Tải bản đầy đủ (.pdf) (94 trang)

Tập bài giảng xây dựng đảng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (928.84 KB, 94 trang )

TRNG I HC S PHM TP. H CH MINH
#"


PH VN THC NGUYN TRUNG TNH













TAP BAỉI GIANG XAY DệẽNG ẹANG























TP. H CH MINH - 2002

1

2
MỤC LỤC
Trang
Mục lục 2
Lời nói đầu 3
Bài 1: Vị trí, đối tượng và phương pháp của môn xây dựng Đảng 5
Bài 2: Học thuyết Mác-Lênin về chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân 8
Bài 3: Đặc điểm, vị trí, vai trò, chức năng của Đảng Cộng sản cầm quyền 22
Bài 4: Xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng 29
Bài 5: Công tác tư tưởng của Đảng 40
Bài 6: Công tác lý luậ
n của Đảng 37
Bài 7: Đảng viên và công tác đảng viên 42
Bài 8: Nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng 52
Bài 9: Tự phê bình và phê bình của Đảng 59
Bài 10 : Công tác cán bộ của Đảng 67

Bài 11: Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước xã hội chủ nghĩa 78
BÀI 12: Kỷ luật của Đảng và việc thi hành kỷ luật trong Đảng 84
Tài liệu tham khảo chính 92

3
LỜI NÓI ĐẦU
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhân dân ta đã giành được những thắng
lợi to lớn trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đã, đang giành được những thắng lợi
quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nội
dung chủ yếu trong hoạt động lãnh đạo của Đảng là đề ra đường lối chính trị đúng đắn, t

chức dân tộc Việt Nam thực hiện một cách thắng lợi đường lối đó. Toàn bộ sự nghiệp cách
mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay đã chứng minh rằng: Đảng là đội tiền phong của giai
cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân; là người đại biểu cho quyền lợi chân
chính của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam; Đảng được xây dựng theo nguyên
tắc tập trung dân chủ
, có sự giác ngộ cao và kỷ luật thống nhất đối với mọi đảng viên; Đảng
tuân theo chủ nghĩa quốc tế vô sản. Để tiếp tục làm tròn sứ mệnh của mình, đóng vai trò hạt
nhân trong hệ thống chính trị, Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của mình. Ngày nay, để có thể “ngang tầm”
nhiệm vụ mới, Đảng ph
ải thường xuyên tự chỉnh đốn, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ “then
chốt”.
Xây dựng Đảng là khoa học về những quy luật của sự lãnh đạo, tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với xã hội; về những quy luật xây dựng nội bộ Đảng, nâng cao năng lực và sức
chiến đấu của Đảng. Nó nghiên cứu những quy luật và cơ chế xây dựng, hoạ
t động của
Đảng, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh về phẩm chất, năng lực, trí tuệ làm tròn vai trò
đội tiền phong chính trị của giai cấp công nhân, lãnh đạo xã hội phát triển toàn diện.
Trước kia “Xây dựng Đảng” chủ yếu được nghiên cứu, giảng dạy ở các trường Đảng,

nhằm nâng cao trình độ lãnh đạo cho cán bộ của Đảng và Nhà nước. Gần đây “Xây dựng
Đảng” được đưa vào giảng dạy ở nhi
ều trường thuộc hệ thống các trường đại học và cao
đẳng quốc gia, trong đó có khoa Giáo dục chính trị trường Đại học sư phạm thành phố Hồ
Chí Minh.
Để phục vụ yêu cầu giảng dạy, học tập những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quá trình vận dụng của Đảng ta về xây dựng Đảng, chúng tôi biên
soạn “Tập bài giảng xây dựng Đảng”. (Thạc s
ĩ Nguyễn Trung Tính biên soạn bài: “Vị trí,
đối tượng và phương pháp của bộ môn xây dựng Đảng”, Thạc sĩ Phí Văn Thức biên soạn
những bài còn lại). Tài liệu được biên soạn theo tinh thần: hệ thống, cơ bản, thiết thực, hiện
đại, với dung lượng kiến thức phù hợp, nhằm trang bị kiến thức về xây dựng Đảng, góp phần

4
nâng cao năng lực lãnh đạo, công tác, học tập cho cán bộ, sinh viên trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, do khả năng và điều kiện còn hạn chế nên tập bài giảng này có thể còn có
những hạn chế nhất định, nhất là nội dung sao cho phù hợp đối tượng tác động theo yêu cầu
của khoa Giáo dục chính trị. Rất mong được sự góp ý, xây dựng của các bạn đồng nghiệp,
các bạ
n sinh viên và bạn đọc quan tâm để chúng tôi tiếp tục bổ sung, hoàn thiện ở lần in sau.

Tác giả






5

Bài 1
VỊ TRÍ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
CỦA BỘ MÔN XÂY DỰNG ĐẢNG

I. VỊ TRÍ, ĐỐI TƯỢNG CỦA MÔN XÂY DỰNG ĐẢNG.
1/ Vị trí:
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đại diện cho quyền
lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.
Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, Đảng là hạt nhân lãnh đạo chính trị, là tổ chức
cao nhất. Các tổ chức: Nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể và các tổ chứ
c xã hội đều đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng. Đảng không chỉ là người định hướng chính trị mà còn là người tổ chức
hướng dẫn phối hợp sức mạnh của mọi tổ chức trong hệ thống chính trị nhằm thực hiện
nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn cụ thể.
Cách mạng là sự nghiệp quần chúng, nhưng sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng tiên phong
vẫn là nhân tố đầu tiên quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ trước đến nay
và từ nay về sau.
Thực tiễn và lý luận xây dựng Đảng trong hơn bảy thập kỷ qua rất phong phú, đó là một
“pho lịch sử bằng vàng”. Vì vậy việc trang bị cho cán bộ, đảng viên những tri thức về Đảng
đặc biệt về Đảng cầ
m quyền hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao
chất lượng và hiệu quả lãnh đạo chính trị của Đảng.
Trong tình hình quốc tế hiện nay, khi mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và
các nước Đông Âu sụp đổ, khi các thế lực thù địch đang tìm mọi thủ đoạn tấn công vào sự
lãnh đạo của Đảng ta, hòng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” thì việc nghiên c
ứu môn
Xây dựng Đảng đối với cán bộ, đảng viên cần được coi trọng hơn bao giờ hết vì sự tồn tại
phát triển của Đảng liên quan đến sự mất còn của chế độ.
2/ Đối tượng:


