Tải bản đầy đủ (.pdf) (133 trang)

Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy và học môn hóa học ở trường Trung học phổ thông - phần hóa 10 chương trình nâng cao

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.45 MB, 133 trang )


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
________________






Hỉ A Mổi




TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG
DẠY VÀ HỌC MÔN HOÁ HỌC Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG – PHẦN HOÁ 10
CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO


Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số : 60 14 10


LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC







NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐẶNG THỊ OANH












Thành phố Hồ Chí Minh - 2009

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTH : Bảng tuần hoàn
dd : Dung dịch
ĐC : Đối chứng
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
NHT : Nhóm hợp tác
NT : Nhóm trưởng
NXB : Nhà xuất bản
PP : Phương pháp
PPDH : Phương pháp dạy học
PTHH : Phương trình hoá học

SGK : Sách giáo khoa
STT : Số thứ tự
SV : Sinh viên
THPT : Trung học phổ thông
TN : Thực nghiệm
TV : Thành viên
TP. HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
VD : Ví dụ

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Từ rất lâu, kinh nghiệm sống của người Việt Nam đã đúc kết: “Một cây làm chẳng nên non, ba
cây chụm lại nên hòn núi cao”. Câu tục ngữ dạy chúng ta rằng nếu biết cách hợp sức không những về
thể lực mà cả trí tuệ sẽ tạo ra được những điều phi thường. Câu chuyện cổ tích “Bó đũa” có chi tiết:
người cha cầm lấy bó đũa và bảo từng người con của
ông hãy bẻ đi, người con nào cũng cố gắng hết
sức mình nhưng không sao bẻ nổi, lúc đó người cha lại bảo "Các con hãy bẻ từng chiếc một xem sao",
lập tức năm người con bẻ một cách dễ dàng. Qua đó, câu chuyện đã giáo dục con cháu sống phải biết
đoàn kết vì đoàn kết là sức mạnh để tồn tại và chiến thắng. Đó là những ý tưởng giáo dục có giá trị
nhâ
n văn sâu sắc.
Trong thời đại nền kinh tế hội nhập ngày nay, trước sự phát triển như vũ bão của khoa học công
nghệ, chúng ta càng phải biết hợp tác, giao lưu, học tập lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm và chuyển giao
công nghệ tiên tiến.
Trước tình hình đó, nền giáo dục quốc dân cần phải có những đổi mới phù hợp với sự phát triển
kinh tế – xã hội. Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ IV đã chỉ rõ “…Giáo dục v
à đào tạo là động lực
thúc đẩy và là điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện mục tiêu kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ
đất nước…”. Giáo dục có nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có đủ năng lực đối mặt với

những cơ hội và thách thức trong thời kì hội nhập, đào
tạo con người có đủ khả năng sống và làm việc
theo yêu cầu của thời đại mới – thời đại công nghệ, truyền thông. Vì vậy, ngay từ khi còn ngồi trên ghế
nhà trường học sinh cần được trang bị một số kĩ năng sống quan trọng. Đó là kĩ năng hợp tác và làm
việc theo nhóm, kĩ năng sử dụng các phần mềm tin học, kĩ năng phát hiện và giải quyết các vấn đề, kĩ
năng trình bày và thuyết phục ... đồng thời hình thành và phát triển cho học sinh các năng lực xã hội
như năng lực lãnh đạo, xây dựng lòng tin, xử lí xung đột, cổ vũ, động viên...
Trên t
hế giới và ở nước ta hiện nay đang có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đổi
mới PPDH theo các xu hướng khác nhau. Một trong những xu hướng đổi mới cơ bản là phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo và khả năng tự học của học sinh; chuyển trọng tâm hoạt động từ giáo viê
n
sang học sinh. Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang tìm tòi khám phá; tạo điều kiện cho học sinh
học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.
Trong những năm gần đây, dạy học thông qua hoạt động nhóm đang được ngành giáo dục quan
tâm vì tác dụng đặc biệt của nó trong việc hình thành nhân cách con người mới năng động, sáng tạo, c
ó
khả năng giao tiếp và hợp tác. Hoạt động nhóm được xem là hình thức tổ chức dạy học vô cùng hiệu
quả với nhiều mục đích, nội dung dạy học khác nhau và với nhiều đối tượng tính cách khác nhau.
Thực tế cho thấy hoạt động nhóm đã quen thuộc với sinh viên đại học, cao đẳng. Nhưng ở bậc
phổ thông còn chưa phổ biến, vì những lí do khách quan mà khó tổ chức hoạt động nhóm hiệu quả, g
ây

lãng phí thời gian. Gần đây, một số tác giả đã nghiên cứu về các hướng tổ chức hoạt động nhóm phù
hợp với chương trình và điều kiện cơ sở vật chất trong trường học hiện nay. Tuy nhiên những công
trình này còn ít và chưa đầy đủ. Vì vậy, việc nghiên cứu về vấn đề này rất cần được quan tâm.
Với những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM
TRONG DẠY VÀ HỌC M
ÔN HOÁ HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG – PHẦN
HOÁ 10 CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO”.

2. Mục đích nghiên cứu
Tổ chức các hoạt động nhóm trong bài lên lớp thành những nhiệm vụ học tập cụ thể, thích hợp
với lứa tuổi, trình độ và vốn kinh nghiệm của HS nhằm hình thành và phát triển các kĩ năng hoạt động
và các năng lực xã hội. Thông qua hoạt động nhóm, HS trở thành chủ thể phát hiện kiến t
hức mới, góp
phần nâng cao chất lượng dạy học nói chung và dạy học hóa học nói riêng ở trường THPT.

3. Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về
+ Đổi mới PPDH.
+ Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học.
+ Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hoá học ở trường THPT.
+ Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa lớp 10, 11, 12.
- Tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động nhóm
trong dạy học hoá học ở các trường THPT.
- Nghiên cứu và đề xuất các hình thức tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hoá học ở trường
THPT.
- Thực nghiệm sư phạm để xác định tính hiệu quả và tính khả thi của các bài lên lớp có tổ chức
hoạt động nhóm.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thiết kế bài lên lớp có tổ chức hoạt động nhóm
trong dạy và học hoá học
ở trường THPT.
- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học hóa học ở trường THPT.
5. Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu 5 hình thức tổ chức hoạt động nhóm trong dạy và học môn hoá học ở
trường THPT và vận dụng thiết kế một số bài lên lớp thuộc chương trình hoá học 10 nâng cao.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu người giáo viên tổ chức tốt hoạt động nhóm
trong dạy học thì sẽ rèn luyện cho HS các kĩ

năng hoạt động, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
7. Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp nghiên cứu lí luận:

- Đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hoá các tài liệu liên quan để xây dựng cơ sở lí
thuyết và nội dung của đề tài.
- Phương pháp mô hình hóa.

 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Trò chuyện, phỏng vấn.
- Điều tra bằng phiếu câu hỏi.
- Phương pháp chuyên gia.
 Thực nghiệm xử lí thông tin:
- Phương pháp phân tích số liệu.
- Phương pháp tổng hợp và khái quát hóa.
- Phương pháp thống kê toán học.

Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Lí luận và những nghiên cứu về hoạt động nhóm trong dạy học ở Châu Âu
Bài báo “Cooperative learning: An overview from Psychological and cultural perspective” của
tài liệu hội thảo “Về đào tạo giáo viên và phương pháp dạy học hiện đại”, viện Nghiên cứu Sư phạm
Hà Nội (2007) đã viết [41, tr.1]:
Kurt Lewin – nhà khoa học được coi là cha đẻ của tâm lý học xã hội. Ông là người có ảnh hưởng
chính đến sự hình thành và phát triển của trào lưu Tương tác nhóm
vào đầu những năm 1940. Một vài
học trò của ông đã kế thừa dòng nghiên cứu này: Morton Deutsch là người đi tiên phong trong việc
nghiên cứu về mối quan hệ “hợp tác” và “cạnh tranh” cùng với nhiều nghiên cứu về khoa học tâm lý xã

hội ứng dụng. Các công trình của Deutsch trải dài từ các nghiên cứu về tính hiệu quả của nhóm trong
môi trường đối đầu và đối thoại cho đến các giải pháp trong xung đột vũ khí hạt nhân. Thế hệ thứ ha
i
của những nhà khoa học theo tư tưởng Lewin bao gồm một vài tên tuổi lớn như Aronson và anh em
nhà Johnson. Thế hệ thứ ba chứng kiến sự hưng thịnh của tính ứng dụng nhóm với Slavin, Kagan,
Sharan và Cohen, đều là những nhà nghiên cứu đề cao tính thực tế và hiệu quả trực tiếp của hoạt động
nhóm.
Sự ứng dụng của dạy học hợp tác là một trong những nghiên cứu thành công và nhất quán của
lĩnh vực g
iáo dục. Ngoài những kết quả khả quan về chất lượng học tập, mức độ nhận thức, kĩ năng
suy luận,... các nghiên cứu về dạy học hợp tác còn đem lại những kết quả bất ngờ về kĩ năng giao tiếp
đa văn hoá, mở ra một phương hướng áp dụng mới để giải quyết xung đột sắc tộc và các vấn đề do đa
văn hoá gâ
y ra, đặc biệt tại các nước có số dân nhập cư cao.
Ba tiền đề mở đường cho những nghiên cứu về hợp tác nhóm: sự tương thuộc xã hội, sự phát
triển tri thức và thái độ trong học tập. [44], [51]
 Thuyết tương thuộc xã hội
Tương tác với những người khác là điều cơ bản cho sự tồn tại của con người. Trong dạy học, sự
tương thuộc xã hội liên quan tới sự nỗ lực của học sinh để phát triển các mối quan hệ tích cực, điều
chỉnh tâm lí và thể hiện kĩ năng xã hội.
Tiền đề của sự tương thuộc xã hội về hợp t
ác nhóm giả định rằng cách mà tương thuộc xã hội
được xây dựng chỉ ra cách mọi người tác động lẫn nhau. Một trong những yếu tố quan trọng là phải
xây dựng được những lớp học trong đó sự hợp tác có tồn tại. Kết quả là sự hợp tác dẫn tới các mối
tương thuộc được đẩy mạnh khi những thành viên động viên và khuyến khíc
h tinh thần nỗ lực học.

Người đóng góp:
- Đầu những năm 1900, Kurt Koffka: Nhóm là động lực cho toàn bộ sự tương thuộc của các
thành viên.

- 1920 – 1940, Kurt Lewin nghiên cứu sự tương thuộc giữa các thành viên, mục tiêu chung.
- 1940 – 1970, Morton Deutsch: Tích cực, tiêu cực và sự tương thuộc không chủ đích (nỗ lực hợp
tác, thi đua, chủ nghĩa cá nhân); lòng tin và sự xung đột; sự phân chia công bằng.
- Những năm 1960, David và Roger Johnson: Ảnh hưởng của sự tương thuộc xã hội đến thành
tích, các mối quan hệ, sức khỏe tâm lý và sự phát triển về mặt xã hội, yếu tố trung gian (sự tương t
huộc
tích cực, trách nhiệm cá nhân, khuyến khích sự tương tác, kĩ năng xã hội, xử lí nhóm).
- Những năm 1970, Dean Tjosvold: nghiên cứu trong môi trường công nghiệp và thương mại.
Kết luận: Nỗ lực hợp tác được dựa trên động cơ bên trong phát triển bởi những nhân tố cá nhân
khi làm việc tập thể và nguyện vọng chung để đạt được một thành quả có ý nghĩa. Tập trung và
o
những khái niệm liên quan tới việc giải quyết mối quan hệ giữa các cá nhân.
 Thuyết phát triển tri thức
Triển vọng phát triển tri thức được đặt nền móng bởi nghiên cứu của Jean Piaget và Lev
Vygotsky. Piaget đề nghị rằng khi mỗi cá nhân làm việc với nhau mâu thuẫn về kiến thức xã hội xảy ra
và sản sinh sự mất cân bằng về tri thức, từ đó khuyến khích khả năng nhận xét mọi việc trên một qua
n
điểm khác và tranh luận. Thuyết của Vygotsky trình bày về kiến thức như một sản phẩm của xã hội.
Người đóng góp: Piaget, Vygotsky, Kohlberg, Murray, những nhà lí luận (Johnson & Tjosvold)
cơ cấu lại tri thức.
Kết luận: Tập trung vào những gì xảy ra trong một người (Ví dụ: sự mất cân bằng, sự tái cơ cấu
kiến thức).
 Thuyết thái độ học tập
Triển vọng thái độ xã hội ba
o hàm những nỗ lực hợp tác được cung cấp bởi động cơ bên ngoài để
đạt được giải thưởng cho cả nhóm.
Người đóng góp: Skinner (nhóm ngẫu nhiên); Homans, Thibaut & Kelley (sự cân bằng giữa giải
thưởng và giá trị); Mesch-Lew-Nevin (ứng dụng của học nhóm).
Kết luận: Những nỗ lực hợp tác được tăng cường bởi những động cơ bên ngoài để đạt đư
ợc giải

thưởng nhóm.
Tóm lại, dạy học theo nhóm được quan tâm từ những thập niên của thế kỉ 20, bắt nguồn từ các
nước phương Tây. Nhiều nghiên cứu về hoạt động nhóm trong dạy học được xây dựng mang tính ứng
dụng thực tiễn cao trải qua nhiều thời kì lịch sử khác nhau.
1.1.2. Các bài báo khoa học, luận văn, khoá luận về tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học
 Bà
i báo khoa học “Làm thế nào để tổ chức nhóm khoa học và đánh giá việc học nhóm
công bằng đến từng học sinh” của Thạc sỹ Tống Xuân Tám, Thạc sỹ Phan Thị Thu Hiền (giảng

viên Khoa sinh học – Trường Đại học Sư phạm TP. HCM) đăng trên kỷ yếu hội thảo với chủ đề:
“Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau một năm thực hiện”
do viện Nghiên cứu Giáo dục (Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh) tổ chức hội thảo khoa học
(2007) [31].
Bài báo gồm 4 vấn đề liên quan đến tổ chức hoạt động nhóm:
- Cách thức chia nhóm.
- Các bước tổ chức hoạt động nhóm.
- Cách thức tổ chức báo báo kết quả và đánh giá hoạt động nhóm
.
- Mẫu phiếu đánh giá sản phẩm hoạt động dự án “Dịch cúm gia cầm”: Tờ rơi, trang web, bài trình
chiếu power point.
 Bài viết về phương pháp dạy học được đăng trên trang web trường Đại học Cần Thơ,
địa chỉ: www.ctu.edu.vn/colleges/tech/daotao/
2006/thamkhao/PPGD%20moi.pdf, chúng tôi không
tìm được tên tác giả. Nhưng bài viết với nhiều nội dung lí luận và phương pháp dạy học giá trị, cụ thể
gồm 3 chương như sau [52]:
Chương 1 - Giúp sinh viên học
Chương 2 - Việc học với sinh viên là trung tâm
Chương 3 - Việc dạy học theo nhóm nhỏ
3.1. Dạy học theo nhóm nhỏ là gì ?
3.2. Việc quản lí nhóm

3.3. Nhiệm vụ của nhóm
3.4. Duy trì hoạt động của nhóm
3.5. Kế hoạch làm việc của PPDH theo nhóm nhỏ
3.6. Giới thiệu các phương tiện kí
ch thích nhóm tham gia thảo luận
3.7. Các phương pháp kĩ thuật áp dụng cho việc thảo luận nhóm
3.8. Các khó khăn trong việc dạy học theo nhóm nhỏ
3.9. Đánh giá PPDH theo nhóm nhỏ
 Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “Dạy học bằng phương pháp tổ chức hoạt động nhóm
nhằm nâng cao chất lượng lĩnh hội kiến thức cho học sinh lớp 10 nâng cao qua chương nhóm oxi”
của học viên Phan Đồng Châu Thuỷ, Đại học Sư phạm Huế (
2008) [36]
Luận văn đã đề ra một số biện pháp tổ chức hoạt động nhóm cho các dạng bài lên lớp thuộc
chương nhóm oxi, hóa học lớp 10 nâng cao:
- Dạng bài truyền thụ kiến thức mới có tổ chức hoạt động nhóm sử dụng bài tập, thí nghiệm biểu
diễn, phim thí nghiệm, hình ảnh.
- Dạng bài thực hành.

