Tải bản đầy đủ (.pdf) (19 trang)

Skkn một số biện pháp phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với gia đình học sinh góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 10b1 ở trường thpt như thanh ii

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.38 MB, 19 trang )

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Ngày nay, chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ 4.0, xã hội văn
minh, hiện đại nhưng kéo theo đó cũng có nhiều vấn đề nảy sinh làm ảnh hưởng ít
nhiều đến đời sống xã hội. Trong đó, đáng lo ngại là sự lệch chuẩn về đạo đức
của một bộ phận học sinh cũng là điều mà các nhà giáo dục còn rất chăn trở.
Đến với nghề giáo có lẽ là cái dun với tình u trẻ, u nghề của tơi.
Mười ba năm trong nghề, mười năm làm công tác giáo viên chủ nhiệm (GVCN),
tơi ln nỗ lực hồn thành nhiệm vụ.
Giáo viên chủ nhiệm là công việc kiêm nhiệm thú vị nhưng mn vàn khó
khăn. Đặc biệt là GVCN cấp THPT, đây là giai đoạn học sinh vừa trau dồi tri
thức, vừa phát triển hoàn thiện nhân cách, vừa là giai đoạn để định hướng và lựa
chọn nghề nghiệp cho tương lai. Vì vậy GVCN khơng chỉ là người thầy truyền
thụ tri thức mà còn là người bạn lớn, người anh/chị, người cha/mẹ … của học
sinh. Trong mười năm làm công tác chủ nhiệm tôi luôn cho rằng : phối hợp với
gia đình học sinh để giáo dục đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ hàng đầu của
người GVCN.
Tôi mạnh dạn viết sang kiến kinh nghiệm(SKKN) tham dự hội thảo báo
cáo SKKN cấp trường và gửi đi cấp tỉnh : Với đề tài “Một số biện pháp phối
hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với gia đình học sinh góp phần nâng cao hiệu
quả giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 10B1 ở trường THPT Như Thanh II’’.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là tìm tịi, phát hiện ra những biện pháp giáo dục tối ưu
cho hs trên con đường hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục đạo phù hợp
với yêu cầu xã hội và xu hướng thời đại.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 10B1 ở trường THPT Như Thanh 2
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Khi triển khai đề tài này, tôi sử dụng những phương pháp sau:
+ Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
+ Phương pháp khảo sát, thống kê


+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm
+ Phương pháp giáo dục tích hợp

skkn

1


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Nhiệm vụ và quyền hạn của giáo viên chủ nhiệm
Giáo viên chủ nhiệm (GVCN) lớp là người chịu trách nhiệm thực hiện mọi
quyết định quản lý của hiệu trưởng đối với lớp và các thành viên trong lớp. Giáo
viên chủ nhiêm lớp là người vạch kế hoạch, tổ chức cho lớp mình thực hiện các
chủ đề theo kế hoạch và theo dõi, đánh giá việc thực hiện của các học sinh.
GVCN cũng chính là cầu nối giữa nhà trường với gia đình, cũng như các tổ chức
xã hội khác trong việc giáo dục học sinh. Như vậy, vai trò của giáo viên chủ
nhiệm là vô cùng quan trọng và cần được phát huy để nền giáo dục quốc gia ngày
càng phát triển. 
Công tác giáo dục và đào tạo của nước ta luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu, được các cấp, các ngành đề cao và ưu tiên tạo mọi điều kiện để phát triển.
Muốn giáo dục được các thế hệ học sinh có tiềm năng và tri thức, người thầy là
một yếu tố vô cùng quan trọng, đặc biệt là các giáo viên chủ nhiệm.
Theo điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường
phổ thơng có nhiều cấp học ban hành kèm theo thông tư 32/2020-BGDĐT ngày
15/9/2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về nhiệm vụ và quyền
của giáo viên có nội dung như sau:
Điều 27. Nhiệm vụ của giáo viên
1. Thực hiện nhiệm vụ tổ chức các hoạt động dạy học, giáo dục theo kế hoạch
giáo dục của nhà trường và kế hoạch giáo dục của tổ chuyên môn; quản lý học

sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động
chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo dục.
2. Trau đồi đạo đức, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, danh dự,
uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước học sinh; thương yêu, đối xử công bằng và
tôn trọng nhân cách của học sinh; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học
sinh; đồn kết, giúp đỡ đồng nghiệp.
3. Học tập, rèn luyện để nâng cao sức khỏe, trình độ chính trị, chun mơn,
nghiệp vụ, đổi mới phương pháp dạy học, giáo dục.
4. Tham gia tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.
5. Tham gia công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở địa phương.
6. Thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành Giáo
dục, các quyết định của hiệu trưởng; thực hiện nhiệm vụ do hiệu trưởng phân
công, chịu sự kiểm tra, đánh giá của hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục.
7. Phối hợp với Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đồn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, gia đình học sinh và các
tổ chức xã hội liên quan để tổ chức hoạt động giáo dục.
8. Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 29 khoản 2 của thông tư này ghi rõ, giáo viên chủ nhiệm ngồi những quyền
của giáo viên nói chung cịn có những quyền sau đây:
a) Được dự các giờ học, hoạt động giáo dục khác của học sinh lớp do mình làm
chủ nhiệm.

skkn

2


b) Được dự các cuộc họp của hội đồng khen thưởng và hội đồng kỷ luật khi giải
quyết những vấn đề có liên quan đến học sinh của lớp do mình làm chủ nhiệm.
c) Được dự các lớp bồi dưỡng, hội nghị chuyên đề về công tác chủ nhiệm.