6
Xây dựng Đảng- một bộ môn của khoa học xã hội, là một bộ phận cấu thành không thể
tách rời của học thuyết Mác-Lênin về Đảng cách mạng của giai cấp công nhân. Là một khoa
học, Xây dựng Đảng có đối tượng nghiên cứu riêng.
Xây dựng Đảng là khoa học về sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, là khoa học về
những nguyên tắc và phương pháp lãnh đạo của Đảng
đối với nhà nước và các tổ chức trong
hệ thống chính trị. Đối với việc xây dựng nội bộ Đảng thì đó là những nguyên lý về tư tưởng
và tổ chức, những nguyên tắc tiêu chuẩn sinh hoạt Đảng trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính
quyền.
Nói cách khác khoa học xây dựng Đảng nghiên cứu những quy luật, cơ chế xây dựng và
hoạt động của Đảng làm cho Đảng ngày càng vững m
ạnh đủ sức lãnh đạo xã hội phát triển
toàn diện.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU BỘ MÔN XÂY DỰNG ĐẢNG.
1/ Vận dụng phương pháp biện chứng duy vật:
Phương pháp biện chứng duy vật là phương pháp cơ bản của bộ môn xây dựng Đảng.
Nó cho phép:
- Nghiên cứu sâu sắc nội dung khoa học Xây dựng Đảng, tránh được chủ nghĩa chủ quan
duy ý chí, chủ nghĩa giáo điều rập khuôn máy móc, chủ nghĩa kinh nghi
ệm trong công tác
xây dựng Đảng.
- Nhận thức được những quy luật lịch sử về sự ra đời của Đảng và vai trò lãnh đạo của
Đảng ngày càng tăng lên trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Xác định đúng vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng với tư cách là đội tiên phong chính trị
lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị.
- Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vai trò lãnh
đạo của Đảng ngày càng tăng lên với
những đòi hỏi ngày càng cao của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Phép biện chứng mác-xít cho phép xem xét thực tiễn hoạt động của Đảng như một quá
trình không ngừng phát triển cùng với quá trình phát triển của đời sống xã hội chủ nghĩa.
2/ Phương pháp tổng kết điển hình tiên tiến:

7
Các Đảng Cộng sản chân chính đều lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và
kim chỉ nam cho hành động, đều dựa trên những nguyên tắc, tiêu chuẩn Lênin-nít về sinh
hoạt Đảng để xây dựng nội bộ Đảng. Nhưng sự vận dụng đòi hỏi phải sáng tạo phù hợp với
điều kiện hoàn cảnh mỗi nước.
Đảng ta lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa
ở một nước mà nền kinh tế chủ yếu là sản
xuất nhỏ, lại bị chiến tranh tàn phá lâu dài nên việc sáng tạo mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam đòi hỏi một quá trình tìm tòi thử nghiệm công phu. Tình hình đó đòi hỏi Đảng phải đặc
biệt coi trọng việc tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, coi trọng những sáng kiến từ cơ sở, coi
trọng việc tổ
ng kết những điển hình tiên tiến để bổ sung và phát triển lý luận về xây dựng
Đảng.

Câu hỏi ôn tập:
1/ Xác định vị trí, đối tượng nghiên cứu của môn xây dựng Đảng.
2/ Trình bày những phương pháp chính trong nghiên cứu xây dựng Đảng.













8
Bài 2
HỌC THUYẾT MÁC – LÊNIN VỀ CHÍNH ĐẢNG
CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Học thuyết Mác-Lênin về chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân là một bộ phận
cấu thành của chủ nghĩa Mác-Lênin. Học thuyết này chỉ ra quy luật về sự ra đời, những
nguyên tắc về xây dựng tư tưởng, tổ chức và họat động lãnh đạo chính trị của đảng nhằm cải
tạo xã hội cũ, xây dựng thành công xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa, tiến lên ch
ủ nghĩa
cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.
I. C-MÁC, PH-ĂNGGHEN VÀ V-I-LÊNIN BÀN VỀ CHÍNH ĐẢNG CỦA GIAI CẤP
CÔNG NHÂN.
C.Mác và Ph-Ăghen là những người đầu tiên nêu lên những tư tưởng cơ bản về đảng cộng
sản. Những tư tưởng đó có cơ sở từ luận điểm khoa học về vai trò lịch sử của giai cấp công
nhân - người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản, xây dự
ng chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi
toàn thế giới. Đồng thời những tư tưởng đó được rút ra từ sự phân tích một cách biện chứng
quá trình phát triển xã hội nói chung và giai cấp công nhân nói riêng.
Hai ông chỉ ra rằng, sự đối kháng lợi ích giữa các giai cấp là nguồn gốc cơ bản tạo nên
mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đấu tranh giai cấp lúc đầu là đấu tranh kinh tế, sau
đó chuyển thành cuộc đấu tranh chính tr
ị.
Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển đến một trình độ nào đó sẽ ra đời chính
đảng của mình. Chính đảng của giai cấp công nhân ra đời là một tất yếu lịch sử, là sản phẩm
tự nhiên của cuộc đấu tranh giai cấp đạt tới trình độ đòi hỏi phải có sự lãnh đạo để thống nhất
mọi hoạt động của giai cấp nhằm hướng các nỗ l

ực chung vào mục tiêu chống lại giai cấp tư
sản cùng với nhà nước thống trị của giai cấp đó.
Giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng nhất, tiên tiến nhất của xã hội, nhưng giai cấp
công nhân chỉ có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử thế giới của mình khi nó tự tổ chức ra
được chính đảng độc lập và nhận thức rõ mình là đảng của giai cấp tiên phong.