- Dạng bài luyện tập có tổ chức hoạt động nhóm sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan và bài
tập tự luận.
Thiết kế được 11 tiết giáo án hóa học 10 nâng cao theo phương pháp tổ chức hoạt động nhóm.
Thực nghiệm định lượng để đánh giá tính hiệu quả của phương pháp học tập nhóm qua bài kiểm
tra 15 phút và 1 tiết.
Nhận xét:
Tác giả đã thấy được tầm quan trọng và ý nghĩa giáo dục của tổ chức hoạt động nhóm
trong dạy
học hoá học. Đề tài nghiên cứu trên đã góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Các hình thức tổ chức
dạy học theo nhóm và nội dung hoạt động đã phát huy được tính tính cực, khả năng tư duy của HS.
Tuy nhiên, tác giả chủ yếu xây dựng hoạt động nhóm nhỏ trong thời gian ngắn (3-5 phút); chưa
chú trọng đến cách chia nhóm và rèn luyện các kĩ năng hoạt động c

ho HS. Phương án đánh giá kết quả
hoạt động nhóm còn chưa đánh giá được sự đóng góp của mỗi thành viên vào kết quả chung của nhóm.
 Khoá luận tốt nghiệp “Thử nghiệm phương pháp hợp tác nhóm nhỏ và phương pháp đóng
vai trong dạy học môn hoá lớp 10 nâng cao nhằm phát huy tính tích cực của HS” của sinh viên
Nguyễn Thị Khánh Chi (2007), trường Đại học Sư phạm TP. HCM. [14]
Đề tài đã nghiên cứu và xây dựng được
+ 8 hình thức dạy học hợp tác nhóm
nhỏ:
o Trả lời câu hỏi trong phiếu học tập.
o Trả lời câu hỏi do GV trực tiếp đưa ra.
o Thực hành thí nghiệm theo nhóm.
o Mô tả thí nghiệm.
o Quan sát hình vẽ hay mô hình.
o Hỏi đáp giữa các nhóm.
o Cùng nhau nghiên cứu nội dung của bài học.
o Giải bài tập hoá học theo nhóm.
+ 12 kịch bản đóng vai.
+ 14 phiếu ghi bài và nhiều phiếu học tập c
ho các hoạt động nhóm.
+ Thiết kế được 16 giáo án thuộc chương trình hoá học lớp 10 nâng cao có vận dụng phương
pháp hợp tác nhóm nhỏ.
 Khoá luận tốt nghiệp “Thiết kế giáo án dạy học theo nhóm nhỏ kết hợp công nghệ thông
tin” của sinh viên Đoàn Ngọc Anh (2007), trường Đại học Sư phạm TP. HCM. [1]
Khoá luận đã nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tổ chức hoạt động nhóm
là:
- Những nội dung có thể cho HS thảo luận nhóm.
- Một số kinh nghiệm khi tổ chức thảo luận nhóm.
- Qui trình tiến hành hoạt động nhóm.

Tóm lại, hai khoá luận trên bước đầu tìm hiểu cơ sở lí luận về phương pháp dạy học theo nhóm,

đúc kết được một số kinh nghiệm tổ chức nhóm hiệu quả. Tuy nhiên phần lí luận còn chưa đầy đủ, chi
tiết; phần thực nghiệm còn chưa đánh giá được tính hiệu quả về sự phát triển các kĩ năng hoạt động của
HS.
Kết luận:
Bên cạnh việc truyền thụ kiến thức, tổ chức hoạt động nhóm có ưu điểm nổi bật đáp ứng đư
ợc mục
tiêu đổi mới PPDH và chất lượng đào tạo. Ưu điểm đó là rèn luyện các kĩ năng hoạt động cần thiết,
giúp người học mạnh dạn, tự tin hơn khi bảo vệ ý kiến của mình; trao đổi, chia sẻ nguồn thông tin,
kinh nghiệm làm việc; biết hợp tác và chung sống với cộng đồng ... Các bài báo, khoá luận và
luận văn
trong những năm gần đây cho thấy sự quan tâm đặc biệt của giáo dục đối với tổ chức hoạt động nhóm
trong dạy học. Các đề tài đã xây dựng hệ thống nội dung hoạt động chi tiết phát huy được tính tích cực
trong tư duy của HS. Tuy nhiên, còn chưa chú trọng đến sự phát triển các kĩ năng hoạt động cho HS.
Vì vậy, tác giả quyết định xâ
y dựng đề tài luận văn thạc sỹ theo hướng tổ chức hoạt động nhóm vừa
rèn khả năng tư duy, vừa phát huy được tiềm năng và trang bị những kĩ năng hoạt động quan trọng cho
HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, giúp HS yêu thích môn học hơn.
1.2. Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH)
1.2.1. Những nét đặc trưng của đổi mới PPDH [13, tr.114], [39]
Với mục tiêu đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế
thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập với các nước tr
ong khu vực và trên thế
giới, đòi hỏi giáo dục nước nhà phải đào tạo nên những con người lao động có tính sáng tạo, thích ứng
với sự phát triển nhanh và đa dạng của xã hội.
Các PPDH truyền thống tuy đã khẳng định đư
ợc những thành công nhất định, nhưng vẫn còn
nhiều hạn chế. Phổ biến vẫn là thuyết trình, thiên về truyền thụ kiến thức một chiều, áp đặt, không đáp
ứng được các yêu cầu đã nêu. Do đó chúng ta phải đổi mới PPDH theo hướng dạy cách học, cách suy
nghĩ, dạy phương pháp tư duy. Cụ thể là:
- Phát huy tính chủ động, sáng tạo trong quá trình nhận thức, vận dụng.

- Tạo điều kiện để học sinh tự phát hiện, tìm
hiểu, đặt và giải quyết vấn đề.
- Tăng cường trao đổi, thảo luận.
- Tạo điều kiện hợp tác trong nhóm.
- Tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau.
- Tận dụng tri thức thực tế của học sinh để xây dựng kiến thức mới.
Như vậy đổi mới PP
DH nói chung và PPDH hóa học nói riêng là một yêu cầu khách quan và là
một nhu cầu tất yếu của xã hội học tập.
1.2.2. Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay [6, tr.7]

Trên thế giới và ở nước ta hiện nay đang có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đổi
mới PPDH theo các hướng khác nhau. Sau đây là một số xu hướng cơ bản:
- Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học. Chuyển trọng tâm hoạt động từ
GV sang HS. Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang tìm tòi, khám phá. Tạo điều kiện cho HS học
tập tích cực, chủ động, sáng tạo.
- Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời. Không chỉ dạy kiến
thức mà còn dạy cách học, trang bị cho HS phương pháp học tập, phương pháp tự học.
- Tăng cường rèn luyện năng lực tư duy,
khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống thực tế.
Chuyển từ lối học nặng về tiêu hoá kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến t
hức.
- Cá thể hoá việc dạy học.
- Tăng cường sử dụng thông tin trên mạng, sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin
học và công nghệ thông tin vào dạy học.
- Từng bước đổi mới việc kiểm tra đánh giá, giảm việc kiểm tra trí nhớ đơn thuần, khuyến khích
việc kiểm tra k
hả năng suy luận, vận dụng kiến thức; sử dụng nhiều loại hình kiểm tra thích hợp với
từng môn học.
- Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học ở mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của HS, theo

