Tải bản đầy đủ (.doc) (69 trang)

giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng ngoại thương việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (366.5 KB, 69 trang )

Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trờng, hệ thống ngân hàng luôn đóng vai trò
quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển kinh tế của các quốc gia. Trên thế
giới có nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển nhờ vào sự hoạt động có
hiệu quả của hệ thống ngân hàng. Ngợc lại, năm 1997 các quốc gia ở Châu
á, đặc biệt là Đông Nam á bị ảnh hởng trầm trọng bởi cuộc khủng hoảng
kinh tế mà nguyên nhân chính do sự sụp đổ của hàng loạt hệ thống ngân
hàng khu vực. Hệ thống ngân hàng là chiếc cầu nối cho sự lu thông tiền tệ
trong nền kinh tế một cách an toàn. Vì vậy, việc duy trì sự ổn định và phát
triển của hệ thống ngân hàng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế của
mỗi quốc gia.
Hệ thống ngân hàng Việt Nam tuy cha bị ảnh hởng nhiều bởi cuộc
khủng hoảng kinh tế khu vực. Nhng trên thực tế hiện nay, hệ thống ngân
hàng Việt Nam hoạt động kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh yếu, nhiều
vấn đề xảy ra, trong đó phải kể đến việc mất một số lợng vốn khổng lồ do
không thu hồi đợc vốn cho vay lên đến hàng ngàn tỷ đồng ở nhiều Ngân
hàng thơng mại (NHTM). Bên cạnh đó ở các ngân hàng còn tình trạng ứ
đọng vốn mà các doanh nghiệp lại thiếu vốn để sản xuất, nợ quá hạn còn ở
mức cao, độ an toàn trong hoạt động ngân hàng còn thấp. Đã có rất nhiều
kiến nghị, giải pháp đợc đa ra nhng tình trạng đó vẫn còn tồn tại. Đây là
một vấn đề nan giải, đang làm đau đầu các cơ quan hữu quan.
Muốn hoạt động của ngân hàng có hiệu quả cao thì trớc hết ngân hàng
phải sử dụng nguồn vốn huy động đợc mà không để tồn đọng kéo dài. Điều
này đòi hỏi các ngân hàng phải tìm kiếm đợc các dự án đầu t (DAĐT) có
tính khả thi và có khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng. Vấn đề đặt ra là
phải xem xét một cách chính xác tính hiệu quả và khả năng trả nợ của
khách hàng trớc khi thực hiện bất kỳ một khoản cho vay nào.
Muốn đạt đợc sự án toàn khi cho vay đối với các DAĐT thì trớc hết
các dự án phải đợc thẩm định một cách chính xác về tính khả thi và hiệu
quả của dự án. Nhờ sự chính xác trong công tác thẩm định, ngân hàng sẽ
tránh đợc trờng hợp cho vay những dự án không hiệu quả dẫn đến mất vốn


và bỏ qua những dự án có tính khả thi cao, có thể thu đợc lợi nhuận.
Chính vì vậy, trong thời gian thực tập tại Ngân hàng ngoại thơng Việt
Nam, em đi sâu tìm hiểu công tác thẩm định tài chính DAĐT và quyết định
chọn đề tài:
1
Giải pháp nâng cao chất lợng thẩm định tài chính dự án đầu t trong
hoạt động tín dụng tại Ngân hàng ngoại thơng Việt Nam.
Với mong muốn nghiên cứu để thấy đợc khó khăn trong công tác thẩm
định tài chính DAĐT tại Ngân hàng hiện nay, từ đó đa ra những giải pháp
và kiến nghị nhằm khắc phục những mặt khó khăn và phát huy hơn nữa
những mặt đã đạt đợc của Ngân hàng.
Thẩm định tài chính DAĐT là một nội dung trong nhiều nội dung
thẩm định dự án và là khâu quan trọng trong quá trình quyết định lựa chọn
DAĐT. Đây là một đề tài rộng, có nhiều vấn đề cần đợc nghiên cứu.
Trên cơ sở hệ thống hóa các lý luận cơ bản liên quan đến thẩm định tài
chính DAĐT, phân tích thực trạng công tác thẩm định tại Ngân hàng để đa
ra giải pháp, ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm ba chơng:
Chơng I: Chất lợng thẩm định tài chính dự án đầu t trong hoạt
động tín dụng của Ngân hàng thơng mại.
Chơng II: Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án đầu t
trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng ngoại thơng Việt nam.
Chơng III: Giải pháp nâng cao chất lợng thẩm định tài chính dự
án đầu t trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng ngoại thơng Việt nam.
Do trình độ lý luận và nhận thức còn hạn chế, thời gian tìm hiểu thực
tế và thực tập có hạn, vì vậy bài viết của em không thể tránh khỏi những sai
sót. Em rất mong đợc sự đóng góp của thầy cô giáo; ban lãnh đạo và các cô
chú, anh chị ở phòng Đầu t dự án của Ngân hàng ngoại thơng Việt nam để
bài viết của em đợc hoàn thiện hơn.
Em xin cảm ơn thầy giáo, thạc sỹ Đinh Ngọc Dinh - Trờng Đại học
Kinh tế Quốc dân, anh Lê Quang Vinh, anh Đàm Hải Giang và các cô chú,

anh chị ở phòng Đầu t dự án và các phòng ban khác của Ngân hàng ngoại
thơng Việt Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành đề tài
nghiên cứu này.
Em xin chân thành cảm ơn!
2
Chơng 1
Chất lợng thẩm định tài chính dự án đầu t trong
hoạt động tín dụng của các ngân hàng thơng mại
1.1. Khái quát về Ngân hàng thơng mại (NHTM)
1.1.1 Khái niệm NHTM:
NHTM đợc coi là một trung gian tài chính quan trọng hàng đầu trong
hệ thống tài chính, là một kênh dẫn vốn gián tiếp từ những ngời thừa vốn tới
những ngời thiếu vốn. Thông qua NHTM, vốn nhàn rỗi từ những ngời
không có khả năng đầu t đợc chuyển tới những ngời có cơ hội đầu t nhng
thiếu hoặc không có đủ lợng vốn cần thiết. Ngân hàng thơng mại là tổ chức
chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo ra và cung cấp các dịch vụ tài chính.
Thành công của NHTM hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng trong việc xác
định các nhu cầu tài chính của xã hội. Các NHTM ngày nay cung cấp rất
nhiều các loại hình dịch vụ tài chính khác nhau, bao gồm các hoạt động
cung cấp dịch vụ mang tính chất truyền thống (Dịch vụ trao đổi tiền tệ,
cung cấp các dịch vụ ủy thác ), và các dịch vụ mới (Cho vay tiêu dùng, t
vấn tài chính, quản lý tiền mặt, ).
Có thể xem xét sơ qua về một số hoạt động cơ bản của NHTM nh sau:
- Hoạt động huy động vốn: Để duy trì và phát triển, các NHTM thực
hiện các nghiệp vụ huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân thông qua việc
cung cấp các tài khoản séc, tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tài khoản tiền gửi
thanh toán
- Hoạt động trung gian: Ngoài hai hoạt động trên, NHTM còn thực
hiện các hoạt động trung gian ví dụ thực hiện chức năng trung gian thanh
toán, chuyển tiền, t vấn, và tiến hành thu phí. Đây là hoạt động mang lại ít

rủi ro hơn so với hoạt động tín dụng, các NHTM đều cố gắng nỗ lực để
nâng cao tỷ lệ thu nhập của hoạt động trung gian trong tổng thu nhập của
ngân hàng.
- Hoạt động cho vay và đầu t : là hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu.
Thông qua hoạt động này ngân hàng có thể bù đắp đợc các chi phí cho việc
huy động vốn. Trong đó, hoạt động cho vay chiếm vị trí quan trọng hơn cả,
ngân hàng có khả năng đối diện với rủi ro mất khả năng thanh toán là rất
lớn, quyết định sự tồn tại của một ngâng hàng.
Do đó, có thể định nghĩa NHTM nh sau: NHTM là một tổ chức kinh tế
đợc thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh tiền tệ và tín dụng với nội dung
thờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi đó để cấp tín dụng và cung
ứng các dịch vụ thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
3
1.1.2. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thơng mại
Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (Ngân hàng)
cung cấp một khoản tiền cho ngời đi vay để sử dụng vào một mục đích và
trong một thời gian nhất định theo thoả thuận dựa vào lới hứa thanh toán lại
trong tơng lai với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi
nhuận, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ
1/2 đến 2/3 nguồn thu nhập của NH. Khả năng cho vay đối với khách hàng
chính là lý do cơ bản để NHTM đợc cơ quan quản lý cấp giấy phép hoạt
động. Mọi ngời mong muốn các NHTM hỗ trợ cho sự phát triển của cộng
đồng thông qua việc cung cấp tín dụng, đáp ứng nhu cầu tài chính của xã
hội với một mức lãi suất hợp lý. Rõ ràng, cho vay là chức năng kinh tế cơ
bản hàng đầu của NH.
Ngày nay, do kinh tế phát triển dẫn tới nhu cầu về tín dụng của khách
hàng rất đa dạng và phong phú. Đáp ứng đợc đòi hỏi của thực tiễn, các
NHTM đã cung cấp nhiều loại hình tín dụng khác nhau. Tùy thuộc vào các
căn cứ mà tín dụng có thể phân chia thành các loại khác nhau.