9
Mác và Ăngghen cho rằng: về bản chất, Đảng là của giai cấp công nhân, nhưng Đảng đại
biểu cho toàn thể nhân dân lao động, bởi vì giai cấp công nhân chỉ có thể tự giải phóng được
mình khi nó đồng thời giải phóng tất cả các tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội.
Hai ông đòi hỏi phải phân biệt Đảng – người lãnh đạo chính trị, đội tiên phong cách mạng
của giai cấp với toàn bộ giai cấp và cho rằng, Đảng ph
ải là một đội ngũ có tổ chức chặt chẽ
theo nguyên tắc: số ít phục tùng số nhiều, cấp dưới phục tùng cấp trên. Đảng phải là một khối
thống nhất về các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Hai ông cũng chủ trương thành lập Đảng trên cơ sở của sự kết hợp chủ nghĩa xã hội khoa
học với phong trào công nhân. C.Mác và Ph-Ăngghen coi việc trang bị
lý luận chủ nghĩa xã
hội khoa học cho giai cấp công nhân là một yếu tố cực kỳ quan trọng nhằm nâng cao trình độ
giác ngộ giai cấp cho họ và việc giáo dục chủ nghĩa xã hội khoa học cho đội ngũ đảng viên là
nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng về tư tưởng.
Khi luận chứng về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, hai ông còn chỉ ra rằng: chủ
nghĩa quốc tế
vô sản là một nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng.
C.Mác và Ph-Ăngghen đã tổ chức và lãnh đạo Quốc tế I (1864 -1872) - Quốc tế đầu tiên
của giai cấp công nhân. Sau khi C.Mác qua đời, Ph-Ăngghen đã tiếp tục sự nghiệp của
C.Mác, sáng lập ra Quốc tế thứ hai (1889 -1914). Quốc tế I và Quốc tế II (trong thời kỳ Ph-
Ăngghen còn sống) đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh của giai cấp công nhân và
việc thành lập các chính
đảng cách mạng của giai cấp công nhân trên thế giới.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là thời kỳ đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của
phong trào công nhân quốc tế. Lúc này chủ nghĩa tư bản đã bước sang giai đoạn đế quốc chủ
nghĩa. Giai cấp tư sản đã trở thành lực lượng cản trở sự phát triển của xã hội. Tính chất ph
ản
động của nó thể hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Đồng thời, trong quá trình phát
triển của chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân đã lớn mạnh không ngừng cả về số lượng cũng
như về chất lượng, ý thức giác ngộ không ngừng được nâng cao. Cách mạng vô sản đã trở
thành nhiệm vụ trước mắt. Điều kiện l
ịch sử mới đòi hỏi giai cấp công nhân phải có đường
lối chiến lược và sách lược mới; đòi hỏi đảng của nó phải là một đội tiên phong chính trị có
khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh trong giai đoạn mới. Trong khi đó, các lãnh tụ của Quốc tế
II (từ sau khi Ph-Ăngghen mất), đã xét lại chủ nghĩa Mác, biến các đảng dân chủ - xã hội
thành các đảng cải lương, thự
c hiện chính sách đầu hàng giai cấp tư sản. Trong điều kiện đó,
V.I.Lênin đấu tranh không khoan nhượng đối với các quan điểm xét lại của Quốc tế II và

10
phát triển sáng tạo những luận điểm của C.Mác và Ph-Ăngghen về đảng, xây dựng nên học
thuyết tương đối hoàn chỉnh về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Dựa trên những quan
điểm, nguyên tắc này, Quốc tế III-Quốc tế cộng sản - đã ra đời năm 1919. Quốc tế III đã có
vai trò to lớn đối với sự thành lập của các đảng cộng sản trên th
ế giới.
II. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VỀ ĐẢNG KIỂU MỚI CỦA GIAI CẤP CÔNG
NHÂN.
1/ Đảng là đội tiên phong chính trị có tổ chức và là tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp
công nhân:
Theo V.I.Lênin, đảng là đội tiên phong chính trị và là đội ngũ có tổ chức chặt chẽ, có giác
ngộ nhất của giai cấp. Đảng là người đưa yếu tố tự giác vào phong trào công nhân. định
hướng chính trị, giáo dục
động viên, tổ chức cho quần chúng hoạt động cách mạng. Vai trò

tiên phong của Đảng trước hết thể hiện trên lĩnh vực lý luận. V.I. Lênin chỉ rõ: “Chỉ đảng nào
được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò người chiến sĩ
tiền phong”. Đòi hỏi đầu tiên đối với đảng viên là phải giác ngộ lý tưởng cộng sản chủ nghĩa,
có trình độ nhất định về ch
ủ nghĩa Mác – Lênin, nắm được đường lối, chính sách của Đảng.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Đảng phải là trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại.
Về mặt tổ chức, vai trò tiên phong của Đảng thể hiện ở sự hoạt động gương mẫu của đảng
viên trong thực tiễn, Đảng phải được tổ chức chặt chẽ để bảo
đảm là một đội ngũ thống nhất
ý chí và hành động, có kỷ luật nghiêm minh.
Vai trò tiên phong về lý luận đòi hỏi Đảng phải trung thành, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Mác - Lênin vào điều kiện nước ta, đề ra đường lối đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi
đường lối đó.
2/ Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động
c
ủa đảng:

11
Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống lý luận khoa học về cuộc đấu tranh giai cấp của
giai cấp công nhân về cách mạng vô sản, về quy luật của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội và chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa Mác - Lênin là kết quả của sự kế thừa, phát triển những
tư tưởng tiên tiến của nhân loại, thể hiện đúng đắn lợ
i ích cơ bản của giai cấp công nhân, chỉ
cho họ phương hướng, nguyên tắc trong cuộc đấu tranh để thực hiện sứ mệnh lịch sử của
mình.
Chủ nghĩa xã hội khoa học là vũ khí tư tưởng sắc bén của giai cấp công nhân trong cuộc
đấu tranh tự giải phóng mình và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Điều lệ Đảng cộng
sản Việt Nam khẳng định: “Đảng lấy ch
ủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tưởng và kim chỉ nam cho hành động” của mình.

Chủ nghĩa Mác - Lênin là ngọn cờ để tập hợp tất cả những người cộng sản và là cơ sở
khoa học để Đảng đề ra cương lĩnh hoạt động, chiến lược và sách lược trong tất cả các giai
đoạn cách mạng.
Là sản phẩm của sự kết hợp giữ
a chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và
phong trào yêu nước ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, Đảng đã vận dụng một cách sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Đó chính là cội nguồn tạo nên mọi thắng
lợi của cách mạng Việt Nam. Tuy vậy, trong giai đoạn mới Đảng cũng nhận thấy còn có
những hạn chế cả trong lĩnh vực nh
ận thức và vận dụng các quy luật khách quan. Đại hội VI
đã nhận rõ những sai lầm, khuyết điểm đó và chủ trương đổi mới tư duy nhằm xây dựng
Đảng ngang tầm nhiệm vụ mới.
3/ Khi có chính quyền, Đảng là người lãnh đạo, đồng thời Đảng cũng là một bộ phận
của hệ thống chính trị:
Đảng là đội tiền phong giác ngộ, có tổ chức chặt chẽ
nhất của giai cấp, do đó trong hệ
thống chính trị, chỉ có Đảng mới đủ phẩm chất chính trị và năng lực lãnh đạo xã hội.
Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định trước tiên bảo đảm cho thắng lợi của sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thông qua Nhà nước và các đoàn thể xã hội. Đảng thực
hiện sự lãnh đạo toàn di
ện của mình. Coi nhẹ sự lãnh đạo của Đảng là phạm sai lầm, là làm
yếu vai trò của Nhà nước và của cả hệ thống chính trị.

