Tải bản đầy đủ (.pdf) (62 trang)

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY DƯA LƯỚI ( CUCUMIS MELO L ) TẠI THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.68 MB, 62 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b> </b>

UBND TỈNH QUẢNG NAM

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM KHOA: LÝ – HĨA – SINH </b>

<b>NGƠ THỊ CẨM TÚ</b>

<b>NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ </b>

<i><b>NĂNG SUẤT CỦA CÂY DƯA LƯỚI (Cucumis </b></i>

<i><b>melo.L) TẠI THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH </b></i>

<b>QUẢNG NAM </b>

<b>KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC</b>

<b>Quảng Nam, tháng 05 năm 2017 </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

UBND TỈNH QUẢNG NAM

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM KHOA: LÝ – HÓA – SINH </b>

<b>KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP </b>

<i><b>Tên đề tài: </b></i>

<b>NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ </b>

<i><b>NĂNG SUẤT CỦA CÂY DƯA LƯỚI (Cucumis </b></i>

<i><b>melo.L) TẠI THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH </b></i>

<b>QUẢNG NAM </b>

Sinh viên thực hiện:

<b>NGÔ THỊ CẨM TÚ MSSV: 2113012732 </b>

<b>Quảng Nam, tháng 05 năm 2017 </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>LỜI CAM ĐOAN </b>

Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của cô Triệu Thy Hòa.

Các số liệu và kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nào khác.

<b> Tác giả </b>

<b> Ngô Thị Cẩm Tú </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<b>DANH MỤC CÁC BẢNG </b>

Bảng 1 Thành phần dinh dưỡng trong 100g dưa lưới 10

Bảng 3.2 Kết quả về diện tích lá (dm<small>2</small>) của cây dưa lưới 28 Bảng 3.3 Kết quả về chiều cao (cm) của cây dưa lưới 30 Bảng 3.4 Kết quả về đường kính thân (cm) của cây dưa lưới 33 Bảng 3.5 Kết quả về số nhánh trên thân cây dưa lưới 34 Bảng 3.6 <sup>Kết quả về thời gian ra tua cuốn trung bình của cây dưa </sup>

Bảng 3.7 Kết quả thời gian ra hoa (ngày) của cây dưa lưới 37 Bảng 3.8 Kết quả về tổng số hoa cái và hoa đực trên cây dưa lưới 39 Bảng 3.9 Kết quả về tỷ lệ đậu quả của cây dưa lưới 40 Bảng 3.10 Kết quả về số lượng quả trên cây dưa lưới 41

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<b>DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ Hình </b>

Biểu đồ 3.1 <b>Kết quả về số lá trên cây dưa lưới </b> 27

<b>Biểu đồ 3.2 Kết quả về diện tích lá của cây dưa lưới </b> 29

<b>Biểu đồ 3.3 Kết quả về chiều cao của cây dưa lưới </b> 31

<b>Biểu đồ 3.4 </b> Kết quả về đường kính thân của cây dưa lưới 33

<b>Biểu đồ 3.5 Kết quả về số nhánh trên thân cây dưa lưới </b> 35 Biểu đồ 3.6 <sup>Kết quả về thời gian ra tua cuốn trung bình của cây </sup>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<b>MỤC LỤC </b>

PHẦN 1. MỞ ĐẦU ... 1

1.1. Lý do chọn đề tài ... 1

1.2. Mục tiêu của đề tài ... 2

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ... 2

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu ... 2

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu ... 2

1.4. Phương pháp nghiên cứu ... 2

PHẦN 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ... 3

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ... 3

1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ở Tam Kỳ ... 3

1.2. Sơ lược về cây dưa lưới ... 6

1.2.1. Nguồn gốc và phân loại cây dưa lưới ... 6

1.2.1.1. Nguồn gốc ... 6

1.2.1.2. Phân loại ... 7

1.2.2. Đặc điểm sinh học của cây dưa lưới ... 8

1.2.3. Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế của cây dưa lưới ... 9