- Căn cứ vào mục đích vay vốn có thể kể đến các khoản tín dụng nh
sau: Cho vay kinh doanh, cho vay tiêu dùng và các khoản cho vay khác.
- Căn cứ vào lãi suất, thì có các loại hình nh sau: Cho vay với lãi suất
thả nổi, cho vay với lãi suất cố định và cho vay với lãi suất u đãi.
- Căn cứ vào tính chất bảo đảm, có các loại tín dụng sau: Cho vay có
bảo đảm và cho vay không có bảo đảm.
- Ngoài việc phân loại dựa trên các tiêu thức kể trên, còn có một tiêu
thức rất quan trọng để phân loại và quản lý các khoản cho vay chính là phân
loại dựa trên tiêu thức thời gian xin vay của khách hàng. Dựa vào tiêu thức
này thì có thể kể đến hai loại hình tín dụng là tín dụng ngắn hạn, tín dụng
trung và dài hạn.
Cho vay ngắn hạn: Là những khoản cho vay có thời gian từ một năm
trở xuống.
Cho vay trung và dài hạn: Là khoản cho vay với thời gian trên một
năm, đợc tiến hành chủ yếu trên các dự án đầu t, với thời gian thu hồi vốn
chậm.
Hoạt động cho vay mang lại cho ngân hàng rất nhiều rủi ro tiềm ẩn,
đặc biệt là cho vay trung và dài hạn theo dự án đầu t. Để đảm bảo đợc tính
an toàn của các khoản cho vay, ngân hàng phải xây dựng một quy trình
thống nhất đối với hoạt động này.
4
Quy trình hoạt động cho vay là tập hợp các nội dung, các bớc kĩ thuật
nghiệp vụ cơ bản, các bớc tiến hành từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một
khoản vay. Thông thờng, quy trình bao gồm ba bớc.
- Kiểm tra hồ sơ xin vay, đồng thời thẩm định tính hiệu quả của dự án.
- Thực hiện cho vay và kiểm tra việc sử dụng vốn vay có đúng mục
đích hay không trong thời gian cho vay.
- Thu hồi nợ khi kết thúc hợp đồng vay.
Các bớc trong quy trình trên có mối liên hệ mật thiết với nhau và có
tầm quan trọng nhất định ảnh hởng tới chất lợng của các khoản vay. Một

khoản vay có chật lợng và là khoản vay mà ngời xin vay trả cho ngân hàng
đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn theo nh cam kết, đây là mục tiêu theo đuổi
của ngân hàng. Để đạt đợc mục tiêu đó, trong quá trình ra quyết định tài trợ
ngân hàng phải xem xét một cách kĩ lỡng mọi khía cạnh có liên quan đến
dự án: thời gian cho vay, quản lý và sử dụng tiền vay, Tuy nhiên, trên thực
tế vẫn có hiện tợng ngân hàng gặp phải những rủi ro khi cho vay tạo nên
những khoản nợ xấu cho ngân hàng. Để tránh đợc vấn đề này đòi hỏi ngân
hàng phải tiến hành khâu thẩm định dự án.
1.2. Thẩm định tài chính dự án đầu t trong hoạt động tín dụng của
NHTM
1.2.1. Dự án đầu t
Dự án đầu t là một tập hợp những đề xuất về nhu cầu vốn, cách thức
sử dụng vốn, kết quả tơng ứng thu đợc trong một khoảng thời gian xác định
đối với hoạt động cụ thể để sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đầu t phát triển
hoặc phục vụ đời sống.
Có nhiều cách để phân loại dự án đầu t, thông dụng nhất các dự án đầu
t có thể đợc phân thành: Dự án đầu t mới và dự án đầu t mở rộng sản xuất
kinh doanh.
Dự án đầu t mới: Là những dự án có mục tiêu tạo ra sản phẩm, dịch
vụ mới để đa vào thị trờng hay những dự án tạo ra các pháp nhân mới. Các
dự án thuộc loại này phải đợc đầu t toàn bộ nhà xởng, máy móc, thiết bị
Dự án đầu t mở rộng sản xuất kinh doanh: Những dự án có mục
đích tăng cờng năng lực sản xuất, tăng quy mô sản phẩm, nâng cao chất l-
ợng sản phẩm, cải tiến dây truyền máy móc từ đó tăng doanh thu của doanh
nghiệp. Hay cách khác, dự án mở rộng sản xuất là dự án đợc thực hiện trên
cơ sở một dự án cũ đang hoạt động.
Căn cứ vào mối quan hệ của các dự án, chúng có thể chia thành: Dự án
đầu t độc lập hoặc dự án đầu t phụ thuộc và dự án loại trừ nhau. Ngoài ra,
5
dự án đầu t cũng đợc phân loại theo một số tiêu thức khác nh quy mô của

dự án (dự án có quy mô lớn, dự án có quy mô vừa, dự án có quy mô nhỏ),
cấp quyết định (dự án thuộc nhóm A do Thủ tớng quyết định, B và C
do thủ trởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND cấp
Tỉnh và Thành phố trực thuộc trung ơng quyết định), phạm vi (dự án trong
nớc, dự án nớc ngoài),
Trong trờng hợp khan hiếm nguồn tài trợ, chủ đầu t thờng quan tâm tới
tín dụng ngân hàng. Các khoản tín dụng cho dự án đầu t chủ yếu là các
khoản tín dụng trung và dài hạn. Việc cung cấp tín dụng cho các dự án với
số vốn lớn mà thời gian cho vay lại tơng đối dài, có những dự án kéo dài
đến hàng chục năm. Chính vì vậy mà rủi ro không trả đợc nợ của khách
hàng đối với ngân hàng là rất lớn. Để phần nào giảm bớt đợc những rủi ro
tiềm ẩn có thể gặp phải, trớc khi tiến hành cấp tín dụng cho dự án ngân
hàng phải tiến hành một bớc rất quan trọng đó là kiểm tra tính khả thi của
dự án, xem xét các đặc điểm của dự án, các yếu tố thuộc về môi trờng có
thể ảnh hởng tới dự án, công việc đó chính là công tác thẩm định dự án
đầu t.
1.2.2. Sự cần thiết phải thẩm định dự án đầu t tại các NHTM
Trong hoạt động kinh doanh của mình, doanh nghiệp thờng đứng trớc
những tập hợp dự án đầu t cần lựa chọn hoặc phải quyết định đầu t vào một
dự án nào đó. Việc thẩm định giúp cho các nhà đầu t có thể lựa chọn đợc
phơng án tối u và ra quyết định sáng suốt. Đối với ngân hàng cũng vậy,
thẩm định dự án đầu t là căn cứ giúp đa ra các quyết định tài trợ đúng đắn.
Hoạt động thẩm định dự án đầu t (kết quả của nó là Báo cáo thẩm
định) là hoạt động rất quan trọng, nó là bộ phận không thể tách rời trong
tổng thể hoạt động tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng. Về mặt nghiệp
vụ, hoạt động này giúp cho ngân hàng có thể đa ra những đánh giá về tính
hợp lý, tính hiệu quả và tính khả thi của dự án.
- Tính hợp lý của dự án đợc biểu hiện một cách tổng hợp (biểu hiện
trong tính hiệu quả và trong tính khả thi) và đợc biểu hiện trong từng nội
dung và cách thức tính toán của dự án.

- Tính hiệu quả của dự án đợc xem xét trên hai phơng diện: hiệu quả
tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội của dự án.
- Tính khả thi của dự án: Tức là khả năng thực hiện dự án, mục tiêu
này đợc thể hiện khi dự án đi vào hoạt động có thực sự đem lại lợi ích cho
chủ đầu t. Đây là mục tiêu rất quan trọng của thẩm định dự án. Một dự án
hợp lý và hiệu quả cần phải có tính khả thi. Tất nhiên hiệu quả và hợp lý là
6
hai điều kiện quan trọng để một dự án có tính khả thi, nhng tính khả thi còn
phải đợc xem xét với nội dung và phạm vi rộng hơn.
Từ kết quả rút ra mới có cơ sở để xác định đợc hiệu quả của vốn đầu t
vào dự án, quan trọng nhất là khả năng hoàn trả nợ (cả gốc và lãi) của chủ
đầu t cho ngân hàng. Do đó, ngân hàng có thể quyết định có nên tài trợ hay
không, tài trợ theo hình thức nào, mức lãi suất bằng bao nhiêu, cách thức trả
nợ gốc và lãi, các biện pháp đẩm bảo tiền vay. Không những thế dựa vào
báo cáo thẩm định NHTM có thể đo lờng đợc mức độ rủi ro tiềm ẩn của dự
án, từ đó ngân hàng có thể đề ra đợc các biện pháp phòng ngừa và hạn chế
rủi ro trong trờng hợp tài trợ.
Hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại thụ nhập chủ yếu. Nhng, hoạt
động tín dụng nói chung và tín dụng trung, dài hạn nói riêng mang rất nhiều
rủi ro. Khi quyết định tài trợ cho một dự án thì có nghĩa là ngân hàng đã
chấp nhận chia sự rủi ro với khách hàng của mình. Do vậy, nó có ảnh hởng
mạnh mẽ tới hiệu quả kinh doanh của họ, rủi ro mất vốn, suy giảm lợi
nhuận luôn có thể xảy ra, ảnh hởng tới khả năng thanh khoản. Vì vậy, đòi
hỏi ngân hàng phải lựa chọn dự án đầu t có hiệu quả nhằm đảm bảo an toàn
cho chính hoạt động của mình.
Ngày nay, trong quản trị NHTM, các nhà quản trị rất chú ý tới các
biện pháp làm giảm thiểu những rủi ro có thể gặp phải. Thẩm định dự án
đầu t đối với các dự án đợc tài trợ cũng là một trong những khâu quan trọng
hàng đầu để đảm bảo tránh đợc rủi ro tín dụng, tạo ra sự an toàn và lành
mạnh cho hoạt động. Không những thế, báo cáo thẩm định là căn cứ có tính

