Tải bản đầy đủ (.pdf) (38 trang)

SKKN: Giúp học sinh lớp 12 học và ôn tập thi tốt nghiệp Trung học phổ thông môn Ngữ Văn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (532.4 KB, 38 trang )










SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM


GIÚP HỌC SINH LỚP 12 HỌC
VÀ ÔN TẬP THI TỐT NGHIỆP
THPT MÔN NGỮ VĂN



I-LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong những năm gần đây, cùng với một số môn học khác, thực trạng
Dạy - Học môn Văn được đề cập nhiều trên các phương tiện thông tin, trong
đó đặc biệt nhấn mạnh tỉ lệ học sinh yếu ở bộ môn này ngày càng cao, kéo
theo kết quả không mấy khả quan qua các kỳ thi tốt nghiệp THPT và thi Đại
học, Cao đẳng.
Vì vậy, vấn đề làm thế nào để có thể nâng cao kết quả học tập và ôn
thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn cho học sinh lớp 12 thật sự là vấn đề
thiết yếu và được quan tâm hàng đầu hiện nay. Có thể khẳng định, từ khi
tiến hành cải cách chương trình và sách giáo khoa bậc THPT (năm 2006)
đến nay, nhiều giáo viên đã rất nỗ lực trong việc dạy - học để mang lại cho
học sinh những phương pháp học Văn tích cực cùng với sự hỗ trợ của các
phương tiện công nghệ thông tin ngày càng hiện đại, giúp các tiết học Văn


đạt hiệu quả cao hơn, song việc học sinh học yếu môn Văn hiện vẫn đang là
một tồn tại mà bất cứ ai quan tâm đến nền giáo dục của nước nhà cũng có
thể thấy. Khách quan mà nói, có điều đó một phần là do vẫn có giáo viên
chưa quan tâm đúng mức, chưa giúp đỡ kịp thời đối với học sinh trong quá
trình dạy - học nên để các em có những lỗ hổng kiến thức cơ bản. Một phần
không nhỏ là do chính bản thân các em không thích học (kể cả không chịu
học) các môn xã hội nói chung, môn Ngữ Văn nói riêng; kể cả việc có em
không biết cách học như thế nào cho có hiệu quả nên dẫn đến kết quả học
tập của các em ngày càng thấp so với yêu cầu và của mặt bằng xã hội nói
chung.
Từ thực tế trên, vấn đề được quan tâm hiện nay là làm thế nào để có
thể nâng cao chất lượng, kết quả học tập môn Ngữ Văn nói riêng, các môn
xã hội nói chung qua các kỳ thi hàng năm. Vấn đề trên đã trở thành mục tiêu
hàng đầu trong mọi chương trình nghị sự khi bàn về giáo dục, nhất là năm
học 2011 – 2012 này, các em học sinh lớp 12 phải thi đến 4 môn khoa học
xã hội trong kỳ thi tốt nghiệp THPT sắp tới thì vấn đề trên càng được cả xã
hội quan tâm nhiều hơn.
Không kể nguyên nhân do đâu, việc giúp đỡ các em học sinh lớp 12
học và ôn tập thi tốt nghiệp môn Ngữ Văn đạt hiệu quả là việc làm hết sức
cần thiết, cần được nhà trường và đặc biệt là người giáo viên Ngữ Văn quan
tâm nhiều nhất trong tình hình hiện nay.
Đó là lí do tôi chọn đề tài này: Giúp học sinh lớp 12 học và ôn tập thi
tốt nghiệp Trung học phổ thông môn Ngữ Văn.
II-TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
1.Cơ sở lý luận:
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số
16/2006/ QĐ – BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu:
“Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng


lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”.
Trong các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học Văn, hầu
hết các phương pháp được đặt ra với đối tượng học sinh một cách chung
chung. Tất cả tùy thuộc vào vai trò dẫn dắt của người giáo viên trong giờ
học. Song, theo quan điểm của PGS.TS Phạm Quang Trung: "phương pháp
dạy học hiện đại không cho phép người dạy hình dung đối tượng một cách
chung chung. Phải quan tâm đến từng cá nhân học sinh, mỗi em một tính
nết, sự hiểu biết cũng khác nhau nên không thể có một đối tượng học sinh
chung chung trong giờ học được".
Trong tài liệu: "Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường
phổ thông", GS Phan Trọng Luận cũng nhấn mạnh: “Giờ học mới phải là
một kết cấu logic chặt chẽ khoa học mà uyển chuyển linh hoạt, hệ thống đơn
vị tình huống học tập được đặt ra từ bản thân tác phẩm phù hợp với sự tiếp
nhận của học sinh. Và song song tương ứng là một hệ thống việc làm, thao
tác do giáo viên dự tính tổ chức để dẫn dắt từng cá thể học sinh tự chiếm
lĩnh tác phẩm một cách hứng thú”. Như vậy, dù không phát biểu trực tiếp
song ý kiến trên cũng đã nhấn mạnh sự dẫn dắt khéo léo của giáo viên trong
giờ học Ngữ Văn sao cho phù hợp với mọi đối tượng học sinh như tác giả
Nguyễn Kế Hào đã từng nhấn mạnh: "Dạy học theo phương pháp mới phải
đảm bảo tính đồng loạt, phát huy được mọi đối tượng".
Vậy, làm thế nào để có thể phát huy được mọi đối tượng học sinh
trong quá trình dạy - học, nhất là các em học yếu môn Ngữ Văn 12 để giúp
các em đạt được kết quả khả quan trong học tập và trong kỳ thi tốt nghiệp
THPT cuối năm?
2.Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:
2.1.Lập kế hoạch:
Bộ môn Ngữ Văn nằm trong nhóm 3 môn thi bắt buộc trong kỳ thi tốt
nghiệp THPT hàng năm, bao gồm: Văn, Toán và Ngoại ngữ. Đặc điểm này

yêu cầu nhà trường, giáo viên bộ môn và học sinh phải có kế hoạch chủ
động chuẩn bị ngay từ đầu năm học.
Giáo viên bộ môn lập kế hoạch dạy học trên cơ sở kế hoạch công tác
chung của nhà trường và tổ chuyên môn để có sự thống nhất, đồng bộ trong
giảng dạy. Cụ thể:
2.1.1.Về phía nhà trường và tổ chuyên môn:
-Phân công giảng dạy: những giáo viên có kinh nghiệm, có trách nhiệm và
năng lực, tâm huyết trong việc giảng dạy và ôn tập khối 12.
-Nhà trường có kế hoạch tăng tiết từ đầu năm: 1 tiết/ tuần. Tiến hành kiểm
tra chung các bài kiểm tra 2 tiết cho toàn khối 12 ngay từ đầu năm học với
sự thống nhất trong tổ chuyên môn về ma trận đề và nội dung trong từng bài
kiểm tra.

-Học sinh khối 12 học văn hóa sớm từ trong hè, đến cuối tháng 3 là hết
chương trình. Khi có thông báo của Bộ Giáo dục Đào tạo về các môn thi tốt
nghiệp, nhà trường tiến hành xếp lịch ôn tập môn Ngữ Văn 5 tiết/ tuần
(tháng 4, tháng 5 với thời gian từ 6 - 7 tuần).
-Tổ bộ môn thảo luận, lập kế hoạch và thống nhất nội dung dạy học tăng tiết
trong từng tuần cho toàn khối; đề ra nội dung cụ thể cho từng tuần trong việc
ôn thi tốt nghiệp. Trong quá trình ôn tập, tiến hành ôn chương trình học kì II
trước, sau đó quay lại ôn tiếp chương trình học kì I.
2.1.2.Về phía giáo viên bộ môn:
-Ngay từ đầu năm, giáo viên bộ môn cần giới thiệu đến học sinh cấu trúc đề
thi tốt nghiệp THPT để các em làm quen, chủ động về kiến thức và có cách
giải quyết đề bài hiệu qủa nhất. Cụ thể:
Đề thi tốt nghiệp THPT thường có hai phần với 3 câu hỏi:
A-Phần chung (5,0 đ):
1-Câu hỏi giáo khoa (2,0 điểm): tái hiện kiến thức về giai đoạn văn học, tác
giả, tác phẩm văn học Việt Nam và tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài.
2-Đề nghị luận xã hội (3,0 điểm): Vận dụng kiến thức hiểu biết về xã hội và

đời sống để viết bài nghị luận xã hội ngắn (khoảng 400 từ) với hai dạng đề:
Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí hoặc nghị luận về một hiện tượng đời
sống.
B-Phần riêng (5,0 đ):
3-Đề nghị luận văn học (5,0 điểm): Vận dụng khả năng đọc – hiểu và kiến
thức văn học để viết bài nghị luận văn học, phân tích giá trị nội dung, nghệ
thuật của bài thơ, đoạn thơ hoặc một tác phẩm văn xuôi (đặt mỗi tác phẩm
trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể). Gồm:
a-Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
b-Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi.
Trong quá trình học trên lớp, học sinh cần phải được trang bị những
kiến thức cơ bản của môn học một cách đầy đủ, có hệ thống (theo Phân phối
chương trình của Bộ Giáo Dục - Đào tạo) thông qua sự hướng dẫn trực tiếp
của giáo viên.
-Đối với tác phẩm thơ: học sinh cần nắm vững giá trị nội dung, tư tưởng
(ý ghĩa văn bản) và những đặc sắc về nghệ thuật của đoạn thơ hoặc bài thơ.
-Đối với tác phẩm văn xuôi: học sinh cần nắm chắc tóm tắt tác phẩm; tìm
các chi tiết, sự việc, tình huống tiêu biểu để làm nổi bật giá trị nội dung và
nghệ thuật của tác phẩm. Hướng dẫn học sinh cách tìm hiểu, phân tích một
nhân vật trong tác phẩm văn học.
2.2.Cách thức tiến hành:
2.2.1.Trong quá trình dạy học:
-Giáo viên thường xuyên kiểm tra bài cũ trước khi học bài mới để biết được
mức độ thu nhận và khả năng vận dụng, tái hiện kiến thức của học sinh. Chú
ý xoáy sâu trọng tâm kiến thức cơ bản của từng bài, từng phần. Từ đó, rút
kinh nghiệm kịp thời ở cả giáo viên và học sinh để có được kết quả tốt nhất.
Sau mỗi bài học, có thể đưa ra những câu hỏi và đề bài cụ thể với các dạng

