Tải bản đầy đủ (.pdf) (123 trang)

Tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.74 MB, 123 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH </b>

<b>LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG </b>

<b>Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Thông </b>

<b>THÁI NGUYÊN - 2021 </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>LỜI CAM ĐOAN </b>

Tôi xin cam đoan, Luận văn: “Tạo việc làm cho thanh niên nông thơn

<i><b>huyện n Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc” là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các </b></i>

nội dung nghiên cứu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, rõ ràng. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.

<i>Thái Ngun, tháng năm 2021 </i>

<b>Tác giả luận văn </b>

<b>Nguyễn Thị Yến</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>LỜI CẢM ƠN </b>

<i><b>Trong quá trình hành thực hiện đề tài: “Tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc”. </b></i>

Tơi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phịng Đào tạo, các phịng ban và các thầy cơ giáo Trường ĐH Kinh tế và Quản trị Kinh doanh đã giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ tơi trong suốt q trình học tập và nghiên cứu, làm luận văn.

<b>Tôi xin trân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Văn Thông - người đã trực tiếp </b>

hướng dẫn tơi nghiên cứu và hồn thành luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo UBND huyện Yên Lạc, lãnh đạo và các đồng chí cán bộ cơng chức trong Phịng LĐTB&XH huyện Yên Lạc đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho tơi hồn thành luận văn này.

Tơi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình và những ý kiến đóng góp của thầy, cơ giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình trong quá trình làm luận văn.

<i><b>Xin chân thành cảm ơn! </b></i>

<i>Thái Nguyên, tháng năm 2021 </i>

<b>Tác giả </b>

<b> Nguyễn Thị Yến </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

1. Tính cấp thiết của đề tài ... 1

2. Mục tiêu nghiên cứu ... 2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ... 3

4. Đóng góp của luận văn ... 3

5. Kết cấu của luận văn ... 4

<b>Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN ... 5 </b>

1.1. Cơ sở lý luận tạo việc làm cho thanh niên nông thôn ... 5

1.1.1. Khái niệm, vai trò, đặc điểm của tạo việc làm cho thanh niên và thanh niên nông thôn ... 5

1.1.2 Nội dung tạo việc làm cho thanh niên nông thôn ... 16

1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho thanh niên nông thôn .... 21

1.2. Cơ sở thực tiễn về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn ... 27

1.2.1. Kinh nghiệm về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn của một số địa phương ... 27

1.2.2. Bài học kinh nghiệm rút ra về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc ... 31

<b>Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ... 33 </b>

2.1. Câu hỏi nghiên cứu ... 33

2.2. Phương pháp nghiên cứu ... 33

2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin ... 33

2.2.2. Phương pháp tổng hợp số liệu ... 34

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

2.2.3. Phương pháp phân tích số liệu ... 35

2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu ... 36

<b>Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC ... 37 </b>

3.1. Giới thiệu huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc ... 37

3.1.1. Đặc điểm tự nhiên ... 37

3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ... 39

3.2. Thực trạng lực lượng thanh niên nông thôn của huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc ... 42

3.2.1. Tình hình số lượng thanh niên nơng thơn của huyện Yên Lạc ... 42

3.2.2. Thanh niên nông thơn phân theo trình độ văn hóa ... 45

3.2.3. Thanh niên nơng thơn phân theo trình độ chun môn kỹ thuật ... 45

3.3. Thực trạng công tác tạo việc làm cho thanh niên nông thôn của huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc ... 52

3.3.1. Xây dựng chiến lược, chính sách, chương trình về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn ... 52

3.3.2. Tổ chức thực hiện chính sách tạo việc làm cho thanh niên nông thôn . 62 3.3.3. Thực hiện các quy định về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và tổ chức bộ máy quản lý trong hoạt động tạo việc làm cho thanh niên nông thôn ... 73

3.3.4. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định và xử lý vi phạm quy định về tạo việc làm cho thanh niên nơng thơn ... 77

3.4. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho thanh niên nông thôn

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

3.5. Đánh giá về công tác tạo việc làm cho thanh niên nông thôn của huyện Yên

Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc ... 88

3.5.1. Kết quả đạt được ... 88

3.5.2. Những hạn chế và nguyên nhân ... 89

<b>CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC ... 95 </b>

4.1. Mục tiêu, nhiệm vụ tạo việc làm cho thanh niên nông thôn của huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2025 ... 95

4.1.1. Mục tiêu chung ... 95

4.1.2.Mục tiêu cụ thể đối với tạo việc làm cho thanh niên nông thôn ... 95

4.1.3. Phương hướng tạo việc làm cho thanh niên nông thôn ... 96

4.2. Giải pháp tăng cường công tác tạo việc làm cho thanh niên nông thôn của huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc ... 98

4.2.1. Hồn thiện cơng tác ban hành và tổ chức thực hiện các chiến lược, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn 98 4.2.2. Giải pháp về tổ chức thực hiện tạo việc làm cho thanh niên nơng thơn99 4.2.3. Hồn thiện tổ chức bộ máy; nâng cao trình độ chun mơn, nghiệp vụ của cán bộ thực hiện công tác quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên nông thôn ... 104

4.2.4. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tạo việc làm cho thanh niên nông thôn ... 106

4.3. Kiến nghị ... 106

<b>KẾT LUẬN ... 109 </b>

<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO ... 112 </b>

<b>PHỤ LỤC ... 113 </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<b>DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT </b>

CSGDNN Cơ sở giáo dục nghề nghiệp

GDTX -

GDNN <sup>Giáo dục thường xuyên – Giáo dục nghề nghiệp </sup>

LĐTB&XH Lao động thương binh và xã hội

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<b>DANH MỤC BẢNG BIỂU </b>

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu kinh tế huyện Yên Lạc năm 2018 - 2020 ... 39

Bảng 3.2. Cơ cấu dân số và mật độ dân số ... 40

Bảng 3.3. Lao động và cơ cấu lao động huyện Yên Lạc ... 41

Bảng 3.4: Số lượng Thanh niên nông thôn và dân số huyện Yên Lạc giai đoạn 2016-2020 ... 44

Bảng 3.5: Thanh niên nơng thơn phân theo trình độ văn hố ... 47

Bảng 3.6: Thanh niên nơng thơn phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật .... 48

Bảng 3.7: Thất nghiệp của thanh niên nông thôn huyện Yên Lạc ... 49

Bảng 3.8: Số thanh niên nông thôn thất nghiệp phân theo nhóm tuổi, trình độ học vấn và trình độ chun mơn kỹ thuật giai đoạn 2016-2020 .... 51

Bảng 3.9: Thanh niên nông thôn đang làm việc trong các ngành kinh tế ... 60

Bảng 3.10: Số lượng thanh niên nông thôn của huyện làm việc trong khu công nghiệp giai đoạn 2016 – 2020 ... 65

Bảng 3.11: Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn huyện Yên Lạc giai đoạn 2016 – 2020 ... 66

Bảng 3.12: Số lượt TNNT tham gia học nghề tại huyện Yên Lạc ... 70

Bảng 3.13. Ngành nghề đào tạo trên địa bàn huyện Yên Lạc ... 71

Bảng 3.14. Kết quả điều tra về việc làm của TNNT huyện Yên Lạc ... 85

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<b>MỞ ĐẦU </b>

<b><small>1. Tính cấp thiết của đề tài </small></b>

Đồn viên thanh niên luôn được xác định là lực lượng lao động chính trong mỗi gia đình và xã hội. Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Thiếu việc làm, khơng có việc làm hoặc việc làm với năng suất và thu nhập thấp sẽ không thể giúp thanh niên bảo đảm cuộc sống và phát triển bền vững. Đối với thanh niên nông thôn, việc làm liên quan đến yếu tố đất đai, tư liệu lao động, công cụ lao động và kỹ năng nghề và vốn sản xuất. Các yếu tố trên kết hợp thành một chỉnh thể tác động mạnh đến đời sống của thanh niên nông thôn. Giải quyết việc làm cho thanh niên nơng thơn, vì vậy là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động này.

