Tải bản đầy đủ (.pdf) (21 trang)

BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT (NGHĨA VỤ) MÔN HỌC PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (686.86 KB, 21 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH</b>

<b>BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGỒI HỢP ĐỒNG</b>

<b>GVHD: Th.s Nguyễn Tấn Hồng Hải</b>

<i><b>TP. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 3 năm 2024</b></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>MỤC LỤC</b>

<b>VẤN ĐỀ 1: THỰC HIỆN CƠNG VIỆC KHƠNG CĨ ỦY QUYỀN...1Tóm tắt: Bản án số 94/2021/DS-PT ngày 03/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh</b>

Sóc Trăng...1

<b>1.1. Thế nào là thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền?...11.2. Vì sao thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền là căn cứ</b>

phát sinh nghĩa vụ?... 2

<b>1.3. Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực</b>

hiện cơng việc khơng có ủy quyền”...2

<b>1.4. Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền”</b>

theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện... 2

<b>1.5. Trong Bản án nêu trên, Tịa án áp dụng quy định về “thực hiện cơng việc</b>

khơng có ủy quyền” có thuyết phục khơng? Vì sao?... 3

<b>1.6. Việc Tịa án tính lãi đối với nghĩa vụ trả tiền như trong Bản án có thuyết</b>

phục khơng? Vì sao?...4

<b>VẤN ĐỀ 2: THỰC HIỆN NGHĨA VỤ</b>

<b>(THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN)... 4Tóm tắt: Quyết định số 15/2018/DS-GĐT ngày 15/3/2018 của Tịa án nhân dân</b>

cấp cao tại Hà Nội... 5

<b>2.1. Thơng tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế</b>

nào? Qua trung gian là tài sản gì?...6

<b>2.2. Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản</b>

tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời... 7

<b>2.3. Thơng tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển</b>

nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2008/DS - GĐT không? Vì sao?... 8

<b>2.4. Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà</b>

đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tịa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao? ...9

<b>2.5. Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa?</b>

Nêu một tiền lệ (nếu có)? ... 9

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>VẤN ĐỀ 3: CHUYỂN GIAO NGHĨA VỤ THEO THỎA THUẬN... 10Tóm tắt: Bản án số 148/2007/DSST ngày 26/9/2007 của Tòa án nhân dân thị xã</b>

Châu Đốc, tỉnh An Giang... 10

<b>3.1. Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển</b>

giao nghĩa vụ theo thỏa thuận?... 11

<b>3.2. Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà</b>

Tú? ... 12

<b>3.3. Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được</b>

chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh?... 13

<b>3.4. Suy nghĩ của anh/chị về đánh giá trên của Tịa án?...133.5. Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu có cịn trách nhiệm đối</b>

với người có quyền khơng khi người thế nghĩa vụ khơng thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. ... 14

<b>3.6. Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có cịn</b>

trách nhiệm đối với người có quyền khơng khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu rõ quan điểm của các tác giả mà anh/chị biết. ... 14

<b>3.7. Đoạn nào của bản án cho thấy Tịa án theo hướng người có nghĩa vụ ban</b>

đầu khơng cịn trách nhiệm đối với người có quyền?...15

<b>3.8. Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án...153.9. Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảo</b>

lãnh của người thứ ba thì khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh có chấm dứt khơng? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời... 16

<b>DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<b>VẤN ĐỀ 1: THỰC HIỆN CƠNG VIỆC KHƠNG CĨ ỦY QUYỀN.</b>

<b>Tóm tắt: Bản án số 94/2021/DS-PT ngày 03/11/2021 của Tịa án nhân dân tỉnhSóc Trăng.</b>

Ngun đơn: Phạm Thị Kim V.

Bị đơn: Vợ chồng bị đơn đã ly hôn (2008) - Phạm Văn H và Nguyễn Thị Đ. Bản án về việc “tranh chấp đòi lại tài sản” giữa Nguyên đơn V và bị đơn H là chị em ruột. Năm 2006, khi vay vốn vợ chồng bị đơn thế chấp tài sản là nhà thờ hương quả, thờ cúng tổ tiên. Ngày 21/5/2009, nguyên đơn đứng ra trả số tiền 124.590.800 đồng để tránh tài sản bị phát mãi.