d) Được quyền cho phép cá nhân học sinh có lý do chính đáng nghỉ học khơng
q 03 ngày liên tục.
đ) Được giảm định mức giờ dạy theo quy định.
2.1.2. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm với việc giáo dục giáo dục đạo đức cho
học sinh
Giáo viên chủ nhiệm đóng vai trị vơ cùng quan trọng của q trình giáo dục
học sinh,được xem như là người cha người mẹ thứ hai của học sinh. Họ đóng vai
trị quyết định thành cơng đến sự hình thành nhân cách học sinh kể từ khi học
sinh bắt đầu đặt chân đến trường học, thông qua nhân cách của giáo viên chủ
nhiệm mà học sinh có thể xem đó là tấm gương để soi rọi mình mỗi khi làm một
việc gì sai trái. GVCN được xem như là người cha người mẹ thứ hai của học sinh,
là người ngồi những yếu tố về chun mơn cịn phải có tình u thương đối với HS,
phải có tâm huyết có niềm đam mê và đặc biệt là phải có khả năng quản lí và tổ chức
sáng tạo trong các hoạt động để đạt được những mục tiêu giáo dục. Khơng chỉ thế để
giáo dục được tình u thương với con người trước hết là phải hiểu, thông cảm và sẻ
chia với con người... mà không ở đâu xa xôi, trước hết là những HS trong tập thể chủ
nhiệm.
Giáo dục đạo đức học sinh là một công việc địi hỏi sự kiên trì, cần phải có
tâm huyết với nghề; có phương pháp chủ nhiệm tốt với một kế hoạch tồn diện,
hợp lý. Từ việc tìm hiểu, nắm bắt hồn cảnh gia đình, năng lực từng học sinh, học
sinh có hồn cảnh khó khăn … đến việc xử lý tình huống. Địi hỏi cần có sự
nghiêm khắc của người thầy đồng thời phải có tấm lịng u thương, thể hiện
trách nhiệm, lòng vị tha như một người cha đối với con cái; thông cảm chia sẻ
niềm vui, nỗi buồn, giúp đỡ các em vượt qua khó khăn, dành thời gian để tâm sự
và cho các em những lời khuyên bảo chân tình; tạo được niềm tin động lực cho
học sinh phấn đấu hồn thiện.
Như vậy, để có một tập thể chủ nhiệm có đạo đức và nhân cách tốt rất cần một
GVCN biết khơi dậy sự ý thức, tinh thần, lay chạm được đến thế giới tâm hồn vừa
nhạy cảm, vừa sâu sắc của các em.
2.1.3. Tâm lí lứa tuổi của học sinh THPT và những yếu tố liên quan đến việc

hình thành nhân cách
Học sinh THPT” là nhóm người có sự phát triển mạnh về tâm lí, nhu cầu tự ý
thức dần dần đạt mức ổn định, có sự định hướng.
Sự phát triển rất mạnh mẽ của quá trình “ tự ý thức”, biết nhìn nhận những suy
nghĩ, những hành vi của mình so với chuẩn mực của tập thể. Các em có nhu cầu tự
khẳng định mình, song lại cũng ln so mình với tập thể, vì vậy điều cần thiết là phải
xây dựng được tập thể lớp biết đoàn kết, biết thương yêu, biết cùng nhau làm những
điều tốt đẹp, có lịng nhân ái... Đây là cơ sở đầu tiên để định hình một nhân sinh quan
tích cực cho cả một hành trình sống lâu dài.
Tuổi học sinh THPT cũng là lứa tuổi hình thành thế giới quan, các em đã quan
tâm nhiều đến đẹp xấu, thiện ác, giữa cá nhân và tập thể, giữa cống hiến và hưởng

skkn

3


thụ... cũng là q trình xây dựng lí tưởng sống, biết sửa mình từ sự soi chiếu xung
quanh...Các nhà tâm lí đã phân thành các nhóm cảm xúc của các em như sau: nhóm
đa cảm, nhóm lạnh lùng, nhóm hịa đồng dễ gần... và những nhóm này sẽ dược điều
chỉnh dần bởi các yếu tố tác động từ bản thân, gia đình, xã hội... Như vậy, việc xây
dựng, định hình một môi trường nhân văn, nhân ái, biết thông cảm và sẻ chia là điều
cần thiết để có được những “tấm lòng đẹp”, “ nhân cách đẹp” trong tương lai.
2.1.4. Vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
Giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh , vấn đề không mới nhưng luôn
thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi sự
lệch chuẩn về đạo đức của học sinh có chiều hướng gia tăng thì vấn đề này càng
trở nên quan trọng và cấp thiết.
Học sinh THPT : là lứa tuổi 15-18, đây là giai đoạn quan trọng trong quá
trình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân. Là lứa tuổi có nhiều