Yên Lạc là một huyện đồng bằng của tỉnh Vĩnh Phúc; hiện nay có 16 xã và 1 thị trấn; diện tích 107,6km<small>2</small>. Theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở, tính đến ngày 01/04/2020, huyện Yên Lạc có số dân là 148.600 người, trong đó nam giới là 73.500, nữ là 73.030. Dân số phân theo thành thị là 13.350 người, dân số phân theo nông thôn là 135.230 người. Phần lớn dân cư tập trung ở khu vực nông thôn với 135.230 người, chiếm 91,01% tổng dân số huyện (UBND huyện Yên Lạc, 2020). Dân số đô thị tập trung ở khu vực thị trấn Yên Lạc với 13,4 ngàn người (chiếm trên 9% tổng dân số). Mức độ đô thị hố rất thấp, q trình đơ thị hóa mới chỉ bắt đầu một cách từ từ trong vài năm gần đây. Lao động ở Yên Lạc đông về số lượng, tập trung chủ yếu vào nông nghiệp và khu vực kinh tế tập thể. Theo thời gian, tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ gia tăng, phản ánh xu hướng tất yếu của quá trình CNH. Tuy nhiên, lao động chưa được đào tạo chun mơn là chủ yếu và có một bộ phận không nhỏ lao động đi làm tại các địa phương khác.

Những năm qua, UBND tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và UBND huyện Yên Lạc nói riêng đã có nhiều chính sách thiết thực nhằm hỗ trợ, đào tạo nghề cho

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

thanh niên. Cơng tác tun truyền về các chủ trương, chính sách của Nhà nước về dạy nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên được đẩy mạnh, ngày càng có nhiều mơ hình thanh niên khởi nghiệp thành công, tạo sức lan tỏa trong cộng đồng từ đó tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về mọi mặt: Kinh tế phát triển nhanh, an ninh chính trị ổn định, đời sống người dân từng bước được nâng lên.

Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tế hiện nay, công tác tạo việc làm cho thanh niên nơng thơn trên huyện vẫn cịn nhiều hạn chế, bất cập, đào tạo nghề chưa phù hợp với nhu cầu thực tiễn từng địa phương, còn nặng về số lượng, chưa quan tâm nhiều đến chất lượng đào tạo, nên nhiều thanh niên được đào tạo nghề nhưng vẫn khó tìm được việc làm, nhất là thanh niên ở nông thôn. Tỷ lệ thanh niên nơng thơn thất nghiệp, thiếu việc làm đang có xu hướng tăng lên, một bộ phận thanh niên vi phạm pháp luật và mắc các loại tệ nạn xã hội mà nguyên nhân chủ yếu là không có việc làm.

Trong bối cảnh cuộc cách mạng cơng nghiệp 4.0 đang phát triển mạnh mẽ địi hỏi sự đổi mới, sáng tạo trong đào tạo nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ thanh niên nông thơn có chất lượng cao, có khả năng sáng tạo và khởi nghiệp

<i><b>mới đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài luận </b></i>

văn tốt nghiệp.

<b><small>2. Mục tiêu nghiên cứu </small></b>

<i><b>2.1. Mục tiêu chung </b></i>

Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

<i><b>2.2. Mục tiêu cụ thể </b></i>

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác tạo việc làm cho thanh niên nông thôn.

- Phân tích, đánh giá thực trạng và làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

công tác tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Yên lạc, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 2018-2020.

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Yên lạc, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 2021-2025.

<b><small>3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu </small></b>

<i><b>3.1. Đối tượng nghiên cứu </b></i>

Công tác tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Yên lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

<i><b>3.2. Phạm vi nghiên cứu </b></i>

- Phạm vi về không gian: Luận văn được nghiên cứu tại huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp phục vụ cho nghiên cứu đề tài được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2016 - 2020. Các số liệu sơ cấp được tiến hành khảo sát vào tháng 10 năm 2020.

- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu thực trạng công tác tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Yên lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Bao gồm: Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn; Xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các chương trình hình thức về việc làm cho thanh niên nơng thơn; Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tạo việc làm cho thanh niên nông thôn; Thực hiện các quy định về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và tổ chức bộ máy quản lý trong hoạt động tạo việc làm cho thanh niên nông thôn; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định và xử lý vi phạm quy định về tạo việc làm cho thanh niên nông thơn.

<b><small>4. Đóng góp của luận văn </small></b>

+ Về mặt lý luận: Nghiên cứu đã tổng hợp, hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về công tác tạo việc làm cho thanh niên nông thôn.

+ Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác tạo việc làm

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

cho thanh niên nông thôn huyện Yên lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế cịn tồn tại để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Yên lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Tính ứng dụng: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý nói chung và những người làm công tác QLNN về tạo việc làm cho thanh niên nơng thơn nói riêng. Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này.

<b><small>5. Kết cấu của luận văn </small></b>

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo luận văn được chia làm 4 chương.

<i>Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn. </i>

<i>Chương 2: Phương pháp nghiên cứu </i>

<i>Chương 3: Thực trạng công tác tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. </i>

<i>Chương 4: Giải pháp nhằm tăng cường công tác tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

<b>CHƯƠNG 1 </b>

<b>CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN </b>

<b><small>1.1. Cơ sở lý luận tạo việc làm cho thanh niên nông thôn </small></b>

<i><b>1.1.1. Khái niệm, vai trò, đặc điểm tạo việc làm cho thanh niên nông thôn </b></i>

<i>1.1.1.1. Khái niệm </i>

<i>* Khái niệm thanh niên </i>

Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn thúc đẩy sự phát triển xã hội hiện tại và là người chủ tương lai của đất nước. Khái niệm Thanh niên được sử dụng thường xuyên rộng rãi hàng ngày cũng như trong các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn.

Theo Luật Thanh niên năm 2005 quy định: Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi. Thanh niên là khái niệm dùng để chi một nhóm nhân khẩu - xã hội với một độ tuổi xác định, với những tâm sinh lý đặc thù và có một vai trò quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thanh niên là lứa tuổi đã trưởng thành, có đầy đủ tố chất của người lớn, là thời kỳ dồi dào về trí lực và thể lực, do đó thanh niên có đầy đủ những điều kiện cần thiết để tham gia hoạt động học tập, lao động, hoạt động chính trị - xã hội đạt hiệu quả cao, có khả năng đóng góp cống hiến thể lực và trí lực cho cơng cuộc đổi mới đất nước.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Thanh niên: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc: Dân tộc bị nơ lệ thì Thanh niên cũng bị nơ lệ. Dân tộc được giải phóng, Thanh niên mới được tự do. Vì vậy Thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc”.Gắn Thanh niên với vận mệnh của dân tộc, Hồ Chủ Tịch, trong nhiều bài nói và bài viết của mình đã luận giải một cách giản dị, thuyết phục rằng: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

các Thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cho cái tương lai đó”.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII về công tác Thanh niên trong thời kỳ mới đã khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp đổi mới có thành cơng hay khơng, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay khơng, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không, phần lớn tùy thuộc và lực lượng Thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác Thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”.

Ngoài ra, Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách. Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên. Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn xác định trong q trình “tiến hóa” của cơ thể. Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là một cơng dân có trách nhiệm. Dưới góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là một lực lượng lao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực. Với các triết gia, văn nghệ sĩ, thanh niên lại được định nghĩa bằng cách so sánh hình tượng: “thanh niên là mùa xuân của xã hội” là “bình minh của cuộc đời”. Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, tuổi thọ bình quân v.v.. mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau. Nhưng hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 hoặc 16. Còn thanh niên kết thúc ở tuổi nào thì có sự khác biệt. Có nước quy định là 25 tuổi, có nước quy định là 30 tuổi và cũng có nước cho đó là tuổi 40. Nhưng xu hướng chung là nâng dần giới hạn

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

kết thúc của tuổi thanh niên. Ở Việt Nam có một thời gian khá dài tuổi thanh niên được hiểu gần như đồng nhất với tuổi đoàn viên (15 đến 28 tuổi). Ngày nay do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội phát triển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của tuổi trẻ dài thêm, cùng với nhiều đặc điểm khác mà chúng ta cho thanh niên là những người trong độ tuổi từ 16 đến 30. Tuy nhiên cần phải phân biệt rõ tuổi đoàn viên và tuổi thanh niên.

Theo điều lệ Đồn thì Đồn là một tổ chức chính trị xã hội của thanh niên, bao gồm những thanh niên ưu tú trong độ tuổi 15 đến 30 tuổi. Hết tuổi đoàn viên theo quy định, người đoàn viên đó vẫn có thể tự nguyện tiếp tục sinh hoạt trong tổ chức Đoàn hoặc tham gia vào Hội liên hiệp thanh niên và các hoạt động khác của Đoàn và phong trào thanh niên đến 35 tuổi.

Để nhìn nhận đánh giá thanh niên một cách tương đối tồn diện, có thể bao hàm được các nội dung, ý nghĩa nêu trên có thể khái quát: “Thanh niên được hiểu là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù có độ tuổi từ 15, 16 tuổi đến trên dưới 30 tuổi, gắn với mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội và có mặt trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội”.