Nay, bà V khởi kiện yêu cầu hai bị đơn thanh tốn trả lại tiền. Ngồi ra, do hai bị đơn ly hôn nên cả ba thống nhất ông H trả cho bà V 65.000.000 đồng, bà Đ trả 59.590.800 đồng. Sau Tòa sơ thẩm, bà Đ có đơn kháng cáo một phần và cho biết thêm “khơng nghe bà V nói ra tiền trả số tiền trên, bà V cũng khơng địi nợ”. Tồ phúc thẩm cho rằng sau khi nguyên đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay mà các bị đơn không tự nguyện thanh tốn thì ngun đơn phải u cầu thanh tốn. Nhưng nguyên đơn không yêu cầu cũng không khởi kiện. Do đó, từ thời điểm nguyên đơn yêu cầu thanh tốn, mà các bị đơn khơng thanh tốn thì phát sinh lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Vì vậy, Tịa nhận định thời gian tính lãi các bị đơn phải trả lãi cho nguyên đơn kể từ ngày nguyên đơn yêu cầu cho đến ngày xét xử sơ thẩm (căn cứ khoản 1 Điều 357 BLDS 2015). Căn cứ Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, Toà phúc thẩm đưa ra các quyết định sau. Một, chấp nhận một phần kháng cáo của bà Đ. Hai, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện và không chấp nhận một phần yêu cầu tính lãi của nguyên đơn. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 357 BLDS năm 2015, Tịa buộc ơng H trả 33.873.450 đồng (trong đó tiền gốc 30.000.000 đồng, 3.873.450 đồng tiền lãi) và bà Đ trả 67.284.800 đồng (trong đó 59.590.800 đồng, 7.694.000 đồng tiền lãi).

<b>1.1. Thế nào là thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền?</b>

Cơ sở pháp lý: Điều 574 BLDS 2015.

Việc thực hiện công việc không có ủy quyền thỏa mãn các điều kiện nhất định sau:

(i) Người thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền là người khơng có nghĩa vụ thực hiện cơng việc đó.

(ii) Việc thực hiện cơng việc vì lợi ích của người có cơng việc.

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

(iii) Việc thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền phải có sự tự nguyện của người thực hiện công việc.

(iv) Việc thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền mả người có công việc không biết hoặc biết mà không phản đối.

<b>1.2. Vì sao thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩavụ?</b>

Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều 275, Điều 574 đến Điều 578 BLDS 2015. Thực hiện cơng việc mà khơng có ủy quyền là những hành động xảy ra trong thực tế, được pháp luật dự liệu trước và cơng nhận là có giá trị pháp lý thông qua các quy phạm pháp luật cụ thể. Điều này dẫn đến việc phát sinh, thay đổi và chấm dứt các quan hệ pháp luật dân sự, cũng như hình thành nghĩa vụ giữa các bên chủ thể. Vì vậy, có thể khẳng định rằng việc thực hiện cơng việc mà khơng có ủy quyền là căn cứ để phát sinh nghĩa vụ.

<b>1.3. Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thựchiện cơng việc khơng có ủy quyền”.</b>

<i>Về khái niệm, Điều 594 BLDS 2005 có quy định như sau: “Thực hiện cơng</i>

<i>việc khơng có ủy quyền là việc một người khơng có nghĩa vụ thực hiện cơng việcnhưng đã tự nguyện thực hiện cơng việc đó, hồn tồn vì lợi ích của người có cơngviệc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối”. Và</i>

trong BLDS 2015, các nhà làm luật đã bỏ chữ hoàn tồn trong vế “hồn tồn vì lợi ích của người khác” vì khơng phải lúc nào việc thực hiện việc ủy quyền khơng chỉ hồn tồn vì lợi ích của người có cơng việc được thực hiện mà cũng một phần vì lợi ích của chính bản thân. Điều này đã mở rộng ra phạm vi áp dụng của điều luật này hơn.

