Tải bản đầy đủ (.docx) (89 trang)

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG ÁTLÁT GIÁO KHOA LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG II: CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI (1918- 1939) LỚP 11 THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.01 MB, 89 trang )

1
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện đề tài khóa luận, em xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn
Thị Thế Bình, các thầy cô giáo tổ phương pháp dạy học khoa Lịch sử, trường
Đại học Sư phạm Hà Nội. Sự đóng góp, hướng dẫn tận tình của thầy cô đã
giúp em hoàn thành đề tài khóa luận.
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới bố mẹ cùng gia đình, bạn bè, người
thân đã luôn cổ vũ, động viên và tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa
luận của mình.
Mặc dù bản thân đã nỗ lực, cố gắng nhưng khóa luận không tránh khỏi
những thiếu sót. Vì vậy, em kính mong nhận được sự nhận xét và góp ý của
các thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 04 năm 2014
Tác giả khoá luận
Nguyễn Kim Thùy
2
MỤC LỤC
PHỤ LỤC
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Mỗi học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường đều hướng tới một mục
đích là tu dưỡng, rèn luyện, vì ngày mai lập nghiệp. Việc đào tạo một công
dân có tri thức và đạo đức đáp ứng nhu cầu xã hội là nhiệm vụ chiến lược của
mỗi trường phổ thông. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác
định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện
đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế" và "Phát triển nhanh
nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc
đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân"[31;12].
Bộ môn lịch sử với tư cách là một bộ môn khoa học xã hội có ưu thế


trong việc góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo với việc cung cấp cho học
sinh những kiến thức cơ bản có hệ thống về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới.
Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông góp phần hình thành những yếu tố của
con người mới, những con người có ý thức và đạo đức, có trình độ văn hóa
phổ thông và hiểu biết kĩ thuật, có kĩ năng lao động cần thiết, có óc thẩm mĩ.
Trước đòi hỏi ngày càng cao của xã hội, việc giảng dạy bộ môn lịch sử
ở trường phổ thông vẫn còn nhiều tồn tại, chất lượng dạy học ở trường phổ
thông nói chung và bộ môn lịch sử nói riêng so với trước đây bị giảm sút đi
nhiều. Thực tế dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay vẫn còn không ít
giáo viên lên lớp “chay”, chỉ cung cấp kiến thức bài học mà không chú trọng
đến vấn đề khai thác các tranh, ảnh, bản đồ, đồ dùng dạy học khác.Nguyên
nhân của vấn đề trên là do sự hạn chế về các loại tranh ảnh, các loại bản đồ ở
các trường học, như hệ thống bản đồ treo tường còn thiếu; bản đồ trong sách
giáo khoa lịch sử cũng rất khiêm tốn so với nội dung, yêu cầu dạy học…Đặc
biệt, Átlát lịch sử chưa được ban hành, mà chỉ có một tập bản đồ theo chuyên
đề khác nhau.
4
Vậy phải làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường
phổ thông? Đó là một việc làm khó, đòi hỏi giáo viên có những cố gắng, quan
tâm và sáng tạo để nâng cao chất lượng dạy học. Vai trò và trách nhiệm của giáo
viên trong giảng dạy lịch sử có ý nghĩa quan trọng. Muốn đáp ứng được nhu cầu
giảng dạy, ngoài việc hiện đại hóa nội dung và cải tiến phương pháp dạy học
phải tạo ra một hệ thống đồ dùng trực quan hoàn chỉnh. Việc khai thác, sử dụng
các hình ảnh trực quan trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông là một yêu cầu
cần thiết trong dạy học bộ môn. Bởi vì kiến thức lịch sử là những sự kiện đã xảy
ra trong quá khứ, người học không thể trực tiếp quan sát sự kiện. Vì vậy, trong
giảng dạy để dựng lại bức tranh của lịch sử, giáo viên phải vận dụng nhiều biện
pháp khác nhau như tạo biểu tượng, sơ đồ hóa, trực quan…

Trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay, các giáo viên đã

rất chú trọng đến việc sử dụng kênh hình để hướng dẫn học sinh học tập môn
Lịch sử, những thiết bị đang được sử dụng rộng rãi là: bản đồ treo tường, lược
đồ, tranh ảnh, niên biểu, sơ đồ…Những năm gần đây, do tiến bộ của khoa học
kĩ thuật và công nghệ hiện đại đã cung cấp cho ngành Giáo dục nhiều phương
tiện tiên tiến khoa học như: máy vi tính, máy chiếu, băng đĩa hình, hình ảnh
trên mạng Internet…giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy. Do đó, nhiều giáo
viên không quan tâm tới việc có một cuốn Átlát lịch sử. Nhưng nếu ta chỉ chú
trọng sử dụng các phương tiện hiện đại, học sinh không thể đủ điều kiện tiếp
cận được với những phương tiện này khi ra khỏi lớp, khả năng tư duy độc lập
sẽ bị hạn chế. Song nếu có một cuốn Átlát sẽ giúp các em chủ động tiếp thu
những kiến thức theo nội dung bài học, ít phải ghi nhớ máy móc, sử dụng tiện
lợi, vì trong đó có đủ những thông tin để học sinh có thể tái hiện được bức
tranh quá khứ và còn nắm được bản chất, hiểu và vận dụng vào thực tại. Khi
sử dụng quen Álát thì lúc tiếp xúc với bản đồ to các em sẽ đỡ bỡ ngỡ, thông
thạo hơn kĩ năng phân tích số liệu, làm việc với bản đồ để khai thác kiến thức.
Bên cạnh đó, sách giáo khoa lịch sử có những hạn chế cần sửa đổi. Đó
là có nhiều kiến thức, sự kiện khô khan, vấn đề lịch sử mang tính hàn lâm,
5
trừu tượng với kênh chữ nhiều hơn kênh hình. Chỉ học trong sách giáo khoa
mà không có một tài liệu tham khảo bổ trợ ở ngoài sẽ làm cho học sinh tiếp
thu kiến thức lịch sử một cách khó khăn hơn. Môn Địa lí có Átlát Địa lí có vai
trò không thể thiếu trong việc học tập địa lí, nhất là rèn luyện kĩ năng thực
hành của học sinh thì một cuốn Átlát lịch sử nếu được thiết kế sẽ phục vụ đắc
lực cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh.
Qua những nhận thức về vai trò, tác dụng của Át lát lịch sử nói trên,
chúng tôi đưa ra những ý tưởng để xây dựng và sử dụng một cuốn Átlát lịch
sử; và vận dụng vào một phần cụ thể. Đó là chương II: “Các nước tư bản chủ
nghĩa giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939)” lớp 11 THPT (chương
trình chuẩn).
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ lâu, Átlát đã là khái niệm quen thuộc trong khoa học địa lí, trong
lĩnh vực sử học có đưa ra những khái niệm về “Átlát giáo khoa lịch sử” nhưng
hiện nay chưa có bộ Átlát lịch sử. Nhưng những tài liệu, tác phẩm lí luận dạy
học bộ môn và một số đề tài luận văn đã là những gợi mở quan trọng để xây
dựng nên Átlát lịch sử:
* Tài liệu của các nhà nghiên cứu thế giới:
Trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bản đồ học và
Átlát. D.N.Anutrin nhà địa lí học người Nga có viết: “Mức độ hiểu biết của
một nước được xác định bằng mức độ hoàn thiện của các bản đồ mà nước đó
có”[1;21]. Bản đồ được nghiên cứu từ rất sớm và được sử dụng rộng rãi trong
nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhiều công trình nghiên cứu về lí luận,
phương pháp xây dựng bản đồ và Átlát dùng trong trường học được đề cập
trong các tác phẩm của: K.A. Xalisev (1986) “Nhập môn bản đồ học”, Borden
D. Dent (1999) “Cartorgraphy Thematic Map Design” (Thiết kế bản đồ
chuyên đề)…Nội dung của các tác phẩm trên đây đã trình bày tương đối đầy
đủ về lí luận và phương pháp thành lập bản đồ và Átlát, V.S. Tikunov (1997)
“Mô hình hóa trong bản đồ kinh tế- xã hội”, Terry Slocum (1999) “Thematic
6
cartography” (Bản đồ chuyên đề), A.M. Berliant (2004) “Phương pháp
nghiên cứu bằng bản đồ”, K.A. Xalisev (2005), “Bản đồ học”. Tất cả các tác
giả đều nhấn mạnh vào vai trò to lớn của việc sử dụng bản đồ trong nghiên
cứu và giảng dạy địa lí. Bên cạnh việc xây dựng bản đồ bằng phương pháp
truyền thống, các tác giả đã trình bày công tác tự động hóa trong việc thành
lập bản đồ.
* Tài liệu của các nhà phương pháp dạy học địa lí Việt Nam:
Việc xây dựng một Átlát giáo khoa lịch sử có liên quan đến vấn đề sử
dụng bản đồ giáo khoa trong dạy học địa lí. Xin nêu những nguồn tài liệu có
liên quan sau đây:
Bài viết: “Phương pháp hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ cho học
sinh phổ thông cơ sở” của tác giả Đặng Văn Đức (thông báo khoa học, ĐHSP,

Hà Nội 1996) tuy viết cho lĩnh vực dạy học địa lý song đã gợi mở ra những
biện pháp hữu ích có thể vận dụng vào xây dựng Átlát giáo khoa lịch sử.
Cuốn “Phương pháp dạy học địa lí theo hướng tích cực” (NXB ĐHSP
Hà Nội, 2003) có một số vấn đề làm cơ sở so sánh của đề tài, đặc biệt là phần
phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ theo hướng phát
huy tính tích cực của học sinh.
Ngoài ra, các luận văn, luận án khoa học địa lí, tiêu biểu là: “Một số
vấn đề về lý thuyết và thực tiễn trong xây dựng bản đồ giáo khoa địa lí (ở
trường PTTH ở Việt Nam)”của Ngô Đạt Tam - luận án PTS- ĐHSPHN, 1987.
* Tài liệu của các nhà phương pháp dạy học lịch sử Việt Nam:
Có thể nói rằng, việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử
được các nhà giáo dục lịch sử Việt Nam quan tâm từ lâu. Cho đến nay, tác giả
đã tiếp cận được những công trình, bài viết chủ yếu liên quan đến đề tài:
Trước hết là cuốn “Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử” (NXB
Giáo dục, Hà Nội, 1975) của tác giả Phan Ngọc Liên, Phạm Kỳ Tá đã đề cập
khá căn bản về phân loại, phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan có tính
chất phổ biến trong dạy học lịch sử, trong đó bản đồ lịch sử nói chung, Átlát
7
giáo khoa lịch sử nói riêng được đề cập tới. Tuy nhiên, vì xuất bản từ những
năm 70 của thế kỉ XX, do điều kiện cụ thể lúc đó, nên các tác giả mới chỉ
nhắc tới Átlát giáo khoa lịch sử về định nghĩa cơ bản trên lý thuyết mà chưa
có đi sâu vào thiết kế, ứng dụng Átlát vào thực tiễn dạy học lịch sử.
Giáo trình “Bản đồ giáo khoa (sách dùng cho sinh viên khoa Lịch sử)”
của tác giả Lâm Quang Dốc (NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 1997) đã đề cập
những vấn đề cơ bản về khái niệm, đặc điểm, tính chất, cách sử dụng và xây
dựng các loại bản đồ giáo khoa trong dạy học lịch sử, trong đó có đề cập tới
Át lát lịch sử. Tuy nhiên, giáo trình do tác giả chuyên gia bản đồ học của khoa
Địa lí viết nên vấn đề về phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa lịch sử nói
chung, Átlát giáo khoa lịch sử nói riêng còn chưa được phân tích sâu sắc, còn
thiếu yếu tố “lịch sử”, nhiều khi quá nặng về bản đồ học của khoa học địa lí.