biến động về tâm sinh lí, lứa tuổi mà các em khơng cịn là trẻ con nhưng chưa
phải là người lớn, lứa tuổi cái tôi cá nhân xuất hiện rõ nét với những khám phá và
nhận thức về cuộc sống. Giai đoạn này là giai đoạn quan trọng để trau dồi đạo
đức, rèn luyện thể lực, vun đắp trí tuệ và lựa chọn một nghề nghiệp phù hợp
trong tương lai. Giai đoạn này rất cần sự định hướng, bảo ban của gia đình và nhà
trường, đặc biệt là thầy cơ chủ nhiệm.
2.1.5. Vai trị của gia đình đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh
Vai trị của gia đình rất quan trọng trong sự phát triển cả về đạo đức lẫn thể
chất của  trẻ. Lúc mới sinh ra tất cả trẻ em được bố mẹ ni dưỡng trong tổ ấm
gia đình, đến tuổi trưởng thành mới hoà nhập vào cộng đồng xã hội. Tổ ấm gia
đình là mơi trường văn hố, được tạo dựng trên cơ sở tình thương yêu, đùm bọc
lẫn nhau của những người ruột thịt. Đó là mơi trường trẻ được chăm sóc, ni dạy
an tồn và thoả mãn được các nhu cầu thích hợp cho trẻ phát triển tồn diện. Với
mơi trường như vậy, trẻ có được cảm giác an toàn, giúp trẻ yên tâm, vui vẻ hồn
nhiên, mạnh dạn thăm dị, thử nghiệm, tìm cách tác động lên sự vật, học hành. Nó
phát huy được tiềm năng về cơ thể, tâm lý đang sinh sôi nảy nở. Ngược lại, mơi
trường thiếu ni dưỡng, thiếu tình thương, đe nẹt, xung đột, bạo lực thì trẻ
khơng có được cảm giác an tồn, ln lo sợ làm cho trẻ co mình lại, giảm linh
hoạt, tăng thụ động và dẫn đến thụ động, nghi ngờ cuộc sống, buồn chán, các
chuẩn mực xã hội bị phá vỡ. Như vậy, sự phát triển về sức khoẻ tâm thần bị cản
trở, lệch lạc. 
Trong bài nói tại hội nghị cán bộ Đảng trong ngành giáo dục tháng 6-1957
Bác Hồ đã nói: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần cần có sự giáo dục
ngồi
xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn.
Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và
ngồi xã hội thì kết quả cũng khơng hồn tồn”. Điều đó cho thấy rằng: Trong lý
luận cũng như trong thực tiễn sự thống nhất trong giáo dục từ nhà trường gia đình
xã hội được xem là vấn đề có tính ngun tắc đảm bảo cho mọi hoạt động giáo
dục


skkn

4


có điều kiện đạt hiệu quả tốt. Đây khơng phải là vấn đề mới nhưng có lẽ sẽ khơng
bao giờ là đủ là thừa khi nói về cơng tác phối hợp giữa gia đình với các tổ chức

hội trong giáo dục học sinh. Bởi lẽ cuộc sống này vốn dĩ không bao giờ ngừng
nghỉ mọi sự vật hiện tượng luôn vận động không ngừng và đã là vấn đề con người
thì khơng bao giờ là cũ, là đủ nó ln được bổ sung được nghiên cứu sao cho phù
hợp với thực tiễn. Việc giáo dục nhân cách cho học sinh là một quá trình lâu dài,
phức tạp và liên tục diễn ra khơng chỉ ở gia đình mà cịn ở ngồi xã hội mà gần
nhất chính là mơi trường các em học tập, vui chơi.
2.1.6. Vấn đề phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong cơng tác giáo dục
học sinh
Theo điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thơng và trường
phổ thơng có nhiều cấp học ban hành kèm theo thông tư 32/2020-BGDĐT ngày
15/9/2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương IV, điều 45 có nội
dung như sau:
1. Nhà trường chủ động phối hợp thường xuyên và chặt chẽ với gia đình và xã hội
để xây dựng môi trường giáo dục thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lý
giáo dục.
2. Nhà trường phối hợp với chính quyền, đồn thể tại địa phương, ban đại diện
cha mẹ học sinh, các tổ chức chính trị-xã hội và cá nhân có liên quan nhằm:
a) Thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục giữa nhà trường, gia
đình và xã hội để thực hiện mục tiêu giáo dục.
b) Huy động các lực lượng và nguồn lực của cộng đồng chăm lo cho sự nghiệp
giáo dục, góp phần xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục của nhà trường; xây

dựng phong trào học tập và mơi trường giáo dục lành mạnh, an tồn; ngăn chặn
những hoạt động có ảnh hưởng xấu đến học sinh; tạo điều kiện để học sinh được
vui chơi, hoạt động văn hóa,
Đảng ta đã khẳng định “Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân”. Điều 3
chương I, Luật giáo dục 2005, bổ sung năm 2009 ghi rõ: “Hoạt động giáo dục
phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với
lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với
giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Điều 93 đến điều 98 chương VI cũng đã
qui định trách nhiệm của nhà trường, gia đình, xã hội đối với công tác giáo dục và
đã thể hiện ý nghĩa quan trọng của sự phối hợp nhà trường-gia đình - xã hội. Sự
phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội nếu được thực hiện một cách đồng bộ thì
hiệu quả giáo dục sẽ nâng lên, ngược lại sự phối hợp này khơng ăn khớp thì sẽ
gây cản trở hoặc khó khăn trong q trình hình thành nhân cách học sinh.
Trong lý luận cũng như trong thực tiễn giáo dục, sự thống nhất tác động
giáo dục từ nhà trường, gia đình và xã hội được xem là vấn đề có tính ngun tắc
đảm bảo cho mọi hoạt động giáo dục có điều kiện đạt hiệu quả tốt. Người GVCN
chính là người cha, người mẹ thứ hai của học sinh, chính là sợi dây kết nối giữa
nhà trường và gia đình trong việc giáo dục học sinh.

skkn

5


2.2. Thực trạng về vấn đề đạo đức của học sinh THPT
2.2.1. Thực trạng chung
Hiện nay kinh tế, xã hội, công nghệ thông tin phát triển kết hợp với sự xâm
nhập tràn lan của các nền văn hóa ngoại lai khiến cho nhận thức của giới trẻ đặc
biệt là học sinh THPT về ngơn ngữ giao tiếp, văn hóa, đạo đức trở nên lệch lạc,
và gây ra các hành vi giao tiếp thiếu chuẩn mực, thiếu trong sáng, thiếu lễ độ.