pháp lý để ngân hàng ra quyết định tài trợ.
Mặt khác, một dự án đầu t cho dù đợc soạn thảo kĩ lỡng đến đâu cũng
vẫn mang tính chủ quan của ngời soạn thảo, khi soạn thảo dự án có thể có
những sai sót, các ý kiến có thể mâu thuẫn, không logic, thậm chí có thể
gây ra hiểu nhầm dẫn tới các tranh chấp không đáng có. Thẩm định sẽ phát
hiện ra những sai sót đó đồng thời cũng sửa chữa những sai sót đó.
Chính vì vậy, đối với bất kì một dự án nào thì ngân hàng phải tiến
hành xem xét dự án đó trên nhiều khía cạnh, đó là quá trình thẩm định.
1.2.3. Thẩm định Tài chính Dự án đầu t của NHTM
1.2.3.1. Khái niệm thẩm định tài chính dự án đầu t
Thẩm định dự án đầu t có thể đợc thực hiện bởi nhiều chủ thể khác
nhau, tùy thuộc vào mối quan hệ của chủ thể đó với dự án đầu t. Một dự án
đầu t thông thờng đợc thẩm định bởi hai chủ thể chính đó là bản thân của
7
chủ dự án khi ra quyết định đầu t và bởi ngân hàng khi ra quyết định tài trợ
cho dự án.
Trớc khi một doanh nghiệp quyết định đầu t vào một dự án cụ thể nào
đó, họ cần phải xem xét khả năng thành công của dự án, liệu khi dự án đi
vào hoạt động có đem lại lợi ích cho doanh nghiệp không? Mức độ của lợi
ích mà dự án đem lại nh thế nào? Công việc nh thế đợc gọi là hoạt động
thẩm định.
Hoạt động thẩm định không chỉ đợc tiến hành tại doanh nghiệp mà nó
cũng rất có ý nghĩa đối với bất kỳ một NHTM nào. Bởi vì, nh trên đã đề
cập, đối với bất kỳ một khoản vay trung và dài hạn nào yếu tố rủi ro đợc
quan tâm hàng đầu. Về lý thuyết, trớc khi quyết định thông qua dự án, chủ
đầu t đã thẩm định kĩ về tính hiệu quả của dự án mà họ muốn thực hiện, nh-
ng thực tế xảy ra lại không nh vậy, có rất nhiều trờng hợp các doanh nghiệp
trình dự án lên với mục đích không tốt. Do đó, để tránh đợc những trờng
hợp đáng tiếc xảy ra, một dự án muốn đợc chấp nhận tài trợ thì nó phải đợc
xem xét thông qua một quá trình tái thẩm định lại những gì doanh nghiệp

đã thẩm định.
Nh vậy, thẩm định dự án đầu t là việc tổ chức xem xét một cách khách
quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hởng trực tiếp, gián
tiếp tới việc đầu t cũng nh tính khả thi của dự án để ra quyết định đầu t và
cho phép đầu t.
Đây là một quá trình kiểm tra, đánh giá các nội dung của dự án một
cách độc lập, tách biệt với quá trình lập dự án. Thẩm định dự án tạo ra cơ sở
vững chắc cho hoạt động đầu t có hiệu quả. Các kết luận đợc rút ra từ quá
trình thẩm định là cơ sở để ra quyết định đầu t.
Các yếu tố đợc quan tâm trong công tác thẩm định của NHTM có thể
đợc đề cập đến là thông tin về chủ đầu t và về dự án đầu t.
* Về chủ đầu t: Phần này phản ánh một hình ảnh tổng thể nhất về chủ
đầu t của dự án. Trong phần này các khía cạnh: năng lực pháp lý của chủ dự
án, năng lực tài chính, hoạt động sản xuất hiện tại của chủ dự án đợc các
cán bộ NHTM kiểm tra.
* Về dự án: Khi thẩm định dự án thì họ thực hiện đánh giá các khía
cạnh sau: Tính pháp lý, kỹ thuật, thị trờng, tổ chức thực hiện, hiệu quả xã
hội - môi trờng và phơng diện tài chính của dự án.
Đối với NHTM tất cả các nội dung thẩm định là hết sức quan trọng,
nhng khâu thẩm định tài chính của dự án là một nội dung đợc đặc biệt quan
8
tâm. Bởi lẽ, đối với ngân hàng thì hiệu quả tài chính của các dự án đợc ngân
hàng tài trợ là một yếu tố có tính sống còn đối với họ.
Cũng tơng tự định nghĩa hoạt động thẩm định dự án nói chung, hoạt
động thẩm định tài chính dự án nói riêng có thể đợc định nghĩa nh sau: là
việc tổ chức xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện các yếu
tố ảnh hởng tới hiệu quả tài chính của dự án.
1.2.3.2. Nội dung thẩm định của tài chính Dự án Đầu t
Hoạt động thẩm định tài chính dự án diễn ra theo một quy trình thống
nhất với các bớc cụ thể. Thông thờng, thẩm định tài chính dự án đợc tiến

hành thông qua một số bớc sau:
* Tổng vốn đầu t và nguồn tài trợ
Là công việc xác định xem khi đầu t thì phải bỏ ra bao nhiêu và phân
bổ cho tài sản cố định, tài sản lu động nh thế nào và nguồn tài trợ cho các
tài sản đó.
*Xác định tổng mức vốn đầu t: là nội dung quan trọng đầu tiên cần
xem xét khi tiến hành phân tích tài chính dự án. Tính toán chính xác tổng
mức vốn đầu t có ý nghĩa rất quan trọng đối với tính khả thi của dự án. Nếu
vốn đầu t đợc dự tính quá thấp hoặc đợc dự tính quá cao thì không phản ánh
đợc chính xác nhu cầu vốn và tính hiệu quả của dự án. Tổng mức đầu t bao
gồm toàn bộ số vốn cần thiết để lập và đa dự án đi vào hoạt động. Tổng
mức vốn này đợc chia thành hai loại: vốn đầu t vào tài sản cố định và vốn lu
động ban đầu.
Vốn đầu t cho tài sản cố định bao gồm: đầu t vào trang thiết bị, dây
truyền sản xuất tuy nhiên, cũng cần phải chú ý đến chi phí chìm - tức
là các chi phí mà doanh nghiệp không thu hồi đợc cho dù dự án có thể đi
vào hoạt động hay không. Điển hình là các chi phí khảo sát địa điểm xây
dựng dự án, chi phí t vấn thiết kế dự án
Vốn đầu t vào tài sản lu động ban đầu bao gồm các chi phí để tạo ra
các tài sản lu động ban đầu nhằm bảo đảm dự án có thể đi vào hoạt động
bình thờng theo điều kiện kinh tế, kĩ thuật đã dự tính, nó bao gồm: nguyên
vật liệu, tiền lơng, hàng dự trữ và vốn dự phòng.
* Xác định nguồn tài trợ cho dự án, khả năng bảo đảm vốn từ mỗi
nguồn về mặt số lợng và tiến độ: Trên cơ sở tổng vốn đầu t cho dự án,
ngân hàng tiến hành xem xét các nguồn tài trợ cho dự án, trong đó phải tìm
hiểu về khả năng đảm bảo vốn từ mỗi nguồn về quy mô và tiến độ. Để tài
trợ cho một dự án, vốn đầu t có thể bao gồm các nguồn: vốn tự có của chủ
đầu t, vốn vay ngân hàng, vốn tài trợ chính phủ, hay vốn huy động từ các
9
nguồn khác. Muốn đảm bảo đợc tiến độ thực hiện dự án nh dự tính, đòi hỏi