Về việc chấm dứt công việc thực hiện khơng có uỷ quyền, BLDS 2015 đã có

<i>thêm bổ sung ở khoản 4: “Người thực hiện cơng việc khơng có uỷ quyền chết, nếu</i>

<i>là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân”. Bổ sung này là hoàn tồn hợp</i>

lý vì pháp nhân thì khơng có khái niệm chết mà chỉ có việc chấm dứt tồn tại.

<b>1.4. Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc khơng có ủyquyền” theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.</b>

Để áp dụng chế định “thực hiện công việc khơng có uỷ quyền” cần phải thỏa mãn những điều kiện sau:

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

Trước khi tiến hành công việc, người thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền tự ý thức rằng nếu khơng có ai thực hiện cơng việc này thì người có cơng việc bị thiệt hại một số lợi ích vật chất nhất định. Lợi ích này có thể là những lợi ích mà người có cơng việc được thực hiện khơng thu được hoặc lợi ích của họ giảm đáng kể. Người thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền xem đó là bổn phận của mình và phải thực hiện cơng việc nhằm mang lại lợi ích cho người có cơng việc.

Người thực hiện công việc đã tự nguyện thực hiện công việc dù pháp luật không quy định và chủ công việc khơng u cầu. Nói cách khác, việc thực hiện cơng việc khơng có uỷ quyền hồn tồn khơng phải là nghĩa vụ do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định.

Việc thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền phải có sự tự nguyện của người thực hiện cơng việc. Dù khơng có nghĩa vụ thực hiện cơng việc, nhưng người thực hiện cơng việc vẫn có ý chí hết mình thực hiện cơng việc của người khác như cơng việc của chính mình, khơng hề suy tính lợi ích cá nhân.

Việc thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội.

<b>1.5. Trong Bản án nêu trên, Tòa án áp dụng quy định về “thực hiện cơng việckhơng có ủy quyền” có thuyết phục khơng? Vì sao?</b>

Trong Bản án nêu trên, Tịa án áp dụng quy định về “thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền là hoàn toàn thuyết phục.

Căn cứ theo quy định tại Điều 574 BLDS 2015, việc thực hiện công việc khơng có ủy quyền dựa trên 3 yếu tố như sau:

Thứ nhất, người khơng có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc. Năm 2007 bị đơn H và bị đơn D cùng ký Hợp đồng tín dụng số 349.03.07/HĐTD ngày 14/09/2007 và Hợp đồng thế chấp số 349/07 ngày 12/09/2007 (BL 62,65), vì vậy 2 bị đơn H và Đ phải có nghĩa vụ thanh tốn số tiền đó. “ Số tiền 124.590.800 đồng (nợ gốc 100.000.000 đồng và nợ lãi 24.590.800 đồng) mà nguyên đơn trả nợ thay cho các bị đơn vào ngày 21/5/2009 tại Quỹ TDTW chi nhánh Sóc Trăng, là số tiền vay đến hạn hợp đồng mà các bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Nên việc thanh tốn số tiền khơng phải nghĩa vụ của nguyên đơn V. V đã tự nguyện trả thay mà khơng có bất kỳ sự thỏa thuận về việc thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền này.

Thứ hai, người thực hiện cơng việc vì lợi ích của người có cơng việc được thực hiện. Bà V thực hiện việc trả nợ để không bị phát mãi tài sản thế chấp là căn

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

nhà cúng tổ tiên. Trong trường hợp này, việc bà V trả nợ thay cũng khơng nhận được lợi ích vật chất gì từ việc làm này, mà các bị đơn mới mà người được nhận lợi ích vật chất đó từ bà V vì khoản vay đã được thanh tốn đúng hạn.