đề thường gặp, hướng dẫn cách làm để các em có thể tham khảo và làm quen
dần, tránh tâm lí lạ lẫm, hoang mang khi thi. Cụ thể:

Khái quát VHVN từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ
XX:
-Hoàn cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa từ Cách mạng tháng Tám năm 1945
đến 1975.
-Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu của Văn họcViệt Nam từ
Cách mạng tháng Tám năm 1945 - 1975.
-Những đặc điểm cơ bản của Văn họcViệt Nam từ Cách mạng tháng Tám
năm 1945 - 1975.
-Những thành tựu và hạn chế của VHVN từ Cách mạng tháng Tám năm
1945 - 1975.
-Những nét mới của chủ nghĩa nhân đạo trong Văn họcViệt Nam từ 1945 -
1975.
-Hoàn cảnh lịch sử, xã hội và văn hoá từ 1975 - hết TK XX.
-Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu của Văn học Việt Nam từ
1975 - hết TK XX.
Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh:
-Phần tác giả: cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, quan điểm sáng tác, phong cách
nghệ thuật.
-Phần tác phẩm:
+Hoàn cảnh ra đời, mục đích sáng tác.
+Trong phần mở đầu bản “Tuyên ngôn độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
trích dẫn những bản tuyên ngôn nào? Việc trích dẫn đó có ý nghĩa gì?
+Nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa lịch sử trọng đại của bản “Tuyên ngôn
độc lập”.
+Giá trị lịch sử và giá trị văn học của bản “Tuyên ngôn độc lập”.
+Ý nghĩa văn bản.
Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc (Phạm Văn
Đồng)
-Giới thiệu những nét khái quát về tác giả Phạm Văn Đồng.
-Những luận điểm chính của bài viết Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng

-Mục đích sáng tác và nội dung của bài nghị luận.
-Cách nhìn mới mẻ của tác giả Phạm Văn Đồng về nhà thơ Nguyễn Đình
Chiểu.
-Ý nghĩa văn bản.
Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003 (Cô-phi An-
nan)
-Khái quát về tác giả Cô-phi An-nan.
-Hoàn cảnh sáng tác “Thông điệp nhân ngày thế giới
-Giá trị nội dung, tư tưởng, nghệ thuật và ý nghĩa văn bản trên.
-Nêu nhận thức về tầm q/trọng và t/chất cấp thiết của việc phòng chống
AIDS trên thế giới qua bản “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống
AIDS …” - Cô-phi An-nan.
Tây Tiến – Quang Dũng:
-Những hiểu biết về tác giả Quang Dũng.

-Hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa nhan đề bài thơ “Tây Tiến”.
-Nét đặc sắc nội dung và nghệ thuật bài thơ “Tây Tiến”.
-Cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến trong bài thơ.
Đề bài tham khảo:
Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
a-Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về tác giả Quang Dũng và hoàn cảnh ra đời bài thơ

“Tây Tiến”.
-Giới thiệu khái quát về bài thơ “Tây Tiến”, vị trí và nội dung đoạn trích:
đoạn thơ thuộc khổ thứ 3 của bài thơ, thể hiện chân dung đoàn binh Tây
Tiến cùng sự hy sinh anh dũng của họ.
b-Thân bài:
-Qua bốn câu thơ đầu, chân dung người lính Tây Tiến hiện lên hào hùng,
lẫm liệt, bi tráng: đầu không mọc tóc; xanh màu lá, dữ oai hùm … thể hiện
vẻ ngang tàng, xem thường gian khổ, thiếu thốn của người lính nhưng vẫn
toát lên vẻ hào hùng, mạnh mẽ.
-Người lính Tây Tiến có tâm hồn mơ mộng, lãng mạn. Họ mộng tiêu diệt
quân thù, bảo vệ biên cương, lập nên chiến công, nêu cao truyền thống anh
hùng của đoàn binh Tây Tiến. Họ vẫn có những giấc mơ đẹp hướng về các
cô gái Hà thành.
-Bốn câu sau: vẻ đẹp bi tráng trong sự hy sinh anh dũng, dù phải đối mặt
với cái chết thường xuyên nhưng họ vẫn không lùi bước vì đã tâm niệm và ý
thức sâu sắc về ý nghĩa của sự hy sinh.
-Qua hình ảnh các tráng sĩ thời cổ, tác giả muốn thể hiện lời thề của các
chiến sĩ Tây Tiến: cái chết vốn là hiện thực ngiệt ngã nhất (cái bi) nhưng qua
bút pháp lãng mạn đã trở thành bi tráng: “Áo bào thay chiếu anh về đất”.
-Tác giả dùng cách nói đậm màu sắc cổ điển để diễn tả vẻ anh hùng, cái
chết bi tráng của người lính Tây Tiến. Hi sinh là họ đã trở về với đất mẹ,
trong lòng Tổ quốc. Con sông Mã cũng đã tấu lên khúc tráng ca đưa tiễn linh
hồn họ.
-Nghệ thuật: thể thơ 7 chữ hiện đại, bút pháp lãng mạn, nghệ thuật ẩn dụ,
dùng từ Hán Việt …
c-Kết bài:
-Đánh giá chung về nét đặc sắc của đoạn thơ: độc đáo, kết hợp khuynh
hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
-Tác giả đã thành công khi khắc họa một tượng đài bất tử về những người
lính vô danh của một thời đánh giặc không thể nào quên.

Việt Bắc (trích) - Tố Hữu:

-Giới thiệu một số nét tiêu biểu về tiểu sử tác giả Tố Hữu.
-Phong cách nghệ thuật và những chặng đường sáng tác thơ của Tố Hữu.
-Hoàn cảnh sáng tác, đặc sắc nội dung và nghệ thuật bài thơ “Việt Bắc”.
-Những biểu hiện của tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc”.
-Ý nghĩa văn bản.
Đề bài tham khảo:
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu:
Ta về mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
a-Mở bài:
- Giới thiệu khái quát hoàn cảnh ra đời và nội dung bài thơ “Việt Bắc”.
- Giới thiệu vị trí đoạn trích: đoạn thơ gồm 10 câu, ghi lại nỗi nhớ của nhà
thơ và cũng là của người cán bộ kháng chiến về xuôi đối với cảnh và người
Việt Bắc (bức tranh tứ bình).
b-Thân bài:
-Mở đầu đoạn thơ là câu hỏi của người ra đi:
Ta về mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
-Hai câu thơ mở đầu thể hiện rõ chủ đề đoạn thơ: đó là hoa và người Việt
Bắc. Hai hình ảnh soi chiếu vào nhau làm nổi bật vẻ đẹp của Việt Bắc.

-Tám câu còn lại chia thành 4 cặp lục bát, dựng lên bốn bức tranh đẹp về
cảnh và người Việt Bắc.
+Mùa đông: trên màu xanh mênh mông của núi rừng là hoa chuối đỏ tươi.
Màu đỏ tươi như ngọn lửa làm cho rừng xanh trở nên sống động, ấm áp
hơn.Nổi bật trên đèo cao là hình ảnh người đi rừng, ánh nắng phản chiếu
trên con dao gài thắt lưng tạo nên những tia sáng lấp lánh. Người và hoa tạo
nên điểm sáng, ấm cho núi rừng.
+Mùa xuân: màu trắng tinh khiết của hoa mơ phủ trắng núi rừng. Trên nền
đó hiện lên hình ảnh con người với công việc, động tác khéo léo, tỉ mỉ: chuốt
từng sợi giang. Người và cảnh gợi lên chất thơ.
+Mùa hè: tiếng ve làm cho rừng phách đồng loạt ngả sang màu vàng. Rừng
núi mùa hè được tô điểm
Thêm một hình ảnh gợi cảm của cô gái hái măng một mình giữa tiếng nhạc
ve ngân vang.
+Mùa thu: ánh trăng thu làm khung cảnh núi rừng trở nên huyền ảo, thanh
bình. Trong khung cảnh ấy, vang lên tiếng hát ân tình thủy chung.

