Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Hiệu quả của điều trị kết hợp ivabradine và thuốc chẹn bê ta trên bệnh nhân bệnh mạch vành có can thiệp mạch vành qua da

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.06 MB, 8 trang )

TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC CẦN THƠ – SỐ 22-23-24-25/2019

HIỆU QUẢ CỦA ĐIỀU TRỊ KẾT HỢP IVABRADINE VÀ THUỐC CHẸN BÊTA TRÊN BỆNH NHÂN BỆNH MẠCH VÀNH
CÓ CAN THIỆP MẠCH VÀNH QUA DA
Nguyễn Kim Phụng*, Trần Viết An
Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
*Email:

TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Kết hợp ivabradine và thuốc chẹn bê-ta là một trong các cách tiếp cận mới với
nhiều ưu điểm hơn tăng liều thuốc chẹn bê-ta đến tối đa trong điều trị bệnh mạch vành. Mục tiêu
nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả của điều trị kết hợp Ivabradine với thuốc chẹn bê-ta liều thấp ở bệnh
nhân bệnh mạch vành có can thiệp mạch vành qua da (PCI) trên các phương diện: kiểm soát nhịp tim,
kiểm soát đau thắt ngực và cải thiện chức năng thất trái. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu tiến cứu được thực hiện trên 69 bệnh nhân bệnh mạch vành có can thiệp mạch vành qua
da điều trị tại bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ từ tháng 8/2016 đến tháng 7/2018. Kết quả:
Nhịp tim trung bình lúc nghỉ giảm có ý nghĩa thống kê sau 2 tháng, từ 78,6 ± 9,3 lần/phút xuống 65,1
± 6,5 lần/phút (p<0,001). Mức độ giảm nhịp tim ở bệnh nhân có nhịp tim ban đầu ≥80 lần/phút nhiều
hơn so với nhóm có nhịp tim <80 lần/phút (-13,6 nhịp/phút so với -7.2 nhịp/phút, p<0,001). Sau 2 tháng
điều trị, đau thắt ngực CCS III giảm từ 4,9% xuống 0%, CCS I tăng từ 24,4% lên 61%. Số cơn đau thắt
ngực trung bình/tuần giảm từ 4,5 ± 0,6 cơn/tuần còn 2 ± 1,1 cơn/tuần (p<0,001). Phân suất tống máu
(EF) tăng từ 56,7 ± 9,3% lên 57,9 ± 8,7% (p<0,001). Kết luận: Kết hợp ivabradine với thuốc chẹn bêta liều thấp ở bệnh nhân bệnh mạch vành sau can thiệp mạch vành qua da giúp kiểm soát nhịp tim hiệu
quả, làm giảm mức độ, số cơn đau thắt ngực và cải thiện phân suất tống máu. Cần có nhiều nghiên cứu
với thời gian theo dõi dài hơn để đánh giá toàn diện hiệu quả của phương pháp điều trị này.
Từ khóa: nhịp tim nhanh, đau thắt ngực, phân suất tống máu, ivabradine.

ABSTRACT
EFFECTS OF IVABRADINE IN COMBINATION WITH BETA BLOCKERS
ON CORONARY ATERY DISEASE PATIENTS UNDERGONE
PERCUTANEOUS CORONARY INTERVENTION
Nguyen Kim Phung, Tran Viet An