cấp học, bậc học).
1.3. Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học
1.3.1. Khái niệm nhóm và hoạt động nhóm
Nhóm là tập hợp những con người có hành vi tương tác lẫn nhau, để thực h
iện các mục tiêu
(chung và riêng) và thoả mãn các nhu cầu cá nhân.
Hoạt động nhóm trong dạy học (hay còn gọi là dạy học hợp tác) là một hình thức tổ chức dạy học
mà trong đó HS dưới sự hướng dẫn của GV làm việc cùng nhau trong những nhóm nhỏ để hoàn thành
mục đích học tập chung của nhóm đặt ra. Trong hoạt động nhóm có nhiều mối quan hệ giao tiếp: giữa
các HS với nhau, giữa GV với từng HS. [30, t
r.20]
Hoạt động nhóm cho phép các thành viên trong nhóm chia sẻ những băn khoăn, kinh nghiệm của
bản thân, cùng nhau xây dựng phương pháp nhận thức mới.
Trong hoạt động nhóm, quá trình học tập trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau về kiến thức, kĩ
năng và phương pháp học tập, kĩ năng giao tiếp và các kĩ năng xã hội khác. [3, tr.42]
1.3.2. Các giai đoạn phát triển của nhóm [48]
Có 4 giai đoạn chính trong sự hình thành và phát triển của nhóm
hợp tác: hình thành, sóng gió,
chuẩn hóa và thể hiện.

Hình thành: Các cá nhân rời rạc tham gia vào và hình thành nhóm làm việc. Tâm lý thường thấy
là háo hức, kỳ vọng, nghi ngờ, lo âu...


Sóng gió: Công việc bắt đầu được triển khai một cách chậm chạp, đầy trắc trở. Các cá nhân bộc lộ
tính cách, thói quen, sở thích và bắt đầu va chạm mạnh với nhau. Mâu thuẫn nảy sinh và thậm chí dẫn
tới xung đột, đe dọa sự đổ vỡ của nhóm. Mức độ không hài lòng tăng dần, cảm giác bất mãn tăng lên.

Chuẩn hóa: Các mâu thuẫn và vấn đề đang tồn tại được dàn xếp và giải quyết. Các quan hệ đi vào
ổn định. Các tiêu chuẩn được hình thành và hoàn thiện. Các cá nhân chấp nhận thực tại của nhau. Quan

hệ bạn bè, đồng đội thực sự hình thành trong giai đoạn này. Sự chân thành, tin tưởng trở nên rõ nét
hơn.

Thể hiện: Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của nhóm hợp tác. Cảm giác tin tưởng, hòa nhập,
gắn kết mạnh mẽ. Sự háo hức thể hiện rõ. Mức độ cam kết về công việc cao. Cảm giác trưởng thành
thực thụ ở tất cả các thành viên của nhóm.
Trong giai đoạn sau đó, nếu việc duy trì tốt, nhóm tiếp tục thể hiện tốt, nếu không, sẽ đi vào giai
đoạn tan rã. Việc kết thúc hoạt động cũng đưa nhóm
hợp tác bước vào giai đoạn này.
1.3.3. Những nét đặc thù của hoạt động nhóm [30, tr.14]
Hoạt động nhóm có 4 nét đặc thù cơ bản.
- Hoạt động xây dựng nhóm: luôn đòi hỏi sự nỗ lực của từng cá nhân và cùng chia sẻ trách nhiệm
lãnh đạo nhóm, trao đổi trực diện nhau.
- Có sự phụ thuộc tích cực giữa các cá nhân: cá nhân phải nỗ lực hoàn thành phần việc của mình.
Thành công của cá nhân tạo nê
n thành công của cả nhóm.
- Có sự ràng buộc trách nhiệm cá nhân – trách nhiệm nhóm: các thành viên cùng hỗ trợ nhau trong
việc thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm và tự đánh giá kết quả công việc của mình, của các thành
viên khác.
- Có kĩ năng hợp tác trong hoạt động học tập: HS không chỉ lĩnh hội kiến thức mà còn được học,
thực hành và thể hiện mình, phát triển và củng cố các kĩ năng xã hội như lắng nghe, đặt câu hỏi, trả lời,
giảng bài cho nhau, giải quyết xung đột...
1.3.
4. Các nguyên tắc hoạt động nhóm [41, tr.5]
Johnson D. W và Johnson R. T là đại diện của trường phái nguyên tắc, đã tổng kết thành “5
nguyên tắc vàng” cho hoạt động nhóm và khẳng định: Bất kì một hoạt động nhóm nào cũng phải đảm
bảo 5 nguyên tắc này. Nếu thiếu một trong 5 nguyên tắc này thì hoạt động nhóm sẽ thất bại.

Nguyên tắc 1: Phụ thuộc tích cực
Nguyên tắc 1 cho rằng mỗi thành viên chỉ thành công khi những người bạn trong nhóm cũng

thành công. Môi trường có sự phụ thuộc tích cực, khuyến khích người học chia sẻ kiến thức, thông tin
và sự bổ trợ nhau ở mức cao nhất với mong muốn cả mình và nhóm đều hoàn thành công việc. Người
học phải được đặt trong một tình huống học tập mà mỗi cá nhân đều tin rằng họ sẽ cùng thành công
hoặc gánh chịu thất bại với nhau.
Bốn điều kiện của nguyên tắc này là:

- Mục đích học tập cùng nhau: mỗi thành viên đều hoàn thành phần công việc được giao và kiểm
tra để các thành viên khác cùng hoàn thành.
- Phần thưởng hoặc điểm chung.
- Phân chia công việc.
- Phân chia vai trò.

Nguyên tắc 2: Trách nhiệm cá nhân
Nguyên tắc thứ hai là yêu cầu trách nhiệm và phần việc cá nhân phải được phân công rõ ràng và
có sự kiểm tra đánh giá của các thành viên còn lại trong nhóm. Nhóm phải được biết từng thành viên
đang làm gì, gặp những khó khăn thuận lợi gì. Nguyên tắc này đảm bảo không ai có thể làm hết mọi
việc trong khi những người khác ngồi chơi. Theo quan điểm của Johnson D.W và Johnson R.T, mục
đích của việc học nhóm là để rèn luyện cho mỗi cá nhân sau này trở thành những thành viên riêng lẻ
mạnh mẽ.
Những phương pháp cơ bản để đảm bảo c
ho nguyên tắc này là: Học nhóm nhưng kiểm tra cá
nhân; Chọn một thành viên bất kì để trả lời; Mỗi thành viên tự giải thích về phần việc của mình.

Nguyên tắc 3: Tương tác tích cực trực tiếp
Nguyên tắc này đòi hỏi các thành viên trong nhóm phải có tối đa các cơ hội để giúp đỡ, động viên
khuyến khích lẫn nhau trong quá trình làm việc. Việc các thành viên trong nhóm trực tiếp làm việc
cùng nhau không những thúc đẩy các hoạt động học mà còn tạo dựng được tình đoàn kết gắn bó, tôn
trọng và bình đẳng. Để thực hiện nguyên tắc này, nhóm phải được sắp xếp để làm việc trực tiếp và
ngồi đối diện với nha
u trong một nhóm nhỏ có số lượng thành viên không quá 4.


Nguyên tắc 4: Kĩ năng xã hội
Nguyên tắc này yêu cầu các thành viên phải được cung cấp các kiến thức về kĩ năng xã hội cần
thiết trước khi hoạt động nhóm. Theo Johnson D.W, Johnson R.T kĩ năng xã hội không tự nhiên có mà
phải được truyền thụ và dạy dỗ. Kĩ năng lãnh đạo, đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, giao tiếp, xử lí
xung đột, cổ vũ, động viên, nhận xét, lắng nghe, trình bày, báo cáo… là những kiến thức xã hội m
à
mỗi thành viên cần phải được đào tạo để đảm bảo quá trình hoạt động nhóm có hiệu quả.