-Nghệ thuật: âm hưởng chung của đoạn thơ là nỗi nhớ thương tha thiết.
Nhịp thơ lục bát nhịp nhàng, uyển chuyển, bâng khuâng, êm đềm như khúc
hát ru. Đoạn thơ giàu tính tạo hình, giàu âm hưởng, cấu trúc hài hòa, cân đối.
+Hình ảnh thiên nhiên luôn gắn với sinh hoạt con người, cứ một câu tả
cảnh lại một câu tả người. Thủ pháp song hành làm cho cảnh không có vẻ
hoang dã mà thân thiết với con người. Cảnh Việt Bắc được miêu tả đa dạng,
sinh động, vừa hùng vĩ vừa nên thơ. Sinh hoạt của con người qua hoài niệm
của tác giả là cuộc sống lao động rất đặc trưng của con người Việt Bắc: đi
rừng, đan nón, hái măng. Chú ý điều này ta mới thấy được hết sự gắn bó của
tác giả nói riêng, con người kháng chiến nói chung với thiên nhiên và con
người Việt Bắc. Nó thể hiện những rung động chân thật, thắm thiết của nhà
thơ và cũng là của người ra đi đối với quê hương Việt Bắc.
c-Kết bài:

-Đoạn thơ mang vẻ đẹp của một bức tranh tứ bình đặc sắc, đậm đà phong vị
dân tộc. Mỗi mùa có một nét đẹp riêng dào dạt sức sống: màu xanh của núi
rừng Việt Bắc; màu đỏ tươi của hoa chuối, màu trắng của hoa mơ, màu vàng
của rừng phách, màu ánh trăng xanh hòa bình …
-Con người Việt Bắc thể hiện những phẩm chất tốt đẹp: cần cù lao động,
làm chủ thiên nhiên và làm chủ cuộc đời trong lao động, kiên nhẫn, khéo
léo, tài hoa, trẻ trung, lạc quan, yêu đời, ân tình thủy chung với cách mạng
và kháng chiến.
Đất Nước (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) - Nguyễn Khoa
Điềm:
-Giới thiệu khái quát về tác giả và phong cách sáng tác.
-Hoàn cảnh sáng tác, vị trí đoạn trích.
-Những phát hiện và cảm nhận mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về Đất
Nước.
-Về giá trị nội dung và nghệ thuật ý nghĩa văn bản của đoạn trích “Đất
nước”.
Đề bài tham khảo:
Phân tích đoạn thơ sau trong đoạn trích “Đất Nước” (trích Mặt đường
khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm):
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái ngày xưa mẹ thường
hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh
giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó

a-Mở bài:
-Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm.

-Nội dung đoạn trích: thể hiện cảm nhận của tác giả về Đất Nước qua những
điều rất bình dị, gần gũi với cuộc sống hàng ngày của mỗi người.
b-Thân bài:
-Đoạn thơ thể hiện sự cảm nhận và lý giải của tác giả về đất nước ở phương
diện lịch sử - văn hóa:
+Đất Nước có từ ngàn xưa, qua những câu chuyện kể của mẹ.
+Đất Nước gắn với bản sắc truyền thống văn hoá dân tộc, gắn với những
phong tục tập quán lâu đời:
Miếng trầu bà ăn.
Tóc mẹ bới sau đầu.
Cái kèo cái cột trong nhà
+Đất nước lớn lên trong đau thương vất vả cùng những cuộc trường chinh
không nghỉ của con người:
Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm gắn với hình ảnh cây tre -
biểu tượng cho sức sống bất diệt của dân tộc.
Những sự vất vả, gian nan của cha mẹ: hạt gạo ta ăn hàng ngày …
+Đất nước gắn với truyền thống đạo lí, những con người sống ân nghĩa,
thủy chung: cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn …
 Đoạn thơ đậm đặc chất liệu văn hóa dân gian. Cùng với những hình
ảnh giàu sức gợi cảm, đoạn thơ đã gợi được chiều sâu của không gian, thời
gian của lịch sử và văn hóa gắn với những thăng trầm của dân tộc.
-Thể thơ tự do, giọng thơ tâm tình tha thiết, trầm lắng, trang nghiêm. Sử
dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật: ca dao, điệp từ, ngôn ngữ giản dị, quen
thuộc …
c-Kết bài:
-Đánh giá chung về tác giả và tác phẩm: đoạn trích thể hiện cảm nhận của
tác giả về Đất Nước qua những điều rất bình dị, gần gũi với cuộc sống hàng

ngày của mỗi người.
-Có sự thành công khi kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật: chất liệu văn hóa
dân gian thể hiện tình yêu đất nước chân thật, sâu sắc.
Sóng - Xuân Quỳnh:
-Những hiểu biết của em về cuộc đời và đặc điểm thơ Xuân Quỳnh.
-Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Sóng”.
-Đặc sắc nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa văn bản.
Đề bài tham khảo:
Phân tích đoạn thơ sau (trích Sóng - Xuân Quỳnh):
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
a-Mở bài:

-Giới thiệu khái quát về tác giả và bài thơ.
-Nêu nhận định về bài thơ: mượn hình tượng sóng biển để diễn tả những
cung bậc tình cảm của người con gái trong tình yêu  thể hiện rõ nét phong
cách thơ Xuân Quỳnh.
b-Thân bài:
-Đoạn trích là hai khổ đầu của bài thơ, thể hiện tâm hồn, nỗi niềm của người
con gái đang yêu về một tình yêu rộng lớn, cao đẹp.
*Khổ thứ nhất:
-Mở đầu là hình ảnh con sóng đối lập trong trạng thái: dữ dội - dịu êm; ồn
ào - lặng lẽ. Những đặc tính này của sóng cũng chính là những cung bậc tình

cảm trong tâm hồn của người phụ nữ đang yêu.
-Hai câu sau: hình ảnh con sóng muốn vượt ra khỏi mọi giới hạn chật chội
của sông để tìm ra biển lớn gợi liên tưởng đến tình yêu của con người: luôn
khao khát vươn tới sự lớn lao đích thực.
*Khổ thứ hai:
-Nỗi khát khao tình yêu trong trái tim con người như những con sóng biển,
đã có từ ngàn xưa và sẽ tồn tại mãi với muôn đời.
-Đứng trước sự bất diệt của thiên nhiên, tác giả đã liên tưởng đến sự bất diệt
của khát vọng tình yêu trong trái tim tuổi trẻ.
-Nghệ thuật:
+Thể thơ 5 chữ, cách ngắt nhịp, gieo vần độc đáo, giàu sức liên tưởng.
+Xây dựng hình tượng ẩn dụ, giọng thơ tha thiết.
c-Kết bài:
-Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng
sóng: tình yêu thiết tha, nồng nàn, đầy khát vọng và sắt son chung thủy, vượt
lên mọi giới hạn của đời người.
Đàn ghi ta của Lor-ca – Thanh Thảo:
-Một vài nét tiêu biểu về tiểu sử, đặc điểm phong cách thơ Thanh Thảo.
-Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ bài thơ.
-Ý nghĩa nhan đề và lời đề từ.
-Những đặc sắc nội dung, nghệ thuật của bài thơ.
-Ý nghĩa của hình tượng tiếng đàn ghi-ta trong bài thơ và sự sáng tạo mới
mẻ của Thanh Thảo.
-Mạch cảm xúc của bài thơ và ý nghĩa văn bản.
Đề bài tham khảo:
Phân tích đoạn thơ sau (trích “Đàn ghita của Lor-ca” - Thanh Thảo):
những tiếng đàn bọt nước
Tây-ban-nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn
a-Mở bài:
-Giới thiệu khái quát về tác giả và bài thơ.
-Tác giả khắc họa hình ảnh Lor-ca, một con người tự do, một nghệ sĩ cách
tân trong khung cảnh chính trị và nghệ thuật Tây Ban Nha.

b-Thân bài:
-Tiếng đàn là âm thanh được gắn kết với những cảm nhận về thị giác (bọt
nước)  sức mạnh tiềm ẩn trong tiếng đàn, tiếng lòng trong thi ca của Lor-
ca.
-Lila: tiếng nhạc, cũng là tên của loài hoa tử đinh hương với sắc tím mê
hoặc.
-Lor-ca được miêu tả trên cái phông nền văn hóa đậm chất Tây Ban Nha:
một con người cô đơn trên hành trình đấu tranh nhưng đầy kiêu hãnh đến với
cái đẹp, đến với tự do, với những cách tân nghệ thuật.
-Các hình ảnh có giá trị tượng trưng cho âm nhạc, cho đất nước Tây Ban
Nha: quê hương của đàn ghita, quê hương của môn đấu bò tót  gợi liên
tưởng đến đất nước Tây Ban Nha thời Lor-ca như một đấu trường lớn giữa
khát vọng cách tân nghệ thuật với nền nghệ thuật đã già cỗi; giữa khát vọng
tự do dân chủ với nền chính trị độc tài phát xít.
-Nghệ thuật:
+Thể thơ tự do, không dấu câu, không dấu hiệu mở đầu, kết thúc.
+Ngôn ngữ thơ hàm súc, giàu sức gợi. Kết hợp nhuần nhuyễn tự sự và trữ
tình: giữa thơ và nhạc, giữa lãng mạn trữ tình và bi tráng … để diễn tả cảm
xúc.
+Sử dụng thành công những thủ pháp tiêu biểu của thơ siêu thực, đặc biệt
là chuỗi hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng.
+Giàu suy tư, mãnh liệt, phóng túng trong xúc cảm, ít nhiều nhuốm màu
sắc tượng trưng, siêu thực.