1.2.3.1. Giá trị dinh dưỡng của cây dưa lưới ... 9

1.2.3.2. Ý nghĩa kinh tế của cây dưa lưới ... 11

1.3. Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây dưa lưới ... 12

1.3.1. Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây dưa lưới ... 12

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

1.3.1.1. Kỹ thuật trồng cây dưa lưới ... 12

1.3.1.2. Chăm sóc cây dưa lưới ... 13

2.1. Đối tượng nghiên cứu ... 21

2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ... 21

2.2.1. Địa điểm nghiên cứu ... 21

2.2.2. Thời gian nghiên cứu ... 21

2.3. Phương pháp nghiên cứu ... 21

2.3.1. Phương pháp khảo cứu tài liệu ... 21

2.3.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm ... 21

2.3.3. Phương pháp xác định các chỉ tiêu ... 22

2.3.3.1. Phương pháp xác định chỉ tiêu sinh trưởng của cây ... 22

2.3.3.2. Phương pháp xác định chỉ tiêu phát triển của cây dưa lưới ... 23

2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu ... 24

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN ... 25

3.1. Ảnh hưởng của phân bón đến các chỉ tiêu sinh trưởng của cây dưa lưới ... 25

3.1.1. Chỉ tiêu về số lá trên cây ... 25

3.1.2. Chỉ tiêu về diện tích lá ... 28

3.1.3. Chỉ tiêu về chiều cao cây ... 30

3.1.4. Chỉ tiêu về đường kính thân ... 32

3.1.5. Chỉ tiêu về số nhánh trên cây ... 34

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

3.1.6. Chỉ tiêu về thời gian ra tua cuốn của cây dưa lưới... 36

3.2. Ảnh hưởng của phân bón đến các chỉ tiêu phát triển của cây dưa lưới ... 37

3.2.1. Chỉ tiêu về thời gian ra hoa ... 37

3.2.2. Chỉ tiêu về tổng số hoa trên cây ... 38

3.2.3. Chỉ tiêu về tỷ lệ đậu quả ... 40

3.2.4. Chỉ tiêu về số quả trên cây dưa lưới ... 40

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

<b>I. MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài</b>

Cuộc sống ngày càng văn minh, hiện đại thì rau quả tươi đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe, giúp hạn chế các sai lầm mất cân đối trong khẩu phần ăn hằng ngày. Rau quả là loại cây trồng cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cần thiết và quan trọng cho con người như vitamin, muối khống, đường, tinh bột, protein, lipit… Khơng những thế, rau quả cịn giúp chúng ta tiêu hóa tốt, tạo cảm giác ngon miệng, đồng thời cũng chứa nhiều chất có khả năng làm giảm sự lão hóa của tế bào con người, qua đó giúp con người trẻ đẹp, khỏe mạnh hơn. Ngoài ra, một số rau quả cịn có khả năng chữa bệnh. Vì thế, để có một chế độ ăn uống khoa học và an toàn thì rau quả là thực phẩm không thể thiếu. Hằng năm, ngành sản xuất rau quả cung cấp cho chúng ta một lượng sản phẩm không nhỏ và là một bộ phận quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.

Ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, thì dưa là loại rau quả

<i>được ưa chuộng nhất. Dưa thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae), bao gồm các loại </i>

như dưa chuột, dưa leo, dưa hấu, dưa lưới… Quả dưa là nguồn cung cấp vitamin A, B<small>6</small>, C, K, các khoáng chất và là nguồn cung cấp dồi dào các chất xơ, folate, niacin, acid pantothenic và thiamine.

Trong các loại dưa trên thì dưa lưới là loại có hình dạng độc đáo cùng với hương vị đặc trưng được xem là loại trái cây nhiệt đới có tính giải khát cao. Dưa

<i>lưới (Cucumis melo) có hình oval ngắn (oval trịn), có lớp vỏ cứng màu lục, với </i>

những đường gân trắng đan vào nhau như lớp lưới, bên trong thịt có màu cam với một hương thơm đặc trưng, chúng có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao. Giá trị dinh dưỡng của dưa lưới phụ thuộc nhiều vào giống, chúng chứa nhiều vitamin C và Potassium. Dưa lưới được sử dụng chủ yếu để ăn tươi, ép lấy nước hoặc dùng làm món salad. Ngồi ra, dưa cịn là mặt hàng xuất khẩu đem lại lợi nhuận kinh tế cao, là nguồn nguyên liệu quan trọng để cung cấp cho các ngành công nghiệp chế biến. [11]

Nhằm phát triển giống dưa lưới ra sản xuất đại trà, đồng thời căn cứ vào nhu cầu dinh dưỡng của cây dưa đểnâng cao năng suất và chất lượng thì việc sử

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

dụng tổ hợp phân bón N, P, K hợp lý, phù hợp với quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cũng như thích hợp với điều kiện thời tiết thỗ nhưỡng tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam là việc làm cần thiết.

<i><b>Vì vậy, từ những lý do trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên </b></i>

<i><b>cứu ảnh hưởng của phân bón đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây dưa lưới (Cucumis melo.L) tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam”, </b></i>

nhằm tìm ra cách bón phân đem lại năng suất cao nhất cho cây dưa lưới.