Nguyên tắc 5: Đánh giá rút kinh nghiệm
Nguyên tắc cuối cùng yêu cầu các thành viên phải có cơ hội thảo luận và nhận xét về quá trình
làm việc của nhóm ở các nội dung sau:
- Nhóm đã hoàn thành mục tiêu đề ra chưa?
- Nhóm đã làm việc hiệu quả chưa?
- Mối quan hệ giữa các thành viên đã tốt chưa?
- Những việc gì các thành viên làm nên được lặp lại?
- Những việc gì không nên? Tại sao?
...

Việc đánh giá này giúp các thành viên:
- Tập trung vào việc xây dựng nhóm.
- Học các kĩ năng xã hội.
- Tạo cơ hội để mỗi thành viên có thể nhận xét và lắng nghe ý kiến của bạn.
1.3.5. Ưu điểm và hạn chế của hoạt động nhóm trong dạy học
1.3.5.1. Ưu điểm [30, tr.21 ] [3, tr.42]
 Phát triển kĩ năng hợp tác
- Hoạt động nhóm là hình thức dạy học có chiến lược giáo dục mạnh mẽ và linh hoạt, có những
nét đặc trưng cơ bản của dạy học hiện đại, làm cho HS thích ứng với xã hội phát triển, đó là mỗi người
sống và là
m việc theo sự phân công, hợp tác với tập thể cộng đồng.

- Sau khi làm việc nhóm, tình đoàn kết, ý thức tập thể sẽ được tăng lên nhờ sự thông hiểu nhau.
Đồng thời các thành viên trong nhóm sẽ biết tuân thủ các qui định, trước hết là của nhóm. Đấy là tiền
đề để sau này học sinh là những công dân tuân thủ pháp luật tốt.
 Phát triển kĩ năng giao tiếp và các kĩ năng xã hội k
hác
- HS có nhiều cơ hội thảo luận, tranh luận, phát biểu bình đẳng, thể hiện sự hiểu biết của mình và
học những kinh nghiệm từ bạn. Qua đó rèn luyện cho HS cách trình bày, bảo vệ quan điểm của mình,
cách thuyết phục và thương lượng trong việc giải quyết vấn đề và biết cách lắng nghe người khác cũng
như phát triển những kĩ năng như phê bình, phân tích, giải quyết vấn đề.
- Qua hoạt động nhóm, bên cạnh sự hình t
hành và phát triển cho HS khả năng làm việc hợp tác
còn có các năng lực xã hội như năng lực lãnh đạo, đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, xử lí xung đột,
cổ vũ, động viên, … HS trở nên mềm dẻo và linh hoạt hơn trong giao tiếp.
 Tá
c động đến ý thức học tập của HS
- Dạy học hợp tác tạo ra nhiều cơ hội cho HS được hoạt động giải quyết vấn đề học tập, đưa HS
vào thế chủ động tìm tòi kiến thức.
- Tác động tích cực đến động cơ, sự nhận thức và cả phương pháp học tập, có ích cho việc tự học
sau này.
- Phát huy cao độ năng lực học tập cá nhâ
n, ý thức được khả năng của mình, nâng cao niềm tin
vào việc học tập.
 Tạo tâm lí thoải mái cho HS
Khi làm việc theo nhóm, HS cảm thấy thoải mái, không bị căng thẳng như lúc làm việc một
mình. Các em được sự hỗ trợ, hợp tác trong nhóm nên trở nên tự tin hơn, vì thế việc học sẽ đạt kết quả
cao hơn.
 Phát triển tư duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp và khả năng giải quyết vấn đề

Trong các lớp học mang tính hợp tác, HS phải tham gia vào các hoạt động đòi hỏi HS phải sáng
tạo, linh hoạt và nhạy bén, học được tính kiên trì trong việc theo đuổi mục đích, nâng cao được khả

năng phê phán, tư duy logic, bổ sung kiến thức nhờ học hỏi lẫn nhau.
 Nâng cao khả năng ứng dụng khái niệm, nguyên lý, nguồn thông tin vào việc giải quyết
các tình huống khác nhau.
 Lớp học sinh động hơn do có nhiều hình thức hoạt động
đa dạng.
 Ngoài những tác động về mặt nhận thức, một số tác giả cho rằng dạy học hợp tác còn tác
động cả về quan điểm xã hội như:
- Cải thiện quan hệ xã hội giữa các cá nhân.
- Tôn trọng các giá trị dân chủ.
- Chấp nhận sự khác nhau về cá nhân và văn hoá.
- Có tác dụng làm giảm lo âu và sợ thất bại.
 GV cũng có cơ hội tận dụng những
ý kiến, kinh nghiệm của HS.
1.3.5.2. Hạn chế [30, tr.21], [4, tr.42]
Tổ chức hoạt động nhóm không chặt chẽ sẽ có những hạn chế sau:
- Có một số thành viên ỷ lại không làm việc (hiện tượng ăn theo).
- Có thể đi trệch hướng thảo luận do tác động của một vài cá nhân (hiện tượng chi phối, tách
nhóm).
- Có hiện tượng một số HS khá, giỏi quyết định quá trình, kết quả thảo thuận nhóm nên chưa đề
cao sự tương tác bình đẳng và tầm
quan trọng của từng thành viên trong nhóm.
- HS chỉ quan tâm tới nội dung được giao chứ không quan tâm đến nội dung của các nhóm khác
khiến kiến thức không trọn vẹn.
- Nếu lấy kết quả thảo luận chung của nhóm làm kết quả học tập cho từng cá nhân thì chưa công
bằng và chưa đánh giá được sự nỗ lực của từng cá nhân.
- Sự áp dụng cứng nhắc và quá thường xuyên của GV sẽ gây sự nhàm chán và giảm h
iệu quả của
hoạt động nhóm.
- Nếu GV không có kĩ thuật điều khiển thì hiệu quả hoạt động sẽ bị hạn chế.
- GV tốn nhiều thời gian chuẩn bị và thực hiện nên không thể áp dụng thường xuyên cho mọi tiết

học.
- Thời gian của mỗi tiết học giới hạn trong 45 phút nên GV không thể điểm hết nội dung của bài
mà chỉ chú trọng vào các nội dung trọng tâm.
1.3.
6. Chuẩn bị tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học [22], [29]
a. Xác định mục tiêu
Mục tiêu của một hoạt động nhóm bao gồm:
- Mục tiêu bài học.

- Mục tiêu cụ thể cho sự phát triển kĩ năng xã hội trong hoạt động nhóm.
Điều đáng lưu ý là chỉ nên đưa ra 1-2 mục tiêu phát triển kĩ năng nhóm trong 1 bài học. Tùy theo
hoàn cảnh, GV đặt ra mục tiêu cụ thể.
b. Chọn nội dung
Không phải nội dung nào cũng tổ chức hoạt động nhóm được, vì vậy phải chọn nội dung thích
hợp. Đó là những nội dung có tác dụng hình thành nhu cầu hợp tác, những nội dung không quá khó mà

cũng không quá dễ nhưng kích thích được sự tranh luận trong tập thể.
c. Thiết kế tình huống
- Thiết kế nhiệm vụ cho HS thông qua phiếu học tập, sử dụng máy chiếu, trình diễn phim thí
nghiệm, …
- Chuẩn bị những câu hỏi phụ gợi ý cho HS hợp tác và cách thống nhất.
- Dự kiến các tình huống trong thảo luận: đó là các cách nghĩ, cách giải quyết vấn đề khác nhau,
những mâu thuẫn trong cách giải quyết.
d. X
ây dựng phương án đánh giá
- Sản phẩm hoạt động của nhóm rất đa dạng, tuỳ theo từng vấn đề cụ thể. Để định hướng hoạt động
của HS và đảm bảo tính khoa học, công bằng trong đánh giá, GV nên thiết kế sẵn các phiếu đánh giá tương
ứng với từng loại sản phẩm. Trong đó cần phải ghi rõ các mục đánh giá và thang điểm tương ứng.
- Dự kiến phương án đánh giá và xâ
y dựng tiêu chí cụ thể để thấy được sự cố gắng của mỗi cá nhân

trong nhóm đều có ý nghĩa trong thành tích chung của nhóm và thành tích của các thành viên trong nhóm
có ảnh hưởng lẫn nhau.
Khâu thiết kế nhiệm vụ cho HS và hệ thống các câu hỏi là mấu chốt quan trọng để có một tiết dạy
học theo phương pháp nhóm thành công. Cách đánh giá, khen thưởng của GV cũng không kém phần
quan trọng tạo nên sự thành công của tiết học. GV c
ó sự đánh giá công bằng, chính xác, khen thưởng
hợp lý sẽ làm tăng hứng thú học tập của HS.
1.3.7. Tiến trình dạy học theo nhóm [3, tr.43], [22]
Có thể chia làm 5 giai đoạn.
a. Chia nhóm
Có nhiều cách chia nhóm khác nhau, mỗi cách có những ưu và nhược điểm riêng. Tuỳ theo điều
kiện cụ thể mà GV có thể áp dụng cách này hay cách khác sao cho phù hợp.
 Chia theo vị trí ngồi có sẵn
- Hai HS ngồi cạnh nhau.
- Các HS ngồi cùng một bàn.
- HS hai bàn quay mặt lại với nha
u.
 Chia theo danh sách lớp có sẵn