Can Tho University of Medicine and Pharmacy
Background: Combination of ivabradine with beta-blockers is one of the state-of –the –art
therapies which provides more potential benefits than uptitration the usual beta-blockers in coronary
artery disease treatment. Objectives: Evaluate the effects of adding low dose ivabradine to betablockers in patients with coronary artery disease after percutaneous coronary intervention (PCI) in
terms of heart rate reduction, anti-anginal effects and ejection function changes. Materials and
methods: Open-label, prospective study was conducted with 69 coronary artery disease patients
undergone percutaneous coronary intervention at Can Tho Central General Hospital. Results:
Significant decrease in mean resting heart rate was found, from 78.6 ± 9.3 bpm at baseline to 65.1 ±
6.5 bpm after 2 months (p<0.001). The greater magnitude of heart rate reduction was observed in
patients with baseline heart rate ≥80 bpm in comparison with heart rate < 80 bpm (-13.6 bpm vs -7.2
bpm, p<0.001). After 2 months, angina CCS class III decreased from 4.9% to 0%, CCS class I increased
from 24.4% to 61%. Eject fraction improved from 56.7 ± 9.3% to 57.9 ± 8.7%.
Conclusion: Combination of Ivabradine and low dose beta-blockers in patients with coronary artery
disease after percutaneous coronary intervention helps control heart rate, reduce both the severe and
quantities of angina pectoris as well as improve eject fraction effectively. More longer-term observation
studies should be carried out to assess the efficacy of this combination thoroughly.
Keywords: elevated heart rate, angina, ejection fraction, ivabradine

I. ĐẶT VẤN ĐỀ


TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC CẦN THƠ – SỐ 22-23-24-25/2019
Trong nhiều năm qua, chẹn bê-ta là nhóm thuốc được lựa chọn phổ biến đầu tay để
kiểm soát nhịp tim và điều trị triệu chứng ở bệnh nhân bệnh mạch vành, đặc biệt sau hội chứng
vành cấp. Tuy nhiên, sử dụng thuốc chẹn bê-ta liều cao thường gây nhiều tác dụng phụ và dung
nạp kém, đặc biệt ở bệnh nhân suy tim [6]. Ngày nay, cách tiếp cận theo hướng “kim cương”
ngày càng được áp dụng rộng rãi, không phân biệt thứ tự ưu tiên mà cho phép phối hợp thuốc
sớm ở các liều khác nhau, tác động vào nhiều cơ chế, đem lại hiệu quả điều trị tối ưu cho bệnh
nhân [4]. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, kết hợp ivabradine với thuốc chẹn bê-ta không
những giúp kiểm soát nhịp tim hiệu quả mà còn có nhiều lợi ích khác như giảm đau thắt ngực

[10], [12], cải thiện chức năng thất trái và chức năng tế bào nội mô [1], [9]và nhiều lợi ích
khác. Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành nhằm tìm kiếm cách phối hợp có lợi nhất
[6],[10],[12]. Xuất phát từ thực tế nêu trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với các mục
tiêu:
1) Đánh giá tác dụng giảm nhịp tim của điều trị phối hợp ivabradine với thuốc chẹn bêta ở bệnh nhân bệnh mạch vành có can thiệp mạch vành qua da.
2) Đánh giá tác dụng giảm đau thắt ngực của điều trị phối hợp ivabradine với thuốc
chẹn bê-ta ở bệnh nhân bệnh mạch vành có can thiệp mạch vành qua da.
3) Đánh giá tác động trên chức năng thất trái của điều trị phối hợp ivabradine với thuốc
chẹn bê-ta ở bệnh nhân bệnh mạch vành có can thiệp mạch vành qua da.

II-ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 69 bệnh nhân bệnh mạch vành có can thiệp mạch vành qua da,
được điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2016-2018.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn mẫu: Chọn vào mẫu tất cả bệnh nhân thỏa các tiêu chuẩn sau:
- Được chẩn đoán bệnh mạch vành (bao gồm nhồi máu cơ tim cấp, đau ngực không ổn
định, đau ngực ổn định) và có can thiệp mạch vành qua da.
- Đang được điều trị với Bisoprolol 2,5 mg/ngày hoặc Metoprolol tatrate 25mg x
2/ngày.
- Nhịp tim lúc nghỉ là nhịp xoang, tần số ≥70 nhịp/phút.
- Bệnh nhân >18 tuổi, đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Hội chứng suy nút xoang, hội chứng QT kéo dài, block xoang nhĩ, block nhĩ thất, rung
nhĩ, đặt máy tạo nhịp tim, phụ nữ có thai, cường giáp, nhiễm trùng, suy gan nặng, suy thận
nặng (độ lọc cầu thận <30 ml/phút).
2.1.3. Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ, từ tháng 8/2016 đến tháng 7/2018.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu tiến tiền cứu.
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: 69 bệnh nhân bệnh mạch vành có can
thiệp mạch vành qua da, chọn mẫu thuận tiện.

