Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (446.6 KB, 110 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>NGUYỄN ĐỨC VIỆT ANH</b>
<b>NGUYỄN ĐỨC VIỆT ANH</b>
<i>Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhànước tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh” là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi.</i>
Các số liệu, tài liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Các tài liệu tham khảo và nguồn trích dẫn có nguồn gốc, xuất
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><b><small>Chương 1...12</small></b>
<b><small>CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂNSÁCH NHÀ NƯỚC CỦA SỞ TÀI CHÍNH...12</small></b>
<small>1.1. Khái quát chung về chi thường xuyên ngân sách nhà nước của Sở Tài chính …...12</small>
<small>1.2. Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của cơ quan quản lý nhà nướccủa Sở Tài chính...15</small>
<small>1.3. Kinh nghiệm quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của một số Sở Tài chính và bài học rút ra cho sở tài chính tỉnh Bắc Ninh...33</small>
<b><small>Chương 2...39</small></b>
<b><small>THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀNƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH BẮC NINH...39</small></b>
<small>2.1. Khái quát về sở tài chính tỉnh Bắc Ninh ...39</small>
<small>2.2. Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020 – 2022...44</small>
<small>2.3. Đánh giá chung về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của Sở Tàichính tỉnh Bắc Ninh...61</small>
<b><small>Chương 3...74</small></b>
<b><small>PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHITHƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA SỞ TÀI CHÍNH TỈNHBẮC NINH...74</small></b>
<small>3.1. Bối cảnh mới và phương hướng hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tới...74</small>
<small>3.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2023 - 2030...81</small>
<small>3.3. Kiến nghị...93</small>
<b><small>KẾT LUẬN...97</small></b>
<b><small>DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...98</small></b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5"><b>DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT</b>
CNH, HĐH Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">Bảng 2. 2: Dự toán chi thường xuyên từ NSNN phân theo nội dung kinh tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020 - 2022...49 Bảng 2. 3: Dự toán chi thường xuyên từ NSNN phân theo địa bàn hành chính tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020 - 2022...50 Bảng 2. 4: Chênh lệch giữa dự toán và thực hiện chi thường xuyên từ NSNN tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020 - 2022...54 Bảng 2.5: Phân bổ khoản mục chi TX từ nguồn NSNN theo nội dung kinh tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020 - 2022...56 Bảng 2.6: Phân bổ khoản mục chi TX từ nguồn NSNN theo địa bàn hành chính tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020 - 2022...57 Bảng 2.7: Kết quả thanh tra, kiểm tra chi thường xuyên từ NSNN tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020 – 2022...61 Bảng 2.8: Đánh giá cơng tác lập dự tốn chi TX từ NSNN tỉnh Bắc Ninh từ các đối tượng điều tra...63 Bảng 2. 9: Đánh giá công tác quản lý quyết toán và kiểm tra, kiểm toán chi TX từ Ngân sách Nhà nước tỉnh Bắc Ninh từ số liệu điều tra...66 Bảng 2. 10: Đánh giá công tác điều hành, chấp hành dự toán chi TX từ Ngân sách Nhà nước của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh từ số liệu điều tra...68
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><b>MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài</b>
Chi thường xuyên ngân sách nhà nước (NSNN) có vai trò quan trọng đối với các cơ quan QLNN. Chi thường xuyên NSNN đảm bảo nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động cho các cơ quan tổ chức đó, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của cơ quan QLNN các cấp.
Là một cơ quan tham mưu, giúp việc cho Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh với rất nhiều chức năng, nhiệm vụ được giao, Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh có vai trò quan trọng trong việc tham mưu và tổ chức thực hiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN của tỉnh Bắc Ninh. Trong những năm qua, Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh ln chú trọng đến công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tỉnh Bắc Ninh từ khâu lập dự toán chi thường xuyên, chấp hành dự toán chi thường xuyên đến khâu quyết toán chi thường xuyên và kiểm tra, kiểm soát dự toán chi thường xuyên NSNN theo đúng chu trình của ngân sách. Nhờ đó cơng tác quản lý chi thường xun NSNN của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh đã góp phần đảm bảo nguồn lực hoạt động cho bộ máy quản lý nhà nước của tỉnh Bắc Ninh.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh cũng còn những hạn chế đó là: Cơng tác lập dự tốn hàng năm chưa sát với thực tế triển khai nhiệm vụ, chưa căn cứ vào từng nội dung, nhiệm vụ cụ thể hàng năm mà chỉ dựa trên số thực hiện năm trước liền kề nên kết quả lập dự toán chưa chuẩn xác; Cơng tác xét duyệt qút tốn chi thường xuyên tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh chỉ mang tính chất kiểm tra tài chính đơn thuần; Hoạt động kiểm tra chi thường xuyên tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh chỉ do bộ phận kế tốn thực hiện nên hiệu quả chưa cao… Những tồn tại, hạn chế nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh trong
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">những năm qua, đặt ra u cầu cần có những cơng trình nghiên cứu nhằm đề xuất giải pháp hồn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.
<i>Với những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý chi thường xuyênngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc</i>
sỹ chuyên ngành quản lý kinh tế của riêng mình, đây là vấn đề đảm bảo tính thời sự, có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn.
<b>2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài</b>
Quản lý chi thường xuyên NSNN tại Sở Tài chính là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học. Cho đến nay, đã có nhiều cơng trình nghiên cứu đề cập đến vận đề này, tiêu biểu là các cơng trình sau đây:
<i>Lê Thị Lan Hương (2020): “Hồn thiện cơng tác quản lý chi thườngxun ngân sách nhà nước tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng” [7]. Tác</i>
giả luận văn nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, từ đó chỉ rõ những kết quả đã đạt được như những hạn chế làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp nhằm hồn thiện cơng tác quản lý chi thường xun NSNN trên địa bàn quận trong thời gian đến để đáp ứng được u cầu hiện đại hóa cơng tác quản lý chi thường xuyên NSNN, phù hợp với quá trình cải cách hành chính cơng, phù hợp với chuẩn mực và thơng lệ quốc tế.
<i>Mai Quốc Thịnh (2016): “Hồn thiện công tác quản lý chi thườngxuyên ngân sách nhà nước tại thành phố Đà Nẵng ” [16]. Tác giả luận văn</i>
nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại thành phố Đà Nẵng, Bên cạnh những mặt đặt được, quản lý chi NSNN thường xuyên tại thành phố Đà Nẵng còn bộc lộ nhiều hạn chế nhưng phấp cấp quản lý thường xuyên NSNN chưa được đồng bộ, còn nhiều chồng chéo, định mực phân bố chưa hợp lý, cơng tác lập dự tốn còn mang tính đối phó, chưa chấp hành tốt dự tốn chi thường xuyên NSNN… Từ những tồn tại đó tác giả đã đề xuất các
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới để đáp ứng được u cầu hiện đại hóa cơng tác quản lý chi thường xuyên NSNN, phù hợp với quá trình cải cách hành chính cơng, phù hợp với chuẩn mực và thơng lệ quốc tế.
<i>Nguyễn Chí Quang (2020): “Hồn thiện công tác quản lý chi thườngxuyên ngân sách nhà nước tại huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương” [10]. Tác</i>
giả bài viết làm rõ được về thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương giai đoạn năm 2020-2020 để chi ra những tồn tại hạn chế cần khắc phục. Củ thể tập trung vào các nội dung: Lập dự toán ngân sách nhà nước, chấp hành dự toán ngân sách nhà nước, thực hiện phối hợp giữa cơ quan thuế và các cơ quan chức năng, cơ cấu chi ngân sách, công tác thanh tra kiểm tra ngân sách nhà nước. Từ đó rút ra những điểm mạnh và điểm yếu trong quản lý chi thường xuyên tại huyện Dầu Tiếng.
<i>Nguyễn Thanh Minh (2020): “Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhànước trên địa bàn huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên” [9]. Tác giả đã đưa ra</i>
giải pháp khắc phục những hạn chế trong quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở huyện Phú Lương. Tác giả sử dụng các phương pháp như thống kê mô tả, chọn mẫu phân tích, so sánh để tổng hợp, đánh giá thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách nhà nước ở huyện giai đoạn 2016-2020. Kết quả phân tích thực trạng cho thấy hoạt động quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở huyện đã từng bước được hồn thiện, góp phần phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn. Đồng thời tác giả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở huyện Phú Lương, chỉ ra những mặt được, hạn chế tồn tại và nguyên nhân của nó trong quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở huyện. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện.