Tiếp theo, phải kể đến các giáo trình phương pháp dạy học lịch sử: một
là giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” (NXB ĐHSP, Hà Nội, tái bản lần
1 năm 1998) của Trần Văn Trị và Phan Ngọc Liên; hai là, giáo trình “Phương
pháp dạy học lịch sử” (2 tập, NXB ĐHSP, Hà Nội, 2002 và tái bản có sửa
chữa năm 2009) của nhóm tác giả Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình
Tùng, Nguyễn Thị Côi đã dành dung lượng khá lớn đề cập tới biện pháp sử
dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử, trong đó có biện pháp sử dụng
bản đồ giáo khoa lịch sử, nhưng về Átlát giáo khoa lịch sử mới chỉ dừng lại ở
định nghĩa; ba là, giáo trình “Hệ thống phương pháp dạy học lịch sử ở trường
THCS” (NXB ĐHSP Hà Nội, 2005) do Trịnh Đình Tùng chủ biên đề cập tới
hệ thống đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử khá chi tiết, đầy đủ, gồm hệ
thống các đồ dùng trực quan truyền thống và đồ dùng trực quan hiện đại.
Trong đó, có nói tới Átlát giáo khoa lịch sử.
Trong đề tài cấp Bộ “Bản đồ lịch sử cải cách giáo dục ở trường phổ
thông” (mã số B93-24-1C-53) do PGS.TS Trịnh Đình Tùng chủ nhiệm, các
tác giả đã đề cập một cách căn bản cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của vấn đề sử
dụng bản đồ giáo khoa, có nói tới Átlát giáo khoa lịch sử.
8
Bài viết “Sử dụng bản đồ lịch sử trong những bài giảng liên quan đến
lịch sử quân sự” của tác giả Phạm Hồng Tung và Nguyễn Thị Ngọc Mai đăng
trên tạp chí Lịch sử quân sự tháng 11- 2006 tập trung nhiều yếu tố lịch sử
quân sử trên bản đồ giáo khoa.
Các sách bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên lịch sử THPT hoặc các
tài liệu bồi dưỡng thay sách giáo khoa lớp 10, 11, 12 THPT đều đề cập đến
những nguyên tắc chung về sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử
theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
Trong cuốn “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch
sử ở trường phổ thông” (NXB ĐHSP, Hà Nội, 2006) của Nguyễn Thị Côi đã
đề xuất nhiều con đường, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở
trường phổ thông. Trong đó, tác giả đã nhấn mạnh tới biện pháp phát triển

hoạt động nhận thức, nhất là tư duy độc lập của học sinh và biện pháp tổ chức
giờ học hiệu quả. Hệ thống các biện pháp, con đường nâng cao hiệu quả bài
học nói chung và biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan nói riêng có tác dụng
lớn đối với việc tiếp thu kiến thức tích cực của học sinh.
* Những luận văn, luận án về phương pháp dạy học lịch sử:
Luận văn thạc sĩ “Thử nghiệm một loại bản đồ giáo khoa lịch sử treo
tường” của học viên Đoàn Văn Hưng (ĐHSP, Hà Nội, 1998) đã phân tích cụ
thể về các loại bản đồ giáo khoa, trong đó có Átlát lịch sử.
Tạ Minh, “Xây dựng hệ thống đồ dùng trực quan để giảng dạy phần
lịch sử Việt Nam từ 1919- 1929 ở trường THPT”, luận văn, ĐHSPHN, 1983.
Nguyễn Hữu Tiến “Xây dựng và sử dụng bản đồ giáo khoa trong dạy
học lịch sử ở trường PTTH”, Luận văn SĐH- ĐHSPHN, 1988.
Các nguồn tài liệu trên đã góp phần làm phong phú cơ sở lí luận của
việc sử dụng bản đồ trong dạy học lịch sử, đồng thời cũng đã đưa ra nhiều ý
kiến, kinh nghiệm quý báu để không ngừng cải tiến việc xây dựng và sử dụng
các loại bản đồ giáo khoa phục vụ ngày càng tốt hơn yêu cầu giảng dạy ở
trường phổ thông.
9
Hệ thống các nguồn tài liệu trên khá phong phú, nhưng chưa trực tiếp
đề cập đến vấn đề xây dựng và sử dụng Átlát lịch sử. Ở những nước tiên tiến,
kinh tế phát triển, ngay cả khi thiết bị trường học được cung cấp khá đầy đủ,
người ta vẫn xem việc giáo viên cải tiến, tự xây dựng lấy tài liệu đáp ứng yêu
cầu của bài giảng là một phương pháp sư pháp tốt: “Tự làm thiết bị giáo dục
không chỉ là một trong những nguồn bổ sung, xây dựng hệ thống thiết bị giáo
dục mang ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa khoa học sâu sắc, vì qua đó năng
lực chuyên môn của giáo viên được nâng cao, học sinh nắm kiến thức sâu sắc
hơn. Ngay cả những nước phát triển, hoạt động này được coi là hoạt động
chuyên môn nghiêm túc” [20; 56].
Do đó, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, từ thực tế dạy học lịch sử ở
THPT hiện nay, chúng tôi hy vọng rằng đề tài này đảm bảo tính khả thi và

được thực hiện.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là: quá trình dạy học lịch sử ở
trường THPT nói chung và dạy học chương II “Các nước tư bản giữa hai
cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939)” lớp 11 (THPT) nói riêng.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài không đi sâu nghiên cứu lí luận chung về Átlát mà tập trung xây
dựng một hệ thống Átlát giáo khoa lịch sử để dạy học chương II “Các nước
tư bản giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939)” lớp 11 (THPT) và đề
xuất các biện pháp sử dụng Átlát giáo khoa lịch sử hiệu quả.
Đề tài chỉ tập trung tìm hiểu các biện pháp sử dụng Átlát trong giờ nội khóa.

Phạm vi thực nghiệm sư phạm trong một bài.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
4.1 Mục đích
Trên cơ sở lí luận và thực tiễn, đề tài đề xuất việc xây dựng và sử dụng
Átlát lịch sử vào dạy học chương II: “Các nước tư bản giữa hai cuộc chiến
10
tranh thế giới (1918-1939)” lớp 11 (THPT) nhằm góp phần nâng cao hiệu quả
dạy học ở trường THPT.
4.2 Nhiệm vụ
Từ mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:
-Tìm hiểu cơ sở lí luận của vấn đề: átlát, Átlát địa lí, Átlát lịch sử, Átlát
giáo khoa lịch sử…
-Tìm hiểu về việc xây dựng và sử dụng Átlát giáo khoa lịch sử, tình
hình dạy học ở trường phổ thông.
-Nghiên cứu mục tiêu, nội dung của phần lịch sử lớp 11, chương II: Các
nước tư bản giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939) lớp 11 (THPT).