- Nhóm HS theo số thứ tự từ nhỏ đến lớn của danh sách.
- Nhóm HS theo số thứ tự chẵn lẻ của danh sách.
- Nhóm HS theo số thứ tự cách quãng của danh sách.
 Chia theo sở thích
- HS tự chọn nhóm theo hướng dẫn của GV.
- HS dễ làm việc với nhau có quan hệ tình cảm tốt.
Hạn chế của cách chia nhóm này vì không rèn được cho HS khả năng làm quen, hợp tác.
 Chia theo địa bàn cư trú
- Chia nhóm theo nơi ở của HS.
- Các em tiện đến với nhau khi cần thực hiện các nhiệm vụ học tập ở nhà.
 Chia theo năng

lực
Nhóm có HS giỏi, khá, trung bình, yếu ...
Ưu điểm của cách chia nhóm theo năng lực là:
- Giảm thiểu sự chênh lệch về năng lực giữa các nhóm.
- Tạo điều kiện để HS giúp đỡ lẫn nhau.
 Chia ngẫu nhiên
- Đếm số thứ tự 1, 2, 3, ... n rồi lặp lại cho đến HS cuối cùng (n là số nhóm cần chia). Phân chia
sẵn vị trí ngồi cho các
nhóm.
- Các HS mang số 1 sẽ về vị trí số 1 (nhóm 1). Tiếp theo cho đến nhóm n.
- Ưu điểm của cách chia này là rèn cho HS khả năng làm quen, hợp tác ...
Sau khi chia nhóm, GV yêu cầu mỗi nhóm tự bầu ra một nhóm trưởng có trách nhiệm điều hành
nhóm trong suốt quá trình làm việc và một thư kí để ghi chép lại những ý kiến thống nhất của nhóm.
Nhóm trưởng có vị trí đặc biệt trong hoạt động nhóm. Sự điều hành và phân công hợp lí, dung
hoà các mối quan hệ giữa các thành viên có ý nghĩa quan trọng đối với kết quả hoạt động và tình đoà
n
kết trong nhóm. Qua đó, HS học được cách thức tổ chức, là cơ hội rèn luyện khả năng cần thiết của nhà
lãnh đạo tương lai.
Vai trò nhóm trưởng và thư kí nên được phân công luân phiên để mọi thành viên đều có điều kiện
tập dợt.
b. Nhập đề giao nhiệm vụ
- GV giới thiệu chủ đề, giao nhiệm vụ chung và cụ thể đến mỗi nhóm.
- GV đưa ra những hướng dẫn cho H
S từng bước thực hiện, cung cấp cho HS những tài liệu tham
khảo và địa chỉ một số trang web thật cần thiết nhằm định hướng hoạt động cho HS, giúp HS không
mò mẫm trong việc tìm kiếm tài liệu. GV nên kèm theo văn bản hướng dẫn hay phiếu học tập để HS dễ
theo dõi.
- GV nói rõ thời gian hoàn thành nhiệm vụ để HS chủ động lập kế hoạch.

- GV phổ biến cách thức và thang điểm đánh giá kết quả nhóm.

c. Làm việc nhóm
- Lập kế hoạch chi tiết và có sự phân công cụ thể đến từng thành viên. Kế hoạch cần phải được
thoả thuận và nhất trí trong nhóm. Đảm bảo không có thành viên nào không đồng ý hay tự hoạt động
theo ý kiến riêng của mình.
- Thỏa thuận qui tắc làm việc và đề nghị mỗi thành viên đều phải tuân thủ.
- Tiến hành giải quyết nhiệm vụ. Trong quá trình thực hiện, nhóm trưởng cần nắm thật rõ sự phâ
n
công nhằm đôn đốc các thành viên hoàn thành đúng tiến độ. Mỗi thành viên đều có trách nhiệm với
công việc được giao và đồng thời hỗ trợ nhau để thực hiện mục tiêu chung của cả nhóm.
- Chuẩn bị báo cáo kết quả trước lớp.
d. Trình bày và đánh giá kết quả
Việc làm này xem như là nhiệm vụ bắt buộc sau mỗi lần hoạt động nhóm
, nó được coi trọng như
việc tiếp thu kiến thức mới. Một hiện tượng phổ biến, các em yếu kém thường thích tham gia hoạt
động nhóm không phải để học hỏi mà để tránh sự “chú ý” của GV. Nếu trong nhóm có thành viên
“lười biếng”, “ỷ lại” như vậy thì nhóm chỉ có nghĩa là nhóm chứ không có nghĩa là hợp tác. Để xây
dựng tinh thần trách nhiệm cá nhân và có sự hỗ trợ lẫn nhau, GV có thể ra tiêu chí: câu trả lời của một
thành viê
n phải được sự đồng ý của mọi người trong nhóm, ý kiến của thành viên yếu nhất sẽ được
đánh giá bằng điểm cho cả nhóm. GV tổ chức thi đua giữa các nhóm với tiêu chí: sẽ cho điểm nhóm
nào hoàn thành tốt nhất và nhanh nhất, khen thưởng cho các nhóm là như nhau chỉ khi mọi thành viên
đều hoàn thành tốt.
e. Tổng kết, rút kinh nghiệm
Do sự hạn hẹp về thời gian của một tiết học (45 phút)
hoạt động nhóm có thể tiến hành đơn giản
hơn: sau khi chia nhóm, giao nhiệm vụ cho nhóm, các HS trong nhóm cùng thảo luận, đưa ra kết luận
và trình bày kết quả.
1.3.8. Một số lưu ý để tổ chức hoạt động nhóm đạt hiệu quả
[4, tr.44], [19]
a. Tạo hứng thú đối với các hoạt động học tập mang tính hợp tác

Hoạt động học tập mang tính hợp tác sẽ không thành công nếu HS không tham gia hoặc tham
gia một cách miễn cưỡng vào các hoạt động đó. Vì thế điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự thành
công của hoạt động học tập mang tính hợp tác là hứng thú của HS. Một tro
ng những biện pháp hiệu
quả để gây hứng thú cho HS đối với hoạt động nhóm là tổ chức các trò chơi mang tính hợp tác hoặc
thiết kế các hoạt động ngoại khoá sao cho HS vừa cảm thấy hứng thú và thoải mái lại vừa nhận
thức được tầm
quan trọng của tính hợp tác trong công việc.
Khen thưởng đối với thành tích chung của cả nhóm, thành tích cá nhân một cách hợp lý cũng tạo
được động cơ học tập và hứng thú cho HS.