các nguồn tài trợ phải đợc xem xét không chỉ về mặt số lợng mà phải theo
dõi cả về thời điểm. Các nguồn này phải đợc đảm bảo chắc chắn, sự đảm
bảo này phải có cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế. Chẳng hạn, nếu nguồn tài trợ
có nguồn gốc từ ngân sách thì phải có cam kết bằng văn bản của các cơ
quan có thẩm quyền sau khi đã phê duyệt chính thức dự án, hoặc nếu là vốn
góp cổ phần hay liên doanh thì phải có sự cam kết về tiến độ và số lợng vốn
góp của các bên
Sau khi nghiên cứu nội dung này ngân hàng có thể có đợc quyết định
phù hợp nếu có vay thì phải giải ngân nh thế nào để đảm bảo dự án đợc tiến
hành một cách thuận lợi.
* Thẩm định dòng tiền của dự án
Sau khi xem xét các giải trình về nhu cầu vốn, nguồn tài trợ cho dự án,
bớc tiếp theo ngân hàng phải xem xét tới các yếu tố thu, chi từ đó xác định
đợc dòng tiền của dự án. Thông thờng, ngân hàng thẩm định các yếu tố.
*Thẩm định doanh thu của dự án: Doanh thu của dự án bao gồm
doanh thu từ việc bán các sản phẩm chính; các sản phẩm phụ; phế liệu, phế
phẩm thu hồi; các dịch vụ cung cấp cho bên ngoài doanh thu của dự án
thờng đợc tính theo năm và đợc dựa vào kế hoạch sản xuất, tiêu thụ của chủ
dự án để xác định. Trong bớc này, cán bộ thẩm định xác định công suất huy
động dự tính của chủ dự án có chính xác hay không; khả năng tiêu thụ sản
phẩm; giá cả của sản phẩm bán ra; dựa vào định hớng phát triển của
ngành nghề và dự báo ảnh hởng của các yếu tố môi trờng.
* Thẩm định chi phí của dự án: Các chỉ tiêu phản ánh chi phí cũng đ-
ợc tính theo năm trong suốt vòng đời của dự án. Việc dự tính các chi phí đ-
ợc dựa trên kế hoạch sản xuất hàng năm, kế hoạch khấu hao, kế hoạch trả
nợ. Các cán bộ thẩm định xem xét tính đầy đủ của các loại chi phí, kế
hoạch trích khấu hao có phù hợp với chế độ của Bộ Tài Chính hay không
* Xác định dòng tiền của dự án: Trên cơ sở tính toán đợc các yếu tố
thu, chi hàng năm có thể xác định đợc mức lãi, lỗ qua các năm của dự án.
Tuy nhiên, đối với bất kì một dự án cụ thể nào các NHTM đặc biệt quan

tâm tới nội dung xác định dòng tiền. Từ đó NHTM mới có cơ sở về mặt tài
chính để đánh giá dự án một cách chính xác.
Trong phân tích tài chính dự án, việc xác định dòng tiền cần phải tính
toán chính xác dòng ra và dòng vào của dự án. Thu và chi của dự án đợc
xác định từ những thông tin trong các báo cáo thu nhập và chi phí của dự
10
án, song vấn đề là cần phân biệt giữa khoản thu và doanh thu, giữa chi phí
và khoản chi.
+ Xác định dòng chi phí: Cần phân biệt đợc giữa các chi phí và khoản
chi. Đối với chi phí, doanh nghiệp đã chấp nhận mua hàng hóa, dịch vụ nh-
ng có thể luồng tiền đi ra cha xuất hiện; còn các khoản chi thì doanh nghiệp
đã thực sự bỏ tiền, tức là đã có luồng ra xuất hiện. Chi phí mà chủ dự án
phải bỏ ra đầu tiên phải kể đến là chi phí cho máy móc, nhà xởng, trang
thiết bị (chi phí cho phần cứng), ngoài ra cũng phải tính đến các chi phí đi
kèm nh chi phí lắp đặt, vận chuyển, bảo hiểm, chi phí cho việc đào tạo công
nhân vận hành (chi phí cho phần mềm - chuyển giao công nghệ), chi phí
chạy thử
Trong việc tính toán chi phí cũng cần phải tính đến yếu tố chi phí cơ
hội, chi phí cơ hội đo lờng dòng tiền mặt thuần có thể đợc tạo ra nếu dự án
đợc bác bỏ. Khi tính toán các khoản chi cho máy móc và thiết bị, một dữ
kiện dễ bị bỏ qua là vốn luân chuyển cần cho vận hành công trình đầu t,
cũng phải đợc đa vào để tính toán chi phí đầu t. Nếu số luân chuyển đợc thu
hồi khi dự án ngng hoạt động thì dự án có giá trị ròng tại thời điểm cuối và
dữ kiện này cần phải đợc tính tới. Các chi phí chìm không nên coi là chi
phí để đa vào dòng tiền, bởi nó là những chi phí mà chủ dự án bỏ ra cho dù
dự án đó có đợc chấp nhận hay không. Mặt khác, chi phí khấu hao là một
chi phí khá quan trọng, trong báo cáo thu nhập của kế toán, khấu hao đợc
khấu trừ vào chi phí để xác định lợi nhuận trong kì, nhng nó là chi phí
không xuất quỹ, khấu hao chỉ là một yếu tố của chi phí làm giảm thuế nhu
nhập của doanh nghiệp. Do đó, khấu hao đợc coi nh là một nguồn thu nhập

của dự án. Ngoài ra, lãi vay vừa là khoản chi phí vừa là khoản chi tiêu bằng
tiền thật sự nhng lãi vay thì cũng không đợc đa vào dòng tiền vì lãi vay tợng
trng cho giá trị thời gian của tiền tệ và khoản này đã đợc tính bằng cách
chiết khấu dòng tiền tơng lai. Khấu trừ lãi vay vào luồng tiền tức là tính lãi
gấp đôi.
+ Xác định dòng thu nhập: Cần phân biệt đợc doanh thu và các khoản
thu. Doanh thu là giá trị của hàng hóa, dịch vụ đã đợc bán ra và ngời mua
tuyên bố chấp nhận mua hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, đối với các khoản đ-
ợc ghi nhận là doanh thu thì không xác định đợc ngời mua đã trả tiền hay
cha, còn đối với các khoản thu thì chắc chắn là doanh nghiệp đã thu đợc
tiền. Tức là doanh thu thì có thể cha xuất hiện luồng tiền đi vào doanh
nghiệp nhng đối với khoản thu thì chắc chắn vào doanh nghiệp đã xuất
hiện.
11
Trong dòng thu của dự án cũng cần phải đề cập tới giá trị còn lại của
thiết bị máy móc khi dự án kết thúc. Giá trị còn lại của một tài sản là giá trị
tài sản có thể bán đợc tại thời điểm dự án kết thúc. Bất kì một khoản tiền
thu đợc do bán tài sản đầu t mới lúc nó bị thải loại sẽ có ảnh hởng tới dòng
tiền trong kì cuối cùng, nó đợc coi nh là khoản thu nhập và đợc dùng làm cơ
sở tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Đối với dòng thu, cần phải xác định đ-
ợc chính xác cái gì mà chủ dự án nhận đợc sau khi dự án đi vào hoạt động.
Do đó, các khoản thu từ dự án cần phải loại bỏ thuế thu nhập để tính toán
dòng tiền đợc chính xác. Chính vì vậy, dòng tiền đợc sử dụng để tính toán
trong thẩm định dự án đầu t là dòng tiền sau thuế.
Nh vậy, có thể xác định đợc luồng tiền của dự án là chênh lệch giữa số
tiền nhận đợc và số tiền chi ra. Luồng tiền mặt không giống nh lợi nhuận
hay thu nhập. Thu nhập vẫn có thể thay đổi trong khi không có sự thay đổi
tơng ứng trong luồng tiền mặt. Trong thời gian đầu t vào nhà máy, các
khoản phải chi và hàng tồn kho, dòng tiền mặt của chủ đầu t có thể giảm
trong khi thu nhập lại tăng. Một trong những u điểm cơ bản của phơng pháp

phân tích theo luồng tiền mặt tránh đợc những khó khăn vớng mắc trong đo
lờng thu nhập.
Từ đó có thể tính dòng tiền của dự án nh sau:
Dòng tiền
ròng năm thứ
i
=
Lợi nhuận sau
thuế năm thứ i
+
Khấu
hao năm
thứ i
* Xem xét các chỉ tiêu tài chính
Để đánh giá tính khả thi về mặt tài chính của một dự án đầu t, ngời ta
thờng sử dụng bốn phơng pháp dựa trên cơ sở giá trị thời gian của tiền.
- Phơng pháp giá trị hiện tại ròng (NPV)
- Phơng pháp tỷ suất nội hoàn (IRR)
- Phơng pháp thời gian hoàn vốn (PP)
- Phơng pháp chỉ số doanh lợi (PI)
* Phơng pháp giá trị hiện tại ròng (NPV)
Giá trị hiện tại ròng của một dự án đầu t là số chênh lệch giữa giá trị
hiện tại của các luồng tiền ròng kỳ vọng trong tơng lai với vốn đầu t. Giá trị
hiện tại ròng đo trong phần giá trị tăng thêm dự tính mà dự án có thể đem
lại cho nhà đâu từ với mức rủi ro cụ thể của dự án. Khi NPV = 0 có nghĩa là
thu nhập chỉ vừa đủ bù đắp cho giá trị theo thời gian của tiền và rủi ro của
dự án.
Có thể xác định NPV của một dự án theo cách sau:
NPV = -C
0

+ C
1
(1+r)
-1
+ C
2
(1+r)
-2
+ + Cn
-1
(1+r)
-(n-1)