- Tiến hành thiết kế một Átlát lịch sử và xác định cách sử dụng Átlát đó
trong dạy học chương II “Các nước tư bản giữa hai cuộc chiến tranh thế giới
(1918-1939)” lớp 11 (THPT).
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm, điều tra ý kiến của giáo viên và học
sinh ở trường THPT để khẳng định tính khả thi, tính đúng đắn của đề tài
nghiên cứu.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài thực hiện trên cơ sở những quan điểm của Chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về nhận thức,
về giáo dục, thi cử.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tác phẩm của chủ nghĩa Mác- Lênin, của Hồ Chí Minh,
các văn kiện của Đảng, Nhà nước ta bàn về nhận thức, về giáo dục nói chung
và giáo dục lịch sử nói riêng.
- Nghiên cứu các công trình của các nhà giáo dục, các nhà giáo dục lịch
sử và các tài liệu khác liên quan.
- Nghiên cứu nội dung chương II- Lịch sử thế giới lớp 11 làm có sở xây
dựng Átlát giáo khoa lịch sử.
11
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm ở trường THPT.
12
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần làm phong phú thêm lý luận về bản đồ giáo khoa lịch
sử nói chung và Átlát giáo khoa lịch sử nói riêng trong dạy học lịch sử ở
trường THPT.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nếu khả thi, khóa luận tạo ra một cuốn Átlát lịch sử phục vụ công việc
học tập của học sinh. Muốn vậy trước hết, giáo viên phải là người biết cách

khai thác và sử dụng Átlát lịch sử thiết kế này. Đề tài giúp cho bản thân nâng
cao lí luận về phương pháp dạy học lịch sử và có thêm kinh nghiệm trong việc
xây dựng và sử dụng Átlát giáo khoa lịch sử vào dạy học lịch sử khi ra trường
dạy học.
7. Giả thiết khoa học của đề tài
Nếu thiết kế được một Átlat giáo khoa lịch sử và khai thác hiệu quả
theo đề xuất của khóa luận sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học chương II
“Các nước tư bản chủ nghĩa giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939)”
nói chung và trong dạy học lịch sử ở trường THPT nói riêng.
8. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung
khóa luận được chia làm 2 chương:
CHƯƠNG 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng
Átlat giáo khoa lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường THPT.
CHƯƠNG 2: Xây dựng và sử dụng Átlat giáo khoa lịch sử trong dạy
học chương II: Các nước tư bản chủ nghĩa giữa hai cuộc chiến tranh thế giới
(1918-1939) lớp 11 THPT (chương trình chuẩn).
13
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY
DỰNG VÀ SỬ DỤNG ÁTLÁT GIÁO KHOA LỊCH SỬ TRONG DẠY
HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
• Bản đồ giáo khoa và bản đồ giáo khoa lịch sử
Trong dạy học lịch sử, yếu tố trực quan sinh động có vai trò khá quan
trọng trong việc khôi phục, tạo dựng lại bức tranh quá khứ lịch sử. Tính trực
quan trong dạy học lịch sử có tính gián tiếp, nhưng việc đảm bảo yếu tố này là
một yêu cầu có tính nguyên tắc, bởi vì nó góp phần tái tạo lại hiện thực của sự
kiện lịch sử mà con người ngày nay không thể trực tiếp quan sát được. Do đó,

nhiệm vụ của giáo viên là phải đảm bảo thực hiện phương pháp trực quan
trong dạy học thông qua việc tổ chức, hướng dẫn học sinh quan sát những dấu
vết của quá khứ (di tích lịch sử, di tích cách mạng, các di vật trong bảo
tàng…) hay tìm hiểu lịch sử qua các phương tiện trực quan tạo hình (tranh
ảnh, vật phục chế, phim tư liệu lịch sử…), trực quan quy ước (bản đồ, sơ đồ,
biểu đồ, niên biểu bảng so sánh…) và các phương tiện kĩ thuật dạy học khác.
Trực quan sinh động có thể khai thác ở nhiều góc cạnh khác nhau: hình
ảnh, chân dung, bản đồ các trận đánh…Trong đó, việc khai thác có hiệu quả các
bản đồ trong dạy học sẽ góp phần thành công của tiết học vì bản đồ là một mô
hình thu nhỏ những diễn biến của sự kiện lịch sử cả về không gian và thời gian.

Theo Từ điển tiếng Việt, bản đồ là bản vẽ thu nhỏ dùng các kí hiệu, các
quy ước để mô tả một phần hay toàn bộ tình trạng phân bố của các hiện tượng
tự nhiên hoặc xã hội.
Bản đồ giáo khoa là hệ thống bản đồ dùng dạy học ở nhà trường nói chung.
Thông thường gồm có bản đồ giáo khoa địa lí và bản đồ giáo khoa lịch sử.

Theo U.C.Bilích và A.C.Vasmuc đã định nghĩa: “Bản đồ giáo khoa là
những bản đồ sử dụng trong mục đích giáo dục, chúng cần thiết cho việc
14
giảng dạy và học tập ở tất cả các cơ sở giáo dục dưới mọi hình thức, tạo nên
một hệ thống giáo dục cho tất cả các tầng lớp dân cư từ học sinh đến đào tạo
các chuyên gia. Những bản đồ đó cũng được sử dụng trong nhiều ngành khoa
học, trước hết là địa lí và lịch sử” [3;18].
Còn bản đồ giáo khoa lịch sử: theo Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ
thông: bản đồ lịch sử là loại bản đồ (thế giới hay Việt Nam) được vẽ với tỉ lệ
nhỏ (treo tường, trong sách giáo khoa, Átlát…) phản ánh một giai đoạn, một
hiện tượng, sự kiện lịch sử.
Như vậy, bản đồ giáo khoa lịch sử có thể hiểu là những bản đồ được sử
dụng trong mục đích giảng dạy bộ môn lịch sử, thể hiện kiến thức lịch sử

trong sách giáo khoa, mỗi bản đồ biểu hiện một đơn vị kiến thức sự kiện lịch
sử nhất định gắn với những không gian (địa danh, tên nước, khu vực, lãnh
thổ…) và thời gian khác nhau, tương ứng với trình độ nhận thức nhất định và
không thể dùng một bản đồ để giảng dạy cho nhiều trình độ.
Mối quan hệ giữa bản đồ giáo khoa và địa lí, lịch sử thể hiện rõ nhất
trong nội dung môn học. Nội dung địa lí, lịch sử ở phổ thông được mô tả bằng
ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nhân tạo của con người, khả năng mô tả của
ngôn ngữ này dù tốt đến mấy cũng không thể làm cho người đọc hình dung
được hết các đối tượng, hiện tượng diễn ra cách đây hàng trăm, hàng nghìn
năm, nằm ngoài tầm mắt quan sát của họ. Do vậy, nội dung đó cần được thể
hiện bằng ngôn ngữ bản đồ. Chỉ có ngôn ngữ bản đồ kết hợp với ngôn ngữ
viết mới lột tả được hết những điều muốn nói trong phạm vi lãnh thổ diễn ra
các hiện tượng địa lí, các sự kiện lịch sử, trận đánh, chiến dịch. Sự phối hợp
giữa ngôn ngữ nói với ngôn ngữ bản đồ làm cho việc phản ánh thực tế địa lí,
lịch sử sinh động hơn, đầy đủ hơn, giúp cho việc nhận thức địa lí, lịch sử dễ
dàng hơn.
• Átlát
Thuật ngữ Átlat xuất phát từ tên người khổng lồ trong thần thoại Hy
Lạp- người đỡ cả bầu trời trên vai. Nhà bản đồ học người Hy Lạp, Mercators
15
(1512-1594) đã sử dụng thuật ngữ này cho một tập bản đồ được xuất bản
năm 1595. Từ đó trở đi thuật ngữ này dùng để chỉ một tập bản đồ được lựa
chọn và sắp xếp một cách có hệ thống, có cùng khổ giấy,có cách trình bày
theo nguyên tắc bản đồ, có thiết kế đồng bộ và thường đóng thành cuốn, dạng
sách. Ngày nay, thuật ngữ này dùng để chỉ một tập bản đồ trên các dạng
truyền thông khác nhau.
Theo “Từ điển Tiếng Việt” Átlát: là một tập bản đồ. Átlát thường gắn
với môn địa lí: Átlát địa lí, đôi khi gọi tắt là Átlát.
Như vậy, Átlát là bộ sưu tập các bản đồ, nó khác bản đồ ở chỗ: bản đồ
là hình ảnh thu nhỏ dùng các kí hiệu, các quy ước để mô tả một phần hay toàn