Trong đó, đáng lo ngại là sự lệch chuẩn về đạo đức của một bộ phận học sinh dẫn
đến tình trạng bạo lực học đường, những hành vi gian lận ở nhiều góc độ, sống
hưởng thụ, đua địi, thực dụng, dễ dãi, lười lao động và học tập, thiếu ý thức rèn
luyện, không dám đấu tranh với cái sai... Thực trạng này một phần nguyên nhân
cũng xuất phát từ kết quả của sự giáo dục thiếu đồng bộ giữa gia đình, nhà trường
và xã hội.
Câu chuyện về giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh không phải là mới,
nhưng đang là là vấn đề nhức nhối và và cũng là yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện
nay.
2.2.2. Thực trạng về vấn đề đạo đức của học sinh ở trường THPT Như
Thanh 2 và thực trạng học sinh lớp 10B1
Trường THPT Như Thanh 2 : là một ngôi trường thuộc phía nam vùng đặc
biệt khó khăn 135 của huyện Như Thanh. Có thể nói đây là một ngơi trường trẻ.
+ Về giáo viên : những giáo viên được phân công cơng tác GVCN tuổi đời,
tuổi nghề của cịn khá trẻ, phần đa họ đều là những thầy cô tận tụy, nhiệt huyết
với nghề. Tuy nhiên, vẫn còn một số GVCN do điều kiện hồn cảnh gia đình xa,
con nhỏ nên sự quan tâm đến học sinh còn hạn chế, kinh nghiệm về cơng tác chủ
nhiệm cịn non trẻ nên hiệu quả công việc chưa cao.
+ Về học sinh : Về học lực: đầu vào thấp, trung bình khoảng trên dưới 10
điểm là đậu vào lớp 10. Nhìn chung học sinh đều là con nhà thuần nơng, chất
phác, ngoan ngỗn. Nhiều học sinh thuộc diện con em dân tộc thiểu số. Bên canh
đấy là bộ phận không nhỏ học sinh cá biệt. Năm học 2021-2022, hội đồng kỉ luật
nhà trường đã xử lí 16 trường hợp ( trong đó có học sinh xích mích đánh nhau,
học simh vi phạm nội qui nhà trường nhiều lần, học sinh hút thuốc lá trong
trường…), 2 nữ mang thai sớm; một bộ phận các học sinh ở trọ ham chơi, chưa
tập trung tự giác học tập, cịn bỏ tiết, nghỉ học, uống rượu, chơi lơ đề…
Về học sinh lớp 10B1 ở trường THPT Như Thanh 2: Đầu vào thấp tương
đồng như học sinh toàn trường. Vẫn có nhiều học sinh hạnh kiểm khá và TB.
Tâm lý học sinh lớp 10 đang còn nhiều phần của học sinh THCS, chưa có mục
đích, mục tiêu phấn đấu rõ ràng, chưa quen với môi trường học tập mới, ngơn ngữ

giao tiếp cịn hạn chế, ý thức, trách nhiệm về bản thân chưa cao.
Làm công tác chủ nhiệm, người GV phải xác định rõ : GD đạo đức cho HS
là nhiệm vụ quan trọng : Đối tượng HS chăm ngoan cần định hướng, HS cá biệt
cần quan tâm và có những biện pháp giáo dục phù hợp.

skkn

6


2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1. Đổi mới hình thức họp phụ huynh học sinh đầu năm học
Vào đầu năm học mới, các trường học trên cả nước lại tổ chức buổi họp
phụ huynh. Trước đây các cuộc họp chỉ diễn ra một chiều, tức là chỉ có giáo viên
truyền đạt cịn phụ huynh chỉ biết ngồi nghe là khá phổ biến.
Nhân buổi gặp gỡ đầu năm, với mong muốn tăng cường mối liên hệ giữa
gia đình học sinh và nhà trường nhằm thảo luận, lấy ý kiến, tìm ra các giải pháp
phối hợp, nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức và giáo dục toàn diện đối với học
sinh lớp chủ nhiệm, tại lớp 10B1 năm học 2021-2022, GVCN đã  tổ chức cuộc
họp phụ huynh học sinh (PHHS) đầu năm với sự đổi mới theo mơ hình thảo luận
với chủ đề: “Chia sẻ và làm bạn cùng con”.
Sau khi báo cáo tình hình và kế hoạch hoạt động của nhà trường và của
lớp, GVCN phối hợp với PHHS thành lập Ban đại diện cha mẹ (BĐDCM) học
sinh vào cuộc họp phụ huynh đầu năm học. Sau đó GVCN cùng với BĐDCM lên
kế hoạch phối hợp cụ thể giữa GVCN và PHHS để tổ chức các hoạt động của lớp
trong năm học như: kế hoạch phụ huynh cùng tham gia sinh hoạt lớp để chia sẻ
và nói chuyện cùng con theo từng chủ đề, phụ huynh cùng GVCN tham gia khen
thưởng học sinh có thành tích tốt trong lớp, phụ huynh cùng hỗ trợ và thăm nhà
học sinh trong lớp có hồn cảnh khó khăn. GVCN phối hợp với PHHS thành lập
chi hội khuyến học của lớp: chi hội này do PHHS bầu ra, phụ huynh lập kế hoạch