+ Cn

(1+r)
-n
12
= -C
0
+
n
C
i
(1+r)
I

I=1
Trong đó:
C

0
là khoản đầu t ban đầu
Ci là các khoản thu năm thứ i
r là tỷ lệ chiết khấu
n là số năm thực hiện dự án
Phơng pháp giá trị hiện tại ròng đợc xây dựng dựa trên giả định có thể
xác định tỷ suất chiết khấu thích hợp để tìm ra giá trị tơng đơng với thời
điểm hiện tại của một khoản tiền trong tơng lai. Việc xác định tỷ lệ chiết
khấu là một việc làm không đơn giản. Có thể hiểu tỷ lệ chiết khấu tơng ứng
với mức rủi ro mà chủ dự án có thể gặp phải. Khi mức rủi ro của dự án bằng
với mức rủi ro của chính sách tài trợ của doanh nghiệp thì tỷ lệ chiết khấu
bằng đúng với chi phí trung bình của vốn (WACC).
Khi sử dụng NPV nh là một tiêu chuẩn để ra quyết định đầu t chúng ta
cần phải chú ý đến hai tình huống: các dự án độc lập với nhau và các dự án
loại trừ nhau.
Trong trờng hợp các dự án đầu t độc lập thì tiêu chuẩn để chấp nhận
một dự án là dự án đó có NPV > 0, bác bỏ các dự án có NPV < 0. Các dự án
có NPV = 0 thì tùy thuộc vào tình hình của doanh nghiệp mà chấp nhận hay
bác bỏ dự án.
Trong thực tế nhiều khi doanh nghiệp phải lựa chọn trong số các dự án
loại trừ nhau, tức là khi doanh nghiệp chấp nhận một dự án thì buộc phải
loại bỏ các dự án còn lại. Trong trờng hợp nh thế doanh nghiệp sẽ chấp
nhận dự án nào có NPV lớn nhất.
Khi áp dụng phơng pháp này có những thuận lợi và khó khăn nh sau:
+ u điểm:
- NPV là một chỉ tiêu rất quan trọng khi ra quyết định đầu t, nó cho
biết quy mô giá trị tiền lời tại thời điểm hiện tại của một dự án là lớn hay
nhỏ, sau khi đã hoàn trả đủ vốn đầu t. Hay NPV là chỉ tiêu phản ánh hiệu
quả của vốn đầu t về phơng diện tài chính.
- Phơng pháp này giả định rằng những khoản thu nhập tạm thời đợc tái

đầu t với tỷ lệ sinh lời bằng với tỷ lệ chi phí sử dụng vốn.
- Quyết định chấp nhận hay bác bỏ dự án đầu t phù hợp với mục tiêu
tối đa hóa lợi nhuận của cổ đông.
+ Nhợc điểm:
13
- Chỉ tiêu NPV dựa vào tính chính xác của tỷ lệ chiết khấu. Tỷ lệ chiết
khấu càng lớn thì NPV càng nhỏ và ngợc lại. Do đó, lựa chọn tỷ lệ chiết
khấu một cách chính xác là một khó khăn rất lớn.
- Đối với các dự án có thời gian đầu t khác nhau thì việc so sánh NPV
của các dự án là một việc làm không chính xác.
*Phơng pháp tỷ suất nội hoàn (IRR)
Tỷ lệ nội hoàn (còn gọi là tỷ lệ hoàn vốn nội bộ) đo lờng tỷ lệ hoàn
vốn đầu t của một dự án. Về kĩ thuật tính toán, IRR của một dự án đầu t là
tỷ lệ chiết khấu mà tại đó NPV = 0.
Phơng pháp IRR dựa trên khái niệm giá trị hiện tại thuần. Nội dung
của nó xác định một tỷ suất chiến khấu sao cho giá trị hiện tại của số d
bằng tiền dự kiến thu đợc từ dự án đầu t bằng với giá trị hiện tại của số tiền
bỏ ra đầu t.
Cách tính IRR
+ Trong trờng hợp dự án đầu t có những luồng tiền qua các kỳ bằng
nhau. Để tính đợc IRR ta làm theo các bớc sau:
Cho IRR = r, và NPV = 0 ta có
n
C
i
(1+r)
-i

= C
0


I=1
hay PVIF (r,n). Ci = C
0
PVIF (r,n) = C
0
/ Ci
Trong đó: PVIF là hệ số hiện tại hóa.
Tiếp theo tính giá trị hiện tại của các khoản tiền không đổi trong tơng
lai theo lãi suất r, số kì hạn n; để lấy hai giá trị trên, dới, gần đúng với
C
0
/Ci.
Từ đó ta có đợc giá trị gần đúng của IRR theo công thức.
IRR = r
1
+
NPV
1
(r
2
- r
1
)
NPV
1
+
NPV
2


Trong đó: r
1
là lãi suất ứng với giá trị phía dới của C
0
/Ci
r
2
là lãi suất ứng với giá trị phía trên của C
0
/Ci
+ Trong trờng hợp dự án có những luồng tiền trong tơng lai không
bằng nhau, để tìm IRR ta áp dụng phơng pháp nội suy tuyến tính. Trớc hết,
ta tìm 2 tỷ lệ chiết khấu, một tỷ lệ sao cho NPV có giá trị âm, một tỷ lệ sao
cho NPV có giá trị dơng sau đó lại áp dụng các công thức nh trờng hợp ở
trên để tính toán.
14
Qua hai phơng pháp tính toán ở trên cho thấy IRR là tỷ suất nội hoàn
từ những khoản thu nhập của một dự án. Điều đó có nghĩa là nếu dự án chỉ
có tỷ lệ hoàn vốn IRR = r thì các khoản thu nhập từ dự án chỉ đủ để hoàn trả
phần gốc và lãi đã đầu t ban đầu vào dự án. Nó bằng chính mức lãi suất
tiền vay cao nhất là nhà đầu t có thể chấp nhận mà không bị thua thiệt nếu
toàn bộ số tiền đầu t cho dự án là vốn vay và nợ vay (cả gốc và lãi cộng
dồn) đợc trả bằng nguồn tiền thu đợc từ dự án đầu t mỗi khi chúng phát
sinh.
Giống nh phơng pháp NPV, sử dụng phơng pháp IRR cũng đợc xác
định cho hai tình huống đầu t. Nếu các dự án độc lập nhau, chúng đợc chấp
nhận khi dự án có IRR > r, trong trờng hợp các dự án loại trừ nhau, dự án đ-
ợc chấp nhận khi có IRR > r và lớn nhất.
Khi áp dụng phơng pháp IRR có thể gặp một số khó khăn cũng nh
thuận lợi sau:

Thuận lợi:
- Đo lờng bằng tỷ lệ phần trăm nên dễ dàng so sánh với chi phí sử
dụng vốn.
Khó khăn:
IRR biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm, trong khi đó tài sản đợc đo lờng
bằng tiền. Do đó, IRR của dự án không thể phản ánh một cách trực tiếp về
hình thức giá trị của tài sản.
- Phơng pháp IRR không đề cập đến độ lớn của dự án đầu t và không
giả định đúng tỷ lệ tái đầu t (coi tỷ lệ tái đầu t bằng đúng IRR)
Sử dụng hai phơng pháp NPV và IRR có thể đa đến cùng một quyết
định, nhng cũng có thể dẫn tới việc đa ra quyết định trái ngợc nhau, điều đó
tùy thuộc luồng tiền dự tính trong tơng lai, tỷ lệ chiết khấu và quy mô của
các dự án khác nhau. Trong trờng hợp có sự xung đột giữa phơng pháp NPV
và phơng pháp IRR là việc lựa chọn dự án theo phơng pháp NPV cần đợc
coi trọng hơn để đạt đợc mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của dự án đầu t.
* Phơng pháp chỉ số doanh lợi (PI)
Chỉ số doanh lợi là giá trị hiện tại của những khoản thu nhập trong t-
ơng lai chia cho số vốn đầu t ban đầu.
PI =
PV
P
Trong đó:
PV là thu nhập ròng hiện tại
P là vốn đầu t ban đầu
Đối với các dự án độc lập ngời ta chọn dự án có PI >= 0
15
Đối với các dự án loại trừ nhau thì các dự án có PI >= 0 là PI lớn nhất
Thuận lợi khi áp dụng phơng pháp này
- Thể hiện giá trị theo thời gian của tiền
- Quyết định từ chối, chấp nhận dự án phụ thuộc vào mục tiêu tối đa