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10"><i>Đặng Đức Anh (2013): “Đánh giá thực trạng phân cấp quản lý NSNNở Việt Nam” [1], đã nêu khái quát về tình hình phân cấp NSNN, những kết</i>
quả đạt được, những tồn tại/hạn chế và đưa ra phương hướng hoàn thiện phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam.“Thực trạng và giải pháp”. Nội dung của luận án bàn về bản chất và nội dung của phân cấp ngân sách, các mơ hình quản lý ngân sách, các nguyên tắc, tiêu chí và mức độ phân cấp ngân sách, những lợi ích và rủi ro trong quá trình phân cấp ngân sách, kinh nghiệm phân cấp quản lý ngân sách đối với chính quyền địa phương (ĐP); đánh giá về phân cấp ngân sách đối với chính quyền ĐP trên các nội dung về thu chi ngân sách, quy trình ngân sách, đinh mức phân bổ và chỉ tiêu ngân sách và các định hướng, mức độ, nguyên tắc và giải pháp tăng cường phân cấp ngân sách đối với các địa phương. Đây là công trình nghiên cứu quan trọng cho thấy cái nhìn tổng quan phân cấp ngân sách nói chung và đầu tư XDCB nói riêng.
<i>Nguyễn Tử Đức Thọ (2020): “Phân cấp quản lý ngân sách nhà nướcnghiên cứu trường hợp tỉnh Ninh Bình” [17]. Luận án nghiên cứu phân cấp</i>
quản lý NSNN, trong đó tập trung nghiên cứu điển hình thực trạng phân cấp quản lý ngân sách các cấp chính quyền địa phương tại một địa phương. Luận án đã hệ thống hố, phân tích làm rõ lý luận về phân cấp quản lý NSNN thơng qua phân tích lý luận về NSNN và hệ thống NSNN; Khái niệm, nội dung, nguyên tắc phân cấp NSNN; Kinh nghiệm phân cấp quản lý NSNN ở một số quốc gia và một số địa phương. Đồng thời, luận án cũng đã phân tích, đánh giá thực trạng phân cấp quản lý NSNN khi nghiên cứu điển hình trường hợp tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2011 - 2016 và năm 2020 với ba nội dung: Phân cấp thẩm quyền ban hành pháp luật, chính sách, tiêu chuẩn định mức NSNN; Phân cấp về nguồn thu, nhiệm vụ chi, vay nợ; Phân cấp thực hiện quy trình quản lý NSNN. Trên cơ sở đó, luận án đã đưa ra các phương hướng, mục tiêu và giải pháp hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">tỉnh Ninh Bình cho giai đoạn ổn định ngân sách 2020 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
<i>Tạ Văn Quân (2022): “Hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách nhànước của thành phố Hà Nội” [13]. Phân cấp quản lý ngân sách là một nội</i>
dung trong quản lý NSNN. Luận án đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về phân cấp quản lý NSNN, chủ yếu là nội dung phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền địa phương và thực tiễn về phân cấp quản lý NSNN của thành phố Hà Nội giai đoạn 2013 - 2020. Trong đó, luận án đi sâu vào nghiên cứu 5 nội dung cơ bản của chính quyền địa phương gồm: i) Phân cấp thẩm quyền ban hành chính sách, tiêu chuẩn và định mức NSNN; ii) Phân cấp nguồn thu ngân sách của NSĐP; iii) Phân cấp quản lý NSNN về vay nợ; iv) Phân cấp thực hiện quy trình quản lý ngân sách; v) Phân cấp về giám sát, thanh tra và kiểm toán NSNN.
<i>Nguyễn Minh Tân (2022): “Chính sách phân bổ ngân sách nhà nước ởViệt Nam” [14]. Luận án tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn về cơ chế</i>
phân bổ NSNN giữa NSTƯ và NSĐP thông qua các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ, phương thức phân bổ NSNN. Luận án tập trung nghiên cứu về cơ chế phân bổ NSNN bao gồm cơ chế phân bổ NSNN cho chi thường xun và chi ĐTPT nói chung, khơng tập trung nghiên cứu sâu vào lĩnh vực cụ thể. Trên cơ sở đánh giá những ưu, nhược điểm của cơ chế phân bổ NSNN ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, luận án đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế phân bổ NSNN ở Việt Nam tầm nhìn đến năm 2030.
<i>Nguyễn Thị Kim Liên (2020): “Hoàn thiện quản lý chi thường xuyênngân sách nhà nước tỉnh Thái Nguyên” [8]. Đối tượng nghiên cứu của luận</i>
án là các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý chi thường xuyên NSNN. Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung nghiên cứu về quản lý chi thường xuyên NSNN cấp tỉnh tại một tỉnh theo cách tiếp cận của chu trình NSNN. Luận án nghiên cứu về thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN cấp tỉnh
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">tại tỉnh Thái Nguyên với nội dung quản lý chi thường xuyên NSNN theo quy trình ngân sách gồm ba khâu là: Lập kế hoạch chi thường xuyên NSNN; Tổ chức chấp hành chi thường xuyên NSNN; Quyết toán chi thường xuyên NSNN; và một khâu đan xen là thanh tra, kiểm toán, kiểm tra chi thường xuyên NSNN tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 -2021.
Có thể thấy rằng, các cơng trình nghiên cứu đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn cho quản lý ngân sách nhà nước nói chung, quản lý chi thường xuyên NSNN nói riêng ở các địa phương, các Sở, Ban, Ngành như đưa ra khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc quản lý chi thường xuyên NSNN, nội dung quản lý chi thường xuyên NSNN, các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên NSNN, khái quát các bài học kinh nghiệm trong quản lý chi thường xuyên NSNN. Trong luận văn, tác giả sẽ kế thừa, bổ sung và phát triển một số vấn đề lý luận từ các cơng trình nghiên cứu nói trên.
Mặc dù đã có nhiều cơng trình nghiên cứu đề cập đến quản lý chi NSNN, chi thường xuyên NSNN. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có cơng trình nghiên cứu nào đề cập đến quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính đặt trong bối cảnh mới của tình hình thế giới và trong nước sau Đại dịch Covid-19, bối cảnh chuyển đổi số của Việt Nam. Cũng chưa có cơng trình nghiên cứu nào đề cập đến quản lý chi thường xuyên NSNN ở một Sở Tài chính cụ thể như Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh” là hồn tồn phù hợp, đảm bảo được tính thời sự, có giá trị khoa học cả về lý luận và thực tiễn.
<b>3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu</b>
<i><b>Mục đích nghiên cứu:</b></i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính, phân tích thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp hồn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.
<i><b>Nhiệm vụ nghiên cứu:</b></i>
Xuất phát từ mục đích trên, các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra gồm: - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020 – 2022; chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2023 - 2030.
<b>4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu</b>
<i><b>Đối tượng nghiên cứu:</b></i>
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính (đơn vị dự tốn cấp I).
<i><b>Phạm vi nghiên cứu:</b></i>
<i>- Phạm vi về chủ thể: Chủ thể quản lý chi thường xuyên NSNN là Ban</i>
giám đốc Sở Tài chính.
<i>- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn</i>
về quản lý chi thường xun NSNN của Sở Tài chính trên góc độ quản lý kinh tế với các nội dung: lập dự toán chi thường xuyên NSNN; Tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên NSNN; Quyết toán chi thường xuyên NSNN; Kiểm tra, kiểm soát chi thường xuyên NSNN.
<i>- Phạm vi về không gian: nghiên cứu được thực hiện tại Sở Tài chính</i>
tỉnh Bắc Ninh.
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14"><i>- Phạm vi về thời gian: Các số liệu thứ cấp dùng để nghiên cứu thực</i>
trạng quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh được thu thập trong giai đoạn 2020-2022; các giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2023 – 2030.
<b>5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu</b>
<i><b>Cơ sở lý luận:</b></i>
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… về quản lý chi thường xuyên NSNN. Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài còn dựa trên cơ sở lý thuyết quản lý tài chính cơng. Ngồi ra, trên cơ sở chắt lọc, kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã cơng bố.
<i><b>Phương pháp nghiên cứu:</b></i>
Trong q trình nghiên cứu đề tài, một số phương pháp nghiên cứu được sử dụng như sau:
<i>- Phương pháp thu thâp tài liệu, số liệu</i>
+ Dữ liệu thứ cấp: Thống kê các nguồn thông tin đã được công bố qua các tài liệu của UBND, HĐND, Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh; Số liệu, thơng tin đăng trên tạp chí, sách báo, các cơng trình nghiên cứu của các chun gia, thông tin trên website liên quan đến nội dung nghiên cứu đề tài.