12
Vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng thể hiện ở chỗ: Đảng được vũ trang bằng lý luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin xuất phát từ điều kiện của mỗi nước mà đề ra đường lối chiến lược và
sách lược đúng đắn nhằm phát triển đất nước phù hợp với quy luật khách quan.
Đảng lãnh đạo mọi hoạt động của Nhà nước và các tổ chức qu
ần chúng bằng đường lối,
chính sách của mình. Thông qua tổ chức đảng và cán bộ đảng viên hoạt động trong các cơ

quan Nhà nước, các tổ chức quần chúng, mọi định hướng chính trị, đường lối chủ trương của
Đảng được cụ thể hóa bằng các chính sách, những quy định pháp lý và tổ chức thực hiện
trong thực tiễn.
4/ Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng:
T
ập trung dân chủ là nguyên tắc chỉ đạo toàn bộ công tác xây dựng tổ chức và hoạt động
của đảng. Đảng là một liên minh tự nguyện của những người cùng mục tiêu lý tưởng, của
những đại biểu ưu tú nhất của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động. Nguyên tắc tập
trung dân chủ nhằm tạo nên sự thống nhất cao trong Đảng.
Tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách là một nội dung quan trọng củ
a nguyên tắc tập trung
dân chủ. Coi nhẹ nguyên tắc này sẽ dẫn đến tình trạng tập trung quan liêu, chuyên quyền độc
đoán. Buông lỏng nguyên tắc này sẽ rơi vào tình trạng vô chính phủ, phá hoại sự thống nhất
và làm yếu sức chiến đấu của Đảng.
Nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện phù hợp với điều kiện lịch sử-cụ thể trong
hoạt động của Đảng
ở mỗi thời kỳ cách mạng. Hiện nay, trong điều kiện kinh tế thị trường,
Đảng ta rất coi trọng nguyên tắc này, đồng thời kiên quyết phê phán những xu hướng phủ
nhận, xa rời hoặc thực hiện không nghiêm túc nguyên tắc này.
5/ Đảng là một khối thống nhất ý chí và hành động; tự phê bình và phê bình là quy
luật phát triển của đảng:
Theo V.I.Lênin, sự thống nhất ý chí và hành động là nguồn gốc sức mạnh của Đả
ng, là
điều kiện đoàn kết dân tộc, đoàn kết giai cấp.
Trong điều kiện có chính quyền càng cần phải quan tâm đến sự thống nhất của Đảng. Lúc
này, nếu xảy ra chia rẽ nội bộ là điều rất nguy hiểm nhất là đối với một nước mà giai cấp
công nhân còn chiếm một tỷ lệ nhỏ bé trong dân cư và trong Đảng.

13
Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng được củng cố và phát triển trên cơ sở quan điểm,

đường lối đúng, tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hiện tốt việc tự
phê bình và phê bình trong Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Đoàn kết là sức mạnh, là
then chốt của thành công.
Để bảo đảm sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng luôn được c
ủng cố và phát triển. Đảng
cần thường xuyên nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình. Nó phải được coi là biện
pháp quan trọng để nâng cao trí tuệ và năng lực lãnh đạo, phát hiện, giải quyết kịp thời
những mâu thuẫn trong Đảng. Tự phê bình đòi hỏi phải có tính đảng, tính nguyên tắc cao;
phải bảo đảm tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, nâng cao mối quan hệ chặt chẽ
giữa
Đảng với quần chúng. Tự phê bìnhø và phê bình không chỉ tiến hành theo từng đợt mà
phải được tiến hành một cách thường xuyên và là một nội dung trong sinh hoạt Đảng.
Trong điều kiện có chính quyền, Đảng phải kiên quyết ngăn chặn những hiện tượng trù
dập người phê bình, nể nang, thành tích chủ nghĩa, che dấu khuyết điểm, thậm chí đả kích lẫn
nhau dẫn đến chia rẽ, bè phái trong Đảng. Tự phê bình và phê bình chỉ có hiệu qu
ả trên cơ sở
dân chủ, công khai, có nguyên tắc, trên tình đồng chí giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
6/ Đảng gắn bó chặt chẽ với nhân dân, kiên quyết ngăn ngừa và đấu tranh chống
bệnh quan liêu, xa rời quần chúng:
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng là tổ chức tự nguyện đấu tranh vì sự
nghiệp giải phóng quần chúng, quần chúng cần Đảng với tư cách người lãnh đạo họ trong
cuộc đấu tranh đ
ó. Nếu không có sự ủng hộ của quần chúng thì mọi đường lối không thể trở
thành hiện thực.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp hoàn toàn mới mẻ. Sự nghiệp đó chỉ có thể thành
công nếu Đảng biết tổ chức và phát huy được tính sáng tạo của quần chúng. Chủ nghĩa xã hội
là sự nghiệp sáng tạo của nhân dân.
Khi có chính quyền, Đảng có nhiều điều kiệ
n để thực hiện mối liên hệ giữa Đảng với
quần chúng. Đồng thời, trong điều kiện mới, Đảng cũng dễ nảy sinh bệnh quan liêu, mệnh

lệnh, làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên không thường xuyên rèn luyện bị thoái hóa biến
chất.

14
7/ Đảng kết nạp những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
vào Đảng, đồng thời phải kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách
và những kẻ cơ hội:
Đảng là đội tiền phong của giai cấp. Đảng chỉ làm tròn được vai trò ấy nếu Đảng bao gồm
những phần tử tiên phong. Kết nạp những đại biểu ưu tú củ
a giai cấp công nhân và nhân dân
lao động vào Đảng là biện pháp hàng đầu để tăng cường sức mạnh, cải thiện thành phần chất
lượng của Đảng, để nâng cao uy tín và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng.
Trong mỗi giai đoạn của cách mạng, do những nguyên nhân khác nhau đều không tránh
khỏi có một số người không giữ được vai trò tiên phong. Có người do nhận thức, năng lực
hoạt động thực tiễn yếu mà mất tín nhiệ
m. Có người do không kiên định về chính trị, thiếu ý
thức tổ chức kỷ luật, thoái hóa biến chất… trở thành kẻ quan liêu, tham nhũng. Nếu đội ngũ
của Đảng luôn trong sạch, bao gồm những chiến sĩ tiên phong, được quần chúng tin yêu thì
các nghị quyết mới có thể trở thành hiện thực. Cho nên kết nạp những người ưu tú vào Đảng,
kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử cơ h
ội là quy luật phát triển Đảng và nâng cao
năng lực lãnh đạo của Đảng.
8/ Bản chất quốc tế của Đảng:
Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân là bản chất của Đảng cộng sản. Bản chất đó bắt
nguồn từ vai trò, sứ mệnh lịch của giai cấp công nhân.
Bản chất quốc tế của Đảng trước hết thể hiện
ở chỗ: Đảng được tổ chức, hoạt động theo
những nguyên lý về Đảng kiểu mới của học thuyết Mác – Lênin; ở đường lối đối nội đối
ngoại của Đảng; ở chỗ Đảng luôn giáo dục đội ngũ Đảng viên và nhân dân lao động theo tinh
thần chủ nghĩa quốc tế vô sản của giai cấp công nhân. Trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa

yêu nước chân chính phải gắn liề
n với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng. Đảng cần phải
chống chủ nghĩa nước lớn hoặc chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.
III. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA HỌC THUYẾT MÁC- LÊNIN VỀ ĐẢNG.
Thực tiễn chứng minh rằng, học thuyết Mác - Lênin về Đảng đến nay vẫn giữ nguyên giá
trị lý luận và thực tiễn. Đồng thời, học thuyết Mác - Lênin về chính đảng cách m
ạng của giai
cấp công nhân, đòi hỏi các đảng cách mạng chân chính phải xuất phát từ điều kiện cụ thể của
dân tộc, giai cấp, thực tiễn chính trị xã hội của đất nước mình mà vận dụng nó một cách sáng
tạo. Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa qua cũng cho thấy rằng, Đảng nào vận dụng