c-Kết bài:
-Ngợi ca vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn và tài năng của Lor-ca, một nhà thơ,
nhà cách tân nghệ thuật vĩ đại của văn học Tây Ban Nha và thế giới thế kỉ
XX.
Người lái đò Sông Đà (trích) - Nguyễn Tuân:
-Vài nét tiêu biểu về tiểu sử, con người và sự nghiệp văn chương của
Ng.Tuân.
-Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
-Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác tùy bút “Người lái đò sông Đà”.
-Đặc sắc nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa văn bản.
-Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong tùy bút “Người lái đò sông
Đà.”.
Đề bài tham khảo:
Cảm nhận về vẻ đẹp của dòng sông Đà qua tùy bút “Người lái đò sông
Đà” - Nguyễn Tuân.
a-Giới thiệu chung:
-Tùy bút “Người lái đò sông Đà” là một trong những tác phẩm đặc sắc của
Nguyễn Tuân, in trong tập “Sông Đà” (1960). Ở tùy bút này, nhà văn đã xây
dựng được hai hình tượng đáng nhớ là con sông Đà và người lái đò - hai
hình tượng mang đậm phong cách Nguyễn Tuân, để lại cho độc giả những
ấn tượng mạnh mẽ.
b-Cảm nhận về vẻ đẹp của dòng sông Đà:

-Sông Đà là một dòng sông hùng vĩ, rất dài và có nhiều thác một sinh thể
có tâm hồn, tính cách thể hiện rõ nét: sự hung bạo và trữ tình.
Sông Đà – con sông Tây Bắc hung bạo:
-Vách đá: dựng đứng, rất cao, hẹp & tối “dựng vách thành, đúng ngọ mới
thấy mặt trời, chẹt lấy lòng sông Đà như một cái yết hầu”
-Ghềnh sông với sự hợp sức của gió, của sóng và của đá: “nước xô đá, đá xô
sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm”

-Cái hút nước: có những hút nước xoáy sâu sẵn sàng lôi tuột mọi con thuyền
dám bén mảng đến tận đáy sông
-Thác nước: âm thanh gầm réo dữ tợn như một sinh thể mang tính cách dữ
tợn: “nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng”
-Thạch trận trên sông mang “diện mạo và tâm địa như một kẻ thù số một”
+Vòng vây thứ nhất: trùng vi thạch trận có bốn cửa tử, một cửa sinh
+Vòng vây thứ hai: tăng thêm nhiều cửa tử
+Vòng vây thứ ba: bên phải, bên trái đều là luồng chết
-Vẻ đẹp hung bạo, sức mạnh huyền bí của sông Đà hiện ra ở nhiều góc độ
khác nhau. Đây chính là tiềm năng lớn của dòng sông khi nó được chinh
phục.
Sông Đà – con sông Tây Bắc trữ tình:
-Đẹp trong dáng vẻ của 1 người đàn bà kiều diễm: “con sông Đà tuôn dài
nương xuân”
-Sông Đà lấp lánh sinh động với sắc nước biến đổi kỳ ảo theo mùa: mùa
xuân dòng xanh màu ngọc bích, mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ
-Sông Đà với bãi bờ yên ả, hiền lành, nguyên sơ với cảnh ven sông lặng như
tờ Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử, hồn nhiên như một nỗi niềm cổ
tích tuổi xưa
-H/ảnh trong sáng, gợi cảm lạ thường, như “lững lờ nhớ thương”, như “gặp
lại cố nhân”
 Đánh giá chung: những nét độc đáo trong nghệ thuật khắc họa hình
tượng con sông Đà của Nguyễn Tuân.
-Nguyễn Tuân khám phá sự vật ở phương diện văn hóa - thẩm mỹ. Con
sông Đà là hiện thân của cái Đẹp. Đẹp trong sự dữ dội và đẹp trong vẻ nên
thơ, yên bình.
-Nguyễn Tuân tô đậm những gì thật dữ dội, phi thường, mãnh liệt, xuất
chúng nên việc miêu tả con sông Đà trong trạng thái đối lập đã tạo nên một
ấn tượng khó quên trong lòng người đọc.
-Sử dụng vốn ngôn ngữ giàu có, độc đáo, câu văn linh hoạt, biến ảo, trí

tưởng tượng phong phú
-Tác giả đã vận dụng tri thức của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác
nhau
Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích - Hoàng Phủ Ngọc Tường):
-Giới thiệu khái quát về tác giả và nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật.
-Giá trị nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa văn bản.
-Những nét đặc sắc của văn phong Hoàng Phủ Ngọc Tường trong bài bút ký
“Ai đã đặt tên cho dòng sông.”
Đề bài tham khảo:

Phân tích vẻ đẹp của hình tượng sông Hương trong tác phẩm “Ai đã
đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm.
-Nêu vấn đề nghị luận: vẻ đẹp của hình tượng sông Hương trong TP “Ai đã
đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường:
+Vẻ đẹp được phát hiện ở cảnh sắc thiên nhiên: sông Hương là một công
trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa.
+Vẻ đẹp được nhìn từ góc độ văn hóa: sông Hương là dòng sông của âm
nhạc, thi ca.
+Vẻ đẹp được nhìn từ góc độ lịch sử: sông Hương là dòng sông của những
chiến công hiển hách.
+Vẻ đẹp trong trí tưởng tượng của tác giả: sông Hương đẹp như một thiếu
nữ Huế tài hoa, dịu dàng, đa tình … Sông Hương càng đáng yêu, quyến rũ
hơn khi gắn liền với cái tôi của Hoàng Phủ Ngọc Tường: tài hoa, uyên bác,
giàu tình cảm và trí tưởng tượng lãng mạn, say mê cái đẹp của thiên nhiên
xứ Huế.
-Đánh giá chung về gía trị của hình tượng.
*LƯU Ý:
-Có thể bám theo bố cục tác phẩm để phân tích vẻ đẹp của hình tượng sông
Hương qua từng đoạn: ở thượng nguồn, qua đồng bằng Châu Hóa, qua kinh

thành Huế … nhưng phải đảm bảo được các ý cơ bản trên.
Vợ chồng A Phủ (trích) - Tô Hoài:
-Những hiểu biết của em về tiểu sử, phong cách sáng tác của tác giả Tô
Hoài.
-Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, tóm tắt tác phẩm Vợ chồng A Phủ.
-Đặc sắc giá trị nội dung (giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo), giá trị nghệ
thuật, ý nghĩa văn bản.
Đề bài tham khảo:
Phân tích diễn biến tâm lý và hành động của nhân vật Mị trong đêm
tình mùa xuân và đặc biệt trong đêm Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ (trích
“Vợ chồng A Phủ” - Tô Hoài).
a-Mở bài:
-Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và nhân vật Mị:
+“Vợ chồng A Phủ” là truyện ngắn rút từ tập “Truyện Tây Bắc” của Tô
Hoài. Đây là truyện ngắn có nội dung tư tưởng sâu sắc và thành công về
phương diện nghệ thuật.
+Giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm thể hiện tập trung trong hình
tượng nhân vật Mị, qua diễn biến tâm lí và hành động của nhân vật Mị trong
đêm tình mùa xuân, đặc biệt trong đêm Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ.
b-Thân bài:
-Mị là cô gái người Mèo trẻ, đẹp; có đủ phẩm chất để được sống hạnh phúc.
Nhưng vì nhà nghèo, bố mẹ Mị không trả nổi món nợ tiền vay của nhà thống
lí Pá Tra nên Mị phải trở thành con dâu gạt nợ cho nhà thống lí. Ý thức được
cuộc sống tủi nhục, khát vọng sống tự do nên Mị định tự tử. Nhưng vì
thương bố, Mị lại không đành lòng chết, chấp nhận tiếp tục cuộc sống trâu
ngựa ở nhà thống lí.

Mùa xuân đến:
-Tâm trạng Mị náo nức khi những đêm tình mùa xuân đã tới. Mùa xuân tươi
đẹp đã tác động đến tâm hồn tưởng như đã khô héo của Mị.

-Mị bồi hồi lắng nghe tiếng sáo gọi bạn đi chơi.
-Mị uống rượu để quên đi tất cả. Mị say và sống lại thời quá khứ tươi đẹp.
-Mị đột nhiên vui sướng và nhận ra mình còn trẻ lắm. Sống với A Sử, Mị
chỉ là nô lệ, không hề có tình yêu, hạnh phúc  Mị muốn đi chơi. Mị bỏ
thêm mỡ vào đĩa đèn, quấn lại tóc, lấy váy hoa bước theo tiếng sáo gọi
bạn tình.
Trước cảnh A Phủ bị trói:
-Ban đầu, Mị dửng dưng, vô cảm vì cảnh trói người đến chết đã từng xảy ra
ở nhà thống lý.
-Sau đó, Mị có sự đồng cảm, thương người: khi thấy dòng nước mắt bò
xuống hai hõm má đã xám đen lại của A Phủ, Mị nhớ lại cảnh mình đã từng
bị trói đứng như thế. Thương mình, đồng cảm với người cùng cảnh ngộ, Mị
nhận ra tội ác của bọn thống lý “chúng nó thật độc ác”.
-Sức mạnh của tình thương người cùng với niềm khao khát tự do trỗi dậy
mãnh liệt. Khi tình thế bức bách, Mị quyết định hành động thật táo bạo: cắt
dây cởi trói cho A Phủ, đồng thời cũng là tự cứu mình thoát khỏi thần quyền,
cường quyền.
Đặc điểm tính cách của nhân vật Mị:
-Mị trở thành nạn nhân đau thương, khốn cùng trong nhà thống lý nhưng
vẫn tiềm ẩn một sức sống, sức phản kháng mãnh liệt để chống lại cường
quyền và thần quyền  đây là sức sống của một con người có nhân phẩm,
giàu lòng nhân ái và luôn khao khát tự do.
-Tâm lý và hành động của Mị phát triển từ tự phát đến tự giác, khẳng định
sức sống tiềm ẩn của nhân dân Tây Bắc: ham sống, khao khát tự do, có tình
người cao đẹp giữa những người cùng chung số phận, phản kháng lại số
phận để cứu người và cũng là tự cứu mình.
Đặc sắc về nghệ thuật:
-Tô Hoài đã xây dựng thành công nhân vật Mị, tiêu biểu cho số phận của
người phụ nữ nghèo miền núi dưới chế độ phong kiến - thực dân.
-Với những chi tiết gợi cảm, nghệ thuật tương phản, dùng cảnh tả tâm trạng

tác giả đã thể hiện được qúa trình diễn biến tâm lý, hành động và sức sống
tiềm ẩn của Mị chân thật, sinh động, tinh tế, gây ấn tượng mạnh.
c-Kết bài:
-Nhân vật Mị thể hiện tài năng nghệ thuật và tấm lòng của nhà văn Tô Hoài.
Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” là truyện ngắn đặc sắc có giá trị hiện thực và
giá trị nhân đạo sâu sắc.
-Tác phẩm là thành tựu của văn xuôi thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đánh
dấu sự trưởng thành của tác giả về đề tài miền núi.
Vợ nhặt – Kim Lân:
-Giới thiệu khái quát về tác giả, phong cách nghệ thuật.
-Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, tóm tắt tác phẩm.
-Về tình huống độc đáo trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.
-Giá trị nội dung (hiện thực, nhân đạo), giá trị nghệ thuật.