+ Dữ liệu sơ cấp:
* Đối tượng điều tra: đội ngũ cán bộ, công chức tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh.
* Mục đích điều tra: thu thập ý kiến của đội ngũ cán bộ, công chức Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh về hoạt động quản lý chi thường xuyên NSNN tại cơ quan.
* Cỡ mẫu điều tra: Theo Yamane Taro (1967), việc xác định kích thước mẫu trong trường hợp đã biết quy mô tổng thể được xác định như sau:
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">Trong luận văn này, tác giả sử dụng mức sai số là ± 0.05
Tại thời điểm 31/10/2023, có 24 cán bộ, cơng chức đang làm việc tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh, vì vậy cỡ mẫu sẽ là:
n = <sub>1 + 24 x 0.05</sub><sup>24</sup> <small>2</small>
n = 22
Tác giả sẽ tiến hành khảo sát đối với 22 cán bộ, công chức
* Thời gian điều tra: Hoạt động điều tra, thu thập số liệu sơ cấp được thực hiện từ ngày 01/11/2023 đến ngày 05/11/2023.
* Nội dung điều tra: Mỗi đối tượng trong mẫu được chọn điều tra tác giả phát 1 phiếu điều tra. Phiếu khảo sát được xây dựng bao gồm 2 phần chính:
Phần thơng tin cơ bản của người được hỏi Phần đánh giá của người được hỏi
Các nội dung khảo sát sẽ liên quan đến đánh giá thực trạng quản lý chi thường xuyên tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh bao gồm: cơng tác lập dự tốn chi thường xun; cơng tác tổ chức thực hiện chi thường xun và cơng tác qút tốn chi thường xuyên.
* Quy ước đánh giá
Phiếu khảo sát được xây dựng theo đánh giá 5 cấp độ theo thang đo của Likert với mức từ 1 đến 5 trong đó mức 1 là mức đánh giá thấp nhất còn mức 5 là đánh giá cao nhất.
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">- Phương pháp phân tích tài liệu, dữ liệu
+ Phương pháp phân tích – tổng hợp: Với phương pháp này tác giả thực hiện phân tích, chọn lọc dữ liệu từ các cơng trình nghiên cứu kể trên và các cơng trình nghiên cứu khác, từ đó hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý chi TX NSNN của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh. Phương pháp này được sử dụng ở cả 3 chương.
+ Phương pháp thống kê – mô tả: Dựa trên số liệu liên quan đến quản lý chi TX NSNN của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh thu thập trong giai đoạn 2020 – 2022, nghiên cứu tiến hành thống kê và mô tả sự biến động các chỉ tiêu nghiên cứu qua các năm để thấy được sự biến động của chúng trong giai đoạn nghiên cứu. Trên cơ sở đó có thể đánh giá được một cách khách quan thực trạng quản lý chi TX NSNN của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh, từ đó nhằm đề ra các giải pháp nhằm đạt được hiệu quả tối ưu. Phương pháp này được sử dụng ở chương 2.
+ Phương pháp so sánh. Dựa trên việc so sánh các chỉ tiêu để phân tích thực trạng quản lý chi TX NSNN của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh được thực hiện cho giai đoạn 2020 – 2022. So sánh để thấy được những ưu và nhược điểm trong công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 2.
<b>6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của kết quả nghiên cứu</b>
<i><b>Ý nghĩa khoa học:</b></i>
- Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của cơ quan quản lý nhà nước cấp sở;
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">- Làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về tài chính cơng, quản lý tài chính cơng.
<i><b>Ý nghĩa thực tiễn:</b></i>
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh;
- Đề xuất được một số phương hướng, giải pháp nhằm tham mưu cho Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh trong việc hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tiếp theo cũng như làm tài liệu tham khảo cho các cơng trình nghiên cứu về quản lý chi thường xuyên tại cơ quan quản lý nhà nước cấp sở.
<b>7. Kết cấu của luận văn</b>
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết.
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18"><b>Chương 1</b>
<b>CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊNNGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA SỞ TÀI CHÍNH</b>
<b><small>1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀNƯỚC CỦA SỞ TÀI CHÍNH</small></b>
<b>1.1.1. Khái niệm chi thường xuyên ngân sách nhà nước của Sở Tàichính</b>
<i>1.1.1.1. Khái niệm</i>
Ngân sách (budget) là kế hoạch thu và chi được xác định từ trước của các tác nhân kinh tế như hộ gia đình, doanh nghiệp, Chính phủ.
Trong nghiên cứu của Đặng Văn Du (2010): Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế, lịch sử gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước và của hàng hóa, tiền tệ. Nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực thực hiện duy trì và phát triển xã hội thường quy định các khoản thu mang tính bắt buộc các đối tượng trong xã hội phải đóng góp để đảm bảo chi tiêu cho bộ máy Nhà nước, quân đội, cảnh sát, giáo dục. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của các chế độ xã hội, nhiều khái niệm về NSNN đã được đề cập theo các góc độ khác nhau [7, tr.19].
Luật NSNN năm 2015 định nghĩa: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [12]. Luận văn coi đây là khái niệm chính thống và sẽ sử dụng làm căn cứ trong nội dung nghiên cứu.
Tác giả Trần Thị Thảo (2005) cho rằng: chi thường xuyên NSNN là các khoản chi cho hoạt động sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thơng tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">nghiệp xã hội khác; quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; hoạt động của các cơ quan nhà nước; hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam; các đoàn thể; trợ giá theo chính sách của Nhà nước; cho các chương trình mục tiêu quốc gia; trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội và các khoản chi thường xuyên khác [17, tr.12].
Trong giáo trình “Quản lý chi NSNN” của Học viện Tài chính đưa ra khái niệm chi NSNN như sau: “Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng các nguồn tài chính đã tập trung được vào NSNN để đáp ứng cho các nhu cầu chi cho việc duy trì bộ máy và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định” [3, tr.37]. Khái niệm này thể hiện rõ hơn bản chất, quá trình và mục tiêu của chi NSNN.
Theo Luật Ngân sách Nhà nước (2015): “Chi thường xuyên NSNN là nhiệm vụ chi của NSNN nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế -xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh” [12].
Nói cách khác, chi thường xun là q trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải nhu cầu chi của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội thuộc khu vực cơng, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, xã hội, văn hóa thơng tin, mơi trường,…, và các hoạt động sự nghiệp khác.
<i>Từ sự phân tích trên, có thể quan niệm rằng, chi thường xuyên NSNNcủa Sở Tài chính là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo nhữngnguyên tắc nhất định để đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc thực hiện cácnhiệm vụ thường xuyên của các đơn vị thuộc Sở Tài chính quản lý. </i>
<i><b>1.1.2. Đặc điểm chi thường xuyên ngân sách nhà nước của Sở Tàichính</b></i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20"><i><b>Thứ nhất, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên từ NSNN đều</b></i>
mang tính ổn định và có tính chu kỳ trong một khoảng thời gian hàng tháng, hàng quý, hàng năm, thể hiện ở tổng mức và tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi NSNN hầu như khơng có sự thay đổi đột biến giữa các năm; nội dung và cơ cấu chi thường xun cũng có tính ổn định tương đối.
Đặc điểm này xuất phát từ mối quan hệ hữu cơ giữa cơ quan Nhà nước thuộc Sở Tài chính quản lý và NSNN. Một mặt, sự ra đời của Nhà nước là tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của NSNN; mặt khác, NSNN là công cụ tài chính quan trọng, tạo tiền đề vật chất để duy trì qùn lực chính trị, vận hành bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước như tổ chức quản lý các hoạt động kinh tế, bảo đảm an ninh-quốc phòng, trật tự an toàn xã hội,... Các chức năng này là tất yếu, khách quan đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính ổn định. Đặc điểm này còn xuất phát từ sự tất yếu phải thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước về quản lý hành chính một cách thường xun, liên tục nhằm cung ứng các hàng hóa cơng cộng không thể thiếu cho xã hội.
<i><b>Thứ hai, xét theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử</b></i>
dụng cuối cùng thì phần lớn các khoản chi thường xuyên có hiệu lực tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội; chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu thường xuyên, thiết yếu về quản lý hành chính, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, về hoạt động sự nghiệp và các hoạt động xã hội khác do Nhà nước tổ chức. Kết quả là tạo ra các hàng hóa, dịch vụ cơng cộng đáp ứng u cầu phát triển của xã hội. Các hoạt động này hầu như không trực tiếp tạo ra của cải vật chất, song lại có tác động to lớn đối với sự phát triển kinh tế nhờ tạo ra môi trường kinh doanh ổn định, nâng cao chất lượng nguồn lao động thông qua các khoản chi
<i><b>Thứ ba, phạm vi và mức độ chi thường xuyên NSNN gắn liền với cơ</b></i>
cấu tổ chức, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước; với việc
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng hàng hóa cơng cộng.
