Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Nghiên cứu khoa học " Kỹ thuật nhân giống vô tính cây Tre tàu (Sirocalamus aff latiflorus McClure) ở Nam bộ " docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (148.91 KB, 5 trang )

Kỹ thuật nhân giống vô tính cây Tre tàu (Sirocalamus aff latiflorus McClure) ở
Nam bộ
Phùng Cẩm Thạch, Hoàng Chương
Nguyễn Bội Quỳnh, Trần văn Hải
Phân Viện Khoa học Lâm Nghiệp Nambộ
Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam
Tre tàu (Sirocalamus aff latiflorus McClure) là một loài cây có giá trị trong tập
đoàn các loài cây trồng rừng ở nhiều tỉnh thuộc miền Nam Trung bộ và miền Đông
Nambộ của nước ta. Trong các mô hình ở qui mô hộ gia đình, cây tre tàu lại càng
có ý nghĩa đặc biệt vì trồng tre mang lại hiệu quả kinh tế nhanh hơn nhiều loài cây
lâm nghiệp và công nghiệp khác. Ngoài những giá trị chung của các loài tre trúc
như bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế dòng chảy trong mùa mưa, tre tàu còn có
một số giá trị riêng rất đáng qúy là: Măng tre tàu làm thực phẩm ở dạng tươi sống
hoặc qua chế biến với kỹ thuật khác nhau đều có giá trị thương phẩm rất cao cả ở
thị trường trong nước cũng như xuất khẩu; thân tre tàu có thể dùng chế biến
nguyên liệu giấy, làm vật liệu xây dựng, chế biến ván ép, tăm, đũa, chiếu và các
đồ gia dụng khác. Song, với kỹ thuật trồng bằng giống gốc theo truyền thống cũ
thì không thể đủ giống để gây trồng rộng rãi loài tre này.
Việc nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống mới bằng mô - hom
nhằm nâng cao hệ số nhân giống, tạo được nguồn giống mới nhanh nhiều, thay thế
kỹ thuật nhân giống cũ sẽ là một động lực thúc đẩy việc phát triển cây tre tàu một
cách hữu hiệu, cung cấp được giống cây tre tàu với quy mô lớn nhằm phục vụ cho
nhu cầu giống cây để gây trồng hàng năm.
1. Đặc điểm sinh thái cây tre tàu
- Tre tàu thuộc nhóm thân ngầm hợp trục (thân ngầm dạng củ), các thân khí sinh
mọc thành cụm, cao 13 - 15m, có nơi 20 - 25m, đờng kính thân 10 - 14cm, ngọn
thân cong. Thân màu xanh lục thẫm, mo thân lớn, bao kín gần hết gióng thân, màu
xanh lục vàng đến hung vàng, lá tre có kích thước rất thay đổi, dài từ 11-42cm,
rộng từ 3-9cm.
- Tre tàu được trồng từ độ cao 1 –2m tới 700 – 800m so với mặt biển. Tre tàu ưa
khí hậu nóng ẩm (biên độ từ 22 – 30


0
C là thích hợp nhất), độ ẩm không khí 85%
trở lên, lượng mưa trung bình hàng năm > 1600mm, độ dốc < 30
0
. Tre tàu ưa đất
sâu ẩm, độ sâu > 70cm. Đất phù sa cổ bồi tụ phát triển trên đá Phọcphia, Bazan,
phiến thạch sét có thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước tốt, pH > 4,5.
- Nhịp sinh trưởng của tre tàu: cũng như phần lớn các loài tre trúc khác nhịp sinh
trưởng của tre tàu chính là nhịp sinh trưởng của măng mới mọc đến khi cây định
hình. Tre tàu ra măng suốt cả mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng tư đến hết tháng 10 -
11. Lượng măng ra nhiều nhất vào các tháng 6,7, trùng với các tháng có lượng
mưa nhiều nhất. Từ khi măng mới nhú khỏi mặt đất tới lúc định hình thành cây khí
sinh hoàn chỉnh tre tàu cần khoảng 70 - 120 ngày tùy thuộc vào hình thái cây và
điều kiện sinh thái.