bộ tình trạng phân bố của các hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội; còn Átlát chứa
các bản đồ, về bản chất thì giống nhau nhưng bản đồ thì riêng lẻ còn Átlát
mang tính hệ thống, và hoàn chỉnh hơn. Các bản đồ trong Átlát phải có mối
liên hệ nhất định với nhau về cơ sở toán học, nội dung và hình thức, được
thiết kế để phục vụ những mục đích khác nhau của cuộc sống.
• Átlát địa lí
Átlát địa lí (tập bản đồ địa lí) đã được nhiều nhà địa lí và bản đồ thế
giới định nghĩa:
Trong từ điển thuật ngữ Bản đồ học của Hà Lan, 1991 định nghĩa:
“Átlát là một tập hợp có hệ thống, nối kết mạch lạc và lôgíc của các bản đồ ở
dạng cuốn sách hay từng tờ rời, thể hiện một vùng địa lí nào đó hoặc giới
thiệu một hay nhiều yếu tố địa lí” [2;23].
Theo K. A. Xalisev, nhà bản đồ học người Nga, cũng đưa ra định nghĩa:
“Átlát địa lí là một tập hợp có hệ thống các bản đồ địa lí được xây dựng theo
một đề cương chung như một tác phẩm hoàn chỉnh” [3;8].
Theo T.G Xvatkova, Átlát là sự tập hợp có hệ thống các bản đồ, được
thực hiện theo chương trình như là một tác phẩm hoàn chỉnh và được xuất bản
dưới dạng sách hay một bộ các tờ rời, đây không chỉ đơn thuần là bộ bản đồ
16
dưới tên gọi chung mà là hệ thống các bản đồ có liên quan qua lại và bổ sung
lẫn nhau.
Từ những định nghĩa trên khẳng định rằng: Átlát không chỉ đơn thuần
là tập hợp các bản đồ địa lí khác nhau cũng không phải sự liên kết máy móc
các bản đồ thành một cuốn sách. Átlát là một hệ thống các bản đồ, có mối liên
hệ hữu cơ với nhau, bổ sung cho nhau về nội dung để hệ thống này đảm bảo
được ý nghĩa chủng loại và đặc điểm sử dụng của Átlát. Átlát được coi là đầy
đủ khi ta tìm thấy trong đó có tất cả các vấn đề và chủ đề đặc trưng cho lãnh
thổ và mục đích sử dụng của Átlát, trong khuôn khổ giới hạn và số lượng
trang nhất định.
Các tập Átlát ngày nay muôn hình, muôn vẻ rất khác nhau về lãnh thổ,

nội dung, chủ đề, mục đích nhưng đều đảm bảo các tính chất sau:
+ Tính hoàn chỉnh: là phẩm chất cơ bản và quan trọng nhất của một
Átlat. Átlat được coi là hoàn chỉnh khi các bản đồ trong Átlat phản ánh tới
mức cần thiết và giải thích được đầy đủ các vấn đề thuộc phạm vi đề mục
theo mục đích của Átlat.
+ Tính thống nhất: dựa trên cơ sở toán học của bản đồ là sự lựa chọn
hợp lí các phép chiếu hình bản đồ. Phương pháp biểu hiện và kí hiệu bản đồ
đảm bảo tính đồng nhất của các phương pháp biểu hiện và các chỉ số thu nạp,
sự tương đồng của các kí hiệu trên bản đồ.
Giá trị của Átlát không chỉ ở quy mô về việc thành lập và số lượng các
tờ bản đồ, mà còn là tính hệ thống. Các bản đồ trong Átlát phải có mối liên hệ
nhất định với nhau về cơ sở toán học, nội dung và hình thức để thực sự tạo ra
một sản phẩm thống nhất và có giá trị. Átlát có thể được thành lập theo phạm
vi lãnh thổ (thế giới, châu lục, quốc gia, tỉnh) theo nội dung (địa lí chung,
chuyên đề tổng hợp) hoặc mục đích sử dụng (tra cứu, du lịch, giáo dục…).
• Átlát giáo khoa
Átlát giáo khoa giống như Átlát nhưng vì sử dụng trong nhà trường nên
nó còn mang thêm yêu cầu giảng dạy và học tập. Átlát giáo khoa còn gọi là
17
tập bản đồ giáo khoa, là một tập hợp có hệ thống các bản đồ, được sắp xếp
một cách lôgic để phục vụ cho mục đích dạy học.
• Átlát giáo khoa lịch sử
Đã có những giáo trình đề cập tới khái niệm Átlát giáo khoa lịch sử.
Theo PGS.TS Lâm Quang Dốc: “Átlát giáo khoa lịch sử là một loại của bản
đồ giáo khoa lịch sử. Átlat giáo khoa lịch sử hay còn gọi là tập bản đồ giáo
khoa lịch sử là một tập hợp có hệ thống các bản đồ lịch sử được sắp xếp một
cách lôgic để phục vụ cho mục đích dạy học. Nó có tính thống nhất cao về cơ
sở toán học, nội dung và bố cục bản đồ. Átlat giáo khoa được phân biệt theo
sự bao trùm lãnh thổ, theo nội dung và theo mục đích sử dụng. Át lát giáo
khoa dùng cho giáo viên có nội dung phong phú và sâu sắc hơn Átlát giáo

khoa dùng cho học sinh” [13;37]. Átlat giáo khoa là một dạng Átlát chuyên đề
(tức là thiết kế theo những chuyên đề hay vấn đề lớn, có tính khái quát cao).
Nó có đặc điểm sau:
+ Nội dung Átlat phù hợp với chương trình học tập lịch sử của các lớp
học, phù hợp với đối tượng sử dụng và tiến trình giảng dạy lịch sử ở nhà trường.