Bởi lẽ, phần lớn các khoản chi thường xuyên nhằm duy trì hoạt động của bộ máy Nhà nước, đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước. Do đó, cơ cấu tổ chức của bộ máy Nhà nước tác động tới cả phạm vi và mức độ chi thường xuyên NSNN. Bộ máy nhà nước càng gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả thì số chi thường xuyên càng giảm; đồng thời, sự phân bổ mức chi cho các cơ quan trong bộ máy cũng có cơ hội tăng lên mà khơng làm tăng tổng chi. Bên cạnh đó, sự tác động từ hiệu lực hoạt động của bộ máy Nhà nước sẽ làm thay đổi về chất của chi thường xuyên; những quan điểm, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước cũng ảnh hưởng trực tiếp đến định hướng, phạm vi và mức độ chi thường xuyên NSNN.
Mặt khác, phạm vi và mức độ chi thường xuyên NSNN còn gắn liền với sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng hàng hóa cơng cộng. Phần lớn các hàng hóa cơng cộng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội là do các đơn vị sự nghiệp cung cấp. Về cơ bản, mức phí mà người tiêu dùng hàng hóa cơng cộng phải trả cũng do Nhà nước quy định. Do đó, mức độ tư nhân hóa các hoạt động sự nghiệp cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường xuyên NSNN.
<b><small>1.2. QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA SỞTÀI CHÍNH</small></b>
<b>1.2.1. Khái niệm quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước củaSở Tài chính</b>
Quản lý chi ngân sách là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trên cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật. Chi ngân sách mới thể hiện ở khâu phân
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">bổ ngân sách còn hiệu quả sử dụng ngân sách như thế nào thì phải thông qua các biện pháp quản lý. Rõ ràng quản lý chi ngân sách sẽ quyết định hiệu quả sử dụng vốn ngân sách.
Nghiên cứu của Đồng Thị Vân Hồng (2016) đã chỉ ra: Quản lý chi Ngân sách nhà nước là q trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy và thực hiện các chức năng của Nhà nước. Thực chất quản lý chi Ngân sách nhà nước là quá trình sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của Nhà nước từ khâu lập kế hoạch đến khâu sử dụng ngân sách đó nhằm đảm bảo q trình chi tiết kiệm và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế đang đặt ra theo đúng chính sách chế độ của nhà nước phục vụ các mục tiêu KT-XH [1, tr.27].
Tác giả Nguyễn Ngọc Hùng (2006) cho rằng: Quản lý chi TX NSNN là quá trình các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền sử dụng hệ thống các biện pháp tác động vào hoạt động chi thường xuyên ngân sách Nhà nước, đảm bảo cho các khoản chi thường xuyên ngân sách được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả [10, tr.34].
<i>Từ sự phân tích trên có thể quan niệm rằng: Quản lý chi thường xuyênNSNN của Sở Tài chính là sự tác động của Sở Tài chính vào hoạt động chithường xuyên NSNN của các đơn vị thuộc Sở quản lý, đảm bảo cho các khoảnthi thường xuyên NSNN được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.</i>
Chủ thể quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính là Ban giám đốc Sở Tài chính. Các cơ quan giúp việc, trực tiếp quản lý chi thường xuyên NSNN cho Ban giám đốc Sở là Phòng Quản lý Ngân sách, Văn phòng Sở và Thanh tra Sở.
Đối tượng quản lý là hoạt động chi thường xuyên NSNN của các đơn vị thuộc phạm vi quản lý của Sở Tài chính.
Cơng cụ và phương pháp quản lý: Công cụ quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính là các chế độ, chính sách; các tiêu chuẩn, định mức
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành tác động lên đối tượng và chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý chi thường xuyên NSNN. Sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản của quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính. Đó là mục tiêu sử dụng NSNN một cách hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả cho phát triển KT-XH và thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của Sở Tài chính.
<b>1.2.2. Mục tiêu quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước củaSở Tài chính</b>
Mục tiêu tổng quát của quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính là cung cấp tài chính kịp thời, đầy đủ để Sở Tài chính thực hiện tốt chức năng của mình trong khung khổ pháp luật cho phép, đồng thời khuyến khích các đơn vị sử dụng NSNN của Sở Tài chính nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN. Mục tiêu tổng quát được cụ thể hóa bằng một hệ thống các mục tiêu cụ thể sau:
Một là, lập dự toán và phân bổ NS kịp thời, đúng mục đích cho các đơn vị thụ hưởng NSNN, hỗ trợ họ hoàn thành nhiệm vụ được giao. Mục tiêu này được đo lường bằng các tiêu chí sau: Tính chất chính xác của dự tốn chi thường xun NSNN thể hiện qua độ chênh lệch giữa mức chi theo dự toán và mức chi thực tế. Mức độ chênh lệnh càng thấp, chất lượng quản lý chi thường xuyên NSNN càng cao; Mức độ tuân thủ pháp luật. Tiêu chí này đo lường bằng các khoản chi và quy mơ chi sai mục đích được phát hiện trong dự toán. Mức chi sai càng thấp, mức độ tuân thủ pháp luật của quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính càng cao; Tính kịp thời của phân bổ NSNN. Thời điểm phân bổ NSNN càng gần với thời điểm triển khai thực hiện hoạt động sử dụng NSNN chứng tỏ chất lượng quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính càng cao.
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24"><i>Hai là, góp phần thực hiện thành cơng chiến lược phát triển KT-XH</i>
của tỉnh. Mục tiêu này phản ánh qua các tiêu chí sau: Sự phù hợp của ưu tiên chi thường xuyên NSNN với các mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển KT – XH của tỉnh; Sự phù hợp của phân bổ NSNN với đặc điểm từng giai đoạn phát triển của Sở, nhất là đối với các tỉnh miền núi.
<i>Ba là, sử dụng NSNN tiết kiệm, hiệu quả. Mục tiêu này được thể hiện</i>
qua các tiêu chí: Mức tiết kiệm trong chi thường xun; Mức độ giảm thất thốt, lãng phí trong đầu tư công từ nguồn NSNN; Giảm các khoản chi chưa cần thiết…
<i>Bớn là, phòng, chống lãng phí, tham nhũng trong chi thường xuyên</i>
NSNN của Sở Tài chính. Mục tiêu này được đo bằng các tiêu chí: Các biện pháp phòng ngừa lãng phí, tham nhũng trong chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính; Số vụ việc và quy mơ chi thường xun NSNN được phát hiện có sai phạm; Các hình thức và quy mơ xử lý vi phạm trong quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính.
<b>1.2.3. Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nướccấp của Sở Tài chính</b>
<i>* Nguyên tắc tập trung dân chủ</i>
Nguyên tắc này đòi hỏi phải bảo đảm mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ. Trong quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính, nguyên tắc này phải được qn triệt trong tồn bộ các khâu của chu trình quản lý. Thực hiện nguyên tắc này, quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính được phân cấp cho các vị dự toán cấp dưới, song phải bảo đảm sự tập trung, thống nhất quản lý của cấp trên. Trong lập dự toán chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính và qút định phân bổ dự tốn; chấp hành dự toán; kiểm tra, kiểm soát, thanh toán; quyết toán các khoản chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính đều phải bảo đảm nguyên tắc này. Điều đó có nghĩa là dự tốn chi thường xun NSNN của Sở Tài chính được quyết định trên cơ
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">sở nhu cầu chi tiêu hợp lý của các đơn vị sử dụng NSNN. Khi dự toán NSNN đã được quyết định thông qua, mọi đối tượng thụ hưởng NSNN đều phải tuân thủ các quyết định về dự toán, phân bổ dự toán, kiểm tra, quyết toán NSNN...
<i>* Nguyên tắc rõ ràng, trung thực, chính xác </i>
Nguyên tắc này đòi hỏi NSNN được xây dựng rành mạch, có hệ thống; Dự tốn chi thường xun NSNN của Sở Tài chính phải được tính tốn một cách chính xác và phải đưa vào kế hoạch NS; Không được che đậy và bào chữa đối với tất cả các khoản chi thường xuyên NSNN; Không được phép lập quỹ đen, NS phụ.