Thứ ba, người có cơng việc khơng biết hoặc biết mà khơng phản đối việc

<i>thực hiện cơng việc.“Tại phiên tịa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của</i>

<i>nguyên đơn thừa nhận bị đơn Phạm Văn H có trả cho nguyên đơn số tiền35.000.000 đồng và thống nhất với bị đơn H, do bị đơn H với bị đơn Đ đã ly hơnnên số nợ 124.590.800 đồng, bị đơn H có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền65.000.000 đồng …; bị đơn Đ có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn 59.590.800 đồng”.</i>

Các bị đơn đều có trách nhiệm trả lại số tiền cho nguyên đơn, và cũng không phản đối việc thực hiện cơng việc này.

<b>1.6. Việc Tịa án tính lãi đối với nghĩa vụ trả tiền như trong Bản án có thuyếtphục khơng? Vì sao?</b>

Theo nhóm em, việc Tịa án tính lãi đối với nghĩa vụ trả tiền như trong Bản án là hoàn toàn thuyết phục.

Nghĩa vụ trả tiền của vợ chồng anh H đã phát sinh vì bà V đã thực hiện cơng việc khơng có ủy quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 275 BLDS 2015.

<i>Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 576 BLDS 2015: “Người có cơng</i>

<i>việc được thực hiện phải tiếp nhận cơng việc khi người thực hiện cơng việc khơngcó ủy quyền bàn giao cơng việc và thanh tốn các chi phí hợp lý mà người thựchiện cơng việc khơng có ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện cơng việc, kể cả trường hợpcông việc không đạt được kết quả theo ý muốn của mình”. Ban đầu, nguyên đơn tự</i>

nguyện trả nợ thay cho các bị đơn, không phải giao dịch vay tài sản nên các bị đơn có nghĩa vụ thanh tốn các chi phí hợp lý mà nguyên đơn bỏ ra và không phát sinh lãi. Sau khi nguyên đơn yêu cầu các bị đơn trả lại tiền nhưng các bị đơn khôn không thực hiện hoặc chậm thực hiện. Khi đó quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm. Do đó, bị đơn có trách nhiệm trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Việc Tịa án tính lãi đối với nghĩa vụ trả tiền như vậy là để bảo vệ lợi ích của bên nguyên đơn.

<b>VẤN ĐỀ 2: THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TỐN MỘT KHOẢN TIỀN).Tình huống: Ngày 15/11/1973, ơng Quới cho bà Cô thuê nhà và nhận tiền</b>

thế chân của bà Cô 50.000đ. Nay, ông Quới yêu cầu bà Cô trả nhà. Bà Cô đồng ý trả nhà và yêu cầu ông Quới hoàn trả tiền thế chân (Lưu ý: giá gạo trung bình vào

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

năm 1973 là 137đ/kg và giá gạo trung bình hiện nay theo Sở tài chính TP. HCM là 18.000đ/kg).

<b>Tóm tắt: Quyết định số 15/2018/DS-GĐT ngày 15/3/2018 của Tòa ánnhân dân cấp cao tại Hà Nội.</b>

Nguyên đơn: cụ Ngô Quang Bảng. Bị đơn: bà Mai Hương.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Phạm Thị Sáu, cụ Nguyễn Thị Tần.

Quyết định về việc “Tranh chấp nghĩa vụ trả lời trong hợp đồng chuyển nhượng nhà và quyền sử dụng đất”.

<b>Nội dung: </b>

Ông Ngơ Quang Phục được hưởng thừa kế diện tích 1010 m<small>2</small>thuộc thửa đất số 49, Tờ bản đồ số 13 (nay là thửa 137, Tờ bản đồ số P9) tại số 49A phố Trần Hưng Đạo, thị trấn Quảng Yên, huyện Yên Hưng (nay là phường Quảng Yên, thị xã Quảng Yên) tỉnh Quảng Ninh.

Ngày 20/10/1982, ông Phục chuyển nhượng thửa đất trên cho vợ chồng cụ Bảng.