đóng góp, thu chi, quản lý quỹ và trực tiếp tham gia khen thưởng, động viên khi
học sinh của lớp tiến bộ hoặc đạt kết quả cao trong học tập và rèn luyện. Sau đó
GVCN đến nội dung chính của buổi thảo luận.
Trong q trình làm GVCN đã rất nhiều lần tôi đã nghe phụ huynh chia sẻ:
“ cơ ơi, con tơi khơng biết sao nó hay cãi lại bố mẹ lắm, nói nó khơng nghe, rồi cả
ngày con đi học về đến nhà là khơng nói chuyện với bố mẹ, cơ có thể giúp gia
đình trao đổi với cháu để cháu nó hiểu được định hướng của gia đình, nó chỉ nghe
cơ thơi...” Chính vì những lí do đó tơi đã lên kế hoạch để tổ chức một buổi thảo
luận với chủ đề: “chia sẻ và làm bạn cùng con” từ đó phụ huynh có thêm những
biện pháp để giáo dục đaọ đức cho con phù hợp với tâm lý lứa tuổi, hiệu quả đạt
được là cao hơn.
Trước khi chuẩn bị họp phụ huynh tôi đã sinh hoạt lớp theo chủ đề “ lắng
nghe con nói”, sau đó cho học sinh viết lên tâm tư của mình gửi đến phụ huynh
rồi gắn lên bảng phần tâm tư của con.

Học sinh viết tâm tư của mình trong giờ sinh hoạt lớp để gửi đến phụ huynh

skkn

7


Học sinh gắn lời tâm sự của mình trong giờ sinh hoạt lớp để gửi đến phụ huynh

Phụ huynh tìm hiểu và nhận thông điệp tâm tư của con.

Phụ huynh tìm hiểu và nhận thơng điệp tâm tư của con.
Sau khi tìm hiểu tâm tư con gửi cha mẹ, phụ huynh học sinh được GVCN
chia thành các nhóm hướng dẫn cùng nhau thảo luận. PH trao đổi về các vấn đề
nhỏ: “Làm thế nào để giúp con chủ động chia sẻ tâm tư với cha mẹ?”, “ Cha mẹ

cần làm gì khi biết con yêu sớm?”“Trao quyền tự chủ cho con như thế nào?”, “Hỗ
trợ học tập ở nhà như thế nào?,… các nhóm có 15 phút để bàn bạc, thảo luận. Sau
đó, nhóm cử đại diện trình bày ý kiến của nhóm mình. Phụ huynh học sinh tham
gia tích cực, chủ động vào cuộc họp, cùng bàn bạc, thảo luận và cử đại diện lên
chia sẻ.

skkn

8


     
Phụ huynh thảo luận nhóm và viết chia sẻ của cha mẹ gửi tới con

Đại diện phụ huynh các nhóm lên chia sẻ và nêu ý kiến thảo luận của phụ
huynh theo nhóm
Cuối buổi thảo luận, phụ huynh sẽ sẻ chia tâm sự của mình gửi con qua
những thơng điệp ngắn để GVCN sẽ gửi đến từng học sinh.

Bảng lớp có những tâm tư chia sẻ giữa phụ huynh và học sinh sau buổi thảo luận
 
Khơng khí buổi họp phụ huynh trở nên ấm cúng, thân thiện hơn bao giờ
hết. Những câu chuyện gần gũi đã đưa các bố mẹ lại gần nhau hơn, cùng đồng
hành với nhà trường trong việc nuôi dạy con cái. Đồng thời những chia sẻ thẳng

skkn

9



thắn, chân tình của phụ huynh với phụ huynh và với cơ giáo đã giúp phụ huynh
cảm thấy mình cần phải thấu hiểu, yêu thương con, dành thời gian cho con, bố mẹ
cần có sự nhạy cảm hơn về những dấu hiệu con đang bước vào tuổi dậy thì,
những chuyển biến tâm lí khi con thay đổi mơi trường học tập để có thể chia sẻ và
quan tâm kịp thời tới con hơn. Cũng qua đó GVCN cũng phần nào nắm được
những tâm tư, tình cảm và khó khăn thuận lợi của từng phụ huynh để có biện
pháp tác động và giáo dục đạo đức phù hợp với từng đối tượng học sinh. Các
nhóm phụ huynh hồn tồn thống nhất, để con học tốt phải hội tụ đủ ba yếu tố:
Bản thân sự nỗ lực của học sinh, phương pháp giảng dạy tích cực của thầy cơ và
sự hỗ trợ khơng nhỏ từ gia đình.
2.3.2. Đổi mới hình thức mời phụ huynh học sinh đến trường
Đa số các GVCN sẽ mời phụ huynh học sinh đến trường trao đổi riêng khi
học sinh vi phạm nội quy của lớp và quy định của nhà trường. Khi tôi làm
GVCN, tôi sẽ chia thành 2 nhóm phụ huynh sẽ mời đến trường đó là:
Nhóm 1 gồm phụ huynh của những học sinh vi phạm nội quy của nhà
trường hoặc vi phạm nội quy của lớp mà nhắc nhở nhiều lần khơng tiến bộ.
Nhóm 2: Phụ huynh của những học sinh có nỗ lực vươn lên trong học tập,
tiến bộ rõ rệt và đạt thành tích cao trong học tập và rèn luyện.
Đối với nhóm 1: Tơi sẽ tìm hiểu hồn cảnh, tâm tư của phụ huynh về học
sinh, trao đổi, lắng nghe phụ huynh chia sẻ và cùng phụ huynh tìm những giải
pháp để chấn chỉnh, giáo dục những học sinh chưa ngoan, cùng phụ huynh giúp
đỡ để học sinh tiến bộ. Hợp tác chặt chẽ với phụ huynh. Đây là vấn đế không đơn
giản, đối tượng học sinh chưa chăm chưa ngoan phức tạp thì phụ huynh lại càng
phức tạp. Hầu như họ đều có nỗi niềm hồn cảnh khá đặc biệt và nhất là cách
giáo dục, dạy dỗ con của họ thực sự có vấn đề. Một là họ khơng có thời gian để
quan tâm con, hoặc quan tâm con không đúng cách, thiếu phương pháp, chiều
chuộng hoặc bỏ bê con cái một cách thái quá. Việc giúp họ hiểu ra vấn đề của con
cái họ và tư vấn, cùng họ giải quyết hậu quả khơng hề dễ. Rất nhiều gia đình đã
bất lực với con, đến mức bỏ mặc, phó thác hồn tồn vào thầy cơ và nhà trường.
Tuy vậy, người giáo viên phải kiên nhẫn. Một mặt, bày tỏ cho họ thấy thiện chí