<i>* Khái niệm thanh niên nông thôn </i>

Gồm những thanh niên sinh ra, lớn lên và sinh sống chủ yếu ở nông thôn, trong độ tuổi lao động từ 16 - 30, có khả năng làm việc, đang làm việc hoặc chưa có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm. Lực lượng lao động thanh niên không bao gồm những học sinh, sinh viên, những người trong độ tuổi 16-30 đang đi học khơng có mong muốn, nhu cầu tìm kiếm việc làm, những thanh niên làm nội trợ trong gia đình và những thanh niên khơng có khả năng làm việc.

Thanh niên nơng thơn có trình độ văn hố và chun mơn thấp hơn so với thanh niên thành thị. Tỷ lệ thanh niên nông thôn đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp. Lao động nơng thơn nói chung mà đặc biệt là thanh niên nói riêng chủ yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế hệ trước hoặc tự truyền cho

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

nhau nên lao động theo truyền thống và thói quen là chính. Điều đó làm cho thanh niên nơng thơn có tính bảo thủ nhất định, tạo ra sự khó khăn cho việc thay đổi phương hướng sản xuất và thực hiện phân công lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn.

Thanh niên nơng thơn lao động mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là các vùng nông thôn thuần nông. Do vậy, việc sử dụng lực lượng này trong lao động ở nông thôn kém hiệu quả, hiện tượng thiếu việc làm là phổ biến. Thanh niên nông thơn có khả năng tiếp cận và tự tìm việc làm cho mình kém, thiếu khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường lao động, khả năng hạch tốn hạn chế.

Thanh niên nơng thơn có những đặc điểm sau:

- Thanh niên nông thôn chiếm tỷ lệ cao trong thanh niên cả nước, là nguồn nhân lực phát triển và thực hiện cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

- Là lực lượng quan trọng trong sản xuất nơng nghiệp, tích cực tham gia và phát huy tốt ý thức chính trị, ý chí tự lực tự cường, khát vọng vươn lên thoát nghèo và làm giàu. Việc làm và thu nhập của thanh niên nông thôn vẫn là vấn đề bức xúc.

- Tình trạng khơng đủ việc làm, việc làm không ổn định, thu nhập thấp đã tác động rất lớn đến đời sống của thanh niên nơng thơn, ảnh hưởng đến cơng tác đồn kết tập hợp thanh niên nông thôn. Thanh niên nông thôn đang đứng trước những khó khăn và thách thức như: trình độ học vấn, tay nghề, thiếu vốn, thơng tin, khả năng tìm việc làm.

- Thanh niên nông thôn là nguồn nhân lực quan trọng trong quá trình phát triển KT -XH. Phần lớn thanh niên nơng thơn hiện nay trình độ học vấn cịn thấp, thiếu việc làm, ít có cơ hội được đào tạo nghề nghiệp, đặc biệt là trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp thấp. Thực tế này đặt ra nhiệm vụ quan trọng của tổ chức Đồn và cả hệ thống chính trị trong việc giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn.

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

Như vậy có thể hiểu, thanh niên nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong nông thôn.

<i>* Khái niệm việc làm </i>

Theo điều 9, Bộ luật lao động năm 2012 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm, Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”.

Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân. Như vậy, một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: đó là những cơng việc mà người lao động nhận được tiền cơng, đó là những cơng việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận.

Trên thực tế, việc làm được thừa nhận dưới 3 hình thức: Làm cơng việc để nhận được tiền lương, tiền công hoặc hiện vật, cho cơng việc đó. Làm cơng việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất để tiến hành cơng việc đó. Làm các cơng việc cho hộ gia đình mình nhưng khơng được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền cơng cho cơng việc đó. Hình thức này bao gồm sản xuất nơng nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu, quản lý.

Việc làm của thanh niên nơng thơn có những đặc điểm sau:

- Việc làm của người lao động ở nông thôn gắn liền với đặc điểm của kinh tế nông nghiệp, nông thôn, với lực lượng lao động và điều kiện tự nhiên

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

tại chỗ, bao hàm tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý KT-XH ở nông thôn để mang lại thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm; được thể hiện là những ngành nông, lâm, thủy sản - những loại việc làm có thể khai thác tài nguyên thiên nhiên tại chỗ.

- Trong điều kiện nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, việc làm của người lao động ở nơng thơn mang tính thủ cơng, nặng nhọc và có thu nhập thấp. Khi kinh tế nơng thơn vẫn chủ yếu là nơng nghiệp, ở đó ẩn chứa nhiều nguy cơ thiếu việc làm. Vì vậy, đa dạng hóa ngành nghề, mở nhiều loại hình việc làm, phát triển KT - XH ở nông thôn là phương hướng chủ yếu giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn. Như vậy, trong quá trình CNH, HĐH, người lao động làm trong lĩnh vực thuần nơng là những người có nguy cơ bị thiếu việc làm và bị thất nghiệp cao nhất.

Việc làm phi nông nghiệp là lĩnh vực rộng lớn, gồm tất cả các ngành nghề ngồi nơng nghiệp ở nơng thơn. Cùng với sự hình thành và phát triển của cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước các loại ngành nghề ở nông thôn phát triển đã tạo nên sự phong phú, đa dạng về việc làm cho người lao động ở đây. Đặc biệt cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, dịch vụ ở nơng thơn cũng phát triển mạnh mẽ. Nhiều loại hình dịch vụ phục vụ đời sống trước đây chỉ có ở thành thị thì nay đã có ở nơng thơn như: dịch vụ vệ sinh nông thôn, dịch vụ cung cấp nước sạch, vệ sinh dịch vụ ăn uống... Nhiều việc làm trước đây bị xã hội coi rẻ và cấm đốn như: giúp việc gia đình, chạy chợ... thì nay đã được cơng nhận như một nghề. Tất cả những biến đổi đó đã tạo ra nhiều loại hình cơng việc làm phong phú, đa dạng thị trường việc làm cho người lao động ở nông thôn.

Việc làm phi nông nghiệp ở nơng thơn có vai trị tích cực trong phát triển KT - XH ở nông thôn: Phát triển ngành nghề ngoài việc đem lại việc làm ổn định, thường xuyên cho người lao động ở lĩnh vực đó, còn khả năng thu hút

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

thêm lao động nhàn rỗi ở nơng thơn. Ngồi sự phát triển của nó cịn nảy sinh những ngành nghề mới, những hoạt động dịch vụ liên quan tạo thêm nhiều chỗ làm mới cho lao động.

Tóm lại: việc làm và các loại việc làm của thanh niên nơng thơn nước ta đều có đặc điểm chung của người lao động ở nông thôn làm việc theo mùa vụ sản xuất nông nghiệp, thủy sản, trồng rừng làm những ngành nghề truyền thống của làng quê Việt Nam. Do làm theo mùa vụ và nhiều vùng quê đất chật người đông, ở nông thôn năng suất lao động và thu nhập thấp, việc làm và các loại việc làm của người lao động ở nông thôn thuần nông, làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm không qua đào tạo là phổ biến. Thế hệ thanh niên nông thôn ngày nay, với những tác động tích cực của nhiều nhân tố khách quan, (KT - XH phát triển, quá trình CNH, HĐH, phát triển của giáo dục đào tạo…), trình độ học vấn, nhận thức, tính tự chủ và khát vọng vươn lên làm giàu của thanh niên nông thôn được nâng lên, chủ động tổ chức tự tạo ra việc làm cho mình và nhiều người khác như; tổ chức làm trang trại, phát triển nghề truyền thống và các dịch vụ khác… thể hiện được tính năng động, sáng tạo. Đây là một nét tích cực, nổi bật của thế hệ thanh niên nông thôn hiện nay.

<i>* Khái niệm tạo việc làm </i>

Tạo việc làm là quá trình đưa người lao động vào làm việc, tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức lao động”, tạo việc làm có thể được hiểu theo hai khía cạnh khác nhau:

Tạo việc làm theo nghĩa rộng: Tạo việc làm bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát triển nguồn nhân lực. Nghĩa là quá trình diễn ra từ vấn đề giáo dục đào tạo và phổ cập nghề nghiệp để chuẩn bị cho người lao động, đến vấn đề tự do lao động và hưởng thụ xứng đáng với giá trị mà lao động của họ tạo ra, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống. Theo nghĩa này, vấn đề tạo việc làm gắn liền và được thực hiện thông qua các chính sách và các chương trình phát triển kinh tế chung của Đảng và Nhà nước. Không những thế, nó cịn

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

gắn liền với vấn đề phát triển giáo dục, đào tạo nghề cho người lao động nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cùng với việc sử dụng có hiệu quả và phát triển nguồn nhân lực một cách hợp lý để hướng vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Nội dung tạo việc làm theo nghĩa rộng mang ý nghĩa kinh tế là chủ yếu, cho nên công nghệ được lựa chọn ở đây là công nghệ mũi nhọn, sử dụng lao động có trình độ kĩ thuật cao nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức độ cao.