hóa lợi nhuận của chủ sở hữu.
Khó khăn khi áp dụng phơng pháp này
- Phụ thuộc vào tỷ lệ chiết khấu.
- Không đo lờng trực tiếp tác động của dự án đầu t đối với lợi nhuận
của chủ sở hữu.
- Xếp hạng dự án không dựa trên mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của cổ
đông.
- Cũng nh IRR, PI không đánh giá đợc một cách trực tiếp sự khác biệt
về quy mô đầu t.
Tóm lại, cả ba phơng pháp đều bổ xung cho nhau và về căn bản không
có gì là trái ngợc nhau.
* Phơng pháp thời gian hoàn vốn (PP)
Thời gian hoàn vốn của một dự án là một trong các phơng pháp thờng
đợc sử dụng để đánh giá giá trị kinh tế của dự án đầu t. Thời gian hoàn vốn
của một dự án đầu t là độ dài thời gian để thu hồi toàn bộ khoản đầu t ban
đầu.
Nếu dự kiến dự án đầu t sẽ tạo ra chuỗi số d tiền mặt đều đặn từ năm
này qua năm khác trong suốt vòng đời của dự án thì thời gian hoàn vốn đợc
xác định bằng cách lấy tổng số tiền chi ra ban đầu chia cho số tiền thu đợc
của một năm. Cách tính này đợc gọi là cách tính thời gian hoàn vốn giản
đơn.
Theo phơng pháp đánh giá thời gian hoàn vốn, càng rút ngắn thời gian
hoàn vốn của một dự án đầu t càng tốt. Mặt khác các nhà quản trị còn thiết
lập chỉ tiêu thời gian hoàn vốn cần thiết và chỉ tiêu thời gian hoàn vốn tối
đa có thể chấp nhận đối với một dự án. Những dự án có thời gian hoàn vốn
dài hơn thời gian hoàn vốn tối đa cho phép sẽ bị loại bỏ và ngợc lại
Phơng pháp đánh giá theo thời gian hoàn vốn có nhiều nhợc điểm so
với phơng pháp trên, bao gồm.
- Khi đánh giá lựa chọn theo phơng pháp này ngời ta không chú ý một
cách đầy đủ tới phần thu nhập còn lại sau khi thu hồi hết phần vốn từ đó

dẫn tới không phản ánh đợc hết mức độ sinh lãi của dự án.
- Yếu tố rủi ro đối với luồng tiền trong tơng lai của dự án không đợc
xem xét, đánh giá.
16
- Yếu tố thời gian của tiền không đợc đề cập đến trong trờng hợp tính
thời gian hoàn vốn theo phơng pháp giản đơn.
- Xếp hạng các dự án không phù hợp với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
của chủ sở hữu.
Để khắc phục nhợc điểm không chú ý đến thời điểm phát sinh luồng
tiền của phơng pháp tính thời gian hoàn vốn giản đơn, ngời ta thiết lập ph-
ơng pháp tính thời gian hoàn vốn có tính đến yếu tố thời gian của tiền. Theo
phơng pháp này, các luồng tiền đa vào để tính đợc quy giá trị về thời điểm
hiện tại.
Ngoài việc sử dụng các phơng pháp trên, trong thực tế ngời ta còn kết
hợp với một số phơng pháp khác dựa trên một số các chỉ tiêu phân tích
khác.
Phơng pháp phân tích điểm hòa vốn
Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thu của dự án vừa đủ trang trải
cho các chi phí, tức là dự án không lỗ mà cũng không lãi. Nói một cách
khác, điểm hòa vốn chính là giao điểm của đờng biểu diễn doanh thu và đ-
ờng biểu diễn chi phí.
Nếu doanh thu đạt thấp hơn doanh thu tại điểm hòa vốn thì việc kinh
doanh bị lỗ, và nếu đạt cao hơn thì có lời.
Xác định điểm hòa vốn.
Ta có phơng trình doanh thu Y
1
= aX
Và phơng trình chi phí Y
2
= bX + c

Trong đó:
X: Số lợng sản phẩm bán ra
a: Giá bán 1 đơn vị sản phẩm
b: Biến phí cho một đơn vị sản phẩm
c: Tổng định phí
Tại điểm hòa vốn
Y
1
= Y
2
aX = bX + c X
=
c
a - b
Mà doanh thu đợc xác định bằng sản lợng nhân với giá bán nên ta có
doanh thu tại điểm hòa vốn đợc xác định nh sau:
Doanh thu tại điểm hòa vốn
=
Tổng định phí
Biến phí đơn vị sản phẩm
1 -
Giá bán một đơn vị sản phẩm
17
Điểm hòa vốn là một tiêu chuẩn có thể sử dụng cho nhiều mục đích
quản lý khác nhau. Tùy theo mục tiêu cần quản lý có thể có các loại điểm
hòa vốn khác nhau.
Điểm hoà vốn tiền tệ: Là điểm mà ở đó doanh nghiệp có tiền để trả nợ
vay. Lúc này trong định phí cần trừ đi chi phí khấu hao và chi phí thành lập
vì số tiền này có thể đợc sử dụng để trả nợ vay.
Những u và nhợc điểm khi áp dụng phơng pháp này.

u điểm:
Đa ra những chi tiêu về mức độ hoạt động tối thiểu để doanh nghiệp có
thể có đợc lợi nhuận. Đồng thời, biết đợc sản lợng hòa vốn là bao nhiêu,
chủ đầu t có thể đạt tới trong thời gian ngắn nhất.
Nhợc điểm:
Điểm hòa vốn không cho biết quy mô lãi ròng cũng nh hiệu quả một
đồng vốn bỏ ra.
Khi thẩm định tài chính dự án, ngân hàng phải kết hợp với các chỉ tiêu
trên, kết luận mang tính khái quát, tổng hợp nhng thờng dựa trên một số chỉ
tiêu có tần quan trọng. Tuy nhiên, kết luận chung phải linh hoạt, tùy theo
từng điều kiện cụ thể và có sự u tiên một khía cạnh nào đó của dự án.
Phân tích độ nhạy của dự án.
Phân tích độ nhạy là sự phân tích tình hình bất trắc rủi ro của dự án do
sự thay đổi của một hay nhiều yếu tố đầu vào (giá cả, chi phí đầu t ) ảnh h-
ởng đến NPV, IRR. Khi tính độ nhạy của dự án ngời ta thờng có các yếu tố
đầu vào biến đổi 1% để xem NPV, IRR thay đổi bao nhiêu %. Điều quan
trọng khi đánh giá độ nhạy của dự án là phải xác định đợc xu thế và mức độ
thay đổi của các yếu tố ảnh hởng. Về nguyên tắc, phơng pháp này bao gồm
ba bớc.
- Xác định các yếu tố dễ bị do do ảnh hởng của các nhân tố bên ngoài:
giá sản phẩm, sản lợng, chi phí, tỷ giá.
- Đo lờng % thay đổi của hiệu quả tài chính khi có sự thay đổi của các
yếu tố trên.
- Tính độ nhạy của dự án, đợc xác định theo công thức
% thay đổi của chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án
% thay đổi của các yếu tố đầu vào gây ra sự thay đổi
đó
Chỉ số nhạy cảm thờng mang dấu âm, trị tuyệt đối của chỉ số càng lớn
thì độ rủi ro của dự án càng lớn, do các yếu tố đầu vào quá biến động ảnh
hởng tới kết quả tài chính của dự án.

18
Phân tích độ nhạy của dự án giúp cho chủ đầu t và đơn vị cho vay vốn
khoanh đợc hành lang an toàn cho hoạt động của dự án. Tuy nhiên, phơng
pháp này cũng có hạn chế khi xem xét đồng thời nhiều yếu tố biến động.
Phân tích tình huống.
Phân tích tình huống là việc đánh giá kết quả của dự án trong các tr-
ờng hợp nhất định: tốt nhất (giá bán sản phẩm cao nhất), xấu nhất và so
sánh với các trờng hợp dự tính. Mỗi một tình huống gắn với một xác suất có
thể xảy ra. Tính các chỉ tiêu hiệu quả tài chính tơng ứng và độ lệch chuẩn
của từng chỉ tiêu.
1.3 Chất lợng thẩm định tài chính dự án đầu t và các nhân tố ảnh
hởng.
1.3.1 Chất lợng thẩm định tài chính dự án đầu t
Khi tìm hiểu thế nào là chất lợng thẩm định, một câu hỏi đặt ra là chất
lợng là gì? Chất lợng là một khái niệm trừu tợng, không dễ dàng để có thể
định lợng một cách chính xác. Chất lợng của một công việc cụ thể có thể đ-
ợc định nghĩa là mức độ tốt, xấu, chính xác, hay mức độ đạt đến tiêu chuẩn
của công việc.
Cũng nh thế, chất lợng thẩm định tài chính dự án đầu t là một khái
niệm trừu tợng, không thể định lợng, tùy từng đối tợng, đứng trên giác độ
khác nhau thì chất lợng của thẩm định đợc đánh giá khác nhau.
Đối với NHTM, chất lợng thẩm định tài chính dự án đầu t có thể đợc
đánh giá dựa trên ba khía cạnh.
Một là, mức độ khoa học, chính xác, toàn diện của các kết quả của
việc tính toán, xem xét trên các phơng diện phân tích nh kế hoạch vốn,
nguồn tài trợ, dòng tiền của dự án, các chỉ tiêu hiệu quả tài chính
Hai là, tính chính xác của các dự đoán của chủ dự án tức là đánh giá
mức độ chính xác của các nhân tố môi trờng ảnh hởng tới dự án nh nhu cầu
thị trờng khi dự án cha đi vào thực hiện, định hớng phát triển của ngành,
các cam kết của chính phủ