15
một cách máy móc những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về Đảng cách mạng của giai
cấp công nhân thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng, đội ngũ Đảng bị chia rẽ, mất uy tín trước
quần chúng.
Đảng ta do Hồ Chủ tịch sáng lập, rèn luyện trải qua nhiều thử thách trong đấu tranh và
xây dựng đã trở thành một Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng tổ chức. Sở dĩ được nh
ư
vậy là do Đảng ta luôn trung thành với lợi ích của giai cấp và của cả dân tộc Việt Nam.
Hiện nay trên thế giới, các phần tử cơ hội, xét lại và các thế lực đế quốc, phản động đang
tìm mọi cách xuyên tạc nhằm xóa bỏ những giá trị của học thuyết Mác - Lênin về Đảng. Cho
nên nghiên cứu, học tập nghiêm túc học thuyết đó là một yêu cầu vừa cơ bản vừ
a cấp bách
nhằm làm cho Đảng vững mạnh, xứng đáng là đội tiền phong cách mạng, là lực lượng lãnh
đạo duy nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, vượt qua mọi khó khăn
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ở nước ta.

Câu hỏi ôn tập:
1/ Trình bày những tư tưởng cơ bản của Mác, Ăngghen về chính đảng cách mạng của giai
cấp công nhân.

2/ Phân tích nhữ
ng nguyên tắc cơ bản về Đảng kiểu mới của V.I.Lênin.
3/ Ý nghĩa của việc nghiên cứu học thuyết Mác-Lênin về Đảng cộng sản?









16
Bài 3
ĐẶC ĐIỂM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN CẦM QUYỀN

I. KHÁI NIỆM.
Khái niệm về Đảng cầm quyền nói lên vai trò, vị trí của Đảng cộng sản, chính đảng của
giai cấp công nhân khi thiết lập được hệ thống chính trị - xã hội mới. Nói Đảng cầm quyền là
nói thời kỳ Đảng đã nắm được chính quyền và sử dụng nó như một công cụ của giai cấp công
nhân thực hiện thắng lợi mục tiêu chính trị của Đảng. Đ
ây là thời kỳ, nói như Lênin, lý luận
đã biến thành thực tiễn, thời kỳ chủ nghĩa cộng sản không còn là cương lĩnh, không còn là
một học thuyết, không còn là một nhiệm vụ nữa, ngày nay đối với chúng ta đó là công cuộc
xây dựng cụ thể.
Lý luận về đảng cầm quyền là vấn đề mới và khó. Vì vậy chúng ta cần phải nghiên cứu
kỹ để vận dụng sáng tạo học thuy
ết Mác - Lênin trong tình hình hiện nay – tình hình một số
đảng sau khi đã có chính quyền lại để mất chính quyền và mất vai trò lãnh đạo.

Ở nước ta, giai cấp công nhân đã giành được chính quyền từ tháng Tám năm 1945. Từ đó
Đảng cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền. Nhưng đến năm 1954. Đảng mới lãnh
đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đến năm 1975 mới lãnh đạo cách mạng xã
hội ch
ủ nghĩa trên phạm vi cả nước.
Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên-xô và Đông Âu thì vấn đề đảng cầm quyền
càng là vấn đề phải nghiên cứu kỹ hơn cả về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn nhằm vận
dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
II. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN CẦM QUYỀN.
Có nhiều đặc điểm chi phối mọi mặt hoạt động của Đảng cộng sản cầm quyền. Dưới đây
là những đặc điểm chung nhất:
1/ Nhiệm vụ chính trị của Đảng đã thay đổi về căn bản:

17
Từ nhiệm vụ lật đổ chế độ cũ, giành lấy chính quyền là chủ yếu. chuyển sang nhiệm vụ tổ
chức, quản lý, xây dựng xã hội mới là chủ yếu. Từ chỗ chưa có chính quyền đến có chính
quyền là một bước ngoặt quan trọng của cách mạng, là sự phát triển về chất của quá trình
thực hiện nhiệm vụ lịch sử của giai cấ
p công nhân. Trước đây, nhiệm vụ chủ yếu là lật đổ chế
độ cũ, ngày nay là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc chế độ xã hội
chủ nghĩa.
Đảng cầm quyền là Đảng chịu trách nhiệm về vận mệnh của Tổ quốc, về hạnh phúc của
nhân dân, về sự phát triển của xã hội. Quy mô, nội dung, tính chất các nhiệm vụ hoàn toàn
khác trướ
c. Nếu trước đây, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng là quân sự thì ngày nay là xây dựng
và phát triển kinh tế. Chính vì vậy Đảng phải tăng cường sự lãnh đạo của mình, phát huy vai
trò quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh các đoàn thể trong hệ thống chính trị, phát huy
cao độ quyền làm chủ của nhân dân… Đây là nhiệm to lớn, đầy khó khăn và phức tạp.
Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng toàn di

ện, triệt để, sâu sắc nhất
trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, cho nên cả về phương diện lý luận và
thực tiễn là một cuộc cách mạng vĩ đại, nó đòi hỏi Đảng phải ngang tầm với nhiệm vụ mới.
Nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến, sản
xuất nhỏ
là chủ yếu lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân
cũ và mới rất to lớn trên nhiều lĩnh vực. Vì thế, sự nghiệp đó càng khó khăn phức tạp.
2/ Có Nhà nuớc xã hội chủ nghĩa:
Sau khi giành được chính quyền, hệ thống chính trị xã hội mới được thiết lập. Đảng
thông qua Nhà nước để lãnh đạo toàn diện đối v
ới xã hội. Đảng xây dựng nhà nước kiểu mới
- Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Đó là điều kiện quan trọng bảo đảm cho công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội thành công.
Trong điều kiện đó sự lãnh đạo của Đảng thể hiện tập trung ở Nhà nước. Đảng phải phát
huy quyền lực của Nhà nước để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, trấn áp bọn phản
cách mạng trong nước và ngoài nước, bài trừ các tệ nạn xã hội. Trong điều kiện có chính
quyền, mọi đường lối chủ trương của Đảng phải được cụ thể hóa thành chính sách, pháp luật
của Nhà nước. Uy tín và quyền lực lãnh đạo của Đảng được thực hiện thông qua hoạt động
của Nhà nước. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối Nhà nước là nhân tố quy
ết định hiệu