b. Phân nhóm một cách hợp lý
GV phải giữ vai trò chủ động trong việc phân nhóm sao cho các thành viên của nhóm được học
hỏi lẫn nhau. Theo các nhà phương pháp dạy học bộ môn, số lượng thành viên lý tưởng cho mỗi nhóm
là 4-5 HS. Việc sử dụng cách chia nhóm nào tùy thuộc vào nội dung bài học và thời lượng của tiết học.
c. Thiết kế và điều khiển tốt các hoạt động nhóm
Các hoạt động nhóm phải được thiết kế sao cho cá nhân thể hiện được trách nhiệm của m
ình đối
với công việc được giao. Người học sẽ tham gia tích cực hơn vào hoạt động nhóm khi họ nhận thức
rằng họ chỉ thành công khi cả nhóm thành công và rằng sự thành công của nhóm không thể thiếu đi sự
đóng góp của từng cá nhân.
Để đảm bảo thời gian của tiết học, GV phải xác định rõ thời gian cho mỗi lần thảo luận. GV
không nên lạm dụng quá nhiều việc thảo luận nhóm
mà chỉ nên cho HS thảo luận những vấn đề phức
tạp. Mỗi tiết học hoạt động nhóm 1-3 lần. Mỗi hoạt động chỉ nên tập trung một số kĩ năng nhóm quan
trọng.
Để tránh sự nhàm chán, sau một thời gian nên thay đổi nhóm học tập.
Khi các nhóm làm việc, GV phải đi đến từng nhóm để theo dõi hoạt động và quan tâm đến các
nhóm khó khăn, phát hiện kịp thời những bế tắc, những lỗ hổng kiến thức, những điều HS còn băn
khoăn để làm rõ.

Chuẩn bị sẵn các câu gợi mở, động viên khuyến khích H
S kịp thời những tiến bộ dù nhỏ.
Sau mỗi buổi học, GV phải yêu cầu người học đánh giá các hoạt động mà họ đã tham gia để có
những điều chỉnh cần thiết cho các hoạt động tiếp theo.
Để tạo không khí thi đua, nên cho các nhóm lên báo cáo, trình bày sản phẩm. Sau
đó bỏ phiếu
bình chọn, có phần thưởng cho nhóm đạt giải.
d. Đưa ra nhiệm vụ phù hợp
Cần chú ý rằng tầm quan trọng của nhiệm vụ. Nhiệm vụ hay sẽ có khả năng kích thích động cơ
học tập. Trong quá trình phân công cần lưu ý 4 điều sau đây:
- Choice (Sự lựa chọn): Sự tự do trong lựa chọn nhiệm vụ của người học sẽ thúc đẩy động cơ nội
tại của họ.
- Challenge (Thách thức): Thách thức chính là ở mức độ khó khăn của nh
iệm vụ.
- Control (Kiểm soát): Điều quan trọng là người học phải đánh giá được kết quả mong đợi,
khả năng cần huy động và cần phát triển đối với bản thân mình.
- Cooperation (Hợp tác): Nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp xã hội.
Cần chú ý rằng phương phá
p học tập theo nhóm được đánh giá cao hay thấp tuỳ thuộc vào nội
dung mà ta muốn truyền đạt. Theo một vài tác giả, phương pháp này sẽ hiệu quả hơn đối với việc giải
quyết các vấn đề, những nhiệm vụ không quá dễ đòi hỏi sự sáng tạo, ý tưởng đa dạng.

e. Đánh giá công bằng, khách quan
Cách đánh giá, khen thưởng cá nhân hay nhóm là một biện pháp không thể thiếu để kích thích các
thành viên trong nhóm hỗ trợ và hợp tác với nhau. Khi cơ hội nhận phần thưởng của cá nhân phụ thuộc
không chỉ vào thành tích của riêng họ mà cả thành tích của các thành viên khác trong nhóm thì các em
sẽ có ý thức với sự cố gắng và tiến bộ của các thành viên khác trong nhóm hơn.
GV cần xây dựng thang điểm đánh giá kết quả hoạt động nhóm. Hạn chế tối đa hiện tượng ăn
theo bằng cách đề ra những tiêu chí đánh giá đư
ợc sự đóng góp của mỗi thành viên.

Để đánh giá công bằng khách quan đòi hỏi GV phải theo sát hoạt động của từng nhóm và nhóm
trưởng ghi lại kế hoạch chi tiết. Bên cạnh đó, GV đánh giá một phần thông qua tự đánh giá và đánh giá
lẫn nhau của HS.
1.4. Thực trạng tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hoá học ở các trường THPT
1.4.
1. Mục đích điều tra
Tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hoá học ở trường THPT.
1.4.2. Đối tượng điều tra
Tiến hành thăm dò ý kiến của 129 GV tại 46 trường THPT, trên 8 tỉnh thành, từ tháng 8 năm
2008 đến tháng 5 năm 2009 (xem phiếu thăm dò ở phụ lục 6).
Bảng 1.1.Tổng hợp phiếu thăm dò thực trạng
STT Tên trường
Địa điểm Số phiếu
1 Tenlơman Quận 1, TP. HCM 1
2 Lê Hồng Phong Quận 5, TP. HCM 8
3 Mạc Đĩnh Chi 11
4 Bình Phú
Quận 6, TP. HCM
4
5 Ngô Gia Tự Quận 8, TP. HCM 1
6 Nguyễn Huệ Quận 9, TP. HCM 1
7 Diên Hồng 2
8 Sương Nguyệt Ánh 1
9 Nguyễn Du 3
10 Nguyễn An Ninh
Quận 10, TP. HCM
3
11 Trần Quang Khải Quận 11, TP. HCM 2
STT Tên trường Địa điểm Số phiếu
12 Nam Kì Khởi Nghĩa Quận 11, TP. HCM 3

13 Trường Chinh 1
14 Võ Trường Toản
Quận 12, TP. HCM
6
15 Nguyễn Trung Trực 2
16 Trần Hưng Đạo
Quận Gò Vấp, TP. HCM
8

17 Nguyễn Công Trứ 7
18 Gò Vấp 2
19 Dân lập Quốc Tế 1
20 Hồng Hà 1
21 Hàn Thuyên 3
22 Phú Nhuận
Quận Phú Nhuận, TP. HCM
5
23 Võ Thị Sáu Quận Bình Thạnh, TP. HCM 9
24 Hiệp Bình 3
25 Nguyễn Hữu Huân 3
26 Thủ Đức 2
27 Tam Phú
Quận Thủ Đức, TP. HCM
2
28 Vĩnh Lộc 3
29 Phan Chu Trinh 3
30 An Lạc
Quận Bình Tân, TP. HCM
6
31 Bình Chánh 7

32 Lê Minh Xuân
Quận Bình Chánh, TP. HCM
1
33 Trấn Biên 1
34 Tân Phú 1
35 Long Thành 1
36 Phú Ngọc 1
37 Nhơn Trạch 1
38 Thanh Bình 1
39 Lê Hồng Phong
Tỉnh Đồng Nai
1
40 Trịnh Hoài Đức Tỉnh Bình Dương 1
STT Tên trường Địa điểm Số phiếu
41 Trần Văn Ơn Tỉnh Bình Dương 1
42 Châu Thành Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu 1
43 Hoà Bình Tỉnh An Giang 1
44 Nguyễn Văn Linh Tỉnh Bình Thuận 1
45 Cần Đước Tỉnh Long An 1
46 Lương Văn Chánh Phú Yên 1

(Trong 129 phiếu phát ra, có 124 phiếu hợp lệ chiếm 96,12 %)
Bảng 1.2. Số lượng phiếu thăm dò thống kê theo thâm niên giảng dạy
Thâm niên giảng dạy 1-10 năm 11-20 năm 21-30 năm 31-40 năm
Số phiếu 76 31 18 4

Tỉ lệ % 58,91% 24,03% 13,95% 3,11%

1.4.3.