2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu: Phỏng vấn bằng bộ câu hỏi, khám lâm sàng, đo
điện tâm đồ 12 chuyển đạo bằng máy Cardiofax, siêu âm tim bằng máy siêu âm màu AcusonCV70 của Siemen
2.2.4. Phương pháp xử lí số liệu: Số liệu được xử lí và phân tích bằng phần mềm SPSS
18.0. Kiểm định sự thay đổi của nhịp tim và EF được thực hiện bằng Wilcoxon-Test, so sánh
sự khác biệt giữa các nhóm bằng Mann Whitney U Test. Sự khác biệt của biến phân loại giữa
các nhóm được kiểm định bằng Pearson’s Chi squared test.
2.3. Nội dung nghiên cứu và các bước tiến hành
2.3.1. Nội dung nghiên cứu
Mục tiêu 1: đo điện tim, xác định nhịp tim sau 1 tháng và 2 tháng.
Mục tiêu 2: hỏi về mức độ và số cơn đau ngực, phân loại theo CCS sau 1 tháng và 2 tháng.


TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC CẦN THƠ – SỐ 22-23-24-25/2019
Mục tiêu 3: siêu âm tim, đo EF sau 2 tháng.
2.3.2. Các bước tiến hành
Bước 1: Chọn mẫu và ghi nhận các biến số ban đầu.
- Bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn được ghi nhận các thông tin chung: tuổi, giới tính,
tiền sử bệnh, thể bệnh, mức độ đau ngực (theo CCS), số cơn đau ngực/tuần. Đo điện tâm đồ
(ECG) lúc nghỉ, siêu âm tim.
- Dùng khởi đầu Ivabradine 7,5 mg ½ viên x 2 lần/ngày, bệnh nhân ≥75 tuổi: 5 mg ½
viên x 2 lần/ngày. Hẹn tái khám sau 1 tháng.
Bước 2: Đánh giá sau 1 tháng
- Đo ECG để ghi nhận nhịp tim; hỏi về số cơn và phân độ triệu chứng đau ngực.
- Chỉnh liều ivabradine dựa vào nhịp tim và đáp ứng lâm sàng. Hẹn tái khám sau 1 tháng.
Bước 3: Đánh giá sau 2 tháng
- Đo ECG để ghi nhận nhịp tim; hỏi về số cơn và phân độ triệu chứng đau ngực.
- Siêu âm tim, ghi nhận EF

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung

Nghiên cứu bao gồm 69 bệnh nhân, tuổi trung bình là 64,3 ± 10,1. Nam chiếm 71%, nữ
chiếm 29%. Về tiền sử bệnh, 65,2% tăng huyết áp, 15,9% đái tháo đường type 2, 68,1% rối
loạn lipid máu. Liều ivabradine trung bình sau 2 tháng là 7,4 ± 1,3mg/ngày.
3.2. Hiệu quả kiểm soát nhịp tim
p<0,001
Nhip tim <80 lần/p

-7,2

Nhịp tim ≥80 lần/p

-13,6

-16

-14

-12

-10

-8

-6

-4

-2

0


Thay đổi nhịp tim trung bình sau 1 tháng

Biểu đồ 1. Mức độ thay đổi nhịp tim sau 1 tháng.
Nhận xét: Nhóm có nhịp tim ban đầu ≥ 80 lần/phút có mức độ giảm nhịp tim nhiều
hơn so với nhóm <80 lần/phút một cách có ý nghĩa thống kê.


TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC CẦN THƠ – SỐ 22-23-24-25/2019

p<0,001
Nhịp tim trung bình (nhịp/phút)

100
90

78,6 ± 9,3

69,1 ± 7,1

80
70

65,1 ± 6,5

∆= -9,5 ± 6,2

60

∆= -4,1 ± 3,6


50
40

30
20
10
0

Nhịp tim ban đầu

Nhịp tim sau 1 tháng Nhịp tim sau 2 tháng

Biểu đồ 2. Nhịp tim trung bình ở các lần khám (n=69)
Nhận xét: Nhịp tim trung bình ban đầu là 78,6 ± 9,3 nhịp/phút, giảm còn 65,1 ± 6,5
nhịp/phút sau 2 tháng. Nhịp tim giảm có ý nghĩa thống kê.
3.2. Hiệu quả giảm đau thắt ngực
Có 41 bệnh nhân trong nghiên cứu còn triệu chứng đau thắt ngực sau can thiệp mạch vành.
Phân tích về hiệu quả giảm đau ngực chỉ được thực hiện trên 41 bệnh nhân này.

100%

0
4,9

0
2,4

80%
60%


0

26,8

90%
70%

0

CCS IV

53,7

CCS III

70,7

CCS II

50%

61

40%
30%
20%

CCS I
Không đau ngực


43,9
24,4
12,2

10%
0%

Ban đầu

1 tháng

2 tháng

Biểu đồ 3. Sự thay đổi mức độ đau ngực (n=41)
Nhận xét: Sau 2 tháng, tỷ lệ không đau ngực tăng 12,2%. Đau ngực CCS I tăng, CCS
II, III giảm. Không có bệnh nhân nào đau ngực CCS IV.


TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC CẦN THƠ – SỐ 22-23-24-25/2019
p<0,001

Sớ cơn đau
trung bình/tuần

6
5

4,5 ± 0,6
3,7 ± 0,7


4
3

2 ± 1,1

2
1
0
Ban đầu

Sau 1 tháng

Sau 2 tháng

Biểu đồ 4. Sự thay đổi số cơn đau ngực trung bình/tuần (n=41)
Nhận xét: Số cơn đau thắt ngực trung bình/tuần giảm có ý nghĩa thống kê, ban đầu là
4,5 ± 0,6 cơn/tuần, giảm còn 3,7 ± 0,7 cơn/tuần sau 1 tháng và tiếp tục giảm còn 2 ± 1,1
cơn/tuần sau 2 tháng.
3.3. Sự thay đổi chức năng thất trái
Bảng 1. Sự thay đổi chức năng thất trái (n=69)
EF trung bình ban đầu
56,7 ± 9,3

EF trung bình sau 2 tháng
57,9 ± 8,7

p
< 0,001 (Wilcoxon Test)


Nhận xét: Chức năng thất trái cải thiện có ý nghĩa thống kê.
Bảng 2. Liên quan giữa EF ban đầu và mức độ cải thiện EF
EF ban đầu
EF < 40%
EF ≥ 40%
Tổng

Thay đổi EF
Tăng ≥ 5%
Tăng < 5%
3 (100%)
0 (0%)
3 (4,5%)
63 (95,5%)
6 (8,7%)
63 (91,3%)
p<0,001 (Fisher’s Exact Test)

Tổng
3 (100%)
66 (100%)
69 (100%)

Nhận xét: EF ban đầu < 40% có tỷ lệ tăng ≥5% nhiều hơn so với EF ≥ 40% và sự khác
biệt này có ý nghĩa thống kê.

IV. BÀN LUẬN
Sự thay đổi nhịp tim
Nhịp tim trung bình ban đầu trong nghiên cứu này là 78,6 ± 9,2 nhịp/phút, giảm xuống
còn 69,1 ± 7,0 nhịp/phút ở tháng thứ 1 và tiếp tục giảm xuống còn 65,1 ± 6,4 nhịp/phút ở tháng