của mình là hợp tác với họ để giáo dục làm cho con cái họ tốt lên, mặt khác
không thỏa hiệp, cương quyết thực hiện theo cách xử lý của mình, nhất là kiên trì
thực hiện những cam kết đã có trước đó. Phải chỉ ra cho phụ huynh: mọi việc
mình làm đều đứng về phía lợi ích của con cái họ. Sự linh hoạt, mềm dẻo mà chặt
chẽ, thấu tình đạt lý khi đối thoại với phụ huynh là cả một nghệ thuật. Trên thực
tế, chỉ khi nào có sự ủng hộ, hợp tác đầy thiện chí của phụ huynh thì cơng việc
làm thay đổi những học sinh chưa ngoan, chưa chăm mới có kết quả.

skkn

10


GVCN mời phụ huynh của học sinh có xích mích với bạn đến trường để trao đổi
Đối với nhóm 2: Tôi mời Ban đại diện cha mẹ học sinh, cùng với phụ
huynh của học sinh được khen thưởng đến để cùng với GVCN tuyên dương, khen
thưởng học sinh trước lớp, trước trường. Sau đó phụ huynh sẽ được tâm sự, trao
đổi với con và học sinh của lớp như một nguồn cổ vũ động viên mạnh mẽ tới học
sinh, để học sinh thấy được niềm tự hào của cha mẹ và cùng nhau cố gắng học tập
và rèn luyện tốt hơn.

Phụ huynh đến dự và chụp ảnh lưu niệm trong lễ kết nạp đảng cho học sinh
khóa học 2018-2021

Phụ huynh đến trường cùng trưởng ban đại diện cha mẹ học sinh và GVCN
trao phần thưởng cho học sinh khi đạt kết qủa cao trong kì thi khảo sát chất lượng
đầu năm (ảnh trái) và học sinh có thành tích xuất sắc trong năm học(ảnh phải).
2.3.3.Thăm nhà học sinh
Ngày nay, chúng ta đang sống trong thời đại của công nghệ. Nhiều GVCN
sẽ lựa chọn cách trao đổi với PHHS qua điện thoại, qua sổ liên lạc điện tử, chỉ


skkn

11


đến thăm nhà học sinh khi học sinh ốm đau hoặc giao cho ban cán sự lớp đi thăm
HS khi có bạn trong lớp ốm.
Khi làm GVCN, tơi đã lên kế hoạch để thăm nhà học sinh theo từng nhóm
theo vị trí địa lý, theo hồn cảnh gia đình, theo khoảng thời gian và từng dịp cụ thể.
Nhóm ưu tiên thăm nhà trước là những học sinh có hồn cảnh đặc biệt, hoặc khó
khăn về kinh tế. Thực tế ở trường THPT Như Thanh 2 hàng năm cứ mỗi dịp tết
ngun đán cổ truyền… BGH, Cơng đồn, Đồn thanh niên tổ chức chương trình
“ Tết vì học sinh nghèo”, “Ấm áp mùa đơng”…. GVCN và nhóm học sinh lớp
đều tổ chức đoàn đi thăm hỏi động viên, chúc tết gia đình các em có hồn cảnh
đặc biệt khó khăn. Đây là một hoạt động mang đậm tính nhân văn, có ý nghĩa
giáo dục rất lớn về tinh thần tương thân tương ái đối với CBGV và học sinh trong
toàn trường.

Nhà trường, cơng đồn và đồn thanh niên tổ chức thăm chúc tết các gia đình
học sinh trong chương trình “ Tết vì học sinh nghèo”, “Ấm áp mùa đơng”

GVCN cùng với một số giáo viên bộ môn và học sinh đến thăm nhà học
sinh lớp 10B1 có hồn cảnh đặc biệt khó khăn

skkn

12



Nhóm thứ hai là HS là con em người dân tộc thiểu số. Học sinh trường
THPT Như Thanh 2, còn nhiều HS là con em người dân tộc thiểu số,trong đó lớp
10B1 có 7 em. Những học sinh đó đang cịn mang trong mình những phong tục,
tập qn thậm chí là hủ tục của địa phương mình. Vì vậy GVCN đến thăm nhà
cũng là tìm hiểu những tư tưởng biện pháp giáo dục của đồng bào dân tộc thiểu số
từ đó nắm bắt được tâm tư, văn hóa người dân tộc để có những biện pháp tác
động và giáo dục phù hợp với những học sinh đó để phát huy những giá trị tốt
đẹp và thay đổi tư tưởng hủ tục trong suy nghĩ của phụ huynh và học sinh.