+ Các bản đồ trong Átlat thường có kích thước lớn hơn bản đồ trong
SGK, lại sử dụng nhiều màu sắc và nội dung lịch sử được thể hiện trên nhiều
trang bản đồ. Ngoài bản đồ trong Átlat còn có nhiều biểu đồ tranh ảnh minh
họa và số liệu tra cứu. Do đó, nó có nội dung phong phú hơn bản đồ treo
tường và bản đồ trong SGK. Nó phản ánh tương đối đầy đủ những đặc điểm
lịch sử của lãnh thổ mà giáo viên và học sinh nghiên cứu.
+ Átlat thường được giáo viên dùng kết hợp với bản đồ treo tường và
lược đồ và bản đồ trong SGK nhằm truyền thụ kiến thức mới, ôn tập kiểm tra
kiến thức cũ và đồng thời rèn luyện kĩ năng đọc bản đồ cho học sinh. Với các
bản đồ trong Átlat, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh so sánh đối chiếu và
khái quát những kiến thức tiếp thu được qua bài giảng. Những kiến thức lịch
sử học sinh học được trong bài học thì chúng cũng được minh họa trên các
bản đồ lịch sử.
18
Như vậy, một tập hợp các bản đồ lịch sử mang tính hệ thống, thống
nhất, có phương pháp thành lập chung cùng phục vụ mục đích dạy học lịch sử
cho một chương trình nhất định gọi là tập Átlat giáo khoa lịch sử. Trong Átlát
giáo khoa lịch sử không chỉ có bản đồ, lược đồ mà còn có đồ thị, sơ đồ, tranh
ảnh…nó mang tính phong phú, hấp dẫn, cụ thể hơn bản đồ. Vì thế, Átlát giáo
khoa lịch sử có ưu thế trong dạy học lịch sử. Việc xây dựng và sử dụng hiệu
quả nó là cần thiết.
1.1.2 Mối quan hệ giữa Átlát giáo khoa lịch sử với các loại bản đồ giáo
khoa lịch sử
Theo phương thức sử dụng, hình thức thể hiện, bản đồ giáo khoa lịch

sử chia thành 4 loại: bản đồ treo tường, bản đồ trong sách giáo khoa; Átlát
giáo khoa lịch sử; bản đồ câm (còn gọi là bản đồ thực hành). Cách phân loại
này trước hết lưu ý giáo viên phải hướng dẫn học sinh kết hợp sử dụng các
loại bản đồ để bổ sung nội dung kiến thức lịch sử. Mặt khác, còn chỉ ra cách
xây dựng và sử dụng thuận lợi, phù hợp cho giáo viên và học sinh tùy theo
yêu cầu của bài học: bản đồ treo tường phù hợp cho dạy học trên lớp, bản đồ
trong sách giáo khoa thuận tiện cho học sinh học tập ở nhà…
+ Bản đồ trong sách giáo khoa lịch sử
Là một trong những loại kênh hình không thể thiếu trong cuốn sách
giáo khoa lịch sử. Bản đồ trong sách giáo khoa in kèm với bài viết, thể hiện
nội dung sự kiện được trình bày, nhưng khổ nhỏ, khó quan sát hơn bản đồ treo
tường và chỉ là lược đồ. Vì vậy, giáo viên hướng dẫn cho học sinh đọc bản đồ
khi học bài; vẽ lại trong vở, trên giấy rời hay bảng đen; trình bày diễn biến sự
kiện theo bản đồ.
+ Átlát giáo khoa lịch sử
Là một tập hợp gồm nhiều bản đồ được đóng thành tập theo một kết
cấu bố cục chặt chẽ, phù hợp với nội dung chương trình sách giáo khoa. Đây
là một loại bản đồ giáo khoa lịch sử đặc biệt và có liên quan trực tiếp đến đề
tài nên sẽ được trình bày thành một mục riêng ở phần sau.
19
+ Bản đồ câm
Là loại bản đồ chỉ có kí hiệu, dạng điểm, dạng đường và diện tích,
không có chữ viết để giáo viên khi trình bày là kiến thức mới, hay dùng để
kiểm tra học sinh (viết, nói) cách làm tự điền nội dung kiến thức lịch sử, chủ
yếu là xác định địa danh lên bản đồ. Việc sử dụng bản đồ câm đòi hỏi giáo
viên và học sinh phải nắm vững nội dung sự kiện và kí hiệu để điền cho đúng
và trình bày theo bản đồ đã hoàn tất.
Tuy phong phú về loại hình, mỗi loại hình lại có những đặc điểm và
chức năng khác nhau trong hệ thống của quá trình dạy học. Nhưng các loại
hình lại có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau. Trước hết, vì cùng một

mục đích là phục vụ cho cùng một đối tượng (thầy giáo và học sinh trong nhà
trường phổ thông), nên các loại hình đều có những đặc điểm và tính chất của
một bản đồ giáo khoa. Cùng chức năng là cuốn sách giáo khoa thứ hai của
nhà trường, các loại hình bản đồ giáo khoa có quan hệ chặt chẽ về nội dung.
Bản đồ treo tường được coi như là phương tiện chủ lực trong việc sử dụng để
giảng dạy trên lớp, nội dung thường đầy đủ hơn bản đồ trong SGK. Nhưng
không thể thay thế được bản đồ sách giáo khoa hay Átlát. Bản đồ sách giáo
khoa minh họa cho bài viết, cần thiết cho giáo viên trong khi soạn bài và cho
học sinh khi học bài. Không có bản đồ trong sách giáo khoa học sinh không
có điều kiện tư duy bài học lịch sử gắn với không gian, địa điểm, hạn chế kĩ
năng đọc, sử dụng bản đồ của các em. Átlát giáo khoa là tài liệu tra cứu của
thầy giáo và học sinh, là tài liệu bổ sung về nội dung cho bản đồ trong sách
giáo khoa và bản đồ treo tường. Bản đồ câm hay bản đồ bài tập là phương tiện
cho học sinh rèn luyện kĩ năng bản đồ khi học bài trên lớp và ở nhà.
Như vậy, các loại hình bản đồ giáo khoa lịch sử ở mỗi lớp, mỗi chương,
mỗi bài có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về nội dung. Do đó, chúng có tác
dụng bổ trợ nhau để làm tốt chức năng là những cuốn sách giáo khoa thứ hai
trong nhà trường.
20
Chúng ta có thể hình dung mối quan hệ đó qua sơ đồ sau:
Átlát giáo
khoa lịch sử
Bản đồ
trong SGK
Bản đồ giáo
khoa lịch sử
Bản đồ treo
tường
Bản đồ
câm