thứ 2. Nhịp tim giảm ở các thời điểm đều có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Kết quả này hoàn
toàn phù hợp. Các nghiên cứu về ivabradine đều cho kết quả thuốc làm nhịp tim một cách của
ý nghĩa thống kê trên nhiều nhóm bệnh nhân khác nhau [7], bao gồm cả những bệnh nhân bệnh
mạch vành có can thiệp mạch vành qua da như trong nghiên cứu của chúng tôi. Trong phân
tích 2319 bệnh nhân năm 2015 từ nghiên cứu ADDITIONS, nhóm bệnh nhân có tiền sử can
thiệp mạch vành qua da (1193 bệnh nhân) có nhịp tim trung bình ban đầu là 83,1±11 nhịp/phút
giảm xuống còn 69,4±8,8 nhịp/phút (p<0,0001), và chưa thấy có sự khác biệt giữa nhóm có
tiền sử PCI và nhóm không có [13]. Nghiên cứu RIVENDEL bắt đầu sử dụng ivabradine ít
nhất 1 tháng sau PCI và theo dõi trong 8 tuần, nhịp tim trung bình ban đầu là 68 ± 6,4 nhịp/phút,
giảm xuống còn 65,2 ± 5,9 nhịp/phút sau 1 tháng và còn 62,2 ± 5,7 nhịp/phút sau 2 tháng, nhịp
tim sau 2 tháng giảm trung bình 5,8 nhịp/phút và giảm có ý nghĩa thống kê trong khi nhóm
điều trị chuẩn nhịp tim giảm không có ý nghĩa thống kê [9]. Trong phân tích 926 bệnh nhân
đau thắt ngực có tiền sử PCI tại Hy Lạp, nhịp tim giảm từ 80,3 ± 9,5 nhịp/phút xuống còn 67,8
± 7,3 nhịp/phút sau 1 tháng và 63,9 ± 6,2 nhịp/phút sau 4 tháng với p<0,0001 [14]. Nghiên cứu
sử dụng ivabradine tiêm tĩnh mạch trên bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên được
điều trị bằng PCI cho kết quả nhịp tim giảm từ 88,2 ± 9,8 nhịp/p xuống 66,2 ± 10,1 nhịp/p sau
8 giờ [11]. Như vậy, dù có sự khác nhau về nhịp tim ban đầu giữa các nghiên cứu (do thời điểm


TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC CẦN THƠ – SỐ 22-23-24-25/2019
bắt đầu sử dụng ivabradine và loại thuốc chẹn beta phối hợp khác nhau) nhưng các kết quả đều
cho thấy nhịp tim giảm có ý nghĩa thống kê.
Kết quả của chúng tôi cũng cho thấy, những bệnh nhân có nhịp tim ban đầu ≥ 80
lần/phút có nhịp tim giảm nhiều hơn những trường hợp <80 lần/phút một cách có ý nghĩa thống
kê (-13,5 nhịp/phút so với -7,8 nhịp/phút, p<0,001). Nghiên cứu năm 2017 của J.Zarifis và
cộng sự trên 884 bệnh nhân tái thông mạch vành đã kết luận nhịp tim ban đầu càng nhanh thì
mức độ giảm càng nhiều và cho kết quả với mức giảm sau 4 tháng là -22,6 nhịp/phút ở nhóm
ban đầu có nhịp tim ≥ 80 lần/p, -14 nhịp/phút ở nhóm từ 10-80 nhịp/phút và -7,5 nhịp/phút ở
nhóm <70 lần/phút [14]. Mức giảm của chúng tôi ít hơn do liều dùng ivabradine trong nghiên
cứu của chúng tôi thấp hơn và thời gian dùng ngắn hơn.