Ngày 26/11/1991, cụ Bảng chuyển nhượng thửa đất trên cho vợ chồng bà Hương, ông Thịnh với số tiền 5.000.000 đồng nhưng chỉ mới thanh toán 4/5 giá trị chuyển nhượng. Cụ Bảng nhiều lần yêu cầu bà Hương thanh toán, nhưng bà Hương không trả với lý do chồng ốm, không có tiền nên cụ khởi kiện yêu cầu bà Hương thanh tốn 1/5 giá trị nhà đất cịn thiếu (theo định giá tài sản của Tòa án nhân dân) hoặc trả lại 1/5 diện tích đất (tương đương 188,6 m<small>2</small>).

<b>Quyết định của Tòa: </b>

<b>- Sơ thẩm: Buộc bà Mai Hương phải trả cho cụ Ngô Quang Bảng tổng số</b>

tiền 2.710.000 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc là 1.000.000 đồng, tiền lãi 1.710.000 đồng.

<b>- Phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo của cụ Ngô Quang Bảng; giữ</b>

nguyên bản án sơ thẩm. Buộc bà Mai Hương phải trả cho cụ Ngô Quang Bảng tổng số tiền 2.710.000 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc là 1.000.000 đồng, tiền lãi 1.710.000 đồng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<b>- Giám đốc thẩm: Huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 38/2015/DS-PT và Bản</b>

án dân sự sơ thẩm số 03/2015/DS-ST, giao hồ sơ cho Toà án nhân dân thị xã Quảng

<b>Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. </b>

<b>2.1. Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh tốn như thếnào? Qua trung gian là tài sản gì?</b>

Khoản 1 Chương I trong Thông tư liên tịch 01/TTLT cho phép tính lại giá trị khoản thanh tốn như sau:

Trường hợp nghĩa vụ dân sự hay việc gây thiệt hại phát sinh trước ngày 01/7/1996 mà giá gạo tăng từ 20% trở lên trong thời gian từ lúc phát sinh nghĩa vụ/ thiệt hại cho đến xét xử sơ thẩm, thì Tịa án phải quy đổi khoản tiền đó ra gạo theo giá loại gạo trung bình ở địa phương tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ/ thiệt hại, sau đó tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo thời điểm xét xử sơ thẩm (theo điểm a khoản 1 Chương I).

Trường hợp nghĩa vụ dân sự hay việc gây thiệt hại phát sinh sau ngày 01/7/1996 hay xảy ra trước ngày 01/7/1996 nhưng giá gạo không tăng hoặc tăng dưới 20% trong thời gian từ lúc phát sinh nghĩa vụ/thiệt hại cho đến xét xử sơ thẩm, thì Tịa án chỉ xác định khoản tiền đó nhằm buộc bên có nghĩa vụ thanh tốn bằng tiền. Nếu bên đó có lỗi thì cịn phải trả lãi với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 3 BLDS 1995 (theo điểm b khoản 1 Chương I).

Khoản 2, 3, 4, 5 Chương I quy định như sau:

+ Đối với các khoản tiền tịch thu, tiền phạt, tiền án phí thì khi xét xử tòa án chỉ quyết định mức tiền cụ thể mà khơng áp dụng cách tính đã hướng dẫn tại khoản 1 nói trên. (khoản 2 Chương I).

+ Đối với các khoản tiền vay, gửi ở tài sản Ngân hàng, tín dụng, do giá trị của các khoản tiền đó đã được bảo đảm thơng qua các mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định, cho nên khi xét xử, trong mọi trường hợp tòa án đều khơng phải quy đổi các khoản tiền đó ra gạo, mà quyết định buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán số tiền thực tế đã vay, gửi cùng với khoản tiền lãi, kể từ ngày khi giao dịch cho đến khi thi hành án xong, theo mức lãi suất tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định. (khoản 3 Chương I).

+ Đối với các khoản vay có lãi (kể cả loại có kỳ hạn và loại khơng có kỳ hạn) ở ngồi tổ chức Ngân hàng, tín dụng, do giá trị của các khoản tiền đó cũng đã được

</div>

×