1.1.3 Phân loại Átlát
Átlát có thể phân loại thành các nhóm tùy theo tiêu chí phân loại:
-Theo lãnh thổ thể hiện: ta có Átlát thế giới, Átlát từng châu lục, Átlát
từng quốc gia hay từng vùng từng thành phố. Phân loại theo cách này, chúng
ta sẽ xác định được địa điểm cụ thể, gắn với những không gian, lãnh thổ.
Nhưng vì phân loại theo lãnh thổ nên chỉ phù hợp với nghiên cứu địa chất, địa
lí của từng quốc gia, từng vùng, châu lục…
- Theo mục đích sử dụng: có Átlát tra cứu khoa học, Átlát tra cứu phổ
thông phổ cập kiến thức, Átlát giáo khoa, Átlát chuyên ngành (quân sự, hàng
hải, thủy văn…). Ưu điểm lớn của cách phân loại này là thuận tiện trong từng
mục đích sử dụng của đời sống, học tập và nghiên cứu. Ở mỗi mục đích sử
dụng, Átlát lại có cách thiết kế riêng phù hợp, thuận tiện. Ví dụ: Átlát dành
cho du lịch sẽ ghi rõ nơi tham quan, nơi tập trung nhà hàng, khách sạn, nơi
bán đồ lưu niệm…Còn Átlát dành cho tra cứu phổ thông gồm nhiều lĩnh vực
khác nhau có thể tra cứu về khí hậu, thủy văn, dân số,…
- Theo hình thức và kích cỡ: ta có Átlát giấy đóng tập, Átlát giấy từng
tờ rời, Átlát trên máy (Átlát điện tử). Átlát giấy lại có thể chia theo kích cỡ:
Átlát nhỏ (bỏ túi), Átlát nhỡ, Átlát lớn (để bàn).
21
- Theo nội dung: Átlát lịch sử chuyên đề bao gồm các bản đồ xoay
quanh một chủ đề nào đó, có thể chia thành Átlát chuyên đề chủ nghĩa tư bản
giữa hai cuộc chiến tranh thế giới; Átlát chuyên đề các nước Đông Nam Á…
Átlát tổng hợp là Átlát bao gồm các bản đồ lịch sử chung.
Tóm lại, căn cứ vào các tiêu chí phân loại trên cũng chính là những yếu
tố cơ bản để xác định rõ một thể loại Átlát: ví dụ Átlát giáo khoa tổng hợp để
bàn, Átlát đường phố dành cho du lịch dạng bỏ túi, Átlát kinh tế vùng loại
lớn… có nhiều cách phân loại Átlát nhưng việc phân loại chỉ mang tính tương
đối. Đó là cơ sở để tác giả xây dựng Átlát giáo khoa lịch sử.
1.1.4 Cơ sở xuất phát của việc xây dựng Átlat giáo khoa lịch sử
Trước hết, xuất phát từ mục tiêu dạy học theo Nghị quyết số 29 của

Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 (khóa XI) về "Đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế". Những năm gần đây, xu thế đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học
lấy học sinh làm trung tâm đã mở ra bước đột phá quan trọng làm thay đổi
quan niệm trước đây về vai trò của thầy và trò trong quá trình dạy học. Quá
trình dạy học là một chỉnh thể phức tạp, có sự tác động qua lại giữa các yếu
tố, trong đó giáo viên là chủ thể của hoạt động sư phạm, là người tổ chức điều
khiển quá trình nhận thức của học sinh theo kế hoạch sư phạm. Học sinh là
chủ thể của quá trình nhận thức tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo trong
việc khám phá tri thức, xây dựng bài học, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và bồi
dưỡng phẩm chất, đạo đức, hình thành nhân cách. Đảm bảo nguyên tắc này
trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng sẽ giúp thực hiện tốt mục
tiêu của bộ môn. Muốn vậy, cả học sinh và giáo viên đều phải có sự chuẩn bị
kĩ lưỡng trước bài học mới. Giáo viên bên cạnh các tài liệu soạn giảng như:
sách giáo viên, dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng…thì cần có thêm tài liệu
mới để bổ sung cho kiến thức mình cần truyền đạt cho học sinh. Bên cạnh đó,
một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là tránh dạy học mang
22
tính cưỡng bức, giáo điều, nhồi nhét, công thức, áp đặt kiến thức cho học
sinh. Giáo viên cần tới một phương tiện để gợi mở, đánh thức hứng thú, năng
lực trong mỗi học sinh.
Thứ hai: xuất phát từ nhận thức của học sinh: Học sinh dù ở bậc học
nào cũng giữ vai trò chủ thể trong quá trình dạy học. Bằng nhiều con đường
khác nhau, học sinh phải tự mình chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát
triển năng lực tư duy, năng lực hành động qua những hoạt động tự học ở nhà.
Trong đó, ngoài sách giáo khoa học sinh có thể sử dụng Átlat lịch sử làm tài
liệu tham khảo để học tập và trong làm bài tập thực hành môn lịch sử.
Thứ ba: xuất phát từ đặc trưng của dạy học lịch sử: nhận thức nói
chung, là sự phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người. Nhận thức