Ba là, các nhân tố khác nh sự thuận tiện trong công tác thẩm định
hay là các nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng.
Thẩm định một dự án đầu t đợc coi là có chất lợng khi qua quá trình
xem xét, đánh giá, cũng nh phân tích các dữ liệu trên hồ sơ của chủ dự án
trình lên NHTM, NHTM có thể phát hiện đợc những điểm cha phù hợp mà
chủ đầu t không phát hiện ra hay cố tình không phát hiện ra. Từ đó, có
thể thuyết phục chủ đầu t có kế hoạch thay đổi dự án của mình cho phù
hợp. Cùng với việc đa ra quyết định hợp lý, chính xác, ngân hàng sẽ chỉ tài
19
trợ cho những dự án khả thi và có khả năng đảm bảo an toàn tài trợ của
ngân hàng.
Ngợc lại, khi chất lợng thẩm định dự án của ngân hàng không cao thì
sẽ dẫn đến hiệu quả là ngân hàng có những quyết định sai lầm. Đối với các
khoản cho vay đó khi đi vào hoạt động rất dễ rây ra những hiệu quả khó l-
ờng có thể chúng sẽ bị biến thành những khoản khó đòi, hay thậm chí là
không thu hồi đợc vốn.
Chất lợng thẩm định tài chính dự án đầu t là một trong những nhân tố
có tính quyết định đối với chất lợng tín dụng. Vậy, để hoạt động thẩm định
tài chính dự án đầu t đạt chất lợng cao thì cần phải chú ý đến những nhân tố
gì?
1.3.2. Các nhân tố ảnh hởng tới chất lợng thẩm định tài chính dự án.
Bất cứ một hoạt động nào cũng đều chịu sự ảnh hởng của các nhân tố
cả tích cực lẫn tiêu cực. Bởi vậy, để hoạt động tẩm định của một ngân hàng
đợc tiến hành một cách trôi chảy, cần phải xét tới các nhân tố ảnh hởng.
Các nhân tố này bao hàm hai nhóm sau: nhóm nhân tố chủ quan và nhóm
nhân tố khách quan.
1.3.2.1. Nhóm nhân tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan có ảnh hởng tới chất lợng thẩm định dự án đầu t
là các nhân tố nội tại, có thể ảnh hởng một cách tích cực hay tiêu cực tới
chất lợng thẩm định. Các nhân tố này hoàn toàn có thể đợc phát huy hay

triệt tiêu hay nói cách khác là nó có thể đợc điều chỉnh và kiểm soát đợc.
Các nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng có thể đợc kể đến nh sau:
Trình độ cán bộ thẩm định
Trong bất kì lĩnh vực nào của đời sống xã hội, con ngời luôn là nhân tố
có tính chất quyết định đối với mọi sự thành công. Ngay cả trong một lĩnh
vực đợc trang bị máy móc hiện đại nhng không thể thiếu vắng con ngời
điều khiển những cỗ máy hiện đại đó. Trong thẩm định dự án nói chung và
thẩm định tài chính nói riêng vai trò của nhân tố con ngời cũng vậy. Con
ngời ở đây đợc hiểu là các cán bộ thẩm định. Kết quả thẩm định dự án đầu
t nói chung và thẩm định tài chính nói riêng là kết quả của những đánh giá,
xem xét một cách kĩ lỡng trên nhiều góc độ khác nhau, với các tình huống
khác nhau và dựa trên các cơ sở khoa học.
Đối với hoạt động thẩm định, con ngời đóng vai trò trung tâm là nơi
liên kết, phối hợp các nhân tố. Con ngời đã đa ra quy trình thẩm định, xác
định các phơng pháp đợc sử dụng trong quá trình đánh giá và ra quyết định.
20
Nhờ vào việc sử dụng những kiến thức đã đợc trang bị để tiến hành thực
hiện các phân tích qua đó đánh giá đợc dự án một cách có căn cứ khoa học.
Công việc thẩm định có phải là công việc chỉ tính toán theo những quy
trình sẵn có, là công việc nhàm chán và không sáng tạo? Hoàn toàn trái ng-
ợc với nhận định trên, tuy quá trình thẩm định phải theo một quy trình
thống nhất đã đợc quy định từ trớc nhng đây là một côn việc có tính khoa
học cao, nó đòi hỏi cán bộ thẩm định không ngừng phải học hỏi, tích lũy
kiến thức trong sách vở cũng nh trong cuộc sống. Bởi vì, công tác thẩm
định không chỉ đòi hỏi kiến thức về nghiệp vụ thẩm định mà hơn thế nữa nó
đòi hỏi mỗi cán bộ thẩm định phải tích lũy kinh nghiệm không chỉ kiến
thức sách vở mà còn cả kiến thức kinh tế - xã hội - khoa học, từ đó mới có
thể đa ra đợc những đánh giá mang tính khoa học và thực tiễn cao.
Nh vậy, vai trò của cán bộ thẩm định đối với công tác thẩm định tài
chính dự án đầu t là nhân tố có tính quyết định. Tuy nhiên, đối với những

cán bộ có năng lực còn hạn chế hoặc là những cán bộ không trong sáng về
đạo đức thì có thể tạo ra những sai lầm, từ đó dẫn đến những đánh giá sai
lệch về tính hiệu quả của dự án dẫn tới những hậu quả khó lờng mà ngân
hàng phải gánh chịu.
Quy trình thẩm định
Quy trình thẩm định bao gồm nội dung, phơng pháp và trình tự tiến
hành thẩm định đợc quy định một cách thống nhất, là căn cứ để cho cán bộ
thẩm định có thể tiến hành một cách khách quan, khoa học.
Nội dung thẩm định đầy đủ, chi tiết giúp cho việc đa ra quyết định tài
trợ đợc chính xác dựa trên những đánh giá toàn diện các mặt của dự án. Ph-
ơng pháp thẩm định bao gồm các chỉ tiêu đánh giá từ đó có thể xác định
tính hiệu quả của phơng án.
Quy trình và phơng pháp có ảnh hởng rất lớn tới chất lợng thẩm định
tài chính dự án đầu t. Một quy trình thẩm định phù hợp khách quan và khoa
học là cơ sở đảm bảo chất lợng của công tác này. Ngợc lại một quy trình
thẩm định không khoa học, bất hợp lí, sơ sài chắc chắn sẽ dẫn tới kết quả
thẩm định tài chính không cao và ngân hàng khó có thể dựa vào đó để đa ra
quyết định tài trợ đúng đắn và chính xác.
Nhân tố thông tin
Trớc khi làm bất cứ một công việc gì yêu cầu đầu tiên là phải có thông
tin, chẳng hạn đặc điểm của công việc đó là gì, yêu cầu đối với công việc,
các yếu tố thuộc về đối tợng công việc thông tin là nguyên liệu đầu vào
cho bất cứ một quá trình phân tích nào. Trong thẩm định tài chính cũng vậy,
21
thông tin luôn là một đòi hỏi mang tính sống còn đối với quá trình ra quyết
định. Bên cạnh thông tin mà chủ dự án cung cấp qua hồ sơ xin tài trợ, ngân
hàng cần phải tiếp cận các nguồn thông tin khác có thể đa ra đợc những
nhận xét mang tính chính xác và tổng thể.
Cán bộ thẩm định phân tích những thông tin đã đợc thu thập. Vì vậy,
thông tin chính xác là yêu cầu rất quan trọng, việc phân tích thông tin

không chính xác cũng giống nh là không phân tích thông tin. Đánh giá dự
án trong tình trạng thông tin không đầy đủ cũng có thể đa ra những quyết
định sai lầm nh trong trờng hợp thông tin bị sai lệch. Một đòi hỏi nữa trong
việc cung cấp thông tin là thông tin phải đợc cung cấp một cách nhanh
chóng và kịp thời, vì nếu thông tin không kịp thời có thể dẫn tới việc ra
quyết định chậm trễ dẫn tới hậu quả là bỏ lỡ cơ hội kinh doanh của ngân
hàng cũng nh của khách hàng.
Do đó, yêu cầu thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác là một đòi hỏi cấp
thiết đối với quá trình ra quyết định tài trợ.
Nhân tố trang thiết bị công nghệ
Là nhan tố phụ trợ, hỗ trợ cho công tác thẩm định trong việc tính toán,
lu trữ, xử lí thông tin
Trang thiết bị tốt có tác dụng làm cho công việc của các cán bộ thẩm
định đợc tiến hành nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm thời gian, giảm thiểu
đợc những rủi ro bỏ qua đợc những sai sót không đáng có trong quá trình
xử lí.
Tổ chức điều hành
Là việc bố trí sắp xếp quy định trách nhiệm, quyền hạn của mỗi cá
nhân, bộ phận trong việc thực hiện công việc. Nhân tố này ảnh hởng một
cách gián tiếp tới chất lợng của công tác thẩm định. Việc bố trí sắp xếp hợp
lí sẽ giúp cho các cá nhân có thể phát huy đợc mặt mạnh của mình đồng
thời hạn chế đợc mặt yếu, dẫn tới công việc đợc tiến triển một cách nhịp
nhàng, trôi chảy.
1.3.2.2. Các nhân tố khách quan
Là các nhân tố từ bên ngoài tác động đến mà chủ thể không có thể chủ
động điều chỉnh đợc mà chỉ có thể tìm cách hạn chế hay kích thích và thích
nghi với chúng mà thôi.
Các nhân tố môi trờng
Các nhân tố môi trờng bao gồm các yếu tố từ môi trờng kinh tế và môi
trờng pháp luật.