<b>1.2. Mục tiêu của đề tài </b>

- Đánh giá ảnh hưởng của một số liều lượng phân bón khác nhau đến sinh trưởng và phát triển của cây dưa lưới.

- Đánh giá ảnh hưởng của một số liều lượng phân bón khác nhau đến năng suất và chất lượng của cây dưa lưới.

- Xác định được cơng thức bón phân thích hợp để đem lại hiệu quả cao trong sản xuất.

<b>1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu </b>

<i><b>1.3.1. Đối tượng nghiên cứu </b></i>

<i>Giống dưa lưới (Cucumis melo.L) của công ty TNHH - TM Trang Nông. </i>

<i><b>1.3.2. Phạm vi nghiên cứu </b></i>

- Địa điểm: Đề tài được thực hiện trong vụ Đông – Xuân, tại vườn thực nghiệm Sinh – Bảo vệ thực vật, khoa Lý – Hóa – Sinh, trường Đại học Quảng Nam.

- Thời gian: Từ tháng 12/2016 đến tháng 4/2017.

<b>1.4. Phương pháp nghiên cứu </b>

<i><b>1.4.1. Phương pháp khảo cứu tài liệu 1.4.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm 1.4.3. Phương pháp xác định các chỉ tiêu 1.4.4. Phương pháp xử lý số liệu </b></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

<b>II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ở Tam Kỳ </b>

<i><b>1.1.1. Vị trí địa lý </b></i>

Thành phố Tam Kỳ là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam, có tọa độ địa lý từ 15<small>0</small>56<small>’</small> vĩ độ Bắc đến 108<small>0</small>48<small>’</small> kinh độ Đông với tổng diện tích tự nhiên là 9.263,56 ha. Nằm cách thành phố Đà Nẵng 70 km về phía Nam, cách sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà 25 km, cách khu công nghiệp và nhà máy lọc dầu Dung Quất khoảng 40 km về phía Bắc.

- Phía Bắc: Giáp huyện Thăng Bình và Phú Ninh. - Phía Nam: Giáp huyện Núi Thành.

- Phía Đơng: Giáp biển Đơng. - Phía Tây: Giáp huyện Phú Ninh.

Thành phố Tam Kỳ có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Với tiềm năng địa thế đặc thù, gần các vùng kinh tế trọng điểm và sân bay Chu Lai, Tam Kỳ có được các điều kiện thuận lợi để phát triển một đơ thị lớn với vai trị là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam.

Hiện nay, thành phố Tam Kỳ gồm 13 đơn vị xã, phường (9 phường, 4 xã: Phường Tân Thạnh, Hòa Thuận, An Mỹ, An Sơn, An Xuân, Hòa Hương, Phước Hòa, An Phú, Trường Xuân và xã Tam Ngọc, Tam Phú, Tam Thăng, Tam Thanh) với diện tích tự nhiên là 9.263,56 ha, dân số 109.888 người. [27]

<i><b>1.1.2. Đặc điểm địa hình </b></i>

Thành phố Tam Kỳ nằm trên vùng đồng bằng có độ dốc nhỏ, nằm cách khu vực bờ biển khoảng 5 km. Thành phố có địa hình nhìn chung nghiêng theo hướng Tây Nam và Đông Bắc. Khu vực đơ thị của Thành phố có địa hình tương đối bằng phẳng ở phía Bắc, phía Đơng, phía Nam và có nhiều đồi núi ở phía Tây. Độ dốc trung bình của nội thị từ 2% - 4%. Cao độ trung bình của các khu vực ven sơng và khu trung tâm thay đổi từ 2,0m – 4,0m. Địa hình khu vực phía Tây của Thành phố có cao độ lớn hơn 6,0m và có những quả đồi nằm tách biệt có đỉnh ở độ cao lên tới 40m. Thành phố Tam Kỳ có dạng địa hình vùng đồng bằng

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

duyên hải Nam Trung Bộ. Là vùng chuyển tiếp từ dạng đồi núi cao phía Tây, thấp dần xuống vùng đồng bằng, thềm bồi của các con sông trước khi đổ ra biển Đơng. [27]

Đất đai có dạng đồi thấp, và đồng bằng được tạo thành do bồi tích sơng, biển và q trình rửa trơi. Hướng dốc chung của địa hình là từ Tây sang Đơng. Nhìn chung địa hình tồn khu vực bị chia cắt nhiều bởi các sông, suối thuộc lưu vực của sông Trường Giang.