Tạo việc làm theo nghĩa hẹp: Tạo việc làm chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm hoặc chưa có việc làm nhằm mục tiêu nâng cao thu nhập và giảm tỉ lệ thất nghiệp. Nghĩa là nội dung tạo việc làm chỉ hạn chế trong khn khổ và nội dung các chính sách xã hội cụ thể của Nhà nước, tạo việc làm cho người lao động cịn mang tính xã hội hóa, coi tự tạo việc làm và chủ động tìm kiếm việc làm là hướng quan trọng kết hợp với các chính sách của Nhà nước, chống ỷ lại vào Nhà nước.

Qua hai khái niệm trên ta thấy được tạo việc làm mang ý nghĩa xã hội

<i>sâu sắc, có mục tiêu hướng vào sử dụng lao động chống thất nghiệp và tình </i>

trạng thiếu việc làm, đảm bảo tăng thu nhập. Khái niệm tạo việc làm theo nghĩa rộng và tạo việc làm theo nghĩa hẹp tuy có sự khác nhau, song chúng có mối quan hệ đan xen, bổ sung cho nhau và đều hướng đến mục tiêu sử dụng, phát huy tối đa tiềm năng lao động của xã hội. Thị trường lao động việc làm chỉ có thể được hình thành khi người lao động có nhu cầu việc làm và người sử dụng lao động có nhu cầu sử dụng lao động. Họ gặp gỡ, thỏa thuận với nhau nhưng mỗi người hoạt động là để đạt mục đích riêng của họ.

<i>1.1.1.2. Vai trị của tạo việc làm cho thanh niên và thanh niên nông thôn </i>

Đảng ta luôn xác định thanh niên là đội hậu bị của Đảng, đánh giá cao vai trò của thanh niên trong quá khứ cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước hiện nay. Chăm lo bồi dưỡng, đào tạo cho thanh niên, những người chủ tương lai của nước nhà luôn được Đảng ta xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Trong công tác thanh niên, bên cạnh việc giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

luyện bản lĩnh, lập trường thi vấn đề đào tạo, bồi dưỡng về tri thức, chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, tạo việc làm cho thanh niên nói chung, TNNT nói riêng là nhiệm vụ rất quan trọng. Bởi lẽ có việc làm, lao động mang lại thu nhập mới đảm bảo đời sống cho thanh niên, là điều kiện cần thiết cơ bản để thanh niên tiếp tục rèn luyện, phấn đấu, vươn lên, cống hiến ngày càng nhiều hơn cho Tổ quốc. Thực trạng tình hình thất nghiệp, thiếu việc làm, việc làm khơng ổn định cịn diễn ra gay gắt trong thanh niên, nhất là đối với TNNT hiện nay càng yêu cầu Nhà nước phải thể chế hóa đường lối của Đảng về công tác thanh niên thành các cơ chế, chính sách cụ thể, đặc biệt trong lĩnh vực giải quyết việc làm. Do đó tạo việc làm cho thanh niên và thanh niên nông thôn có vai trị quan trọng thể hiện ở các nội dung sau:

Thứ nhất, Thanh niên là một lực lượng quan trọng góp phần đáng kể trong việc tạo ra của cải vật chất cho gia đình và xã hội; là lực lượng xung kích trong các phong trào thi đua xây dựng quê hương ngày càng văn minh giàu đẹp. Trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, thanh niên có trình độ và tay nghề ngày càng cao, được trau dồi các kỹ năng nghề nghiệp, không ngừng phấn đấu vươn lên đáp ứng nhu cầu của quá trình đổi mới. Nhiều thanh niên đã tích cực tiếp thu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần không nhỏ vào sự phát triển KT -XH và ổn định an ninh, quốc phịng khu vực nơng thơn.

Thứ hai, Thực hiện liên kết theo vùng kinh tế và tham gia vào q trình phân cơng lao động xã hội và phân công lao động khu vực và quốc tế. Việc tạo việc làm cho thanh niên phải hướng tới quá trình liên kết, cả về quy mô, tốc độ giữa các địa phương trong vùng mà phải mở rộng liên kết trong phạm vi rộng trong nước và quốc tế nhằm thúc đẩy q trình phân cơng lao động xã hội theo hướng CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Việc làm của người lao động ở nông thôn gắn liền với đặc điểm của kinh tế nông nghiệp, nông thôn, với lực lượng lao động và điều kiện tự nhiên tại chỗ, bao hàm tất cả các lĩnh vực sản xuất,

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

kinh doanh, dịch vụ và quản lý KT-XH ở nông thôn để mang lại thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm; được thể hiện là những ngành nông, lâm, thủy sản - những loại việc làm có thể khai thác tài nguyên thiên nhiên tại chỗ. Trong điều kiện nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, việc làm của người lao động ở nơng thơn mang tính thủ cơng, nặng nhọc và có thu nhập thấp. Khi kinh tế nông thôn vẫn chủ yếu là nông nghiệp, ở đó ẩn chứa nhiều nguy cơ thiếu việc làm. Vì vậy, đa dạng hóa ngành nghề, mở nhiều loại hình việc làm, phát triển KT - XH ở nông thôn là phương hướng chủ yếu giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn.

Thứ ba, Nhà nước phải tạo ra các điều kiện thuận lợi để người lao động có thể tự tạo việc làm thơng qua những chính sách KT - XH cụ thể. Các chính sách tác động đến việc làm có nhiều loại, có loại tác động trực tiếp, có loại tác động gián tiếp tạo thành một hệ thống chính sách hồn chỉnh, đồng bộ có quan hệ tác động qua lại, bổ sung cho nhau hướng vào phát triển cả cung lẫn cầu về lao động; đồng thời làm cho cung và cầu về lao động xích lại gần nhau, phù hợp với nhau thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu lao động với cơ cấu kinh tế. Tạo môi trường thuận lợi để các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất, tạo việc làm mới và tăng thu nhập cho thanh niên, cải thiện đời sống. Phát triển thị trường lao động lành mạnh, năng động. Khuyến khích thanh niên làm giàu chính đáng. Nhà nước hỗ trợ để chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tổ chức sản xuất kinh doanh cho thanh niên nông thôn; biểu dương, tôn vinh thanh niên làm kinh tế giỏi. Phát huy thế mạnh lao động nông nghiệp để đưa đi lao động ở một số quốc gia có địa bàn phù hợp.

<i>1.1.1.3. Đặc điểm của tạo việc làm cho thanh niên và thanh niên nông thôn </i>

Vấn đề tạo việc làm cho thanh niên hiện nay là vấn đề bức thiết của xã hội, là nhiệm vụ trọng tâm không những của các cấp bộ Đoàn mà là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của tồn xã hội và của chính thanh niên.

Tạo việc làm cho thanh niên không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế, xã hội

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

mà còn thể hiện tư tưởng và sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta đối với thế hệ trẻ.

Tạo việc làm cho thanh niên liên quan trực tiếp đến mọi mặt của đời sống, là yếu tố đảm bảo để thanh niên phát triển, phát huy được khả năng của mình. Vì vậy, đây được coi là chính sách cơ bản của mọi quốc gia trong quá trình phát triển KT-XH. Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng vai trị của chính sách tạo việc làm trong việc hoạch định triển khai các chính sách phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, vấn đề việc làm đã được nâng lên tầm mới cả về phương diện lý luận và thực tiễn, đó là nội dung xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Vì vậy tạo việc làm cho thanh niên là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh tế xã hội từ vi mô đến vĩ mô tác động đến thanh niên có được việc làm. Qua đó ta thấy được, tạo việc làm cho thanh niên là ban hành các chính sách hướng tới việc khẳng định quyền có việc làm, quyền được làm ở những lĩnh

<i>vực khác nhau và khả năng của mỗi người được phát huy nhất, thực chất, chính </i>

sách tạo việc là hệ thống các biện pháp có tác động mở rộng để lực lượng lao động là thanh niên tiếp cận được việc làm.

Có thể hiểu chính sách tạo việc làm là sự cụ thể hóa pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực lao động - việc làm, là hệ thống các quan điểm, chủ trương phương hướng, biện pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nhằm góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và phát triển nguồn lực trong thanh niên. Tạo việc làm cho thanh niên nói chung, tạo việc làm cho thanh niên nơng thơn nói riêng nội dung đều giống nhau. Tuy nhiên, theo phân tích của Tổ chức Lao động Quốc tế, tạo việc làm cho thanh niên nông thôn tại Việt Nam được quan tâm hơn.

Trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã và đang có nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ mở rộng các cơ hội việc làm tại nông thôn, trong đó

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

chú trọng vào phát triển các kỹ năng nghề có liên quan, khởi sự doanh nghiệp, tăng cường các tiêu chuẩn trong đào tạo nghề, điều kiện làm việc, bảo trợ xã hội, bình đẳng giới và tơn trọng các quyền tại nơi làm việc, khuyến khích sự tham gia tích cực của chính quyền địa phương, các tổ chức sử dụng lao động là thanh niên nông thôn.

<i><b>1.1.2. Nội dung tạo việc làm cho thanh niên nông thôn </b></i>

<i>1.1.2.1. Xây dựng chiến lược, chính sách, chương trình về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn </i>

Quản lý nhà nước về lao động và việc làm là loại hình quản lý đặc biệt do Nhà nước tiến hành trên cơ sở nắm bắt mối quan hệ giữa dân số, lao động và việc làm. Từ đó đưa ra những giải pháp và nội dung cụ thể nhằm giải quyết việc làm cho TNNT để thanh niên được thực hiện quyền lao động của mình theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, cơng tác tun truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về việc làm cho người lao động nói chung và thanh niên nói riêng cũng hết sức cần thiết, việc ban hành và hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật về lao động cũng là một trong những nội dung quan trọng trong nội dung QLNN về lao động và việc làm.

Cụ thể hiện nay Nhà nước ban hành một số văn bản pháp luật như: Bộ Luật lao động, Luật việc làm, Nghị định số 39/NĐ - CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của 23 Bộ Luật Lao động về việc làm; Quyết định số 103/2008/QĐ - TTg ngày 21/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008 - 2016; Quyết định số 1956/ỌĐ-TTG của Thủ tướng chính phủ “Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”; Quyết định số 81/2005, ngày 18/4/2005 của Thủ tướng chính phủ về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn; Quyết định số 267/2005/QĐ -TTg ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú; Quyết định số 71 ngày 05 tháng 4 năm 2005 của Thủ tướng Chính

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

phủ về cơ chế quản lý và điều hành Quỹ quốc gia về việc làm và Quyết định số 15/2008/QĐTTg ngày 23 tháng 01 năm 2008; Quyết định số 157/2007/QĐ -TTg ngày 17/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên; Chỉ thị số 11/2006/CT - TTg ngày 27/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về giải pháp hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nơng nghiệp; Nghị định số 120/2007/NĐ - CP, của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh niên; Thông tư liên tịch số 06/2006/TTLT - BTC - BLĐTBXH ngày 19/01/2006 của Liên bộ Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Quyết định số 81/2005/QD - TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thơn; Nghị định số 61/2016/NĐ-CP ngày 9/7/2016 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và quỹ quốc gia về việc làm.

Thường xuyên cập nhật, quản lý thực trạng TNNT toàn huyện, định kỳ bổ sung cơ sở dữ liệu điều tra TNNT của huyện về: số lượng, danh sách, địa chỉ cư trú, các đặc trưng về giới tính, tuổi, tình trạng sức khỏe, trình độ học vấn phổ thông, chuyên môn kỹ thuật, khả năng tham gia hoạt động kinh tế và tình trạng việc làm, thu nhập, nguyện vọng, đề xuất của thanh niên nơng thơn.

Xây dựng kế hoạch làm thí điểm mơ hình dạy nghề, tạo việc làm thơng qua hợp tác với các trường dạy nghề và các trung tâm giới thiệu việc làm, các doanh nghiệp để đào tạo và tìm được việc làm ổn định cho TNNT.

<i>1.1.2.2. Tổ chức thực hiện chính sách tạo việc làm cho thanh niên nông thôn </i>

Để giải quyết việc làm, vấn đề quan trọng hàng đầu là Nhà nước phải tạo ra các điều kiện thuận lợi để người lao động có thể tự tạo việc làm thơng qua những chính sách KT – XH cụ thể. Các chính sách tác động đến việc làm có nhiều loại, có loại tác động trực tiếp, có loại tác động gián tiếp tạo thành một hệ thống chính sách hồn chỉnh, đồng bộ có quan hệ tác động qua lại, bổ sung cho nhau hướng vào phát triển cả cung lẫn cầu về lao động; đồng thời làm cho

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

cung và cầu về lao động xích lại gần nhau, phù hợp với nhau thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu lao động với cơ cấu kinh tế.

Chính sách giải quyết việc làm rất đa dạng, trong đó các chính sách chủ yếu thường được đề cập đến là chính sách đất đai, chính sách giáo dục và đào tạo, chính sách cơng nghiệp, chính sách phát triển nghề truyền thống... Ngồi ra còn các nhân tố khác ảnh hưởng đến vấn đề giải quyết việc làm như: trình độ kỹ năng, phẩm chất, tính kỷ luật lao động, sức khoẻ, thể chất... của người lao động. Phong tục, tập qn, thói quen, trình độ dân trí, ý thức chấp hành pháp luật, trình độ văn minh của xã hội...

Ở nước ta, do điều kiện kinh tế - xã hội ở nơng thơn cịn nhiều khó khăn, nhiều phong tục tập quán còn lạc hậu, nhất là ở vùng dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa đang là những lực cản rất lớn trong vấn đề việc làm và giải quyết việc làm. Nội dung quyết định các chính sách về tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, vệ sinh lao động và các chính sách khác về lao động, xây dựng mối quan hệ lao động trong các doanh nghiệp sẽ giúp cá nhân người lao động nói chung và lao động TNNT nói riêng yên tâm sản xuất, kinh doanh trong ngành nghề, lĩnh vực của mình.

Chính sách tạo việc làm là chính sách quan trọng trong hệ thống các chính sách an sinh xã hội nhằm phòng ngừa rủi ro cho người lao động. Chính sách việc làm phải hướng đến mục tiêu việc làm bền vững và tạo cơ hội bình đẳng về việc làm cho mọi thanh niên trong xã hội, nâng cao trách nhiệm của nhà nước và xã hội đối với vấn đề việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, thu nhập công bằng và chất lượng việc làm tốt hơn cho người lao động.

Xây dựng những chính sách ưu tiên hỗ trợ tạo việc làm đối với nhóm lao động trẻ, nhóm lao động yếu thế, lao động nữ, lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn, lao động tự do. Khuyến khích mạnh mẽ sự tham gia của xã hội trong chính sách việc làm thơng qua việc đa dạng hóa các nguồn lực; xã hội hóa dịch vụ cơng; mở rộng sự tham gia của cộng đồng, các tổ chức xã hội và cá nhân trong thực hiện chính sách tạo việc làm.

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

Xây dựng cơ chế thông tin - dự báo, định hướng cho việc phát triển thị trường lao động phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhằm thực hiện tốt hơn chính sách tạo việc làm cho người lao động nói chung và thanh niên nói riêng, ngày 9-7-2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 61/2016/NĐ-CP quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm. Theo dó, nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động và Luật Việc làm về chính sách việc làm cơng, hỗ trợ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên và Quỹ quốc gia về việc làm. Bên cạnh đó, thực hiện tốt các chính sách cho vay vốn tạo việc làm với lãi suất ưu đãi đối với các dự án tạo thêm việc làm mới và xuất khẩu lao động đặc biệt quan tâm đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đối tượng yếu thế, đối tượng được thu hồi đất nông nghiệp, đối tượng chuyển đổi ngành nghề, đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số, người mãn hạn tù, người được đặc xá tha tù trước thời hạn, bộ đội xuất ngũ, đối với các đối tượng chính sách. Huy động từ nhiều nguồn lực để tăng vốn Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn. Một trong những biện pháp quan trọng nhằm giải quyết việc làm đó là theo Điều 15 Bộ Luật Lao động “Chính phủ lập chương trình quốc gia về việc làm, lập quỹ quốc gia về việc làm từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác, phát triển hệ thống tổ chức giới thiệu việc làm”. Đồng thời tập trung phát triển và đầu tư nâng cấp các trung tâm giới thiệu việc làm, các cơ sở đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn; Đầu tư ngân sách thỏa đáng để mở rộng mạng lưới dạy nghề, phổ cập nghề cho thanh niên, hỗ trợ vốn cho doanh nhân trẻ ở nơng thơn; Có chính sách tín dụng ưu đãi cho các cơ sở dạy nghề, đặc biệt là các nghề kỹ thuật cao. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng dịch vụ thị trường lao động, tín dụng ưu đãi cho thanh niên nông thôn vay vốn tạo việc làm. Tạo mơi trường thuận lợi và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào khu vực nông thôn để phát triển sản xuất, tạo việc làm mới, tăng thu nhập cho thanh niên nông thôn cải thiện đời sống.