<i>* Nguyên tắc cân đối </i>
Ngân sách NSNN được lập và thu – chi phải được cân đối. Nguyên tắc này đòi hỏi các khoản chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính chỉ được phép thực hiện khi đó có đủ các nguồn thu bù đắp. Uỷ ban nhân dân và Hội đồng nhân dân luôn cố gắng để đảm bảo cân đối nguồn NSNN bằng cách đưa ra các quyết định liên quan tới các khoản chi để thảo luận và cắt giảm những khoản chi chưa thực sự cần thiết, đồng thời nỗ lực khai thác mọi nguồn thu hợp lý mà nền kinh tế có khả năng đáp ứng.
<i>* Ngun tắc cơng khai hóa NSNN </i>
Về mặt chính sách, thu – chi NSNN là một chương trình hoạt động của Chính phủ được cụ thể hoá bằng số liệu. NSNN phải được quản lý rành mạch, công khai để mọi người dân có thể biết nếu họ quan tâm. Ngun tắc cơng khai của NSNN được thể hiện trong suốt chu trình và phải được áp dụng cho tất cả các cơ quan tham gia vào chu trình NSNN.
<i>* Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả</i>
Tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của quản lý kinh tế, tài chính, bởi lẽ nguồn lực thì ln có giới hạn nhưng nhu cầu thì khơng có giới hạn. Do vậy, trong quá trình phân bổ và sử dụng nguồn
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">lực khan hiếm đó ln phải tính tốn sao cho với chi phí ít nhất nhưng phải đạt hiệu quả một cách tốt nhất.
Mặt khác, do đặc thù của hoạt động NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp. Nhu cầu chi từ NSNN luôn gia tăng với tốc độ nhanh trong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn. Nên càng phải tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính.
<b>1.2.3. Nội dung quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước củaSở Tài chính</b>
<i>1.2.3.1. Lập dự tốn chi thường xun NSNN tại Sở Tài chính</i>
Lập dự tốn NSNN là lập kế hoạch thu, chi ngân sách trong một năm ngân sách. Kết quả của khâu này là dự toán ngân sách được các cấp thẩm quyền quyết định.
- Nhiệm vụ của Sở Tài chính trong cơng tác lập dự toán chi thường xuyên từ Ngân sách Nhà nước:
+ Căn cứ vào các văn bản hướng dẫn lập dự toán chi thường xuyên từ ngân sách hàng năm của Thủ tướng chính phủ, Bộ Tài chính và các cơ quan Trung ương có liên quan, Sở Tài chính có trách nhiệm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành văn bản hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị trực thuộc, chính qùn cấp dưới lập dự tốn chi thường xuyên từ NSNN thuộc phạm vi quản lý.
+ Chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan có liên quan lập dự tốn ngân sách tỉnh.
+ Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh thơng qua phương án giao dự toán cho các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách trên địa bàn tỉnh.
+ Đề xuất các phương án cân đối ngân sách và các biện pháp nhằm thực hiện chính sách tăng thu, tiết kiệm chi thường xuyên từ NSNN.
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27"><i>- Căn cứ để lập dự toán chi NSNN</i>
Căn cứ vào nhiệm vụ phát triển KT-XH và bảo đảm quốc phòng, an ninh; Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN (đối với dự toán năm đầu thời kỳ ổn định NS); Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và mức bổ sung cân đối của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới đã được quy định (đối với dự toán năm tiếp theo của thời kỳ ổn định); Chính sách, chế độ thu NS; định mức phân bổ NS, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NS; Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách năm sau; Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về việc lập dự tốn NS; Thơng tư hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH, kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc NSNN và văn bản hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Số kiểm tra về dự tốn thu, chi NSNN do Bộ Tài chính thơng báo và số kiểm tra về dự tốn chi đầu tư phát triển do Bộ Kế hoạch và Đầu tư thơng báo Ủy ban nhân dân các tỉnh; Tình hình thực hiện ngân sách các năm trước.
<i>- Yêu cầu đới với việc lập dự tốn chi thường xun từ NSNN</i>
+ Dự toán chi thường xuyên từ NSNN của các cấp chính quyền phải tổng hợp theo từng lĩnh vực thu, chi và theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả nợ; khi lập dự toán NSNN phải đảm bảo tổng số thu thuế và phí, lệ phí phải lớn hơn chi thường xuyên.
+ Dự toán chi thường xuyên từ ngân sách của đơn vị dự toán các cấp phải lập theo đúng nội dung, biểu mẫu, thời hạn và phải thể hiện đầy đủ các khoản thu, chi theo Mục lục NSNN và hướng dẫn của Bộ Tài chính.
<i>- Quy trình lập dự toán chi thường xuyên ngân sách tỉnh</i>
Trên cơ sở hướng dẫn của Ủy ban nhân dân tỉnh, các đơn vị sử dụng NS, các tổ chức được NSNN hỗ trợ lập dự toán thu, chi thường xuyên ngân sách thuộc phạm vi nhiệm vụ được giao, gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp. Cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp xem xét, tổng hợp dự toán của các
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">đơn vị cấp dưới trực thuộc gửi đơn vị dự toán cấp I tổng hợp và lập dự toán thu, chi thường xuyên từ ngân sách thuộc phạm vi quản lý gửi Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư.
Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư xem xét, tổng hợp dự toán ngân sách của các đơn vị trực thuộc tỉnh, dự toán thu do cơ quan Thuế lập, dự toán thu, chi ngân sách của các huyện; Và lập dự toán thu, chi ngân sách tỉnh (gồm dự toán ngân sách các huyện và dự toán ngân sách cấp tỉnh), dự tốn chi Chương trình mục tiêu quốc gia, dự tốn các khoản kinh phí ủy qùn báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để trình Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét trước ngày 20 tháng 7 năm trước.
Sau khi có ý kiến của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh gửi báo cáo dự toán ngân sách địa phương đến Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan quản lý Chương trình mục tiêu quốc gia (phần dự tốn chi Chương trình mục tiêu quốc gia).
Sau khi làm việc với Bộ Tài chính, Sở Tài chính chủ trì, tổ chức thảo luận dự toán với Uỷ ban nhân dân huyện, thị và các cơ quan đơn vị cấp tỉnh theo chế độ, tiêu chuẩn hiện hành, phù hợp với khả năng ngân sách tỉnh, định hướng phát triển KT-XH của địa phương và bảo đảm tiết kiệm.
Trên cơ sở quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ Tài chính; Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định dự toán ngân sách địa phương, phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp tỉnh và mức bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh cho ngân sách cấp dưới trước ngày 10 tháng 12 năm trước. Sau đó, báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự tốn ngân sách tỉnh và kết quả phân bổ dự toán ngân sách cấp tỉnh đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.
Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Sở Tài chính trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc tỉnh; Nhiệm vụ thu, chi, tỷ lệ phần trăm
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">(%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương và giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương; Mức bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh cho từng huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
<i>1.2.3.2. Tổ chức thực hiện dự tốn chi thường xun NSNN tại Sở Tàichính</i>
Chấp hành dự tốn NSNN là khâu cốt ́u có ý nghĩa quyết định với một chu trình ngân sách. Nếu khâu lập kế hoạch đạt kết quả tốt thì cơ bản cũng mới dừng ở trên giấy, nằm trong khả năng và dự kiến, chúng có thể biến thành hiện thực hay không là tùy vào khâu chấp hành ngân sách. Chấp hành ngân sách thực hiện tốt sẽ có tác động tích cực bảo đảm cân bằng thu - chi ngân sách định kỳ (tháng, quý, năm).
- Nhiệm vụ của Sở Tài chính trong cơng tác triển khai chấp hành dự toán chi thường xuyên từ ngân sách là thẩm tra phương án phân bổ dự toán chi thường xuyên từ ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách.
+ Bố trí nguồn kinh phí để đảm bảo các nhu cầu chi, trường hợp các đơn vị sử dụng ngân sách chi vượt quá khả năng thu và huy động quỹ ngân sách thì Sở Tài chính phải chủ động thực hiện các biện pháp vay tạm thời để đảm bảo nguồn.
+ Xem xét điều chỉnh dự toán chi thường xuyên từ ngân sách trong trường hợp đơn vị có nhu cầu.
+ Có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi tiêu và sử dụng ngân sách ở các cơ quan, đơn vị.
- Căn cứ triển khai chấp hành chi ngân sách tỉnh
Căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện dự toán NSNN hàng năm; Căn cứ Quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách tỉnh của Ủy ban nhân dân tỉnh; Các chính sách, chế độ, định mức chi thường xuyên từ ngân sách hiện hành.