-Ý nghĩa nhan đề, ý nghĩa văn bản.
Đề bài tham khảo:
Phân tích vẻ đẹp của tình người và niềm hy vọng vào cuộc sống của
các nhân vật: Tràng, bà cụ Tứ và người đàn bà vợ nhặt trong truyện ngắn
“Vợ nhặt” - Kim Lân.
a-Mở bài:
-Kim Lân từng sáng tác trước cách mạng tháng Tám năm 1945, nhưng từ
sau năm 1945 ông mới thực sự có vị trí trong nền văn học Việt Nam. Ông
viết không nhiều nhưng đã đạt những thành công đáng kể, đặc biệt là những
sáng tác về đề tài nông thôn.
-Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân in trong tập “Con chó xấu xí” (1962)
là tác phẩm đặc sắc viết về nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu. Trên cái nền
tăm tối ấy, nhà văn đã miêu tả cảnh ngộ của những con người nghèo khổ ở
xóm ngụ cư với cái nhìn nhân hậu, phát hiện ở họ vẻ đẹp của tình người và
niềm hy vọng vào cuộc sống.
b-Thân bài: Phân tích cụ thể

-“Vợ nhặt” tái hiện một bức tranh cuộc sống rất bi thảm. Nạn đói hoành
hành dữ dội, người chết như ngả rạ, người sống thì lay lắt bên bờ vực thẳm.
Thế nhưng, qua các nhân vật chính trong tác phẩm, tác giả lại cho ta thấy:
ngay trong hoàn cảnh khốn cùng nhất, những con người này vẫn không mất
đi những nét đẹp vốn có của họ.
Tràng:
-Thái độ của Tràng đối với người đàn bà đói rách là biểu hiện của tình
người đẹp đẽ trong một hoàn cảnh đói nghèo cùng quẫn: cưu mang người
cùng cảnh ngộ (chi tiết Tràng mời người đàn bà một bữa bánh đúc rồi chấp
nhận việc chị ta theo mình dù cảm thấy hơi “chợn”) nảy sinh những tình cảm
mới mẻ, những cảm giác lạ lùng (các chi tiết: trên đường về, Tràng nhận
thấy tình nghĩa đối với người đàn bà đi bên, bối rối trước nỗi buồn của chị ta
).
-Sau tình huống nhặt vợ, niềm hy vọng vào cuộc sống thể hiện rõ rệt ở
Tràng:
+Vui sướng trước hạnh phúc bất ngờ (phân tích ý nghĩa chi tiết mua dầu
để thắp, ý nghĩa những cái cười của Tràng: bật cười, cười tươi).
+Thấy gắn bó hơn với gia đình, nghĩ về trách nhiệm của bản thân: thấm
thía cảm động, vui sướng phấn chấn, thấy mình nên người hơn và nhận ra
bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này.
+Nghĩ tới sự đổi thay của cuộc sống dù chưa ý thức đầy đủ: thoáng trong
đầu óc Tràng hình ảnh đoàn người đói kéo nhau đi trên đê với lá cờ đỏ phấp
phới.
Người đàn bà vợ nhặt:
-Tình cảnh khốn khổ đã không làm mất đi tình người ở nhân vật này. Lúc
đầu, cái đói làm chị ta tiều tụy cả hình hài, không giữ được cả sự e dè vốn có
của người phụ nữ. Nhưng từ khi theo Tràng, chị thay đổi hẳn: không còn
“chao chát, chỏng lỏn” mà trở nên “hiền hậu, đúng mực” (phân tích một số
chi tiết tiêu biểu). Thiên chức, bổn phận làm vợ ở chị đã được đánh thức:


vấn vương những tình cảm mới mẻ, cư xử với Tràng mộc mạc, chân tình;
mắng yêu khi Tràng khoe chai dầu vừa mua
-Sự trỗi dậy của niềm hy vọng: nhen nhóm, vun đắp tổ ấm hạnh phúc: cùng
mẹ chồng sắp xếp, dọn dẹp nhà cửa; thoáng nghĩ tới một sự thay đổi: kể
chuyện ở Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế, còn phá
kho thóc của Nhật chia cho người đói
Bà cụ Tứ:
-Nhân vật này cho thấy rõ nhất vẻ đẹp của tình người trong tác phẩm. Vẻ
đẹp đó được thể hiện qua thái độ, tình cảm của bà cụ Tứ đối với con trai và
con dâu:
+Với Tràng, bà cảm thấy tủi vì làm mẹ mà không giúp gì được cho con,
để con phải nhặt vợ trong cảnh túng đói. Trong tâm trạng của bà, sự ngạc
nhiên, buồn, vui, lo âu lẫn lộn. Tất cả đều xuất phát từ lòng thương con
(dẫn chứng).
+Với người con dâu, bà không hề rẻ rúng mà ngược lại, tỏ ra gần gũi,
chân tình, xóa đi mặc cảm ở chị (chú ý những câu nói bộc lộ tình yêu thương
của bà: “Ừ thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng
lòng”; “cốt sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi”; “chúng mày lấy nhau
lúc này, u thương quá” ).
-Người mẹ gần đất xa trời lại là người bộc lộ niềm hy vọng mãnh liệt vào
cuộc sống. Bà động viên các con bằng kinh nghiệm sống, bằng triết lý dân
gian “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”; hướng tới ánh sáng: vui khi thấy Tràng
thắp lên ngọn đèn trong căn nhà ; thu xếp lại nhà cửa cho quang quẻ, nề
nếp với ý nghĩ cuộc đời sẽ khác đi, làm ăn có cơ khấm khá lên, bàn định về
tương lai, khơi dậy trong con cái một niềm tin, nghĩ tới việc kiếm tiền mua
đôi gà cho nó sinh sôi, nảy nở, hy vọng cuộc đời con cháu mình sẽ sáng sủa
hơn
c-Kết bài:
-Ba nhân vật trong tác phẩm “Vợ nhặt” được Kim Lân miêu tả rất sinh
động. Ngoại hình, hành động, lời nói, nhất là diễn biến nội tâm của nhân vật

dưới sự tác động của một tình huống đặc biệt được khắc họa rõ nét. Chính vì
thế, những điều tác giả muốn khẳng định ở các nhân vật càng trở nên nổi bật.
-Miêu tả nạn đói, Kim Lân không chỉ tái hiện bức tranh thê lương của cuộc
sống mà còn phát hiện những phẩm chất cao quý của con người trong cảnh
ngộ bi thảm. Qua đó, nhà văn bộc lộ cái nhìn hiện thực sắc sảo và tình cảm
nhân đạo sâu sắc.
Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành:
-Giới thiệu khái quát về tiểu sử và phong cách sáng tác của tác giả.
-Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa nhan đề, tóm tắt tác phẩm.
-Đặc sắc giá trị nội dung, nghệ thuật, tư tưởng chủ đạo và ý nghĩa văn bản.
Đề bài tham khảo:
Về hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn “Rừng xà nu” - Nguyễn
Trung Thành.
-Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và hình tượng cây xà nu.