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

<i>1.1.2.3. Thực hiện các quy định về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và tổ chức bộ máy quản lý trong hoạt động tạo việc làm cho thanh niên nông thôn </i>

Đào tạo, nâng cao kiến thức và năng lực cho đội ngũ cán bộ cơ sở theo định hướng chuẩn hóa đội ngũ này. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ xã chủ yếu tập trung vào nội dung kiến thức: pháp luật, quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, kỹ năng tổ chức thực hiện các chủ trương, đề án của cấp trên ở địa bàn xã.

Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ cơ sở cấp xã, tối thiểu phải có trình độ trung học cơ sở và đào tạo trình độ sơ cấp về quản lý nhà nước trở lên. Chỉ bố trí vào bộ máy lãnh đạo quản lý ở cơ sở khi có đủ chuẩn mới bảo đảm việc nhận thức triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc làm cho TNNT một cách có hiệu quả.

Hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước là một công cụ cơ bản nhất để Nhà nước thực hiện công tác quản lý đối với hoạt động tạo việc làm cho các đối tượng thanh niên, trong đó có TNNT. Hệ thống tổ chức bộ máy với đặc trưng là quyền lực cơng, biểu hiện ở chính những tác động có ý thức vào q trình phát triển của xã hội, vào nhận thức của con người, buộc mọi người phải suy nghĩ và hành động theo một hướng và mục tiêu nhất định.

Việc quản lý của Nhà nước tạo việc làm được thể hiện thơng qua các cơ quan có thẩm quyền theo thứ bậc quản lý hành chính, từ Chính phủ đến các bộ, ngành, đến chính quyền và các cơ quan chính quyền các cấp. Hệ thống tổ chức của bộ máy Nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô việc cung cấp dịch vụ công về an sinh phúc lợi, việc làm cho các đối tượng bảo trợ xã hội trên phạm vi cả nước. Hệ thống này hình thành, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, tổ chức thực hiện chính sách QLNN về hoạt động tạo việc làm cho người lao động, thông qua các cơ quan chức năng theo cơ cấu ngang, dọc của mình. Về hệ thống quản lý ngành, Cục Việc làm thuộc Bộ LĐTB-XH ở Trung ương, và Sở LĐ TB-XH thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở địa phương thực hiện chức năng

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

quản lý hoạt động tạo việc làm. Chính quyền tỉnh, thành phố thuộc Trung ương chỉ đạo Sở LĐ TB-XH với hệ thống các đơn vị, cơ quan chun mơn của mình thực hiện tốt công tác tạo việc làm và quản lý hoạt động tạo việc làm trên địa bàn tỉnh, thành phố.

<i>1.1.2.4. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định và xử lý vi phạm quy định về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn </i>

Kiểm tra thường xuyên giúp cho nhà hoạch định, nhà quản lý nắm chắc được tình hình thực thi chính sách giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và thanh niên nơng thơn nói riêng, từ đó đánh giá được khách quan về những điểm mạnh, điểm yếu của công tác tổ chức thực thi chính sách; giúp phát hiện những thiếu sót trong cơng tác tổ chức thực thi chính sách; kịp thời khuyến khích những nhân tố tích cực trong thực thi chính sách để tạo ra những phong trào thiết thực cho việc thực hiện các mục tiêu. Trong q trình đó các cấp có thể đánh giá từng phần hay tồn bộ kết quả thực thi chính sách giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và thanh niên nơng thơn nói riêng, trong đó đánh giá và đo lường tồn bộ được kết quả thực hiện sau khi kết thúc các chính sách tạo việc làm đã ban hành.

Giám sát, kiểm tra sát sao tình hình tổ chức thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên vừa kịp thời bổ sung, hoàn thiện nội dung QLNN, vừa chấn chỉnh công tác tổ chức thực thi chính sách, giúp cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về chính sách tạo việc làm.

<i><b>1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho thanh niên nơng thơn </b></i>

<i>1.1.3.1. Nhóm nhân tố khách quan </i>

<i>* Điều kiện tự nhiên của địa phương </i>

Trong những nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng nguồn công việc, tạo việc làm cho người lao động, trước hết phải nói đến nhân tố có tính chất tự nhiên, vốn có sẵn ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương, đó là nhân tố điều kiện tự nhiên.

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

Điều kiện tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, điều kiện về đất đai, các nguồn khoáng sản trong rừng, dưới biển, địa hình, khí hậu, hệ thống giao thơng…Đây là những điều kiện vô cùng quý giá cho sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội.

Với những thuận lợi về vị trí địa lý, địa hình, hệ thống giao thơng sẽ tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư, phát triển kinh tế; đồng thời tạo cho địa phương có khả năng, cơ hội và nguồn lực lớn hơn trong việc khai thác, phát huy các nguồn lực nội tại cũng như khai thác, thu hút các nguồn lực từ bên ngoài để thúc đẩy phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần tạo việc làm cho người lao động không chỉ trong nội tại địa phương đó mà cịn có khả năng thu hút lao động của các địa phương lân cận tìm kiếm việc làm.

Mỗi địa phương nằm trên những vị trí địa lý nhất định, có thể thuận lợi hoặc khó khăn về mặt khí hậu thời tiết, nhiệt độ, lượng gió, mưa, bão lụt, hạn hán... Những yếu tố này ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, đặc biệt là sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Vì vậy, mỗi quốc gia, mỗi địa phương phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên của quốc gia, địa phương mình để tổ chức tạo việc làm cho người lao động sao cho có hiệu quả cao nhất.

Cùng với vị trí địa lý, nguồn tài ngun đất đai, khống sản, sơng ngịi, bờ biển, rừng núi... cũng ảnh hưởng rất lớn đến tạo việc làm. Đất đai là một nguồn tài nguyên quan trọng, là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất. Đất đai được sử dụng như những nguồn lực lớn để tạo việc làm trong nông nghiệp nông thôn; Đất đai cũng là một nguồn tài nguyên phục vụ cho công nghiệp, nếu địa phương có nhiều đất đai sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư, mở rộng các khu công nghiệp nhằm phát triển sản xuất kinh doanh không những tạo việc làm cho lao động địa phương mình mà cho cả lao động của địa phương khác.

Ngoài các điều kiện tự nhiên trên thì điều kiện về phong cảnh, di tích lịch sử cũng là những lợi thế phát triển ngành du lịch và giúp tạo việc làm cho người lao động qua đào tạo nghề ngành du lịch. Đối với địa bàn chỉ có đất đai, con

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

người thì cần phải thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp để tạo việc làm cho người lao động.

<i>* Cơ chế chính sách </i>

Cơ chế chính sách là hệ thống pháp luật Việt Nam quy định về việc làm, chính sách lao động việc làm, các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong tạo việc làm cho người lao động, chính sách của chính quyền địa phương và quy định của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn. Đây là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến tạo việc làm cho người lao động.

Các chính sách vĩ mơ của Nhà nước có vai trị to lớn trong việc tạo việc làm, đồng thời điều chỉnh việc làm phù hợp với mục tiêu, trình độ phát triển của nền kinh tế trong từng thời kỳ.

Có rất nhiều chính sách tác động đến việc làm như chính sách tạo vốn, chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách đào tạo nghề... hợp thành một hệ thống chính sách hồn chỉnh có quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau hướng vào phát triển cả cung và cầu về lao động, đồng thời làm cho cung và cầu phù hợp với nhau. Thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động.

Khi các chính sách vĩ mơ của Nhà nước đúng đắn và thích hợp sẽ tạo ra nhân tố, môi trường, động lực khuyến khích các chủ doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động mở rộng đầu tư nhằm thu lợi nhuận, tạo việc làm, khai thác tối ưu mọi nguồn lực vào mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh. Ngược lại, khi các chính sách vĩ mơ của Nhà nước khơng phù hợp, nó sẽ kìm hãm và tạo nên tâm lý chán nản trong đầu tư kinh doanh, quy mô sản xuất thu hẹp dẫn đến việc làm giảm sút.

Vì vậy, số lượng, chất lượng việc làm, khả năng tạo việc làm chính là một trong những thước đo quan trọng biểu hiện trình độ hoạch định và tính khả thi của hệ thống các chính sách vĩ mơ của Nhà nước trong quản lý, điều hành kinh tế - xã hội.