- Yêu cầu của việc chấp hành chi thường xuyên ngân sách tỉnh
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">Các khoản chi ngân sách phải có trong dự toán đã được giao, được Thủ trưởng cơ quan quyết định chi và đã qua đấu thầu hoặc thẩm định giá (đối với những trường hợp bắt buộc phải qua đấu thầu hoặc thẩm định giá).
Các đơn vị sử dụng ngân sách và các tổ chức được ngân sách hỗ trợ thường xuyên phải mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước cùng cấp, chịu sự kiểm tra, kiểm sốt của cơ quan Tài chính và của Kho bạc Nhà nước trong q trình thanh tốn, sử dụng kinh phí. Đối với những đơn vị, tổ chức khơng có quan hệ thường xun với ngân sách thì khơng bắt buộc mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước.
NSNN phải được thanh toán trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước đến người hưởng lương, hưởng trợ cấp xã hội và người cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
- Nội dung triển khai chấp hành chi ngân sách tỉnh + Thẩm tra phân bổ và giao dự toán chi NS
Sau khi được Ủy ban nhân dân tỉnh giao dự toán chi NS, các cơ quan sử dụng ngân sách tiến hành lập phương án phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách gửi đơn vị chủ quản tổng hợp gửi Sở Tài chính thẩm định. Sau khi phương án phân bổ chi ngân sách được các cơ quan Tài chính thống nhất, thủ trưởng cơ quan, đơn vị ban hành quyết định phân bổ dự toán chi ngân sách cho các đơn vị trực thuộc (nếu có); đồng thời gửi cơ quan Tài chính, Kho bạc Nhà nước cùng cấp và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để phối hợp thực hiện.
+ Thực hiện cấp bổ sung hoặc điều chỉnh các khoản chi ngân sách Trong quá trình sử dụng NS, nếu đơn vị có nhu cầu bổ sung cho nhiệm vụ phát sinh hoặc điều chỉnh dự toán chi NSNN để phù hợp nhiệm vụ chi thực tiễn thì gửi đề nghị đến Sở Tài chính. Sau khi xem xét, nếu thấy đề nghị đó là thiết thực và đúng theo các quy định hiện hành thì Sở Tài chính thơng báo đến đơn vị và Kho bạc để phối hợp nếu thuộc thẩm quyền hoặc sẽ trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định.
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">+ Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi tiêu của đơn vị dự tốn
Sở Tài chính phối hợp với Kho bạc kiểm soát dự toán chi của đơn vị. khi có yêu cầu hoặc đơn vị có dấu hiệu sai phạm, Sở Tài chính sẽ đề nghị Kho bạc tạm ngưng cấp phát kinh phí cho đơn vị (trừ Lương và các khoản phụ cấp) và yêu cầu đơn vị cung cấp chứng từ, sổ sách để thực hiện kiểm tra, giám sát.
<i>1.2.3.3. Quyết toán chi thường xun NSNN tại Sở Tài chính</i>
Qút tốn chi ngân sách tỉnh thực hiện tốt sẽ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nhìn nhận lại quá trình chấp hành ngân sách qua một năm, rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực bổ sung cho công tác lập ngân sách cũng như chấp hành ngân sách những chu trình tiếp theo. Là cơ sở để phân tích, đánh giá việc thực hiện các khoản chi ghi trong kế hoạch phát triển KT-XH, trong quá trình phát triển KT-XH và trong quá trình quản lý NSNN.
- Nhiệm vụ của Sở Tài chính trong cơng tác qút tốn ngân sách tỉnh Căn cứ thông tư hướng dẫn công tác khóa sổ và qút tốn NSNN hàng năm của Bộ Tài chính, Sở Tài chính tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy định về cơng tác khóa sổ và lập báo cáo tài chính NSNN trên địa bàn tỉnh.
Chủ trì, phối hợp với Kho bạc Nhà nước thực hiện cơng tác khóa sổ ngân sách tỉnh; Thực hiện cơng tác thẩm định báo cáo qút tốn NSNN hàng năm của các đơn vị sử dụng và đơn vị được NSNN hỗ trợ thường xuyên; Tổng hợp và lập báo cáo qút tốn chi ngân sách tỉnh trình Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh thơng qua và gửi Bộ Tài chính.
- Căn cứ để thực hiện quyết toán chi ngân sách tỉnh
Các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn công tác quyết toán chi thường xuyên từ NSNN hiện hành. Các quy định về thời hạn thực hiện công tác chỉnh lý qút tốn, thời hạn nộp báo cáo tài chính các cấp; quy định về
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">chính sách, chế độ, định mức chi ngân sách hiện hành; quy định về biểu mẫu lập báo cáo quyết toán chi ngân sách tỉnh.
- u cầu đối với cơng tác qút tốn chi ngân sách tỉnh
Số quyết toán chi NSNN là số đã thực thanh toán tại Kho bạc Nhà nước trong năm ngân sách và không được lớn hơn số quyết toán thu.
Số liệu trong báo cáo quyết toán chi ngân sách phải chính xác, trung thực, đầy đủ. Nội dung của báo cáo quyết toán chi ngân sách phải theo đúng các nội dung trong dự toán được giao và theo mục lục NSNN.
Số kinh phí nhận ủy quyền từ ngân sách Trung ương không được tổng hợp vào quyết toán chi ngân sách của tỉnh mà lập báo cáo qút tốn kinh phí ủy qùn gửi Bộ Tài chính và Bộ, ngành đã ủy quyền cho cấp tỉnh thực hiện chi.
- Nội dung quyết toán chi thường xuyên từ ngân sách tỉnh
Thời gian chỉnh lý quyết toán là thời gian quy định cho ngân sách các cấp thực hiện việc giải quyết các tồn đọng của năm báo cáo và đối chiếu, điều chỉnh những sai sót trong q trình hạch tốn kế tốn, hồn chỉnh số liệu để quyết toán chi ngân sách năm báo cáo. Thời gian chỉnh lý quyết toán bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 30 tháng 01 của năm sau liền kề năm báo cáo quyết toán chi NS.
Sau thời gian chỉnh lý quyết toán, các đơn vị sử dụng ngân sách tổng hợp những khoản kinh phí chưa sử dụng và những khoản kinh phí đã tạm ứng nhưng chưa thanh toán của năm trước gửi Kho bạc Nhà nước làm thủ tục chuyển nhiệm vụ chi sang năm sau đối với những khoản chi đương nhiên được chuyển sang năm sau (kinh phí thực hiện chế độ tự chủ, Kinh phí thực hiện đề án, đề tài, dự án…), và gửi Sở Tài chính xét chuyển đối với những khoản kinh phí còn lại.
Hết thời gian chỉnh lý quyết toán, các đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện đối chiếu số liệu chi ngân sách với Kho bạc Nhà nước và lập báo quyết
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">toán chi ngân sách theo đúng biểu mẫu quy định và gửi Sở Tài chính trước ngày 15 tháng 4. Đối với báo cáo quyết toán chi ngân sách các huyện, thị, thành phố thì gửi cho Sở Tài chính trước ngày 15 tháng 6 của năm sau liền kề năm báo cáo.
Sở Tài chính tiến hành thẩm tra báo cáo quyết toán chi của các đơn vị dự toán và đối chiếu số liệu do Kho bạc Nhà nước tỉnh cung cấp. Trường hợp phát hiện những khoản chi sai chế độ, định mức, hoặc chi sai nguồn thì Sở Tài chính đề nghị thu hồi những khoản chi sai và giảm trừ quyết toán chi ngân sách. Trường hợp phát hiện những khoản chi chưa đủ điều kiện qút tốn thì Sở Tài chính đề nghị đơn vị chuyển sang năm sau hoàn chỉnh hồ sơ thanh quyết toán và tổng hợp vào quyết toán chi ngân sách năm sau. Sau đó, tổng hợp, lập báo báo quyết tốn chi ngân sách tỉnh trình Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 15 tháng 8 năm sau liền kề năm ngân sách báo cáo. Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, trình Hội đồng nhân dân tỉnh thơng qua và gửi báo báo quyết toán chi ngân sách cho Bộ Tài chính.
Cuối năm NS, số kết dư ngân sách sẽ được xác định trên cơ sở tổng thu ngân sách trừ đi tổng chi ngân sách tỉnh. Kết dư ngân sách tỉnh được chuyển 50% vào quỹ dự trữ tài chính và 50% vào thu ngân sách tỉnh năm sau. Trường hợp quỹ dự trữ tài chính đã đủ mức giới hạn theo quy định thì chuyển tồn bộ vào thu ngân sách tỉnh năm sau 100%.