GVCN và học sinh lớp 10B1 cùng đi thăm nhà của học sinh Vi Thân Đô và
học sinh Hà Việt Trung con em người dân tộc Thái
Nhóm thứ ba là gia đình có PH hoặc HS ốm đau. Nhóm này tùy vào tình hình
sức khỏe của phụ huynh và học sinh có thể đi thăm khi phát sinh. Đối với PH và
HS ốm đau phải đến viện điều trị, GVCN phối hợp với ban đại diện cha mẹ học
sinh, hội chữ thập đỏ và HS của lớp để trực tiếp đến thăm, chia sẻ và động viên.
Sự quan tâm nhỏ nhưng chân tình cũng giúp tạo thêm được sự gắn kết giữa
GVCN với gia đình học sinh.

GVCN và học sinh lớp 10B1 đi thăm nhà học sinh Nguyễn Thị Thùy Linh bị tại
nạn do ngã khi đi xe điện, phải điều trị dài ngày và có ảnh hưởng nặng đến mắt
Nhóm cuối cùng là những học sinh còn lại. GVCN sắp xếp vào một số dịp
cuối tuần hoặc đầu xuân và đi thăm mỗi lần một số nhà ở cùng một khu vực. Đây
vừa là dịp tìm hiểu về gia đình học sinh, cũng là dịp để thăm động viên, quan tâm
gắn kết tình cảm giữa GVCN với học sinh, với gia đình học sinh.
2.3.4. Phối hợp với phụ huynh học sinh cùng tổ chức các hoạt động cho học
sinh
Khi tổ chức cho học sinh tham gia các chương trình hoạt động tập thể như:
hoạt động ngoại khóa, hoạt động văn nghệ- thể dục thể thao dịp 20-11 và 26-3,

skkn


13


hoạt động chào đón tết cổ truyền…GVCN cũng trực tiếp trao đổi với PH trong
cuộc họp PH, xin ý kiến chia sẻ, hỗ trợ của phụ huynh về phong tục, tập quán địa
phương nơi trường đóng, mời phụ huynh đến trường cùng hỗ trợ các con tham gia
hoạt động, cùng chia sẻ, cùng lắng nghe, cổ vũ và động viên học sinh.

Phụ huynh cùng tham gia hỗ trợ hướng dẫn học sinh tham gia gói và nấu bánh
chưng trong “Hội Xuân” tại trường

Phụ huynh đến cùng con nghe diễn giả Đào Ngọc Cường nói về chủ đề: “ Sống
ước mơ và khát vọng”(hai ảnh trái), Phụ huynh đến dự “Hội diễn văn nghệ chào
mừng 20/11” (ảnh phải)
2.3.5. Sử dụng Zalo, Facebook
GVCN chủ động xin phép kết bạn zalo, facebook với PHHS sau cuộc họp
phụ huynh đầu khóa học, lập nhóm Zalo: Phụ huynh và GVCN.

Nhóm Zalo của Phụ huynh và GVCN lớp 10B1

skkn

14


Zalo, facebook cũng như một cầu nối giữa PH và GVCN. Thơng qua các
ứng dụng này GVCN cũng có thể nhanh chóng nắm bắt thơng tin về HS, về gia
đình học sinh, lắng nghe, chia sẻ thậm chí giải đáp những thắc mắc của phụ
huynh, hoặc chia sẻ riêng với PH về tình hình HS một cách tế nhị và nhanh nhất.

GVCN lập nhóm Zalo Phụ huynh và GVCN để cập nhật thông tin của lớp,
thông báo kế hoạch hoạt động hàng tuần của nhà trường và của lớp thường xuyên
trên nhóm để PHHS theo dõi được thời gian hoạt động và học tập tại trường của
con, có biện pháp quán xuyến và quản lý học sinh phù hợp, kịp thời. GVCN cũng
có thể thơng báo kết quả kiểm tra, đánh giá học sinh ở từng thời điểm cho từng
phụ huynh hoặc cho phụ huynh cả lớp qua zalo, messenger.

Một số hình ảnh hoạt động của nhóm Zalo Phụ huynh và GVCN

Một số trao đổi riêng của phụ huynh và GVCN ở từng thời điểm
2.4. Hiệu quả của sáng kiến
Trước khi thực hiện đề tài này, tôi thấy rằng khi GVCN khơng phối hợp với
gia đình học sinh một cách chặt chẽ, khoa học và có kế hoạch thì việc giáo dục
đạo đức cho học sinh gặp rất nhiều khó khăn.
Khi đề tài áp dụng ở lớp 10B1 trường THPT Như Thanh 2 , với mức độ nhận
thức của phụ huynh cịn thấp, địa hình đi lại khó khăn nhưng phụ huynh học sinh
cũng đã rất nhiệt tình hợp tác, ủng hộ và gắn kết được hơn tình cảm và sự tin
tưởng của PHHS với GVCN và nhà trường, kết quả của việc giáo dục đạo đức
của học sinh được nâng lên rõ rệt qua tuần, từng tháng và từng kì học của lớp tơi
chủ nhiệm.

skkn

15


Kết quả cụ thể:
Đối với nội dung nghiên cứu sau khi kết thúc, tôi tiến hành kiểm tra kết quả
rèn luyện hạnh kiểm và xem xét tình cảm, thái độ, và ngôn ngữ, hành vi giao tiếp
của học sinh lớp 10B1, kết quả thu được như sau:

- Theo kết quả rèn luyện hạnh kiểm:
Tổng số Loại tốt
Thời
điểm HS
SL
%
khảo sát

Loại khá

Loại TB

Loại yếu

SL

%

SL

%

SL

%

Đầu năm học
Học kì 1
Học kì 2
Cả năm


10
5
1
1

25
12,5
2,5
2,5

5
1
0
0

12,5
2,5
0
0

0
0
0
0

0
0
0
0


40
40
40
40

25
34
39
39

62,5
85
97,5
97,5

- Theo kết quả thi đua nề nếp cả năm của học sinh lớp 10B1: Lớp B1
xếp thứ nhất toàn trường và đủ điều kiện xét đạt danh hiệu lớp tiên tiến xuất sắc.
( có bảng xếp loại nề nếp kèm theo)

skkn

16


BCH ĐOÀN TRƯỜNG THPT NHƯ THANH II
BẢNG TỔNG KẾT XẾP LOẠI NỀ NẾP CẢ NĂM CÁC CHI ĐOÀN
NĂM HỌC 2021-2022
STT
1

2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19

Lớp
B1
C2
A2
A1
C1
A7
A3
A5
B2
C4

B6
A6
C6
B3
B5
C5
A4
B4
C3

HK I

KH II

Cả Năm

XL

56.77

58.54

57.95

1

59.62

55.05


56.57

2

55.67

54.21

54.7

3

55.48

50.61

52.24

4

50.22

50.61

50.48

5

50.92


48.55

49.34

6

48.08

48.22

48.18

7

47.36

48.46

48.1

8

48.15

47.15

47.48

9


47.46

47.42

47.44

10

47.58

47.34

47.42

11

45.62

48.21

47.35

12

45.93

46.15

46.08


13

46

45.84

45.89

14

46.57

44.97

45.5

15

44.87

44.46

44.59

16

44.36

43.69


43.91

17

43.81

43.46

43.57

18

42.46

41.3

41.68

19

BCH ĐOÀN TRƯỜNG

skkn

17


3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Nhiều cơng trình nghiên cứu đã chỉ ra, gia đình có tính quyết định trong

việc giáo dục đạo đức cho học sinh và sự phối hợp giữa giáo dục nhà trường và
giáo dục gia đình là khơng thể thiếu trong q trình giáo dục đó. Bởi lẽ gia đình
có vị trí và vai trị hết sức to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách của
các em. Những phẩm chất về nhân cách của cha mẹ và các thành viên trong gia
đình tác động trực tiếp, thường xun và có hiệu quả đến trẻ em. Bên cạnh những
thuận lợi, giáo dục gia đình cịn có những mặt khơngthuận lợi trong việc giáo dục
trẻ. Tình yêu thương sâu sắc, rộng lớn của cha mẹ đối với con cái nếu khơng có
u cầu cao về giáo dục, khơng có tính ngun tắc sư phạm sẽ có thể là nguyên
nhân gây ra cho con cái thói hư, tật xấu. Những cha mẹ có tư tưởng lạc hậu, quan
niệm giáo dục lỗi thời, khơng có tri thức về khoa học giáo dục sẽ dẫn đến việc
giáo dục gia đình mâu thuẫn với giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. Do đó
nhà trường đặc biệt là GVCN cần phải phối hợp chặt chẽ với gia đình để tạo mọi
điều kiện giáo dục đạo đức cho học sinh tốt nhất. Ngược lại gia đình cũng cần
phải bổ sung, cộng tác và phát huy vai trò của giáo dục nhà trường vì mục tiêu
chung là giáo dục học sinh “thành người” và “làm người”.
Với việc áp dụng đề tài “Biện pháp phối hợp giữa GVCN với gia đình học
sinh góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT
Như Thanh II’’, tơi hi vọng sẽ góp phần nhỏ vào q trình giáo dục đào tạo
những thế hệ học trị “có tài, có đức” cho HS trường THPT Như Thanh 2.
3.2. Kiến nghị :
GVCN là cầu nối quan trọng giữa giáo dục nhà trường và giáo dục gia
đình, giáo dục xã hội, là người ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giáo dục đạo đức
và hình thành nhân cách cho học sinh THPT nên cần được bồi dưỡng nhiều về
nghiệp vụ để có hiệu quả tốt nhất trong q trình làm việcTơi xin mạnh dạn đề
xuất :
+ Một là: Đối với Sở GD và ĐT Thanh Hóa nên tổ chức tập huấn chuyên
đề về công tác chủ nhiệm cho tất cả GVCN bậc THPT và GDTX, nhằm bồi
dưỡng nghiệp vụ, nâng cao phương pháp và kĩ năng cho GVCN, tạo cơ hội để
GVCN có dịp học hỏi, chia sẻ và trau dồi kinh nghiệm trong quá trình giáo dục
HS. Sở GD và ĐT Thanh Hóa cũng khuyến khích các trường thành lập các tổ

nhóm GVCN theo trường, nhóm Zalo GVCN theo huyện, theo tỉnh và lien tỉnh
để các GVCN có cơ hội gặp gỡ, học hỏi, trao đổi phương pháp và kinh nghiệm
trong quá trình làm GVCN.
+ Hai là: Đối với nhà trường nên tạo điều kiện quan tâm khuyến khích,
động viên nhiều hơn nữa đối với công tác chủ nhiệm, chú trọng hơn về bồi dưỡng
nghiệp vụ, công tác cho các GVCN để GVCN có điều kiện học hỏi, nâng cao kĩ
năng nghiệp vụ trong q trình giáo dục học sinh.
Tơi xin chân thành cảm ơn!

skkn

18


XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 15 tháng 05 năm 2022
Tơi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác

Trịnh Thị Huế

skkn

19




×