-Hình tượng cây xà nu: xuất hiện ở đầu và cuối truyện là hình ảnh quán
xuyến, xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, vừa là hình ảnh thực vừa mang ý nghĩa
tượng trưng:
+Là một loại cây tiêu biểu ở vùng rừng núi Tây Nguyên, gắn bó với đời
sống dân làng Xô Man.
+Giao hòa mật thiết với con người đau thương và cường tráng.
+Có sức sống mãnh liệt và chịu đựng dẻo dai.
+Cây xà nu có mặt trong đời sống hàng ngày như đã từ ngàn đời nay của
dân làng (lửa xà nu, đuốc xà nu, khói xà nu …).
+Cây xà nu cũng tham dự vào những sự kiện quan trọng của cuộc sống
làng Xô Man (đuốc xà nu soi sáng dân làng vào rừng chuẩn bị nổi dậy, giặc
đốt hai bàn tay Tnú bằng giẻ tẩm nhựa xà nu, đuốc xà nu soi sáng đêm dân
làng nổi dậy diệt ác ôn ……).
+Cây xà nu cùng chịu chung số phận với dân làng, che chở cho dân làng.
Nó là hình ảnh tượng trưng cho khát vọng tự do, cho tinh thần hiên ngang

bất khuất và sự nối tiếp các thế hệ cách mạng của đồng bào Tây Nguyên.
+Hình ảnh cây xà nu luôn được miêu tả trong thế song hành, tương đồng
với con người.
-Cách so sánh, chuyển hoá đặc sắc giữa cây và người:
+Vết thương của cây: nhựa ứa ra, bầm lại, đen và đặc quyện lại thành từng
cục máu lớn.
+Vết thương của con người: của Tnú - lại ứa ra giọt máu đậm, tím thâm
như nhựa xà nu.
+Vết thương của cây xà nu “chóng lành như trên một thân thể cường
tráng”.
+Cụ Mết ở trần: ngực căng như một cây xà nu lớn.
-Được miêu tả bằng nghệ thuật nhân hoá, mang ý nghĩa tượng trưng:
+ “Cả rừng xà nu … … bị thương”.
+ “Có những cây … …cục máu lớn”.
 tượng trưng cho sự mất mát, đau thương uất hận của dân làng Xô Man.
+ “Trong rừng ít có … … bầu trời”.
+ “Chúng vượt lên … … che chở cho làng”.
 Thể hiện sức sống mãnh liệt, tinh thần bất khuất và khát vọng tự do của
nhân dân Tây Nguyên. Cây xà nu là hình tượng nghệ thuật đặc sắc, có sức
hấp dẫn đặc biệt, tiêu biểu cho số phận và phẩm chất, sức sống bất diệt, tinh
thần đấu tranh quật cường của nhân dân Tây Nguyên vươn tới ánh sáng của
lý tưởng cách mạng. Các thế hệ cây xà nu tượng trưng cho các thế hệ nhân
dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Những đứa con trong gia đình (trích) - Nguyễn Thi:
-Những nét tiêu biểu về tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác của Nguyễn
Thi.
-Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa nhan đề, tóm tắt tác phẩm.
-Đặc sắc giá trị nội dung, nghệ thuật, tư tưởng chủ đạo và ý nghĩa văn bản.
Đề bài tham khảo:


Phân tích nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia
đình – Nguyễn Thi để thấy được vẻ đẹp của tuổi trẻ Việt Nam thời chống
Mĩ.
a-Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm:
-Vị trí, ý nghĩa hình tượng nhân vật Việt trong việc biểu hiện nội dung và
nghệ thuật của tác phẩm: thể hiện rõ tính cách nhân vật Việt như một nhân
vật chính của tác phẩm, thế hệ con nối tiếp truyền thống của cha anh, biểu
tượng của tuổi trẻ Việt Nam đánh Mĩ.
b-Tính cách nhân vật Việt:
-Việt hồn nhiên ngây thơ như một đứa trẻ. Chiến nhường nhịn em bao
nhiêu thì Việt hay tranh giành với chị bấy nhiêu. Đêm trước ngày ra đi,
Chiến nói với em những lời nghiêm trang thì Việt lúc “lăn kềnh ra ván cười
khì khì”, lúc lại rình “chụp một con đom đóm úp trong lòng tay”. Vào bộ
đội, Việt đem theo một chiếc ná cao su.
 Xây dựng nhân vật Việt hồn nhiên và thơ trẻ như thế, Nguyễn Thi
muốn nói về một thế hệ tuổi trẻ bước vào cuộc chiến đấu khi tuổi còn xanh.
-Yêu thương, gắn bó với gia đình: luôn nhớ đến má, chú Năm và chị Chiến.
(Ví dụ: Khi sắp xa nhà, lần đầu tiên Việt hiểu rõ lòng mình để thấy “thương
chị lạ”). Qua đó cho thấy: chính sự gắn bó sâu nặng giữa tình cảm gia đình
với tình yêu đất nước, giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc đã
tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam
trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
-Căm thù giặc sâu sắc và quyết tâm chiến đấu đến cùng.
+Phân tích ý nghĩ của Việt “mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó
đang đè nặng ở trên vai”.
+Ngay khi chỉ có một tấm thân trơ trọi và đầy thương tích, Việt vẫn đi tìm
giặc: “Mày chỉ giỏi giết gia đình tao, còn đối với tao thì mày là thằng chạy”.
+Việt hiện lên sinh động nhờ nghệ thuật xây dựng hình tượng: miêu tả tâm
lí, ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ miêu tả sinh động có tác dụng cá tính hóa
nhân vật.

c-Đánh giá:
-Vai trò, ý nghĩa hình tượng với giá trị tác phẩm: tiêu biểu cho vẻ đẹp tuổi trẻ
chống Mĩ: Việt là nhân vật xuất hiện nhiều nhất trong tác phẩm, một người
lính dũng cảm, đại diện cho lớp trẻ Việt Nam thời chống Mĩ. Họ hồn nhiên
trong cuộc sống nhưng cực kì nghiêm túc trong những suy nghĩ về truyền
thống gia đình, về “nợ nước thù nhà”. Họ sẽ là dòng chảy dài và đi xa muôn
dặm trong dòng sông truyền thống gia đình.
Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu:
-Khái quát về tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác của Nguyễn Minh
Châu.
-Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa nhan đề, tóm tắt tác phẩm.
-Đặc sắc giá trị nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa văn bản.
-Quan điểm của Nguyễn Minh Châu về nghệ thuật và con người.
-Những bài học có thể rút ra từ câu chuyện.
Đề bài tham khảo:

Phân tích tình huống truyện trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài
xa”.
-Xây dựng tình huống là một trong những vấn đề then chốt của nghệ thuật
truyện ngắn. Có ba loại tình huống phổ biến trong truyện ngắn:
+Tình huống hành động: mọi tình tiết hướng tới hành động có tính chất
bước ngoặt của nhân vật.
+Tình huống tâm trạng: hướng tới việc khám phá diễn biến tư tưởng, tình
cảm, tâm lí của nhân vật.
+Tình huống nhận thức: hướng tới việc cắt nghĩa giây phút giác ngộ chân lí
của nhân vật.
-Tình huống trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là
tình huống nhận thức. Các tình tiết, chi tiết trong truyện: người đàn ông làng
chài đánh vợ, thái độ cam chịu đầy nhẫn nhục của người đàn bà, phản ứng
của cậu bé Phác trước hành động vũ phu của người cha, người đàn bà được

mời đến toà án huyện để giải quyết bị kịch gia đình đều dẫn đến sự bừng
tỉnh, giây phút giác ngộ chân lí, làm sáng tỏ nhận thức mới mẻ của nhân vật
Đẩu "một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện
vùng biển".
-Giống như hai vòng tròn đồng tâm, cả người nghệ sĩ nhiếp ảnh và vị thẩm
phán đều phải trải qua một hành trình quanh co để "vỡ ra" chân lý:
+Người nghệ sĩ nhiếp ảnh gặp được một cảnh đẹp đơn giản mà toàn bích
nơi vùng đầm phá miền Trung - một cảnh đắt trời cho. Nhưng rồi anh lại bắt
gặp ngay trước mắt mình cảnh chồng đánh vợ, con đánh cha chen lẫn trong
cuộc sống cực nhọc, tăm tối của những người làng chài. Và rồi anh hiểu
rằng: chiếc thuyền ngoài xa thì đẹp mà cuộc sống trên thuyền đầy ắp sự vất
vả, mưu sinh.
-Bản chất của cuộc sống trên chiếc thuyền ấy chỉ được khám phá khi người
nghệ sĩ nhiếp ảnh và Chánh án Đẩu cố gắng can thiệp với mục đích bênh
vực người đàn bà yếu đuối nhưng chị lại từ chối sự giúp đỡ. Vị thẩm phán và
người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã hiểu được những nghịch lý của đời sống mà con
người phải chấp nhận.
-Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu được gửi gắm qua truyện
ngắn Chiếc thuyền ngoài xa rất phong phú và sâu sắc:
+Cuộc sống có những nghịch lí mà con người buộc phải chấp nhận, "sống
chung" với nó.
+Muốn con người thoát ra khỏi cảnh đau khổ, tăm tối, man rợ cần có
những giải pháp thiết thực chứ không phải chỉ là thiện chí hoặc các lí thuyết
đẹp đẽ nhưng xa rời thực tiễn.
+Nhan đề Chiếc thuyền ngoài xa giống như một gợi ý về khoảng cách, về
cự li nhìn ngắm đời sống mà người nghệ sĩ cần coi trọng. Khi quan sát từ
"ngoài xa", người nghệ sĩ sẽ không thể thấy hết những mảng tối, những góc
khuất. Chủ nghĩa nhân đạo trong nghệ thuật không thể xa lạ với số phận cụ
thể của con người. Nghệ thuật mà không vì cuộc sống con người thì nghệ
thuật phỏng có ích gì. Người nghệ sĩ khi thực sự sống với cuộc sống, thực sự

hiểu con người thì mới có những sáng tạo nghệ thuật có giá trị đích thực góp
phần cải tạo cuộc sống.