18
quả quản lý của Nhà nước. Nhà nước vững mạnh, hoạt động có hiệu quả là điều kiện hoàn
thành nhiệm vụ do Đảng đề ra, là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội.
Đảng lãnh đạo Nhà nước một cách toàn diện, quyết định các chính sách, kế hoạch chủ
yếu, quyết định những vấn đề quan trọng về tổ chức bộ máy và b
ố trí cán bộ, kiểm tra sự hoạt
động của bộ máy Nhà nước, vận động quần chúng tham gia xây dựng chính quyền, chấp
hành pháp luật, bài trừ tệ nạn xã hội, đưa một lực lượng cán bộ có năng lực làm lực lượng
nòng cốt ở các cơ quan Nhà nước. Đảng yêu cầu cán bộ đảng viên tôn trọng trách nhiệm,

quyền hạn của Nhà nước. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, s
ức mạnh của Đảng không chỉ là
sức mạnh tự thân, mà phải là sức mạnh của cả hệ thống chính trị, trong đó nòng cốt là Nhà
nước do Đảng lãnh đạo. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng bao hàm việc phát huy vai trò
hiệu lực của Nhà nước. Mọi khuynh hướng coi nhẹ sự lãnh đạo của Đảng, hoặc tuyệt đối hóa
sự lãnh đạo của Đảng đều dẫn đến sai lầm.
Trong đi
ều kiện có chính quyền, Đảng có nhiều thuận lợi để lãnh đạo xã hội, nhưng cũng
dễ nảy sinh những tiêu cực mới, mặc dù đó không phải là bản chất. Có chức có quyền là một
điều kiện cho một bộ phận thiếu kiên định, không chịu phấn đấu, thoái hóa, biến chất, mưu
lợi riêng, hoặc quan liêu, cửa quyền, tham ô, hối lộ, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân…
Căn bệnh này gây hậu quả nghiêm trọng trong xã hội, nó làm tổn hại uy tín của Đảng, làm
giảm động lực trong xã hội.
3/ Phương pháp lãnh đạo của Đảng đã thay đổi:
V.I.Lênin đã chỉ rõ: khi tình hình đã thay đổi, và chúng ta phải giải quyết những nhiệm vụ
thuộc loại khác, thì không nên nhìn lại đằng sau và sử dụng những phương pháp của ngày
hôm qua.
Có chính quyền, nhiệm vụ trung tâm của Đảng là lãnh đạo công cuộc xây dựng đấ
t nước,
trước hết là trên lĩnh vực kinh tế. Cuộc đấu tranh giai cấp tiến hành bằng những hình thức,
phương pháp khác, không thể dùng những phương pháp đấu tranh trong thời kỳ giành chính
quyền để giải quyết nhũng nhiệm vụ mới. Như vậy là máy móc, siêu hình. Những người như
vậy không còn là người xã hội chủ nghĩa nữa. Có chính quyền, giai cấp vô sản phải loại khỏi
“cẩm nang” của mình nhữ
ng hình thức, biện pháp không còn phù hợp nữa. Trong điều kiện
mới Đảng phải kết hợp giáo dục chính trị, tư tưởng với kích thích bằng lợi ích vật chất, kết
hợp lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể với lợi ích xã hội; kết hợp giáo dục hành chính với cưỡng

19
bức, kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng, công tác tổ chức với công tác kinh tế. Đảng phải

lãnh đạo thông qua Nhà nước, phát huy cao nhất vai trò, hiệu lực của Nhà nước.
III. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CẦM QUYỀN.
Bất cứ giai cấp nào khi lãnh đạo chính quyền cũng tổ chức ra hệ thống chính trị để thông
qua đó thực hiện sự lãnh đạo đối với xã hội. Sự ra đời c
ủa hệ thống chính trị không hề làm
giảm vai trò của Đảng, trái lại càng tăng thêm vị trí, vai trò của Đảng cộng sản trong hệ thống
chính trị ấy.
Trong thời đại ngày nay, Đảng của giai cấp công nhân thực hiện mục tiêu chính trị của
nền chuyên chính vô sản, đó là làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Để xây dựng chủ nghĩa xã
hội, giai cấp công nhân phải tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp trong đi
ều kiện mới, trên phạm
vi toàn cầu.
Trong điều kiện đảng cầm quyền, đảng là người lãnh đạo toàn xã hội, tức là đảng không
chỉ đại diện quyền lợi cho giai cấp công nhân mà còn đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao
động và của cả dân tộc. Đó là sự thay đổi quan trọng về vị trí, vai trò của Đảng.
Đảng cộng sản Việt Nam từ trước đến nay và từ nay về sau lãnh đạo cách m
ạng Việt Nam
là một tất yếu khách quan. Đảng là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với
phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã thể hiện cả tính tất yếu về kinh tế và chính
trị ngay từ khi mới ra đời. Gần 70 năm qua, đường lối của Đảng luôn thể hiện ý chí và
nguyện vọng của dân tộc. Đảng với dân tộc đã gắn bó suốt chặng
đường dài lịch sử vẻ vang,
không lực lượng nào có thể thay thế được.
Vai trò lãnh đạo của Đảng là vấn đề có tính quy luật, có tính nguyên tắc. Ở Liên-xô và ở
Đông Âu, các Đảng phạm sai lầm hữu khuynh, dao động, xét lại làm cho tình hình chính trị
khủng hoảng dẫn đến mất vai trò của Đảng, mất chính quyền, mất chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay các thế lực thù địch, chống chủ nghĩa xã hội dựng lên chiêu bài đ
a nguyên đa
đảng. Nhưng thực chất là chúng muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo toàn xã hội của Đảng cộng
sản. Thực tế đã chứng minh rằng, không phải hễ cứ đa nguyên chính trị là đã có dân chủ

thực sự. Một Đảng lãnh đạo phải đề phòng tình trạng độc đoán chuyên quyền, nhưng không
phải cứ một Đảng lãnh đạo thì mất dân chủ.
IV. CHỨC NĂNG, NỘI DUNG VÀ PH
ƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CẦM
QUYỀN.