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

Tạo việc làm cho người lao động là chính sách xã hội cơ bản, là hướng ưu tiên trong tồn bộ các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta, vấn đề giải quyết việc làm được đặt biệt nhấn mạnh:

“Phương hướng quan trọng nhất là Nhà nước cùng toàn thể nhân dân ra sức đầu tư phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các chương trình kinh tế - xã hội. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động. Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật. Phát triển dịch vụ việc làm. Tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh - quốc phòng. Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động. Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn”

Với quan điểm nhất quán về giải quyết việc làm, trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, một lần nữa Đảng ta khẳng định: "Giải quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản".

Từ quan điểm và định hướng trên đây, Nhà nước ta đã có các chính sách kinh tế - xã hội chủ yếu tác động tới phát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm như: Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần; chính sách khuyến khích sản xuất hàng hóa xuất khẩu; chính sách tín dụng ưu đãi để các doanh nghiệp đầu tư chiều sâu, đổi mới cơng nghệ; chính sách khuyến khích tìm kiếm thị trường xuất khẩu lao động, chính sách giáo dục đào tạo nghề cho lao động; chính sách khuyến khích đầu tư trong và ngồi nước thơng qua chính sách đất đai, thuế, đầu tư...

<i>1.1.3.3. Nhân tố chủ quan </i>

<i>* Hoạt động đầu tư, nguồn lực tài chính </i>

Các hoạt động đầu tư trong nước và hoạt động đầu tư của người dân là một phương thức tạo việc làm rất quan trọng. Các hoạt động đầu tư luôn gắn

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

với công nghệ sản xuất, đầu vào, đầu ra của q trình sản xuất; khi nói tới đầu tư phải nói tới vốn đầu tư, mơi trường đầu tư và các chính sách đầu tư. Mơi trường đầu tư thuận lợi sẽ mang lại những lợi ích to lớn cho toàn xã hội, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Mỗi mức tăng trưởng của nền kinh tế sẽ tạo ra một tỷ lệ gia tăng việc làm, và nếu đầu tư vào nhà máy, công xưởng và nhiều lĩnh vực khác nhau sẽ tạo thêm nhiều chỗ làm mới cho người lao động.

Các chính sách đầu tư hiệu quả vừa giúp phát triển doanh nghiệp, phát triển kinh tế địa phương vừa tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Chính vì vậy khơng chỉ thu hút đầu tư trong nước, đầu tư của người dân mà cịn phải có các chính sách thu hút đầu tư nước ngồi. Muốn đầu tư hiệu quả phải có cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư hiệu quả.

Nguồn lực tài chính là một thành phần quan trọng của nguồn sức mạnh nhà nước. Nguồn lực tài chính gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn huy động trong dân, vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp nước ngồi, vốn tín dụng. Mỗi nguồn lực tài chính được sử dụng cho những mục đích khác nhau nhưng đều có chung mục đích phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn lực tài chính là một nhân tố khơng thể thiếu trong q trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Nguồn lực tài chính là hữu hạn, việc huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả là vấn đề rất quan trọng. Nếu quốc gia, địa phương có nguồn lực tài chính dồi dào thì việc đầu tư vào các chính sách về lao động việc làm cũng được quan tâm hơn, có nhiều nguồn lực hơn trong cơng tác tạo việc làm: đào tạo nghề, hay cho vay vốn đối với những người đi xuất khẩu lao động.

<i>* Chất lượng lao động </i>

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2020, dân số Việt Nam trung bình ước tính là 97,58 triệu người trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 54,6 triệu người, điều này cho thấy nước ta có lực lượng lao động vô cùng dồi dào. Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, dân số tăng nhanh sẽ tạo áp lực về việc làm và phát triển kinh tế. Nền kinh tế chậm

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

phát triển sẽ ít thu hút đầu tư, dẫn tới tình trạng dư thừa lao động, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng. Với một lực lượng lao động dồi dào như vậy, chúng ta sẽ làm như thế nào để khơng lãng phí nguồn lực này? Chỉ bằng cách nâng cao chất lượng lao động. Lao động có chất lượng là điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế và thu hút đầu tư. Lao động chất lượng thấp sẽ khó thu hút đầu tư và trình độ cơng nghệ thấp. Ngược lại, lao động có chất lượng cao sẽ thu hút đầu tư, đáp ứng yêu cầu về nhân lực của các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam, tạo cơ hội tăng thêm việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động. Đến thời điểm này, nước ta cũng đang thu hút rất nhiều các doanh nghiệp, tập đoàn lớn phát triển sản xuất kinh doanh như: Samsung, Microsoft, Canon, Intel…giúp giải quyết việc làm cho rất nhiều lao động địa phương.

Đối với các địa bàn, lao động nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, dư thừa lao động, thiếu việc làm trong lao động nông thôn vẫn chiếm tỷ lệ khá cao; Chất lượng lao động còn thấp, tay nghề chưa cao. Hơn nữa, việc làm ở địa bàn hiện nay nằm ở khu vực phi kết cấu, làng nghề vẫn còn nhiều. Vậy muốn tạo việc làm cần phải nâng cao trình độ CMKT của NLĐ, chất lượng lao động phải đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp, hay các khu cơng nghiệp.

Chất lượng lao động là trình độ chun môn kỹ thuật, kỹ năng tay nghề của người lao động. Chất lượng lao động thể hiện qua tâm lực, trí lực và thể lực của người lao động. Chỉ khi người lao động đảm bảo về sức khỏe, thể lực tốt và có trình độ tay nghề tốt mới đáp ứng được yêu cầu về việc làm. Vậy nâng cao chất lượng lao động đồng nghĩa với tạo thêm việc làm. Hay nói cách khác, muốn có việc làm lao động phải có trình độ mới cạnh tranh được không chỉ với lao động trên cùng địa bàn mà hướng tới là cạnh tranh với NLĐ nước ngoài vào làm tại Việt Nam, hoặc NLĐ sang làm việc ở nước ngồi. Trình độ lao động có ảnh hưởng rất lớn tới việc tìm kiếm việc làm của người lao động, khơng những quyết định tới việc NLĐ có tìm được việc làm hay khơng mà cịn quyết định

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

mức thu nhập của người lao động cao hay thấp, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay.

Thanh niên là lực lượng lao động trẻ có tiềm năng rất lớn. Tiềm năng lao động thanh niên thể hiện ở thể chất, trí tuệ và tinh thần của từng cá nhân và cộng đồng thanh niên đang độ sung sức và phát triển nhanh. Tiềm năng đó phụ thuộc vào các nhân tố bên trong và bên ngoài rất đa dạng, tác động qua lại đan xen nhau.

Yếu tố trình độ nghề nghiệp của thanh niên rất quan trọng khi tham gia thị trường lao động, thậm chí quyết định năng lực cạnh tranh của họ và phải thơng qua đào tạo, tích luỹ kinh nghiệm trong cuộc sống và làm việc. Trình độ nghề nghiệp được biểu hiện về mặt hình thức là trình độ đạt được qua đào tạo nghề nghiệp; về mặt nội dung là trình độ nghề nghiệp thực tế thể hiện ở năng suất, hiệu quả làm việc.

<b><small>1.2. Cơ sở thực tiễn về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn </small></b>

<i><b>1.2.1. Kinh nghiệm về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn của một số địa phương </b></i>

<i>1.2.1.1 Kinh nghiệm của huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc </i>

Giai đoạn 2018 - 2020, huyện Lập Thạch (tỉnh Vĩnh phúc) đã triển khai nhiều giải pháp để giải quyết việc làm cho người lao động. Năm 2020 toàn huyện đã giải quyết việc làm mới cho 1.880 lao động là thanh niên nông thôn, đạt gần 62% kế hoạch năm.

Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Lập Thạch đã triển khai Kế hoạch giải quyết việc làm trong nước và đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngồi; tích cực phối hợp với Trung tâm Đào tạo lao động xuất khẩu tỉnh, Công ty cổ phần đào tạo và phát triển nhân lực chi nhánh Hà Nội tổ chức tư vấn xuất khẩu lao động trực tiếp đến người dân ở tất cả 20 xã, thị trấn trên địa bàn. Đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động, tập trung vào các đối tượng: bộ đội xuất ngũ, các học sinh trung học phổ thông; phối hợp với các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn tư vấn học

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

nghề, việc làm, ký thỏa thuận hợp tác đào tạo, cung ứng nguồn nhân lực cho các công ty.

Bên cạnh công tác xuất khẩu lao động và cung cấp lao động cho các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh, giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động nông thơn cũng là vấn đề được chính quyền huyện quan tâm. Từ đó nâng cao tỷ lệ người dân địa phương có việc làm và giúp giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo an sinh xã hội.