 Chiếc thuyền ngoài xa là một ẩn dụ, một triết lý bằng hình ảnh.
Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích) – Lưu Quang Vũ:
-Khái quát về tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác của Lưu Quang Vũ.
-Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, tóm tắt tác phẩm.
-Đặc sắc giá trị nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa văn bản.
-Ý nghĩa ẩn dụ qua các đoạn đối thoại: Trương Ba - xác hàng thịt; Trương
Ba - những người thân; Trương Ba - Đế Thích.
-Quan niệm sống mà tác giả gửi gắm qua nhân vật Trương Ba.
-Ý nghĩa triết lí và thời sự của vở kịch.
Đề bài tham khảo:
Suy nghĩ của anh/ chị về đoạn kết vở kịch: “Hồn Trương Ba, da hàng
thịt” của Lưu Quang Vũ.
a-Mở bài:
-Lưu Quang Vũ được coi là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất
của nền văn học Việt Nam hiện đại.
-Hồn Truong Ba, da hàng thịt là một trong những vở kịch gây được nhiều
tiếng vang nhất. Vở kịch được viết vào năm 1981 nhưng mãi đến năm 1984
mới được ra mắt công chúng;
-Màn kết của kịch đã cho thấy niềm tin mãnh liệt của Trương Ba vào cuộc
sống.
b-Thân bài:
-Khi phải sống thân thân xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba đã bị nhiễm dần
những thói xấu, bị người thân xa lánh, nên đã quyết định châm hương gọi
Đế Thích xuống và xin được trả lại thân xác cho anh hàng thịt, còn mình
chấp nhận cái chết vĩnh viễn.
-Khi Trương Ba chết hẳn, không phải ở trong tình trạng bên trong một đằng,
bên ngoài một nẻo nữa lại là lúc ông được sống trong sự gần gũi, tình

thương yêu của những người thân;
-Trương Ba trả lại thân xác cho anh hàng thịt, chấp nhận cái chết vĩnh viễn
để linh hồn được trong sạch và hóa thân vào các sự vật thân thương, tồn tại
vĩnh viễn bên cạnh những người thân yêu của mình;
-Sự hi sinh của Trương Ba đã đem lại niềm vui ngây thơ, trong sáng cho
đứa cháu nội của mình: cái Gái lại được vui đùa bên cu Tị - người mà nó quí
mến. Chúng được cùng nhau hưởng thành quả của nội – thế hệ đi trước đã
tạo dựng;
-Chi tiết cái Gái vùi hạt Na xuống đất cho nó mọc thành cây mới và tin
những cây sẽ nối nhau mà lớn khôn. Mãi mãi thể hiện niềm tin mãnh liệt
vào vạch nối tiếp của sự sống.
c-Kết bài:
-Màn kết của vở kịch mang không khí ấm áp, toát lên niềm vui của sự đoàn
tụ, tiếp nối;
-Đoạn kết đầy chất thơ sâu lắng và có dư ba đã đem lại sự thanh thoát cho
một bi kịch lạc quan, đồng thời truyền đi thông điệp về sự chiến thắng của
cái Thiện, cái Đẹp và của sự sống đích thực mà con người luôn khao khát
vươn tới.
Thuốc - Lỗ Tấn:

-Những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Lỗ Tấn. Kể tên ít
nhất 3 tác phẩm tiêu biểu của ông.
-Nêu xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác và nội dung truyện ngắn “Thuốc”.
-Tóm tắt truyện ngắn và nêu ý nghĩa văn bản?
-Trong truyện ngắn, khách ở quán trà nhà lão Hoa đã bàn về những chuyện
gì? Hãy cho biết điều nhà văn muốn nói qua những chuyện ấy.
-Ý nghĩa nhan đề “Thuốc”. Qua tác phẩm, Lỗ Tấn phê phán những căn bệnh
gì của người Trung Hoa đầu TK XX?
-Ý nghĩa hình tượng người chiến sĩ CM Hạ Du trong truyện.
-Ý nghĩa con đường mòn, ý nghĩa hình ảnh vòng hoa trên mộ Hạ Du.

-Những đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn "Thuốc".
Số phận con người (trích) - Sô-lô-khốp:
-Nêu những nét lớn về cuộc đời và sự nghiệp văn học của M. Sô-lô-khôp.
-Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, nội dung và nghệ thuật của truyện.
-Tóm tắt truyện ngắn “Số phận con người” và nêu ý nghĩa văn bản.
-Ý nghĩa lời trữ tình ngoại đề ở cuối TP?
-Ý nghĩa tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn “Số phận con
người”.
-Đoạn văn trữ tình cuối truyện “Số phận con người” chứa đựng những suy
nghĩ gì của nhà văn về số phận con người.
Ông già và biển cả (trích) – Hê-minh-uê:
-Những hiểu biết về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của Hê-minh-uê.
-Hoàn cảnh sáng tác, tóm tắt nội dung và đặc sắc nghệ thuật tác phẩm: “Ông
già và biển cả”.
-Nguyên lí tảng băng trôi và ý nghĩa văn bản.
-Hình ảnh con cá kiếm và ý nghĩa biểu tượng.
-Về nguyên lý “tảng băng trôi” thể hiện trong đoạn trích.
2.2.2.Trong khi dạy tăng tiết:
-Giáo viên cần chú ý rèn kỹ năng và phương pháp làm văn cho học sinh,
tiến hành triển khai việc ôn lại những kiến thức cơ bản về kỹ năng và
phương pháp làm bài; đồng thời cho các em luyện tập các dạng đề nghị luận
xã hội và nghị luận văn học. Cụ thể:
A-NGHỊ LUẬN XÃ HỘI:
-Gồm các vấn đề đặt ra trong cuộc sống xã hội của con người hôm nay như:
môi trường, giáo dục, văn hóa, truyền thống dân tộc, hội nhập quốc tế, lối
sống, tư tưởng, cách ứng xử… của con người.
-Các loại đề thường gặp:
+Vấn đề môi trường sống của con người hiện nay.
+Nếu cuộc sống con người mà thiếu sách.
+Tự học - con đường đi tới thành đạt.

+Sống như thế nào trong thế kỉ XXI?
……
I-NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ:
-Là quan điểm, ý nghĩ của con người đối với hiện thực khách quan và với
xã hội  thể hiện suy nghĩ, bộc lộ quan điểm của mình về cuộc sống xã hội
và chính bản thân mình.

-Nội dung: đề cập đến những vấn đề
+Về nhận thức: lí tưởng, mục đích sống.
+Về tâm hồn, tính cách: lòng yêu nước, lòng nhân ái, tính trung thực, thói
ích kỷ …
+Về đạo đức, thế giới quan, nhân sinh quan, các mối quan hệ gia đình,
quan hệ xã hội …
+Về cách ứng xử, hành động của mỗi người trong cuộc sống …
Ví dụ: sự yêu ghét, tốt - xấu, tình cảm gia đình, bạn bè …
 Người viết cần phân tích, trình bày suy nghĩ, quan điểm cá nhân, đưa ra
những tình cảm, thái độ cần có đối với mỗi vấn đề.
Yêu cầu:
-Học sinh cần nắm rõ các chuẩn mực đạo đức xã hội, có sự hiểu biết về các
luồng quan điểm, tư tưởng. Đặc biệt, người viết phải có lập trường vững
chắc, tỉnh táo trong việc bác bỏ các quan điểm sai và đề xuất những ý kiến
đúng.
Khi làm bài, cần chú ý:
1-Tìm hiểu đề:
-Nội dug tư tưởng nêu trong đề bài thường được đúc kết trong các câu tục
ngữ, danh ngôn … do đó, phải tìm hiểu ý nghĩa của từ ngữ, hình ảnh … để
xác định đầy đủ, chính xác vấn đề; xác định đủ yêu cầu về nội dung và hình
thức của bài viết.
2-Tìm ý:
-Phải chia vấn đề thành các luận điểm, đưa vấn đề gắn với những câu hỏi:

+Nghĩa là gì? Đúng, sai thế nào?
+Có tác dụng gì? Biểu hiện ra sao?
+Cần phê phán điều gì? Quan niệm nào là đúng?
+Phải làm gì? …
3-Lập dàn ý:
a-Mở bài:
-Giới thiệu vấn đề tư tưởng, đạo lí cần bàn.
b-Thân bài:
-Giải thích vấn đề được đề cập: nghĩa đen, nghĩa bóng; giải thích các từ ngữ
quan trọng.
-Trả lời câu hỏi: vấn đề nghị luận là gì? Quan điểm của dân gian (nếu là tục
ngữ, danh ngôn); của nhà văn, nhà thơ?
-Những biểu hiện của vấn đề trong đời sống. Nguyên nhân, nguồn gốc của
tư tưởng, đạo lí đó.
-Các luồng tư tưởng, quan điểm khác nhau đối với vấn đề bàn luận. Chỉ ra
cái đúng, cái chưa đúng ở mỗi quan điểm, tư tưởng.
-Tầm quan trọng của vấn đề trong đời sống xã hội?
-Chứng minh sự đúng, sai của tư tưởng, đạo lí đó; bác bỏ những biểu hiện
sai lệch liên quan đến vấn đề bàn luận.
-Tổng hợp ý kiến, đưa ra nhận định, đánh giá của tư tưởng, đạo lí đó trong
cuộc sống.
c-Kết bài:
-Khẳng định những quan điểm, tư tưởng, tình cảm tích cực đối với vấn đề.

-Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lí.
-Có thể đề xuất nhận thức mới hoặc yêu cầu hành động.
 LUYỆN TẬP 
Đề: Có ba điều trong cuộc đời mỗi con người nếu đi qua sẽ không lấy
lại được: thời gian, lời nói và cơ hội.
Suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến đó.