cảm tính là giai đoạn đầu tiên, tạo cơ sở tiền đề cho giai đoạn sau. Nhận thức
lí tính mang tính tổng hợp, khái quát hóa. Từ cảm giác, tri giác, biểu tượng,
con người hình thành khái niệm, đúc rút ra quy luật. Khác với đối tượng của
các khoa học khác, đối tượng của khoa học lịch sử là hiện thực khách quan đã
xảy ra, không “hiện có” (song đã tồn tại), vận động theo quy luật từ thấp đến
cao, trải qua những bước quanh co, khúc khuỷu, song phát triển không ngừng
và toàn diện. Con người có khả năng nhận thức lịch sử tuy không thể trực
quan sinh động, kể cả những sự kiện đang diễn ra, nhưng ngoài tầm mắt
người học tập, nghiên cứu. Mặt khác, lịch sử lại xảy ra không tái diễn nguyên
vẹn như cũ, nên nhận thức lịch sử không thể quan sát trực tiếp và cũng không
thể tiến hành trong phòng thí nghiệm. Vì vậy, dạy học lịch sử phải sử dụng đồ
dùng trực quan để khôi phục lại quá khứ chân thực trong học sinh.
Thứ tư: những hạn chế của sách giáo khoa lịch sử hiện hành: Sách giáo
khoa bao giờ cũng là nguồn thông tin tập trung và có chọn lọc những giá trị
cơ bản, quan trọng của kinh nghiệm xã hội loài người. Tuy nhiên, về mặt sư
phạm sách giáo khoa còn tồn tại nhiều bất cập. Chương trình SGK môn lịch
sử phổ thông có nhiều sự kiện, kiến thức, vấn đề lịch sử mang tính hàn lâm,
trừu tượng với kênh chữ nhiều hơn kênh hình. Riêng kênh hình chỉ in hai màu
23
đen và trắng (so với SGK địa lí được in 8 màu, trang trí và trình bày khá hấp
dẫn, rõ ràng). Điều này khiến giáo viên và học sinh khó xác định khoảng thời
gian của mỗi tấm ảnh tư liệu nếu không có chú thích mốc thời gian ra đời. Vì
thế, một cuốn Átlát được thiết kế theo hướng đổi mới cả về nội dung và hình
thức, để hỗ trợ thêm cho SGK trong việc truyền tải kiến thức cho học sinh là
rất cần thiết. Tuy nhiên, Átlát lịch sử chỉ là tài liệu tham khảo chứ không thay
thế được SGK.
1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng Átlat giáo khoa lịch sử trong dạy học bộ
môn lịch sử ở trường THPT
Biện pháp xây dựng và sử dụng Átlát giáo khoa lịch sử cũng như các
biện pháp khác nhằm cải tiến, trang thiết bị dạy học để đạt được mục đích

cuối cùng là đổi mới phương pháp dạy học lịch sử. Việc sử dụng Átlát lịch sử
có ý nghĩa quan trọng trên ba mặt: nhận thức, tư tưởng- thái độ và kĩ năng.
• Về nhận thức
Sử dụng Átlát trong dạy học lịch sử có tác dụng bổ sung và làm rõ hơn
những kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa. Átlát lịch sử có ý nghĩa quan
trọng trong việc khôi phục, tái hiện lại hình ảnh quá khứ, nó là căn cứ khoa
học, là bằng chứng về tính chính xác, tính cụ thể, phong phú của sự kiện lịch
sử mà học sinh cần thu nhận. Từ đó giúp cho các em nhớ lâu hiểu sâu các
kiến thức đã học, tạo cho các em những biểu tượng chân thực, chính xác, tăng
thêm tính sinh động, gợi cảm đối với những hiện tượng, sự kiện lịch sử.
Ví dụ: khi dạy bài 5: Trung Quốc thời phong kiến lịch sử 10 (cơ bản).
Giáo viên có thể thiết kế trong Átlát những bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ, niên
biểu…Như lược đồ con đường tơ lụa của Trung Quốc:
24
Giáo viên chỉ trình bày “chay” về “Con đường tơ lụa”, học sinh sẽ không
thể hình dung được sự phát triển của công thương nghiệp thời Đường và sự nổi
tiếng của mặt hàng tơ lụa- một nghề truyền thống của Trung Quốc. Giáo viên
cho học sinh quan sát lược đồ trên và kết hợp với chỉ trên lược đồ: Con đường
tơ lụa bắt đầu từ Hàng Châu, Phúc Châu, Bắc Kinh qua Mông Cổ, Ấn Độ,
Afghaistan, Iran, Thổ Nhĩ Kì, Hy Lạp xung quanh vùng Địa Trung Hải về đến
châu Âu. Nó có chiều dài 7000 km, bằng 1/3 chu vi vòng trái đất. Học sinh sẽ
có biểu tượng chính xác, cụ thể về Con đường tơ lụa của thời Đường.

• Về tư tưởng, thái độ
Việc xây dựng và sử dụng Átlát giáo khoa lịch sử trong dạy học lịch sử,
từ việc giúp giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dưỡng, đã có tác động
tích cực về mặt giáo dục. Átlát có tác dụng khơi dậy trong tâm hồn các em
những xúc cảm lịch sử, là cơ sở để giáo dục tình cảm, đạo đức cho học sinh.
Ví dụ: cũng ở bài 5 lịch sử lớp 10, giáo viên có thể cho học sinh xem
tượng người bằng đất nung trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng được thiết kế

trong Átlát; kèm theo việc trình bày về nội dung của nó: Đội quân đất nung
hay Tượng binh mã Tần Thủy Hoàng là một quần thể tượng gồm 8.000 binh
sỹ, ngựa bằng đất nung gần lăng mộ Tần Thủy Hoàng. Khu lăng mộ Tần
25
Thủy Hoàng đã được thiết kế như một tổ hợp các cung điện đền đài bao
quanh bởi thành quách. Để giữ bí mật thông tin về lối vào mộ và của cải trong
đó Nhà Tần đã giết hết lực lượng tham gia xây dựng khu lăng mộ bằng cách
bít đường ra vào lăng mộ và chôn sống họ cũng như giết hết một số người liên
quan đến việc chôn sống này. Đội quân đất nung được xây dựng kế bên nhằm
mục đích bảo vệ cho Tần Thủy Hoàng sau khi ông qua đời.
Học sinh rút ra được nét độc đáo thể hiện nghệ thuật tinh xảo của người
Trung Quốc thời xưa, biết được sự xa hoa, tàn bạo của Tần Thủy Hoàng cũng
như sức mạnh quân sự của nhà Tần như thế nào, từ đó rút ra được đặc trưng
của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan và không gian nhất định.
Học sinh hình thành thái độ đối với những vị vua chúa hung bạo, xây dựng
những công trình xa xỉ; cảm thông, trân trọng những công sức của nhân dân
tạo ra những công trình còn mãi với thời gian.
Mặt khác, Átlát lịch sử được áp dụng trong dạy học lịch sử còn có tác
dụng giáo dục tinh thần lao động, khả năng tìm tòi sáng tạo trong học tập của
học sinh.
• Về kĩ năng
Átlat lịch sử phát triển kĩ năng tự học, tự tìm hiểu kiến thức cho nên nó
vừa là một loại đồ dùng trực quan vừa là một tài liệu tham khảo. Việc sử dụng

×