2. Nhân giống bằng cách chiết cành trên thân khí sinh
* Xác định mùa vụ chiết
` Kỹ thuật chiết hom thành công nhất vào mùa mưa (tỷ lệ ra rễ 40 - 96%). Mùa
khô tỷ lệ cành chiết ra rễ thấp và thời gian ra rễ lâu.
* Xác định tuổi cây mẹ để chiết
Với cây mẹ tuổi già hầu như không ra rễ, cây mẹ tuổi non cũng không ra rễ mà
còn sớm bị chết. Nhân giống bằng cách chiết đối với tre tàu hầu như chỉ thành
công trên loại cây có tuổi bánh tẻ.
* Xác định kỹ thuật chiết
- Cách thứ nhất:
Cưa nửa thân cây ở gần đoạn gốc, rồi kéo cho cây ngả rạp xuống, tỉa bỏ bớt cành
chét nhỏ ở mỗi bên mắt lóng, chỉ giữ lại 1 cành chét mập nhất, cắt ngắn, để dài
khoảng 25- 60cm (2-3 mắt), lấy một trong 3 loại giá thể chiết đắp kín gốc mắt
cành chiết, dùng ni lông bó chặt lại, sau 3 - 6 tuần kiểm tra thấy mắt nào ra rễ thì
cắt đoạn thân cây có mắt cành đưa vào vườn ươm (hoặc cắt lấy cành chiết), ươm

trong vườn ươm 2 - 3 tháng cây đủ tiêu chuẩn trồng rừng.
- Cách thứ hai:
Cách chiết này cũng tương tự như cách thứ nhất, chỉ khác là cây mẹ để chiết cành
vẫn để nguyên không cưa nửa thân kéo rạp xuống, mà cưa 1/ 2 gốc cành chét định
chiết.
* Xác định giá thể chiết và các chất điều hòa sinh trưởng
- Giá thể: Sơ dừa tơi, tưới ẩm bằng dung dịch KTR 100ppm là cho kết qủa tốt
nhất.
- Chất điều hòa sinh trưởng: KTR dạng công nghiệp cho kết qủa tốt nhất về tỷ lệ ra
rễ và giá thành.

3. Nhân giống bằng kỹ thuật giâm hom cành chét

Từ các kết quả thí nghiệm, bước đầu có thể kết luận là kỹ thuật giâm hom tre tàu
thành công với hệ số nhân giống cao theo công nghệ giâm hom như sau:
* Mùa vụ giâm hom
Mùa vụ giâm hom tốt nhất là vào cuối mùa khô (cuối tháng 2 đến tháng 4), trùng
với thời điểm tre tàu bắt đầu chuyển vào mùa sinh trưởng và sinh măng. Hom
giâm vào mùa này tỷ lệ thành công từ 76 - 85%, các tháng khác trong năm tỷ lệ
thành công thấp hoặc thất bại hoàn toàn.
* Tuổi của cành hom
Tuổi của hom giâm lệ thuộc chặt chẽ vào tuổi của cành chét tạo hom. Chỉ có cành
chét ở tuổi bánh tẻ mới cho hom đâm chồi và ra rễ. Các hom lấy từ cành chét tuổi
non khi giâm cho ra rễ nhiều và khá dễ dàng, song không nảy chồi và chết lụi dần,
trong khi đó hom ở tuổi già lại đâm chồi khá mạnh nhưng không ra rễ nên cũng bị
chết khô dần (Thí nghiệm đối chứng: nếu chọn hom kỹ, đúng tuổi không cần chất
điều hòa sinh trưởng cũng ra rễ 95%, song rất khó lấy được nhiều hom).
* Chất điều hòa sinh trưởng
Kết qủa khảo nghiệm cho thấy: Hom được xử lý bằng IAA nồng độ 100ppm hoặc
Atonic nồng độ 1/3000 tốt hơn so với các loại khác (IAA: 84 - 95%, Atonic: 73 -

87%).
* Nền và giá thể giâm hom
Hom giâm trong túi bầu dễ chăm sóc và di chuyển, giâm trên cát và nền đất ra rễ
kém, khi vận chuyển đi lại khó hơn, khi trồng tỷ lệ chết nhiều hơn. Giá thể ươm
hom tốt nhất: Đất vườn+ phân chuồng hoai .
* Kỹ thuật chăm sóc
Quan trọng nhất là phải giâm hom trong môi trường ẩm được tạo ra bằng kỹ thuật
phun mù định kỳ nhằm tạo ẩm độ trong không khí >85% và đất trong trong bầu
không quá ướt. Thời kỳ đầu nên che 70 - 80% ánh sáng để tránh hom nhanh bị khô
dưới ánh sáng mạnh; sau khi hom nảy chồi và ra rễ mới đưa dần ra sáng mạnh hơn
nhưng tránh thay đổi đột ngột làm hom dễ bị chết.

×