1-Mở bài:
-Giới thiệu lời nhận định: cuộc sống con người có nhiều cái quí giá, đặc biệt
là thời gian, lời nói và cơ hội. Nhưng sử dụng chúng sao cho có ích bởi cuộc
sống cũng có hạn khi những thứ ấy nếu không biết tận dụng thì một khi mất
đi sẽ không lấy lại được vì cả ba thứ đó có khi chỉ đến một lần và không bao
giờ trở lại.
-Thực chất câu nói muốn khẳng định sự quý giá của thời gian, lời nói và cơ
hội.
2-Thân bài:
-Giải thích và chứng minh:
+Thời gian là ngắn ngủi, chúng ta không thể níu giữ thời gian, trở về quá
khứ. Thời gian trong đời người, những thời khắc đã qua sẽ không bao giờ trở
lại. Những giây phút hiện tại sẽ trở thành quá khứ. Người ta chỉ có thể hồi
tưởng về quá khứ qua ký ức, qua hình ảnh … nhưng không thể nào sống trở
lại quãng đời đã qua. Vì vậy, ko nên lãng phí thời gian. (dẫn chứng).
+Trong cuộc sống, con người dùng lời nói như một trong những phương
tiện để thể hiện sự tồn tại của mình. Cũng như thời gian, lời nói của con
người một khi đã phát ngôn thì không thể rút lại được. “Lời nói gió bay”,
người ta có thể dùng các phương tiện kỹ thuật để ghi âm lời nói nhưng
không thể chỉnh sửa những lời đã nói. Trong hoạt động giao tiếp, lời của
người nói sẽ được người nghe lĩnh hội, khắc ghi, khơi dậy những cảm xúc
khác nhau. Chính vì thế, đừng nên nói những lời cay đắng, độc địa khó nghe,
làm khổ tâm, đau lòng người khác. (dẫn chứng).
+Cơ hội là những điều kiện, hoàn cảnh thuận lợi để thực hiện suôn sẻ một
việc gì đó. Cơ hội trong đời người không phải là dễ có “phúc bất trùng lai”.
Cơ hội không đến lần thứ hai cho những ai không biết nắm bắt, sử dụng hiệu
quả. Nếu không nhận ra thời cơ, không biết cách nắm lấy vận may, người ta
sẽ khó tìm được những cơ hội để thăng tiến hay thay đổi trong cuộc đời.
(dẫn chứng)
+Trong cuộc sống, còn rất nhiều thứ khác nếu qua đi sẽ không thể lấy lại

như tình yêu, hạnh phúc, tuổi trẻ … Mỗi thứ mất đi là thêm một lần chúng ta
phải tiếc nuối, đau xót. Hãy cố gắng giữ chặt và biết tận dụng chúng để cuộc
sống của chúng ta không trở nên vô nghĩa.
-Câu nói đưa đến một quan niệm thiết thực về cuộc sống: mỗi người chỉ
sống có một lần, và cuộc sống đem đến cho con người những thứ quí giá
nhưng nếu không biết tận dụng thì sẽ trôi qua vĩnh viễn, không bao giờ có
thể lấy lại được.
3-Kết bài: nêu bài học rút ra từ câu nói:

-Cần biết quý trọng thời gian vì “Thời giờ là vàng bạc”; biết sắp xếp thời
gian hợp lý để làm việc một cách khoa học, hiệu quả “Việc hôm nay chớ để
ngày mai”; biết sử dụng thời gian để thực hiện ước mơ “Thắp sáng tương lai
bằng chính hiện tại” … Tránh lối sống chỉ biết có hiện tại, không trân trọng
quá khứ, không dự định tương lai.
-Cần cẩn trọng, suy nghĩ chín chắn trước khi nói, “Lời nói ko mất tiền mua.
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Sẵn sàng dùng lời nói để bênh vực lẽ
phải, nhưng tránh những lời nói làm tổn thương người khác.
-Cơ hội có khi chỉ đến một lần trong đời, phải biết tranh thủ nắm lấy cơ hội
để làm lợi cho mình. Ví dụ: cơ hội học tập.
-Câu nói cho ta một cái nhìn đúng đắn về gía trị và bản chất cuộc sống, từ
đó khuyên con người nên biết quý trọng thời gian, lời nói, cơ hội. Từ đó cho
ta một bài học tích cực về cách sống: sống cho hiện tại, tận dụng từng phút
giây, cẩn trọng từng lời nói, nắm bắt từng cơ hội.
II-NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG:
-Là nghị luận bàn về một hiện tượng có ý nghĩa đối với đời sống xã hội.
-Nội dung: thường đề cập đến những sự kiện, vấn đề bức thiết của đời sống
xã hội có liên quan mật thiết đến đời sống hàng ngày, đặc biệt là sự sinh tồn
của con người như: vấn đề môi trường; vấn đề hòa bình, chiến tranh; cách
thể hiện tình cảm gia đình …
-Mục đích: yêu cầu người viết thể hiện những hiểu biết về vấn đề bàn luận,

về mối liên hệ của vấn đề đối với đời sống; tính cấp thiết của vấn đề và việc
giải quyết vấn đề. Từ đó, người viết đề xuất phương hướng giải quyết.
Yêu cầu:
-Học sinh phải có sự quan tâm, hiểu biết nhất định đến các mặt của đời sống
xã hội, nhất là những sự kiện, vấn đề đang được dư luận trong nước và thế
giới quan tâm.
-Đặt hiện tượng đời sống vào hoàn cảnh cụ thể và xã hội thực tại, nhìn
chúng dưới những điều kiện xã hội cụ thể để có sự phân tích, lí giải, đánh
giá đúng.
-Từ những điều đã phân tích, chỉ ra mặt đúng - sai, lợi - hại của hiện tượng.
-Lí giải nguyên nhân của hiện tượng trên, từ đó bày tỏ thái độ, ý kiến của
người viết và đưa ra giải pháp hợp lí cho vấn đề.
-Kết hợp lấy dẫn chứng minh họa để làm rõ vấn đề.
Các bước tiến hành:
1-Tìm hiểu đề:
-Tìm hiểu yêu cầu của đề để từ đó tìm hiểu ý nghĩa của sự việc, liên tưởng
đến cuộc sống để phát hiện ra vấn đề mọi người quan tâm.
2-Tìm ý:
-Nắm vững các chi tiết cơ bản của sự việc, hiện tượng.
-Tìm thêm một vài sự việc, hiện tượng tương tự hoặc trái ngược.
-Phân chia vấn đề thành từng mặt để phân tích, giàng giải, bày tỏ ý kiến.
3-Lập dàn ý:
a-Mở bài:
-Giới thiệu khái quát về sự việc, hiện tượng đời sống.
b-Thân bài:

-Nêu thực trạng vấn đề:
+Thực tế vấn đề đang diễn ra như thế nào?
+Chỉ ra những biểu hiện cụ thể của hiện tượng đó trong đời sống xã hội.
+Có ảnh hưởng ra sao đối với đời sống (tích cực, tiêu cực)?

+Thái độ của xã hội đối với vấn đề ấy (tích cực, tiêu cực)?
+Chú ý liên hệ tình hình thực tế xã hội, địa phương, bản thân. Từ đó, làm
nổi bật tính cấp thiết của việc phải giải quyết vấn đề.
-Nêu nguyên nhân vấn đề:
+Đưa ra các nguyên nhân nảy sinh vấn đề: nguyên nhân chủ quan, nguyên
nhân khách quan …
-Đề xuất phương hướng giải quyết:
+Từ nguyên nhân nảy sinh vấn đề, đề xuất phương hướng giải quyết: trước
mắt, lâu dài.
+Chú ý chỉ rõ những việc cần làm, cách thức thực hiện, đòi hỏi sự phối hợp
của những lực lượng liên quan.
c-Kết bài:
-Tổng hợp sự phân tích để rút ra kết luận.
-Bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội đó.
 LUYỆN TẬP 
Đề: Quan điểm của anh/ chị về xu hướng khẳng định cá tính của tuổi
trẻ học đường hiện nay.
a-Mở bài:
-Giới thiệu vấn đề: xu hướng khẳng định cá tính của tuổi trẻ học đường hiện
nay.
b-Thân bài:
-Nêu khái quát về tính tất yếu của xu hướng khẳng định cá tính của tuổi trẻ
học đường trong xã hội hiện đại: trào lưu dân chủ hóa, làn sóng công nghệ
thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân của con người hiện
đại được nâng cao, đặc biệt là giới trẻ - tầng lớp thanh niên, học sinh. Họ là
những người có ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò của cá
nhân với cộng đồng, xã hội.
-Khẳng định tính hai mặt của xu hướng này:
+Tích cực: xu hướng khẳng định cá tính giúp giới trẻ hoàn thiện nhân cách,
có nghị lực vươn lên chiếm lĩnh giá trị cuộc sống.

+Tiêu cực: trong xu hướng vẫn ấy tiềm ẩn muôn vàn nguy cơ làm băng
hoại giá trị đạo đức con người.
-Xu hướng khẳng định cá tính trong giới trẻ là sản phẩm tất yếu của thời đại
công nghiệp hóa và xu thế toàn cầu hóa:
+Đặc điểm nổi bật của toàn cầu hóa: truyền bá, chuyển giao trên quy mô
ngày càng lớn những thành quả, những phát minh sáng tạo mới về khoa học
công nghệ, đưa thông tin đến từng quốc gia, từng cá nhân một cách nhanh
chóng và đa dạng; tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hóa, hiểu biết lẫn nhau
giữa các dân tộc, các quốc gia.
+Đặc điểm của giới trẻ hiện nay: là đối tượng sinh ra và lớn lên trong thời
kỳ đổi mới, nhạy cảm trước những biến đổi vô cùng nhanh chóng của đất

×