Kết quả điều tra
Bảng 1.3. Mức độ sử dụng các PPDH
Tỉ lệ %
STT Phương pháp
Thường xuyên Ít Không
1 PP thuyết trình 60,48 35,48 4,04
2 PP đàm thoại 83,87 16,13 0
3 PP trực quan 47,83 52,17 0
4 PP sử dụng bài tập 83,87 16,13 0
5 PP nghiên cứu 10,48 70,97 18,55
6 PP dạy học nêu vấn đề 68,55 29,84 1,61
7 PP dạy học theo nhóm
21,77 69,35 8,88
8 PP dạy học theo dự án 1,61 27,42 70,97
9 PP đóng vai 0,81 25 74,19
10 PP dạy học theo tình huống 17,74 51,61 30,65

Dựa vào bảng 1.3, PPDH theo nhóm đã được GV quan tâm sử dụng phối hợp cùng với các PPDH
khác nhưng ở mức độ chưa thường xuyên.
Bảng 1.4. Tổng hợp phiếu thăm dò thực trạng
Tỉ lệ phiếu dùng PPDH theo nhóm ở mức độ
Điều kiện
cơ sở vật chất
Tổng số
phiếu
Thường xuyên Ít Không dùng
TỐT 46 28,26% 62,22% 9,52%
KHÁ 66 19,70% 66,67% 13,63%
TRUNG BÌNH 11 9,09% 54,55% 0
KÉM 1 0 100% 0


Qua thực tế điều tra tác giả nhận thấy:
- Điều kiện cơ sở vật chất ở nhiều trường THPT là khá và có trường đạt mức tốt.
- Cơ sở vật chất ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động nhóm là điều kiện hỗ trợ cho việc tổ chức hoạt
động nhóm thành công.
Bảng 1.5. Ý kiến của GV về PPDH theo nhóm
STT Ưu điểm của
PPDH theo nhóm SL %
1 Rèn luyện kĩ năng hợp tác. 95 83,33
2 Rèn luyện cho HS khả năng trình bày trước đám đông. 94 82,46
3 HS mạnh dạn phát biểu, xây dựng ý kiến. 90 78,95

4 Tạo không khí lớp học sôi nổi. 89 78,07
5 HS chủ động trong công việc. 86 75,44
6 Khơi dậy động cơ học tập. 75 65,79
7 HS tích cực tư duy, sáng tạo. 72 63,16
8
Tạo cơ hội hoạt động cho HS ở mọi trình độ (giỏi, khá,
trung bình, yếu) phát huy năng lực tiềm ẩn của cá nhân.
57 50

Đa số GV khẳng định: Đây là phương pháp tạo ra nhiều cơ hội cho HS rèn luyện kĩ năng hợp tác
(83,33%)- một trong những kĩ năng quan trọng, cần thiết của công dân ở thế kỉ 21; HS rèn luyện khả
năng trình bày trước đám đông (82,46%).
Ngoài ra, còn có thêm một số ý kiến:
- PPDH theo nhóm tạo điều kiện cho HS tự nghiên cứu, gây hứng thú học tập và làm cho HS tự
tin hơn.
- Tạo mối quan hệ gắn kết giữa thầy và trò.
Bảng 1.
6. Ý kiến của GV về tổ chức hoạt động nhóm

STT Những khó khăn khi tổ chức hoạt động nhóm SL %
1 Thời lượng tiết học ngắn. 102 89,47
2 Sỉ số lớp học đông (45-50HS/lớp). 94 82,46
3
Trình độ HS chênh lệch gây khó khăn trong việc chia
nhóm, thường dẫn đến hiện tượng “ăn theo”, “tách nhóm”.
83 72,81
4 HS còn thiếu chủ động và chưa quen hoạt động nhóm. 81 71,05
5 Cách bố trí lớp học (cố định, thiếu linh hoạt). 67 58,77

Dựa vào bảng 1.6, tác giả rút ra một số nhận xét:
- Thời lượng tiết học ngắn là điều khó khăn nhất cho việc tổ chức hoạt động nhóm (89,47%).
- Một lớp học đông khiến GV khó thiết kế và điều khiển hoạt động nhóm (82,46%).
- Việc đánh giá chính xác kết quả hoạt động của từng HS gặp nhiều khó khăn do hiện tượng “ăn
theo” và “tách nhóm” (72,81%).
- Các thành viên phối hợp không nhịp nhà
ng, thiếu chủ động (71,05%).
- Khi thảo luận nhóm, HS thường phải di chuyển và ngồi trực diện. Với cách bố trí bàn học ở các
trường hiện nay (bàn 2-4 HS) cố định làm cho việc thảo luận nhóm diễn ra không thuận lợi (58,77%).
Ngoài ra còn thêm một số ý kiến khác:
- Hình thức kiểm tra đánh giá chưa phù hợp.
- Mất nhiều thời gian để xây dựng hoạt động, theo dõi và đánh giá.
- Khó ổn định và điều khiển lớp học; đòi hỏi sự kiên nhẫn và khé
o léo của GV.
- Khó triển khai hoạt động nhóm đến đối tượng HS yếu.

- HS chưa có thói quen tự nghiên cứu SGK, tài liệu tham khảo.
- HS học nhiều môn, nếu môn nào cũng hoạt động nhóm và xây dựng dự án thì sẽ dẫn đến quá
tải.
- Chương trình các môn học còn nặng, HS không đủ thời gian chuẩn bị thấu đáo một vấn đề.

- Cơ sở vật chất vẫn còn thiếu.
Bảng 1.7. Ý kiến GV về cách thức hoạt động nhóm
Tỉ lệ %
STT Hình thức hoạt động nhóm
Thường
xuyên
Ít Không
1 Hoạt động nhóm trong tiết thực hành. 58,77 30,7 10,53
2 Thảo luận câu hỏi của GV, nhóm cử đại
diện báo cáo trước lớp.
51,75 43,86 4,39
3 Trả lời phiếu học tập. 50,88 42,98 6,14
4 Quan sát, mô tả, giải thích sơ đồ, hình
vẽ, mô hình, thí nghiệm.
42,98 45,61 11,41
5 Thi hỏi-đáp giữa các nhóm. 27,19 50 22,81
6 Trao đổi, giải bài tập giữa các nhóm. 40,35 50,88 8,77
7 Các nhóm tìm hiểu và báo cáo chuyên đề
liên quan đến môi trường, đời sống, kinh
tế, xã hội, ...
17,54 45,61 36,85
8 HS tự tìm hiểu kĩ 1 phần nội dung của
bài học, rồi giảng lại cho các thành viên
khác trong nhóm.
19,3 49,12 31,58
9 Thực hiện dự án môn học. 1,75 26,32 71,93

Dựa vào bảng 1.7, tác giả nhận thấy GV đã sử dụng nhiều cách thức hoạt động nhóm cho bài lên
lớp môn hoá học. Đa số GV sử dụng dạng hoạt động đơn giản, ít cần đến các thiết bị, máy móc đặc
biệt. VD dạng: Trả lời phiếu học tập; thảo luận câu hỏi, nhóm cử đại diện báo cáo trước lớp; tiến hành

và báo cáo các thí nghiệm trong tiết thực hành.
Một số dạng hoạt động nhóm, cần đến sự hỗ trợ của máy chiếu, m
áy tính, các thiết bị nghe nhìn
thì được dùng ít hơn. Do trình độ tin học và thời gian còn hạn chế, HS chưa thể đầu tư cho một bài báo
cáo đầy đủ và sâu sắc. Điều này đòi hỏi GV phải kiên nhẫn, tốn thời gian để góp ý, trao đổi với HS về
vấn đề sẽ trình bày.
Các dạng tìm hiểu, báo cáo chuyên đề hóa học liên quan đến môi trường, đời sống, kinh tế, xã
hội; thực hiện dự án m
ôn học được dùng rất ít.
Kết luận:

Từ kết quả điều tra tác giả nhận thấy việc tổ chức hoạt động nhóm đã được áp dụng ở các trường
THPT. Hầu hết GV đều công nhận những ưu điểm của phương pháp dạy học theo nhóm. Nhưng thực
trạng cho thấy vấn đề về sỉ số, trình độ HS; cơ sở vật chất; nội dung và chương trình dạy học... còn gây
nhiều khó khăn c
ho việc tổ chức hoạt động nhóm, nên việc áp dụng còn chưa thường xuyên, cách thức
hoạt động chưa đa dạng và phong phú.

×