<i>1.2.3.4. Kiểm tra, kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại Sở Tài chính</i>
Cơng tác thanh tra, kiểm tra tài chính là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của ngành Tài chính, đặc biệt trong hoạt động quản lý NSNN. Qua công tác thanh tra kiểm tra, ngoài việc hướng dẫn các đối tượng thanh tra thực hiện theo đúng các quy trình nghiệp vụ, tuân thủ theo các quy chế quản lý của ngành và quy định của pháp luật, qua đó góp phần tích cực trong việc phòng ngừa, ngăn chặn tiêu cực mà còn có thể phát hiện ra và xử lý các sai phạm trong công tác quản lý NSNN, thu hồi cho Ngân sách Nhà nước. Công tác
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">thanh tra, kiểm tra tài chính được tăng cường sẽ đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; giữ vững kỷ cương, kỷ luật tài chính, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong đó cần phát huy được vai trò của đơn vị trong việc kịp thời phát hiện các cơ sở yếu kém trong công tác quản lý ngân sách để đề xuất về cơ chế chính sách và có biện pháp giải qút, phòng chống tham nhũng có hiệu quả; nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng, công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo, công tác xử lý sau thanh tra...; thực hiện nghiêm các quy trình, quy chế trong công tác thanh tra; tiếp tục tăng cường đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thanh tra ngày càng chất lượng hơn.
Cũng qua công tác thanh tra, kiểm tra có thể phát hiện ra các kẽ hở trong quản lý NSNN, từ đó đề xuất kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý Nhà nước, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật tài chính. Ngồi ra, cơng tác tự kiểm tra của các đơn vị đã giúp cho cán bộ, công chức nâng cao tinh thần trách nhiệm, tác phong trong công việc và thái độ phục vụ nhân dân.
Việc thanh tra quyết toán chi ngân sách năm của các đơn vị dự toán cấp tỉnh và ngân sách cấp huyện do bộ phận Thanh tra (Phòng Thanh tra) thuộc Sở Tài chính thực hiện theo quy định.
Hàng năm Phòng Thanh tra có kế hoạch thanh tra trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trên cơ sở đó, cơ quan thanh tra sẽ khảo sát số liệu và thông báo lịch thanh tra đến từng cơ quan được thanh tra. Thời gian thanh tra thông thường từ 30 ngày làm việc trở lên. Kết thúc quá trình thanh tra, Phòng thanh tra tiến hành thảo luận, thống nhất ký biên bản làm việc với đơn vị. Trong quá trình thanh tra, nếu phát hiện những sai phạm thì tùy theo mức độ, tính chất vi phạm, Phòng thanh tra sẽ có kiến nghị xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Khi nhận được kiến nghị thanh tra, đơn vị có trách nhiệm thực hiện các
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">kiến nghị đó và báo cáo kết quả thực hiện đến Sở Tài chính tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh.
<b>1.2.4. Nhân tố tác động quản lý chi thường xun ngân sách nhànước của Sở Tài chính</b>
<i><b>1.2.4.1. Nhân tớ khách quan</b></i>
<i>Một là, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương</i>
Tại mỗi địa phương, điều kiện tự nhiên của từng khu vực có sự khác nhau, do vậy công tác chi thường xuyên từ NSNN cũng có sự khác biệt. Vì vậy, việc phân bổ, lên dự toán các khoản mục chi cần căn cứ vào điều kiện tự nhiên của mỗi khu vực để cân đối chi. Ví dụ: ở địa phương có điều kiện tự nhiên khó khăn, chính qùn sẽ tập trung chi NSNN khoản chi trong giáo dục, y tế như: điện, đường xá, trường học, dịch vụ y tế,...Hơn nữa những vùng hay xảy ra thiên tai thì hoạt động chi cho tu sửa đê kè, gia cố đường, hỗ trợ các gia đình khó khăn,.... Ngồi ra, chi thường xun cho các địa bàn có điều kiện giao thơng đi lại khó khăn cũng nhiều hơn do chính sách thu hút lao động của tỉnh. Vì vậy, quản lý chi thường xuyên từ NSNN chịu ảnh hưởng nhiều từ các điều kiện tự nhiên ở địa phương.
Về mặt kinh tế: Một địa phương muốn phát triển mạnh thì nền kinh tế phải mạnh, người dân phải có cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc. Kinh tế vững chắc là tiền đề tạo nên nền tài chính vững mạnh. Kinh tế càng phát triển thì vị trí của NSNN càng được coi trọng. Nhà nước phân bổ nguồn lực cho kinh tế phát triển, góp phần ổn định xã hội. Nếu nền kinh tế bất ổn, kết quả thu ngân sách ở mức thấp, nguồn chi NSNN giảm, sẽ ảnh hưởng đến phát triển đất nước.
Về mặt xã hội: Một địa phương mà chính trị ổn định, an ninh được đảm bảo, người dân văn minh, lịch sự, có trình độ hiểu biết, nhân dân thượng tôn luật pháp sẽ là những điều kiện để tăng trưởng kinh tế cao, tạo môi trường thu hút các nhà đầu tư, tạo ra nhiều việc làm mới cho người trong độ tuổi lao
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">động. Từ các yếu tố đó sẽ nâng cao GDP, tăng thu cho NSNN, tạo động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế đất nước. Chính vì những lý do đó, có thể khẳng định kinh tế - xã hội có ảnh hưởng lớn đến quản lý chi thường xuyên từ NSNN.
<i>Hai là, chính sách, chế độ, định mức Nhà nước</i>
Trong kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, pháp luật đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong việc quản lý Nhà nước nói chung và quản lý chi thường xuyên NSNN nói riêng. Hệ thống pháp luật với vai trò hướng dẫn và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong xã hội hoạt động theo trật tự, trong khuôn khổ pháp luật đảm bảo sự công bằng, an toàn và hiệu quả đòi hỏi phải rất đầy đủ, chuẩn tắc và đồng bộ. Vì vậy, hệ thống pháp luật, các chính sách liên quan đến quản lý chi NSNN sẽ có tác dụng kiềm hãm hay thúc đẩy hoạt động quản lý hiệu quả hay không trong việc chi NSNN ở địa phương.
Môi trường pháp lý là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn quản lý chi NSNN ở địa phương. Chẳng hạn, định mức chi tiêu của Nhà nước là một trong những căn cứ quan trọng để xây dựng dự toán, phân bổ dự toán và thanh, kiểm tra công tác chi NSNN, cũng là một trong những chỉ tiêu để đánh giá chất lượng quản lý và điều hành NSNN của các cấp chính quyền địa phương. Việc ban hành các định mức chi một cách khoa học, cụ thể, kịp thời sẽ góp phần không nhỏ trong việc quản lý chi NSNN được chặt chẽ và hiệu quả hơn. Hơn nữa, sự phân định trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan, các cấp chính quyền trong việc quản lý NSNN cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công tác quản lý chi NSNN. Chỉ trên cơ sở phân công trác nhiệm, quyền hạn rõ ràng của từng cơ quan, địa phương sẽ tạo điều kiện cho công tác quản lý chi NSNN đạt hiệu quả, khơng lãng phí cơng sức, tiền của. Sự phân định trách nhiệm, quyền hạn phải được tơn trọng và thể chế hóa thành Luật để các cơ quan cũng như từng cá nhân có liên quan biết được phạm vi trách nhiệm và
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">quyền hạn của mình trong thực hiện nhiệm vụ, qua đó cơng việc được tiến hành trơi chảy, dựa trên nguyên tắc rõ ràng, minh bạch không đùn đẩy trách nhiệm, và trách nhiệm giải trình rõ ràng sẽ góp phần nâng cao chất lượng quản lý chi NSNN.
<i>Ba là, sự tuân thủ của các đơn vị sử dụng ngân sách</i>
Các đơn vị sử dụng ngân sách là đối tượng thụ hưởng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý chi thường xuyên NSNN. Nếu các đơn vị sử dụng ngân sách chấp hành tốt về định mức chi tiêu, có ý thức tốt trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí…thì cơng tác quản lý chi thường xuyên NSNN sẽ đạt kết quả cao. Ngược lại, nếu các đơn vị sử dụng ngân sách không tuân thủ đúng định mức, tiêu chuẩn trong sử dụng ngân sách, lãng phí trong sử dụng ngân sách thì cơng tác quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính sẽ kém hiệu quả hơn.