Hiệu quả trên đau thắt ngực
Nhiều nghiên cứu cho thấy, hiệu quả giảm đau ngực khi kết hợp ivabradine với thuốc
chẹn bê-ta phụ thuộc vào liều sử dụng [2]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân
hoàn toàn hết đau ngực tăng 12% sau 2 tháng, đau thắt ngực CCS I tăng 28,5%, CCS III và IV
giảm 2,9%. Kêt quả này khác nhau giữa các nghiên cứu. Trong phân tích dưới nhóm từ 1193
bệnh nhân có tiền sử PCI từ nghiên cứu ADDITIONS, đau ngực CCS I tăng 45%, CCS III và
IV giảm 21% sau 4 tháng. Phân tích cũng cho thấy, so với nhóm không có tiền sử PCI, mức độ
giảm đau ngực ở nhóm có tiền sử PCI nhiều hơn một cách có ý nghĩa thống kê [13]. Nghiên
cứu Panhellenic cho thấy, số bệnh nhân hết đau ngực tăng từ 18,5% lên 68,2% sau 1 tháng và
đạt 82,7% sau 4 tháng [15]. Trong 926 bệnh nhân có tiền sử PCI, đau ngực CCS I tăng từ 36,1%
lên 83,1%, CCS III và IV giảm từ 20,8% xuống 2,1% và mức độ giảm đau ngực không khác
biệt so với dân số chung [4]. Trong nghiên cứu CONTROL 2, tỷ lệ bệnh nhân hết đau ngực
tăng 12% sau 2 tháng [6]. Như vậy, mức độ đau ngực trong nghiên cứu của chúng tôi cải thiện
không nhiều như các nghiên cứu khác. Sự khác biệt này có thể do liều thuốc sử dụng của chúng
tôi thấp hơn (2,5mg bisoprolol và 7,5mg ivabradine). Hơn nữa, đa số bệnh nhân của chúng tôi
đau ngực ở mức độ ít, chủ yếu CCS I và II, nên sự cải thiện không nhiều. Điều này có thể dẫn
đến việc đánh giá chưa đúng mức về hiệu quả giảm đau ngực.
Trong phân tích dưới nhóm những bệnh nhân có tiền sử PCI từ nghiên cứu ADDITIONS, số
cơn đau ngực giảm từ 1,9 ± 2,4 cơn/tuần và giảm 2,7 lần còn 0,7 ± 1,4 cơn/tuần sau 1 tháng với liều
trung bình Ivabradine là 9,6 ± 1,3mg/ngày và liều các thuốc chẹn beta ở mức trung bình và cao [13].
Một phân tích khác trên bệnh nhân PCI từ nghiên cứu Panhellenic của J.Zarifis và cộng sự trên bệnh
nhân sử dụng ivabradine kết hợp thuốc chẹn beta sau PCI cho kết quả số cơn đau ngực giảm khoảng
4 lần, từ 2,2 ± 2,3 cơn/tuần xuống 0,5 ± 1 cơn/tuần sau 1 tháng và liều Ivabradine trung bình là 10,2
± 1,7mg/ngày kết hợp với chẹn be-ta liều trung bình và cao [14]. Như đã trình bày ở trên, tác dụng
giảm đau của ivabradine phụ thuộc vào liều, nghiên cứu của chúng tôi có mức độ giảm số cơn đau
ngực ít hơn có lẽ do liều thuốc ivabradine và chẹn beta đều thấp hơn so với các nghiên cứu khác.
Sự thay đổi chức năng thất trái
Các bằng chứng về lợi ích của sự kết hợp ivabradine và chẹn bê-ta trên chức năng thất
trái vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu mù đôi, có đối chứng của Sergio Fasullo và cộng sự năm
2009 là nghiên cứu đầu tiên so sánh hiệu quả của ivabradine và metoprolol trên chức năng thất

trái ở giai đoạn sớm sau can thiệp mạch vành trên 155 bệnh nhân nhồi máu cơ tim thành trước
với EF < 50%. Kết quả cho thấy, ở nhóm sử dụng ivabradine, EF tăng từ 41,4 ± 4,7% lên 51,2
± 9% sau 2 tháng (p<0,001), trong khi nhóm sử dụng metoprolol, EF tăng ít hơn, từ 42,5 ±
5,5% lên 47,2 ± 8% [3]. Nghiên cứu của tác giả Kateryna Amosova trên bệnh nhân nhồi máu
cơ tim thành trước có EF 30 – 45% cho thấy, khi kết hợp ivabradine với metoprolol, EF tăng
từ 38,9 ± 1,8% lên 46,3 ± 1,2% sau 25 ngày (p <0.05), trong khi tăng liều metoprolol, EF hầu
như không cải thiện (39,2 ± 1,5% so với 39,9 ± 1,4%) [1]. Năm 2014, Gerbaud và cộng sự
nghiên cứu kết hợp ivabradine với bisoprolol trên 124 trường hợp có nhịp tim >70 lần/phút


TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC CẦN THƠ – SỐ 22-23-24-25/2019
trong vòng 1 đến 3 giờ sau PCI và đánh giá chức năng thất trái sau 2 tháng bằng cộng hưởng
từ. EF tăng từ 57,9 ± 9,8% lên 60 ± 10,4% (p = 0,04) ở nhóm kết hợp và không thay đổi ở
nhóm chỉ sử dụng bisoprolol (56,4 ± 9,1% và 56,5 ± 10,6% [5]. EF trong nghiên cứu của chúng
tôi tuy có cải thiện nhưng mức độ ít hơn. Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể do EF ban
đầu của chúng tôi cao hơn và hầu hết bệnh nhân có EF > 40%. Cho đến tời điểm này, vai trò
của ivabradine trên những trường hợp có EF bảo tồn hoặc bình thường vẫn chưa rõ. Đồng thời,
liều thuốc sử dụng trong nghiên cứu này vẫn còn thấp. Do đó, có thể gợi ý rằng, EF càng thấp
thì mức độ cải thiện càng nhiều và tác dụng trên EF có thể cũng phụ thuộc vào liều sử dụng.
Phân tích gộp của Kramer và cộng sự cho thấy có mối tương quan giữa ảnh hưởng ngắn
hạn trên EF với ảnh hưởng dài hạn trên tử vong (r = -0,51, p<0,0001) và chỉ cần một sự thay
đổi nhỏ cũng có thẻ làm giảm tỷ lệ tử vong. Đặc biệt, EF trung bình tăng 5% có liên quan đến
giảm tỷ lệ tử vong có ý nghĩa thống kê với OR=0,86 [8]. Với ý nghĩa trên, chúng tôi cũng sử
dụng mức này để phân tích. Những bệnh nhân EF ban đầu <40% có tỷ lệ mức tăng EF ≥5%
nhiều hơn so với nhóm ≥40% một cách có ý nghĩa thống kê (với p<0.0001). Có thể nghiên cứu
của chúng tôi là nghiên cứu đầu tiên đề cập đến mối liên quan này và mối liên quan này hoàn
toàn hợp lý. Đa số các nghiên cứu có EF giảm <40% đều cho kết quả EF cải thiện từ 5-10%
sau 2-4 tháng [3], [5]. Các nghiên cứu có EF trung bình ≥40% cho kết quả mức độ cải thiện EF
ít hơn, chỉ từ 2-4%, [5], [11].
Giới hạn của nghiên cứu

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ bước đầu đánh giá hiệu quả của phối hợp ivabradine với
thuốc chẹn bê-ta nên còn nhiều hạn chế. Chúng tôi chưa có nhóm chứng nên chưa có cơ sở
thuyết phục cho các kết quả phân tích và so sánh. Thêm vào đó, tuy phương pháp đánh giá EF
của chúng tôi (Teicholz) là phương pháp nhanh và thường dùng nhất nhưng chưa phải là cách
tối ưu nhất, đặc biệt trong những trường hợp rối loạn vận động vùng thường gặp trong bệnh
mạch vành.

V. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy
- Nhịp tim trung bình lúc nghỉ giảm có ý nghĩa thống kê sau 2 tháng, từ 78,6 ± 9,3
lần/phút xuống 65,1 ± 6,5 lần/phút (p<0,001). Mức độ giảm nhịp tim ở bệnh nhân có nhịp tim
ban đầu ≥80 lần/phút nhiều hơn so với nhóm có nhịp tim <80 lần/phút (-13,6 nhịp/phút so với
-7.2 nhịp/phút, p<0,001).
- Sau 2 tháng điều trị, đau thắt ngực CCS III giảm từ 4,9% xuống 0%, CCS I tăng từ
24,4% lên 61%. Số cơn đau thắt ngực trung bình/tuần giảm từ 4,5 ± 0,6 cơn/tuần còn 2 ± 1,1
cơn/tuần (p<0,001).
- Phân suất tống máu (EF) tăng từ 56,7 ± 9,3% lên 57,9 ± 8,7% (p<0,001).