22
Môi trờng kinh tế có tác động tới chất lợng thẩm định theo nhiều khía
cạnh. Một môi trờng kinh tế phát triển ổn định với cơ chế quản lý đồng bộ,
hiệu quả hay nói cách khác chính là sự phát triển của nền kinh tế sẽ có tác
động tới tính công khai về thông tin trong nền kinh tế, với ý nghĩa là mức
độ công khai hóa thông tin và độ tin cậy của thông tin đợc cung cấp. Khi
môi trờng thông tin là hoàn hảo thì nó có tác động rất tích cực đến chất lợng
của việc xử lí thông tin vì nh ở trên đã đề cập thì xử lí thông tin không
chính xác thì cũng nh là không làm gì cả. Ngợc lại, nếu môi trờng kinh tế
kém phát triển, các cơ chế chính sách cha đợc hoàn thiện, hoạt động đầu t
chứa nhiều yếu tố rủi ro tiềm ẩn thì chắc chắn các cán bộ thẩm định không
thể đa ra kết luận chính xác.
Môi trờng pháp luật có thể đợc hiểu là các văn bản pháp luật quy định
có liên quan tới công tác thẩm định. Môi trờng pháp luật lành mạnh có ý
nghĩa rất lớn. Ngợc lại, một môi trờng pháp lý không lành mạnh, thiếu đồng
bộ, đan xen chồng chéo lẫn nhau giữa văn bản này với văn bản khác và
không rõ ràng trong các quy định về định mức kinh tế kỹ thuật sẽ làm cho
công tác thẩm định gặp nhiều khó khăn.
Các nhân tố từ phía chủ dự án
Chủ đầu t là một nhân tố không thể bỏ qua khi xem xét các nhân tố tác
động bởi vì việc chủ đầu t có trung thực hay không khi trình hồ sơ xin tài
trợ có ảnh hởng rất lớn tới chất lợng của công tác này. Các thông tin đợc
cung cấp bởi chủ dự án là cơ sở ban đầu để cán bộ thẩm định xem xét đánh
giá, nếu thông tin đợc cung cấp trong hồ sơ không trung thực thì có thể ảnh
hởng tới tính chính xác của việc đánh giá tính hiệu quả của dự án. Vậy nên,
bất cứ nỗ lực nào của chủ dự án nhằm cố tình hay vô ý che dấu thông tin
đối với cán bộ thẩm định đều có ảnh hởng tiêu cực. Do đó, yêu cầu thông
tin mà chủ dự án đa ra phải trung thực, chính xác, đồng thời là yêu cầu
không thể thiếu đợc đối với chất lợng của công tác thẩm định. Mặt khác,
khi dự án đợc chấp nhận tài trợ của Ngân hàng một số vấn đề khá bức xúc

hiện nay là chủ dự án không thực hiện những cam kết khi xin vay vốn nh sử
dụng vốn sai mục đích
Chơng 2:Thực trạng chất lợng công tác thẩm định tài
chính dự án đầu t trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
ngoại thơng Việt Nam
2.1. Khái quát về ngân hàng ngoại thơng Việt Nam
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam tiền thân là cục Quản lý Ngoại hối
thuộc Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam, đợc thành lập ngày 10 tháng 04 năm
1963. Ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam, tên giao dịch quốc tế
23
vietcombank (Bank for Foreign Trade of Vietnam - VCB) đợc thành lập với
mục đích chủ yếu là phục vụ các hoạt động kinh tế đối ngoại.
Từ năm 1988 trở về trớc Ngân hàng Ngoại thơng là Ngân hàng duy
nhất thực hiện chức năng của một trung tâm thanh toán quốc tế, phục vụ
quan hệ đối ngoại thông qua các nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán quốc tế và
thực hiện những khoản vay nợ, tiếp nhận viện trợ của các nớc, các tổ chức
tài chính quốc tế.
Ngày 21/9/1996, Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc kí quyết định số
286QĐ-NH5 thành lập tại Ngân hàng Ngoại thơng theo mô hình Tổng
Công ty 90 (theo QĐ90 của Thủ tớng Chính phủ ngày 7/3/1994).
Ngân hàng Ngoại thơng đã phát triển một mạng lới chi nhánh trong n-
ớc rộng lớn và có một số chi nhánh ở nớc ngoài. Bên cạnh đó, VCB đã mở
rộng thị trờng của mình thông qua liên doanh với một số Ngân hàng, tập
đoàn Tài chính lớn trên thế giới, hoặc có các cổ phần tại các ngân hàng th-
ơng mại cổ phần.
VCB có quan hệ mạng lới đại lý lâu đời, rộng lớn và đa dạng. Đến
năm 2000, ngân hàng đã có quan hệ đại lý hơn 1000 Ngân hàng tại 85 quốc
gia trên thế giới, trong đó VCB có hàng trăm tài khoản mở tại các ngân
hàng nớc ngoài bằng nhiều loại ngoại tệ chuyển đổi khác nhau nh USD,

Yên Nhật, Bảng Anh có quan hệ trao đổi tiền mặt với 3 Ngân hàng, 4 tổ
chức thẻ tín dụng hàng đầu thế giới.
Với hệ thống máy rút tiền tự động (ATM - Automated Teller Machine),
hệ thống thanh toán qua mạng máy tính toàn cầu SWIFT và với chủ trơng
không ngừng đổi mới và phát triển, VCB đợc biết đến nh một Ngân hàng
lớn, hiện đại và có uy tín trên thị trờng tài trợ cho hoạt động thanh toán xuất
nhập khẩu, kinh doanh ngoại hối trong số các Ngân hàng Thơng mại quốc
doanh ở Việt Nam.
2.1.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ngoại thơng
Việt Nam
Các hoạt động cụ thể của Ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam đợc tóm
tắt nh sau:
Nguồn vốn
Tổng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thơng đến cuối năm 2001 đạt
77.594 tỷ đồng (quy ra VND), tăng 16,5% so với cuối năm 2000 - thấp xa
so với mức tăng 45,3% của năm 2000 và chỉ đạt 97,9% kế hoạch đề ra.
24
Bảng 2.1. Tỷ trọng vốn nội tệ và vốn ngoại tệ trong tổng nguồn vốn
năm 2001
Đơn vị: Tỷ VND, triệu USD
VND Ngoại tệ (USD) Quy VND
12/2000 17.389 3.395 66.618
Tỷ trọng 26,1% 73,9% 100%
12/2001 20.716 3.771 77.594
Tỷ trọng 26,7% 73,3% 100%
Cơ cấu nguồn vốn
Vốn điều lệ và các quỹ đến cuối năm 2001 đạt 1.906 tỷ quy đồng, tăng
3,6% so với cuối năm 2000, chiếm 2,5% tổng tài sản.
Đến cuối 12/2001 nguồn vốn huy động của VCB đạt 71.110 tỷ quy
VND, hiếm 1,6% trong tổng nguồn vốn, tăng 18,1% so với cuối năm 2000.

Nguồn vốn huy động trực tiếp từ nền kinh tế (thị trờng 1) đến cuối
năm 2001 đạt 58.576 tỷ quy VND, chiếm tỷ trọng 82,4% vốn huy động từ
hai thị trờng. Nguồn vốn này trong năm tăng 20,3% - thấp hơn so với tốc độ
tăng trởng chung của toàn ngành ngân hàng (24%). Vốn huy động từ các tổ
chức kinh tế đạt 33.499 tỷ quy VND, chiếm 57,2% vốn huy động từ thị tr-
ờng 1 và tăng 21,1%. Vốn huy động từ dân c đến cuối năm 2001 đạt 25.078
tỷ quy VND, tăng 19,1%.
Nguồn vốn huy động từ NHNN, NSNN và các tổ chức tín dụng (thị tr-
ờng 2) là 12.533 tỷ quy VND, tăng 8,9% so với năm 2000, nguồn vốn này
chiếm 17,6% vốn huy động từ hai thị trờng.
Một nét nổi bật là tỷ trọng tiền gửi có kì hạn tổng tiền gửi (của khách
hàng và của NHNN, TCTD, KBNN) đã tăng lên (1998: 46,35%; 1999:
44,17%; 2000: 52,85%). Điều này có tác dụng tốt đến việc chủ động trong
dự trữ tiền tệ, tránh đợc những rủi ro về thanh khoản của ngân hàng.
Sử dụng nguồn vốn
Về cơ cấu sử dụng vốn: Đến hết tháng 12/2001, tổng sử dụng vốn đạt
77.594 tỷ quy ra VND, tăng 16,5% so với năm 2000, cụ thể.
- Sử dụng vốn trên thị trờng 1 (các hoạt động cấp tín dụng, đầu t ) đạt
16.475 tỷ, tăng 5,4% và chiếm tỷ trọng thấp trong tổng sử dụng vốn
(21,2%). D nợ tiền đồng đạt 10.589 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 64.2% sử dụng
vốn trên thị trờng 1, tăng 15,3%, trong khi đó d nợ ngoại tệ giảm 12,3%.
- Sử dụng vốn trên thị trờng 2 chiếm tỷ trọng 70,4% trong tổng sử
dụng vốn - tăng so với mức 65,2% vào cuối năm ngoái, đạt 54.592 tỷ.
- Sử dụng vốn khác đạt 2.347 tỷ, giảm 3,2% so với năm ngoài (2000).
25

×