<i>1.2.4.2. Nhân tớ chủ quan</i>
<i>Thứ nhất, năng lực quản lý của lãnh đạo và trình độ chuyên môn củađội ngũ cán bộ </i>
Năng lực quản lý của người lãnh đạo bộ máy chi NSNN, bao gồm các nội dung sau: năng lực đề ra chiến được trong hoạt động ngân sách; đưa ra được các kế hoạch triển khai các công việc hợp lý, rõ ràng; tạo nên một cơ cấu tổ chức hợp lý, có hiệu quả, có sự phân định rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn giữa các nhân viên, cũng như giữa các khâu, các bộ phận của bộ máy quản lý chi NSNN ở địa phương. Ngoài ra, người lãnh đạo cũng cần tránh bệnh chạy theo thành tích, bệnh cục bộ địa phương, bệnh quan liêu mệnh lệnh... vì đó là những biểu hiện làm giảm hiệu quả hoạt động chi cũng như gây ra những thất thoát, lãng phí, tham nhũng...nguồn NSNN tại địa phương. Năng lực chuyên môn của cán bộ, nhân viên trong hệ thống quản lý chi NSNN cũng đóng vai trò quyết định hiệu quả chi NSNN. Năng lực cán bộ được nói đến trên các khía cạnh trình độ chun mơn, tinh thần, thái độ làm
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">việc và năng suất lao động. Một cán bộ có năng lực sẽ tạo điều kiện quản lý quy trình chi, sử dụng NSNN nhanh chóng, chuyên nghiệp, hiệu quả và hạn chế sự thất thốt. Điều này có lợi cho cả nhà thầu và cơ quan Nhà nước. Ngoài ra, cán bộ, nhân viên cần tránh các thói quen xấu như: chiều ý cấp trên, thói quen xin cho, thiếu ý thức chịu trách nhiệm cá nhân và nhiều biểu hiện tiêu cực khác trong việc phân bổ, quyết toán, thanh kiểm tra công tác chi NSNN tại các đơn vị nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng NSNN.
<i>Thứ hai, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chi thường xuyên </i>
Việc ứng dụng khoa học công nghệ trong hoạt động quản lý chi thường xuyên sẽ tác động trực tiếp tới tốc độ, tính chính xác và hiệu quả của cơng tác quản lý. Một quy trình cơng nghệ hiện đại, thống nhất sẽ là cơ sở quan trọng để cơng tác phân bổ, lập dự tốn chi thường xun được tiến hành nhanh chóng, thuận lợi. Cơng tác quản lý chi thường xuyên tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh ln đòi hỏi u cầu hiện đại hóa về cơng nghệ. Nhất là trong hồn cảnh hiện nay, khi khối lượng chi ngân sách ngày càng lớn và nhiều thì việc phát triển ứng dụng cơng nghệ sẽ giúp tiết kiệm thời gian giải quyết công việc, đảm bảo cơng việc được diễn ra nhanh chóng, tiết kiệm, chính xác và thống nhất. Do đó, việc xây dựng một cơ sở vật chất kĩ thuật cơng nghệ hồn chỉnh cho hệ thống quản lý chi tài chính nói chung và chi thường xuyên nói riêng là một đòi hỏi tất yếu giúp hoạt động này đạt hiệu quả cao hơn.
<i>Thứ ba, tổ chức bộ máy quản lý</i>
Nếu Sở Tài chính có tổ chức bộ máy quản lý chi thường xun NSNN tinh gọn, hiệu quả thì cơng tác quản lý chi thường xuyên NSNN của Sở Tài chính sẽ có hiệu quả tốt hơn. Ngược lại, nếu tổ chức bộ máy quản lý cồng kềnh, chồng chéo thì sẽ làm giảm hiệu quả của công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại Sở Tài chính.
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39"><b><small>1.3. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀNƯỚC CỦA MỘT SỐ SỞ TÀI CHÍNH VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO SỞ TÀICHÍNH TỈNH BẮC NINH</small></b>
<b>1.3.1. Kinh nghiệm trong quản lý chi thường xuyên ngân sách nhànước của một số Sở Tài chính</b>
<i><b>1.3.1.1. Kinh nghiệm của Sở Tài chính tỉnh Hà Nam</b></i>
Trong những năm qua, mặc dùng còn gặp nhiều khó khăn song ngành tài chính tồn tỉnh Hà Nam đã tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ được giao và góp phần quan trọng thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Nam. Để có được kết quả tích cực từ hoạt động thu ngân sách, Sở Tài chính Hà Nam và các cơ quan chuyên môn, cùng với các huyện, thị xã, thành phố đã tham mưu UBND tỉnh Hà Nam chỉ đạo các ngành tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, trong đó tạo điều kiện thuận lợi để phát triển doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, nhất là khu vực doanh nghiệp ngồi quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm tăng nhanh tỷ trọng thu nội địa trong cơ cấu nguồn thu. Trong quản lý chi thường xuyên NSNN, Sở Tài chính tỉnh Hà Nam đã thực hiện tương đối hiệu quả dựa trên những kinh nghiệm đó là:
<i>- Về lập dự toán chi thường xuyên NSNN: Để đảm bảo đến ngày 31/12</i>
phải hồn thành dự tốn năm tới, Sở Tài chính tỉnh Hà Nam đã giảm bớt các khâu trung gian, trùng lắp trong quy trình như cơ quan tài chính thơng báo số kiểm tra dự tốn chi cho cơ quan chủ quản hoặc đơn vị trực tiếp sử dụng kinh phí NS. Trong q trình lập dự tốn, Sở Tài chính Hà Nam cũng đặc biệt lưu ý chất lượng của 2 khâu then chốt là: Khâu hướng dẫn, số thơng báo kiểm tra về dự tốn cho các đơn vị thụ hưởng NSNN và khâu xem xét dự toán của các đơn vị thụ hưởng ngân sách gửi cho cơ quan Tài chính. Các cấp ngân sách
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">cần có sự phối hợp để làm rõ các nhu cầu về dự toán nhằm phục vụ tốt cho q trình xét duyệt dự tốn.
<i>- Về tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên NSNN: Việc thực hiện</i>
dự toán chi thường xuyên NSNN được Sở Tài chính Hà Nam duyệt chia ra cụ thể theo quý, tháng và đảm bảo: Kinh phí chi quỹ lương và kinh phí quản lý có tính tốn mức biến động tăng, giảm quỹ trong năm để điều chỉnh cho phù hợp. Kinh phí sự nghiệp được duyệt có xem xét từng dự tốn được duyệt có nhu cầu chi theo yêu cầu thực tế dự kiến của năm kế hoạch. Xây dựng hạn mức chi thường xuyên để lên kế hoạch cấp phát kinh phí cho chi thường xuyên, đảm bảo theo tiến độ của năm kế hoạch.
<i>- Về quyết toán chi thường xuyên NSNN: Việc quyết toán phải phân</i>
định rõ các nguồn kinh phí đã sử dụng, hạn chế việc chi chuyển nguồn ngân sách sang năm sau. Kiên qút xuất tốn các khoản chi khơng đúng chế độ, tiêu chuẩn, đơn giá, định mức hiện hành. Thực hiện quyết toán theo số thực chi được chấp nhận. Thực hiện thuyết minh chi tiết quyết toán chi thường xuyên NSNN, nêu rõ nguyên nhân tăng, giảm so với dự toán đã phân bổ làm cơ sở cho việc đánh giá, xây dựng dự toán năm sau.
<i>- Về kiểm tra, kiểm soát chi thường xuyên NSNN: Sở Tài chính tỉnh Hà</i>
Nam ln u cầu các cơ quan thực hiện nhiệm vụ giám sát, kiểm tra, thanh tra khi thực hiện phải thường xuyên phối hợp với nhau trong thực hiện nhiệm vụ, trước hết là trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch để tránh chồng chéo, từ đó phát huy sức mạnh tồn hệ thống; Khi thanh tra nếu phát hiện tham những cần chuyển ngay hồ sơ sang cơ quan điều tra và thẳng thắn xử lý nghiêm minh tham nhũng ở mọi nơi, mọi cấp, mọi cương vị; Triệt để tuân thủ trình tự, thủ tục xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý và sử dụng NSNN, tránh việc lợi dụng các hình thức giám sát, kiểm tra, thanh tra trong việc quản lý và sử dụng NSNN để trục lợi cá nhân và thực hiện hành vi tiêu cực.
<i><b>1.3.1.2. Kinh nghiệm của Sở Tài chính tỉnh Hải Dương</b></i>
</div>