20
1/ Chức năng và nội dung lãnh đạo của Đảng cộng sản cầm quyền:
Khi có chính quyền, hai đặc điểm tác động đến sự lãnh đạo của Đảng là:
+ Nhiệm vụ chính trị của Đảng đã thay đổi cơ bản, Đảng lãnh đạo toàn diện đối với xã
hội, nhưng nhiệm vụ trung tâm là xây dựng, phát triển kinh tế.
+ Có hệ thống chính trị mới.
Những đặc điểm trên đây đòi hỏi Đảng phải đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo.
Sự lãnh đạo của Đảng tác động trực tiếp đến cả hệ thống chính trị nhằm bảo đảm giữ
vững quyền lực chính trị của nhân dân. Đảng lãnh đạo thông qua Nhà nươc thì Đảng phải xây
dựng được Nhà nước trong sạch vững mạnh có năng lực quản lý kinh tế
, quản lý xã hội bằng
pháp luật.
Đảng lãnh đạo đất nước bằng cương lĩnh, đường lối chiến lược và những chính sách lớn
trên mọi lĩnh vực. Trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội, Đảng phải bảo đảm cho dân phát huy được quyền làm chủ về kinh tế, chính trị, văn
hóa, trở thành chủ thể hành động cách mạng chứ không ỷ lại, trông chờ một cách thụ động.
Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước trong sạch. Đảng đề ra các quan điểm, nguyên tắc xây
dựng, hoạt động của Nhà nước chứ không can thiệp vào công việc tổ chức của các tổ chức
thành viên trong hệ thống chính trị.
Đảng kiểm tra việc quán triệt và thực hiện các quan điểm, nguyên tắc tư tưởng chỉ đạo
của Đảng thông qua các t
ổ chức của Đảng, kiểm tra đối với Nhà nước và các tổ chức khác
trong hệ thống chính trị.
Đảng đề ra các quan điểm toàn diện về công tác cán bộ như đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và

sử dụng cán bộ. Đảng chỉ trực tiếp quyết định những vấn đề về cán bộ đối với các cơ quan
của Đảng. Còn đối với các cơ quan Nhà nước,
Đảng giới thiệu đảng viên và cán bộ ngoài
Đảng có đủ tiêu chuẩn để tổ chức đó lựa chọn.
2/ Phương thức lãnh đạo của Đảng cộng sản cầm quyền:

21
Với tư cách là đội tiền phong chính trị, phương thức lãnh đạo của Đảng là thuyết phục,
bằng công tác tuyên truyền, công tác tổ chức, bằng vai trò gương mẫu của đảng viên và tổ
chức Đảng, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân.
Đảng không bao biện, nhưng cũng không buông lỏng sự lãnh đạo của mình đối với Nhà
nước. Hiện nay tình hình thế giới và trong nước luôn biến chuyển, Đảng cần phải thường
xuyên làm giàu trí tu
ệ của mình bằng cách tìm hiểu sâu sắc về đất nước, xã hội, con người
Việt Nam, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và của nhân loại để đề ra đường lối đúng đắn,
phản ánh lợi ích, nguyện vọng khả năng của quần chúng.
Xuất phát từ đòi hỏi ngày càng cao của nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ mới, Đảng phải
thường xuyên coi trọng việc đổi mớ
i phương thức lãnh đạo, củng cố và kiện toàn bộ máy, giữ
vững nguyên tắc lãnh đạo và kỷ luật của Đảng. Có như vậy Đảng mới tạo ra một chất lượng
mới trong hoạt động lãnh đạo, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và của cả dân tộc.

Câu hỏi ôn tập:
1/ Trình bày những đặc điểm của Đảng cộng sản cầm quy
ền?
2/ Phân tích vị trí, vai trò của Đảng cộng sản cầm quyền?
3/ Phân tích nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng cộng sản trong điều kiện có chính
quyền?





22
Bài 4
XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG

Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng toàn diện, triệt để nhất trong lịch sử phát
triển của nhân loại. Nó đòi hỏi tính tự giác cách mạng rất cao. Việc xây dựng được những
nghị quyết mang tính khoa học cao là nhân tố bảo đảm tính hiệu quả của quá trình cải tạo tự
nhiên và cải tạo xã hội theo hướng tiến bộ.
I. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐỂ XÂY DỰ
NG VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC
NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG.
Xây dựng nghị quyết là thuộc về chức năng lãnh đạo của Đảng. Bởi vì, trong quá trình
lãnh đạo nhằm cải biến xã hội luôn phát sinh những vấn đề cần giải quyết. Các nghị quyết
của Đảng là cơ sở của các quyết định, chủ trương của chính quyền các cấp. Nó tác động tới
tương lai củ
a đại bộ phận quần chúng nhân dân. Muốn các nghị quyết của Đảng bảo đảm tính
khoa học chúng ta cần phải:
- Dựa vào phép duy vật biện chứng để xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết. Bởi vì:
+ Một là: nó giúp chúng ta phát hiện ra những mâu thuẫn, những động lực của sự phát
triển xã hội.
+ Hai là: phép biện chứng duy vật giúp giai cấp vô sản giải quyết một cách khoa học,
mối quan hệ giữa mục tiêu và phương pháp. Trong khi kiên trì mục tiêu mà nghị quyết đề ra,
lại có thể sử dụng các phương pháp một cách linh hoạt tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
+ Ba là: triết học duy vật biện chứng mang lại những nguyên tắc phương pháp luận quý
báu cho hoạt động thực tiễn, nhằm cách mạng hóa hiện thực. Trong đó ý nghĩa quan trọng
trong việc tổ chức và thực hiệ

n nghị quyết của Đảng là phép biện chứng giữa khách quan và
chủ quan.
Nghị quyết và cách tổ chức thực hiện phải xuất phát từ thực tế khách quan. Để thực hiện,
Đảng phải có tư duy lý luận cao, phải nắm được bản chất cách mạng và khoa học của chủ

23
nghĩa Mác-Lênin. Như vậy Đảng mới có phương pháp khoa học cho phép nắm được bản chất
của sự vật, phát hiện quy luật bên trong của nó và coi đó là căn cứ để xây dựng và tổ chức
thực hiện nghị quyết.
- Để xây dựng và tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết Đảng cần quán triệt quan điểm
chân lý là cụ thể:
Mọi nghị
quyết của Đảng đều giải quyết những vấn đề cụ thể do thực tiễn đặt ra. Những
vấn đề đó khác nhau về cấp độ bao quát, về mục tiêu, phạm vi tác động, về ý nghĩa của nó
đối với xã hội, về điều kiện nảy sinh, về thời điểm giải quyết. Chính tính đa dạng của vấn đề
quyết định tính
đa dạng của nghị quyết và cách tổ chức thực hiện. Tính cụ thể của nghị quyết,
phương thức tổ chức thực hiện nghị quyết chỉ đạt được khi chủ thể cách mạng có tinh thần
sáng tạo.
Tính sáng tạo trong việc xây dựng tổ chức thực hiện nghị quyết thể hiện ở chỗ:
+ Trên cơ sở phân tích tình hình cụ thể của mỗ
i ngành, mỗi địa phương, mỗi cơ sở trong
những không gian, thời gian nhất định mà đề ra nghị quyết.
+ Trong nghị quyết phải bảo đảm sự chi phối của những vấn đề có tính quy luật chung, và
thể hiện tính đặc thù của ngành, của địa phương mình.
- Để xây dựng, thực hiện thắng lợi các nghị quyết, chúng ta còn phải nắm vững phép biện
chứng giữa cái chung và cái riêng.
Đối v
ới sự nghiệp cách mạng ở mỗi nước, cái chung là quy luật khách quan của sự phát
triển xã hội, những quy luật phổ biến của quá trình hình thành và hoàn thiện chủ nghĩa xã