Phát huy lợi thế là địa phương có diện tích đất lâm nghiệp lớn, người dân huyện đã đầu tư 110 cơ sở chế biến các sản phẩm từ cây trồng lâm nghiệp như: sản xuất ván bóc, làm hương xuất khẩu. Hiện nay các cơ sở này đang tạo việc làm cho trên 2000 lao động là người dân địa phương, với mức lương từ 6 đến 8 triệu một tháng. Hiện nay, nhu cầu sử dụng, sản xuất các sản phẩm từ ván bóc ngày càng cao, thậm chí ván bóc cịn là một mặt hàng xuất khẩu tiềm năng tại một số thị trường như Malaisia, Đài Loan… là điều kiện thuận lợi để các cơ sở duy trì và mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm cho lao động tại địa phương (www.tuoitrevinhphuc.org.vn).

Việc tạo điều kiện trong chính sách, thủ tục hành chính nhằm khuyến khích các chủ cơ sở tìm tịi chế biến những sản phẩm mới, đồng thời mở rộng sản xuất chính là yếu tố quan trọng trong giải quyết việc làm tại chỗ tại huyện Lập Thạch. Trên thực tế ngồi những cơ sở ván bóc, địa phương này cịn có nhiều cơ sở sản xuất khác như sản xuất tăm hương, sản xuất gạch không nung, phát triển dịch vụ thương mại đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở tại địa phương và một số xã lân cận.

<i>1.2.1.2. Kinh nghiệm cuả huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam </i>

Ban chỉ đạo thực hiện đề án đào tạo nghề LĐNT huyện xác định đào tạo nghề cho lao động nông thôn là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao kiến thức, lao động có tay nghề trong lao động sản xuất, góp phần nâng cao chất lượng nguồn lao động nông thôn, từng bước đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng nghiệp nơng thơn. Thơng qua các hoạt động của Đề án, góp phần nâng cao nhận thức tác phong làm việc cho lao động nông thôn. Thông qua học nghề người lao động đã ứng dụng kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng, hàng hóa và dịch vụ. Nâng cao thu nhập từng bước giảm nghèo, góp phần ổn định tình hình trật tự xã hội ở địa phương. Từ những đặc điểm tình hình trên Ban chỉ đạo huyện xây dựng kế hoạch chỉ đạo thực hiện, hàng năm đề ra các nhiệm vụ cụ thể như: Đẩy mạnh nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho LĐNT; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động. Tạo điều kiện cho LĐNT tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của mình. Ưu tiên đào tạo nghề cho LĐNT là Thanh niên, các đối tượng thuộc diện chính sách ưu đãi, người có cơng với cách mạng, người dân tộc, hộ nghèo, hộ cận nghèo, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác và các LĐNT khác. Chuyển mạnh đào tạo nghề cho LĐNT từ đào tạo theo năng lực sẳn có của cơ sở đào tạo nghề sang đào tạo theo nhu cầu học nghề của LĐNT và yêu cầu của thị trường lao động; gắn đào tạo nghề với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Qua đó Ban chỉ đạo huyện hàng năm đã xây dựng kế hoạch đào tạo nghề cụ thể như sau: Năm 2016 chỉ tiêu trên giao 08 lớp dạy nghề, trong đó nghề nơng nghiệp 03 lớp, phi nông nghiệp 5 lớp. Năm 2016 - 2020 là 53 lớp theo kế hoạch đã được duyệt. Số lao động là thanh niên nông thôn đã được học nghề có việc làm chiếm khoảng 75% trong đó lĩnh vực nông nghiệp chiếm 100%, đa số lao động tại gia; lĩnh vực phi nơng nghiệp có 80% lao động đi làm ở các công ty trong và ngồi tỉnh, cịn lại 20% lao động làm tại gia như nghề trang điểm, kỹ thuật bếp, thuyền trưởng, máy trưởng (www.thanhnien.vn).

<i>1.2.1.3 Kinh nghiệm huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc </i>

Ban chỉ đạo đào tạo nghề và giải quyết việc làm của huyện luôn quan tâm chỉ đạo, kịp thời triển khai quán triệt đầy đủ các văn bản đến từng ấp, khóm. Cơng tác lao động – việc làm và đào tạo nghề cho lao động nơng thơn nói chung và thanh niên nơng thơn nói riêng có nhiều kết quả tích cực, tạo được sự chuyển

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

biến trong nhận thức của các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội và người lao động về vai trị, tầm quan trọng của cơng tác dạy nghề và lao động việc làm.

Ngồi ra Ngân hàng chính sách xã hội huyện ủy thác thông qua các tổ chức đoàn thể hỗ trợ vốn vay cho các dự án chăn nuôi, trồng trọt, sửa xe, đan lát cần xế, cho 730 hộ gia đình, với số vốn vay là 14 tỷ 120 triệu đồng, giải quyết cho trên 750 lao động có việc làm tại chỗ, tạo việc làm tăng thu nhập, phát triển kinh tế hộ gia đình, cụ thể như: Năm 2017: có 165 dự án, với số vốn 3 tỷ 059 triệu; năm 2018: 184 dự án, với số vốn 3 tỷ 706 triệu; năm 2019: 189 dự án, với số vốn 3 tỷ 761 triệu; năm 2020: 192 dự án với số vốn 3 tỷ 595 triệu (www.vinhtuong.vinhphuc.gov.vn).

UBND huyện đã đặc biệt chú trọng công tác quản lý nhà nước về lao động, việc làm; đã xây dựng chương trình tạo việc làm trên địa bàn tỉnh và hình thành các chương trình, dự án có mục tiêu như: di dân, định canh định cư, cho vay vốn theo dự án nhỏ tạo việc làm tại chỗ, chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình giáo dục, y tế và tạo việc làm cho đối tượng xã hội.

Để có được những kết quả nói trên, huyện đã tiến hành một số chủ trương và biện pháp như sau:

- Chương trình giải quyết việc làm được các cấp, các ngành trong địa phương quan tâm thực hiện nghiêm túc, để tạo điều kiện, môi trường và các nguồn lực quan trọng nhằm ổn định, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

- Quan niệm về việc làm đã được người lao động nhận thức khá đầy đủ. Họ đã chủ động bỏ vốn ra để sản xuất, tự tạo việc làm cho mình và cho người khác, thơng qua cơ chế, chính sách của Nhà nước.

- Đẩy mạnh hoạt động của các đồn thể tại cơ sở như Hội Nơng dân, Hội Phụ nữ, Đồn Thanh niên. Thơng qua các tổ chức này người lao động được hưởng quyền lợi thiết thực về cho vay vốn sản xuất, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, hưởng lợi từ các cơng trình, các dự án có mục tiêu…

- Phát triển trung tâm dịch vụ việc làm trên địa bàn, thực hiện tốt nhiệm

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

vụ cung ứng lao động cho các thành phần kinh tế, nhất là giới thiệu lao động cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi.

- Tạo việc làm gắn liền với việc chuyển dịch cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn.

- Huy động tối đa mọi nguồn vốn trong tỉnh kết hợp với việc thu hút các nguồn vốn bên ngoài, thực hiện hiệu quả các chương trình kinh tế - xã hội của tỉnh, trong đó có chương trình tạo việc làm.

- Ban hành một số chính sách nhằm khuyến khích các doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức, cá nhân đầu tư mở các cơ sở dạy nghề, các trường đào tạo nghề cùng với Nhà nước.

<i><b>1.2.2. Bài học kinh nghiệm rút ra về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc </b></i>

Từ thực tiễn tạo việc làm cho TNNT ở các địa phương nghiên cứu ở mức độ khác nhau, điều kiện khác biệt về kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế - xã hội; song trên cơ sở so sánh có nét tương đồng để có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm vận dụng vào huyện Yên Lạc trong quá trình tạo việc làm cho TNNT như sau:

1, Xã hội hố cơng tác đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho TNNT. Đa dạng hố các loại hình đào tạo nghề, liên kết mạnh mẽ với các doanh nghiệp trong đào tạo nghề và tạo việc làm.

2, Cần tận dụng, khai thác tiềm năng, lợi thế của địa phương để phát triển những ngành kinh tế có thế mạnh, có giá trị kinh tế cao thu hút lao động ở nhiều trình độ để giải quyết phần lớn nhu cầu việc làm cho TNNT.

3, Làm tốt công tác quy hoạch, dự báo nguồn nhân lực của địa phương để có hướng giải quyết chủ động theo hướng sát với nhu cầu của thị trường lao động. Tạo sự kết nối hiệu quả giữa các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội để giải quyết việc làm cho người lao động.

4, Xây dựng chính sách ưu tiên, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tạo thêm nhiều

</div>

×