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Amosova Kateryna, Et Al. (2012), "Effect Of Ivabradine In Combination With Beta-Blockers
Versus Beta-Blockers Uptitration On Left Ventricular Functions In Patients With Acute
Anterior Myocardial Infarction And Early Systolic Dysfunction", Journal Of The American
College Of Cardiology, 59(13 Supplement), Pp. E554.
2. Borer J. S., et al. (2003), "Antianginal and antiischemic effects of ivabradine, an I(f) inhibitor,
in stable angina: a randomized, double-blind, multicentered, placebo-controlled trial",
Circulation, 107(6), pp. 817-23.
3. Fasullo S., et al. (2009), "Comparison of ivabradine versus metoprolol in early phases of
reperfused anterior myocardial infarction with impaired left ventricular function: preliminary
findings", J Card Fail, 15(10), pp. 856-63.
4. Ferrari R., et al. (2018), "Expert consensus document: A 'diamond' approach to personalized

treatment of angina", Nat Rev Cardiol, 15(2), pp. 120-132.


TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC CẦN THƠ – SỐ 22-23-24-25/2019
5. Gerbaud E., et al. (2014), "Effect of ivabradine on left ventricular remodelling after reperfused
myocardial infarction: A pilot study", Arch Cardiovasc Dis, 107(1), pp. 33-41.
6. Glezer Maria, et al. (2018), "Efficacy of Ivabradine in Combination with Beta-Blockers Versus
Uptitration of Beta-Blockers in Patients with Stable Angina (CONTROL-2 Study)", Advances
in Therapy, 35(3), pp. 341-352.
7. Kaski Juan Carlos, et al. (2018), "Role of ivabradine in management of stable angina in patients
with different clinical profiles", Open Heart, 5(1).
8. Kramer D. G., et al. (2010), "Quantitative evaluation of drug or device effects on ventricular
remodeling as predictors of therapeutic effects on mortality in patients with heart failure and
reduced ejection fraction: a meta-analytic approach", J Am Coll Cardiol, 56(5), pp. 392-406.
9. Mangiacapra F., et al. (2017), "Heart Rate reduction by IVabradine for improvement of
ENDothELial function in patients with coronary artery disease: the RIVENDEL study", Clin
Res Cardiol, 106(1), pp. 69-75.
10. Perings Stefan, et al. (2016), "Effectiveness and Tolerability of Ivabradine with or Without
Concomitant Beta-Blocker Therapy in Patients with Chronic Stable Angina in Routine Clinical
Practice", Advances in Therapy, 33(9), pp. 1550-1564.
11. Steg P., et al. (2013), "Safety of intravenous ivabradine in acute ST-segment elevation
myocardial infarction patients treated with primary percutaneous coronary intervention: a
randomized, placebo-controlled, double-blind, pilot study", Eur Heart J Acute Cardiovasc
Care, 2(3), pp. 270-9.
12. Werdan K., et al. (2016), "Ivabradine in Combination with Metoprolol Improves Symptoms
and Quality of Life in Patients with Stable Angina Pectoris: A post hoc Analysis from the
ADDITIONS Trial", Cardiology, 133(2), pp. 83-90.
13. Werdan Karl, et al. (2015), "Ivabradine in Combination with Beta-Blockers in Patients with
Chronic Stable Angina After Percutaneous Coronary Intervention", Advances in Therapy,
32(2), pp. 120-137.

14. Zarifis J., et al. (2017), "Antianginal Efficacy of Ivabradine in Patients With History of
Coronary Revascularization", Angiology, 68(1), pp. 10-18.
15. Zarifis J., et al. (2016), "Antianginal Efficacy of Ivabradine/Metoprolol Combination in
Patients With Stable Angina", Clin Cardiol, 39(12), pp. 697-702.

(Ngày nhận bài: 20/9/2019 - Ngày duyệt đăng: 04/11/2019)



×