hội. Xây dựng nghị quyết cũng như việc hiện thực hóa nó đều chỉ có thể được thực hiện
thông qua hoạt động cụ thể của ngành, địa phương và ở cơ sở.
- Trong khi xây dựng, tổ chức thự
c hiện nghị quyết, cần xuất phát từ mâu thuẫn bên trong
của ngành, của địa phương và của cơ sở.
Ở đây việc phát hiện ra những mâu thuẫn chủ yếu trong từng thời kỳ, ở từng ngành, từng
địa phương có ý nghĩa quyết định. Để phát hiện ra những mâu thuẫn như vậy đòi hỏi phải
nắm vững tình hình thực tế của sự vật, có t
ư duy khoa học cao, có kinh nghiệm thực tiễn
phong phú.


24
II. NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
NGHỊ QUYẾT.
1. Khái niệm nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết:
Sự vận động của quá trình cách mạng, tính tích cực của nhân dân chỉ có được dưới sự chỉ
đạo của đường lối, nghị quyết phản ánh đúng những điều kiện khách quan, quy luật khách
quan c
ủa sự phát triển xã hội. Các nghị quyết là sự cụ thể hóa đường lối của Đảng.
Đường lối chiến lược cách mạng là khoa học và nghệ thuật lãnh đạo chính trị của giai cấp
công nhân trong cuộc đấu tranh nhằm thực hiện cải biến bằng cách mạng đối với xã hội cũ,
xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Đườ
ng lối xác định
những mục tiêu, những phương hướng chủ yếu trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân,
của chính Đảng cộng sản và của các lực lượng cách mạng trong một giai đoạn lịch sử tương
đối dài. Nhưng dù độ dài, ngắn khác nhau, mọi đường lối của Đảng đều đề cập tới mục tiêu,
nhiệm vụ, có tính chiến lược cho cách mạng, nó bao quát toàn bộ cuộc đấ
u tranh nó có ý
nghĩa trong phạm vi cả nước.

Nghị quyết là sự cụ thể hoá đường lối của Đảng thành những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể
cho một lĩnh vực của đời sống xã hội, cho một địa bàn khu vực của đất nước, cơ sở.
Tổ chức thực hiện nghị quyết chủ yếu liên quan đến hoạt động thực tiễn. Mục tiêu là
biến
những vấn đề được đề cập trong đường lối, nghị quyết thành những biến đổi trong hiện thực
xã hội. Đối tượng nghiên cứu chính của tổ chức thực hiện nghị quyết là đường lối, nghị quyết
của Đảng.
Tổ chức thực hiện đường lối, nghị quyết phải được xem xét trước hết từ góc độ hoạt
động
vật chất mang tính lịch sử cụ thể của con người nhằm cải biến tự nhiên, xã hội để hiện thực
hóa các mục tiêu đề ra trong đường lối, nghị quyết.
2/ Yêu cầu cơ bản của nghị quyết:
Yêu cầu cơ bản của nghị quyết là phát hiện, giải quyết đúng đắn và kịp thời, có hiệu quả
những vấn đề do thực ti
ễn đặt ra nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội theo quy luật khách
quan của nó.
Nghị quyết không chỉ có mục đích giải thích đúng thế giới như nó đang tồn tại mà quan
trọng ở vai trò cách mạng hóa hiện thực của nó để xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản.

25
Việc nắm được quy luật khách quan, xu hướng vận động của xã hội là cơ sở để có dự
đoán khoa học một nhân tố nội tại của nghị quyết. Dự kiến một cách khoa học giúp Đảng có
khả năng định hướng đúng đắn trong tình phức tạp nhất, đưa ra được những quyết định sách
lược cần thiết, tìm ra những hình thức, phương pháp thích hợp v
ới quá trình diễn biến, hành
động một cách tin tưởng vững chắc. Một nghị quyết có khả năng thực hiện hay không còn
tùy thuộc vào sự hưởng ứng của nhân dân khi tiếp nhận nghị quyết. Muốn vậy phải có sự
thống nhất giữa lý tưởng và lợi ích. Thực tế chứng minh rằng: nghị quyết dù có hay đến mấy
đi chăng nữa mà không thể hiện được lợi ích chính đáng củ
a nhân dân cũng sẽ không giành

được sự ủng hộ của họ. Nghị quyết phải thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
Nhưng với tư cách là người lãnh đạo, Đảng không thể hạ xuống mức giác ngộ trung bình của
quần chúng. Mọi nghị quyết phải trở thành công cụ nâng cao trình độ của nhân dân lên ngang
tầm đội tiên phong của cách mạng.
Như vậy, nét đặc trưng của nghị quy
ết là nó bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống, phản ánh
đúng hiện thực khách quan, đáp ứng đúng lợi ích chính đáng của nhân dân ở tầm tiên tiến của
nó.
3/ Yêu cầu cơ bản trong việc tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng:
Trong việc tổ chức thực hiện phải thống nhất giữa nghị quyết và thực tiễn, lời nói và việc
làm. Thực tiễn chứng minh rằng, nghị quyết đúng đắn là cơ sở để dẫn đến thành công. Nhưng
tưởng rằng như vậy là tất cả thì thật là một sai lầm nghiêm trọng.
Trong tổ chức thực hiện, một yêu cầu quan trọng là phải kiên trì, phải nhạy bén, sáng suốt
trong việc sử dụng những biện pháp, những hình thức thích hợp để động viên tối đa mọi
ngu
ồn lực nhằm thực hiện sáng tạo nghị quyết đó.
Tính khoa học của việc tổ chức thực hiện nghị quyết đòi hỏi phải có sự phân công hợp lý,
xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm giữa các cấp khác nhau. Hiệu quả tổ chức thực hiện còn
phụ thuộc một cách quyết định vào cuộc đấu tranh chống bệnh hình thức, quan liêu, bệnh phô
trương thành tích. Tổ chứ
c thực hiện một cách tích cực cũng có tác động trở lại đối với nghị
quyết. Vì vậy, quan hệ giữa tổ chức thực hiện với nghị quyết được coi là mối quan hệ giữa lý
luận với thực tiễn. Thông qua tổ chức thực hiện, các cấp ủy Đảng phát hiện những điểm chưa
hoàn chỉnh của nghị quyết, từ đó bổ
sung, hoàn thiện nghị quyết. Việc tổng kết kinh nghiệm
trong tổ chức thực hiện có vai trò rất quan trọng. Nó cung cấp cơ sở để xây dựng nghị quyết
và nâng cao chất lượng cho công tác tổ chức thực hiện nghị quyết.

×