của thực tiễn:
+ Chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của thực tiễn: Trong điều
kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, có rất nhiều vấn đề
mới đặt ra tác động đến tư tưởng, tình cảm, đời sống của cán bộ, đảng viên và
nhân dân. Sự phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội, cùng với tệ quan liêu,
tham nhũng, xa dân, xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân, làm giảm sút
lòng tin của nhân dân đối với Đảng, là thách thức đối với mối quan hệ giữa
nhân dân với Đảng. Thực tiễn đòi hỏi Đảng cần tăng cường và đổi mới sự
lãnh đạo đối với công tác dân vận, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân


đối với Đảng, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với dân cũng như khối đại
đoàn kết toàn dân; phát huy sức mạnh to lớn của toàn dân phục vụ sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
+ Chưa xác định rõ trọng tâm, trọng điểm và bố trí đủ nguồn lực cho
việc triển khai, thực hiện chủ trương, chính sách công tác dân vận.
+ Phương pháp vận động, tập hợp quần chúng chưa phù hợp với từng
đối tượng, đặc biệt là đối với đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, người

theo đạo.
+ Việc chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác dân
vận, đoàn thể chưa thực sự đáp ứng yêu cầu.
- Vai trò lãnh đạo, phối hợp bên trong của hệ thống chính trị giảm
Tải bản FULL (19 trang): />sút:
Dự phịng: fb.com/TaiHo123doc.net
Tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận, đồn thể chính trị - xã hội ở một
số cơ sở yếu kém, giảm sút vai trò lãnh đạo, phối hợp thiếu chặt chẽ, không
sát dân, không làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân.
C. CƠNG TÁC DÂN VẬN TRONG TÌNH HÌNH MỚI
I. BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC
1. Bối cảnh quốc tế
- Hồ bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn; cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ diễn ra như vũ bão hình thành xã hội thơng tin; tồn cầu hóa
diễn ra mạnh mẽ; kinh tế thế giới phát triển, nhất là kinh tế tri thức, nền sản xuất
sạch... tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi, mơi trường hịa bình cho Việt Nam phát
triển, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, nâng cao dân trí, mở rộng dân chủ...
- Hồ bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng sẽ có những
diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Những căng thẳng,
xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, can
thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn sẽ diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa an ninh phi
truyền thống, tội phạm cơng nghệ cao trong các lĩnh vực tài chính - tiền tệ, điện
tử - viễn thông, sinh học, môi trường... sẽ tiếp tục gia tăng.
Xu hướng đấu tranh tự phát đòi dân chủ ở các nước Bắc Phi và Trung
Đông lan rộng. Sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, vai trò và ảnh hưởng của
nhiều đảng cộng sản trên thế giới giảm sút nghiêm trọng và trong tương lai gần
khó có cơ hội phục hồi và phát triển.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đơng Nam Á,
vẫn sẽ là khu vực phát triển năng động nhưng còn tồn tại nhiều nhân tố gây bất
ổn định; tranh chấp lãnh thổ, biển đảo ngày càng gay gắt. Xuất hiện các hình

thức tập hợp lực lượng và đan xen lợi ích mới. Khối ASEAN tuy cịn nhiều khó


khăn, thách thức nhưng tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong khu vực. Các nước
lớn điều chỉnh chiến lược ở Châu Á - Thái Bình Dương, điều chỉnh chính sách
về biển. Các thế lực thù địch tăng cường gây sức ép và chia rẽ đối với các nước
ASEAN. Khối ASEAN vẫn tiềm ẩn một số nhân tố mất ổn định.
Cuộc cách mạng công nghệ thông tin dẫn đến thông tin đa chiều; kẻ địch,
phần tử chống đối lợi dụng tuyên truyền, tập hợp lực lượng và dành giật quần
chúng chống Đảng và Nhà nước.
Tình hình kinh tế, xã hội của một số nước lớn trên thế giới có tác động
đến nước ta trong việc điều chỉnh chính sách phát triển xuất khẩu, hạn chế nhập
siêu, về chính sách tỷ giá, đầu tư, biện pháp nâng cao giá trị xuất khẩu hàng
nông, lâm, thủy sản, cơ chế quản lý xuất khẩu, tổ chức thị trường và xúc tiến
thương mại, nhưng buôn lậu, gian lận thương mại sẽ tiếp tục làm giảm lòng tin
của nhân dân, các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài…
2. Bối cảnh trong nước
- Thành tựu to lớn, quan trọng của sự nghiệp đổi mới đất nước đã khẳng
định quan điểm, đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng được nhân dân đồng
tình, ủng hộ và giúp cho Đảng, Nhà nước, các cấp các ngành tổng kết được
nhiều bài học kinh nghiệm toàn diện trên các lĩnh vực, trong đó có những bài
học kinh nghiệm quan trọng về công tác dân vận.
Các tổ chức trong hệ thống chính trị được xây dựng khá đồng bộ, hồn
chỉnh ở các cấp từ Trung ương đến địa phương, ở các vùng trong cả nước; đã và
đang từng bước được khắc phục những hạn chế yếu kém, tiếp tục xây dựng củng
cố hồn thiện hơn, là cơ sở để khơng ngừng tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác dân vận.
Nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đồn
thể chính trị xã hội ở các cấp bước đầu đã có sự chuyển biến tích cực, nội dung,
phương thức cơng tác dân vận đang được chú trọng, không ngừng đổi mới; ban

dân vận các cấp, bộ máy tham mưu về công tác dân vận cơ bản đã được củng cố,
ổn định, xác định rõ chức năng nhiệm vụ.
- Sự biến động cơ cấu dân số, lao động chuyển dịch mạnh đòi hỏi Đảng,
Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phải tăng cường và
đổi mới, có những nội dung, phương thức vận động mới phù hợp cho từng đối
tượng.
Kinh tế thị trường ngày càng phát triển, mặt trái của nó cũng ngày càng
tác động ảnh hưởng sâu sắc hơn: phân hóa giàu nghèo phân hóa xã hội mạnh mẽ
hơn, khó khăn hơn cho việc đấu tranh phòng chống tham nhũng tiêu cực. Do tác
động của suy thoái, khủng hoảng kinh tế thế giới, hiện nay ở nước ta, áp lực lạm

4098072



×