<i><b>1.1.3. Chế độ khí hậu thời tiết </b></i>

Thành phố Tam Kỳ nằm trong phân vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều và mưa theo mùa. Trong năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô.

<i>1.1.3.1. Nhiệt độ và độ ẩm </i>

 Nhiệt độ

Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng trong việc trồng dưa. Giúp dưa sinh trưởng và phát triển bình thường.

- Nhiệt độ trung bình năm: 25,9<small>0</small>C.

+ Nhiệt độ trung bình cao nhất: 28 – 29,7<small>0</small>C (tháng 5 – 8). + Nhiệt độ trung bình thấp nhất: 21 – 22<small>0</small>C.

+ Biên độ nhiệt trung bình tháng: 7<small>0</small>C.

- Nhiệt độ các tháng của vụ Đông Xuân như sau: + Tháng 12 có nhiệt độ trung bình: 22,6 ºC. + Tháng 1 có nhiệt độ trung bình: 25,5 ºC. + Tháng 2 có nhiệt độ trung bình: 23,1 ºC. [28]  Độ ẩm

Độ ẩm là lượng hơi nước tồn tại trong khơng khí. Độ ẩm ảnh hưởng đến q trình sinh trưởng và phát triển đối với cây trồng.

- Độ ẩm trung bình trong năm: 86%.

+ Mùa Đông (tháng 9 đến tháng 10): độ ẩm trung bình tháng 82%. + Mùa hè (tháng 4 đến tháng 9): độ ẩm trung bình 75 – 81%. - Độ ẩm các tháng của vụ Đông Xuân:

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

+ Tháng 12 có độ ẩm trung bình là 96%. + Tháng 1 có độ ẩm trung bình là 76%. + Tháng 2 có độ ẩm trung bình là 83%. [28]

Qua số liệu trên cho ta thấy độ ẩm của các tháng là khác nhau. Độ ẩm này các VSV rất dễ phát sinh nhất là nấm và sâu bệnh hại.

<i>1.1.3.2. Mưa </i>

Lượng mưa là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình trồng trọt. Mùa mưa chủ yếu tập trung nhiều vào các tháng 9 đến tháng 12, lượng mưa chiếm 70 – 75% lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, lượng mưa chỉ chiếm 25 – 30% lượng mưa cả năm.

Cuối năm 2016 đến đầu năm 2017, với nước ta nói chung và TP Tam Kỳ nói riêng thì trong khoảng thời gian này có lượng mưa nhiều. Cụ thể như sau:

- Tháng 12: Có lượng mưa trung bình đo dược là 1205,3 mm. - Tháng 1: Có lượng mưa trung bình đo được là 495,4 mm. - Tháng 2: Có lượng mưa trung bình đo được là 167,5 mm. [28]

<i>1.1.3.3. Chế độ nắng </i>

Giờ nắng trung bình trong ngày 5 – 9 giờ.

<i>1.1.3.4. Chế độ gió </i>

Trong năm thường có các hướng gió chính như sau:

- Hướng Đơng Bắc đến Bắc: Thịnh hành từ tháng 9 đến tháng 3 với tốc độ trung bình 4 – 5m/s.

- Hướng Đơng đến Đơng Nam sau đó chuyển sang Tây đến Tây Nam trong những tháng từ 4 – 8, tốc độ gió trung bình 4 – 6m/s.

Vận tốc gió trung bình năm 2,9m/s, lớn nhất trung bình từ 18 – 20m/s, vận tốc gió cực đại khi có bão lên tới 40m/s. [28]

<i>1.1.3.5. Chế độ thời tiết đặc biệt </i>

Bão: Xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 12. Trung bình hằng năm có 0,5 cơn bão đổ bộ trực tiếp và 2 – 3 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến khu vực.

Gió Tây khơ nóng: Gió Tây Nam khơ nóng xuất hiện vào khoảng tháng 5

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

đến tháng 8, mỗi tháng có từ 10 – 15 ngày khơ nóng. [28]

<i><b>1.1.4. Chế độ thủy văn </b></i>

Do nằm trong vùng có lượng mưa lớn, hệ thống sơng ngịi trong tỉnh khá phát triển. Hệ thống sông Thu Bồn là một trong những hệ thống sông lớn của Việt Nam với tổng diện tích lưu vực khoảng 9.000 km<small>2</small>. Sơng Tam Kỳ với diện tích lưu vực 800 km<small>2</small> là sơng lớn thứ hai. Ngồi ra, cịn có các sơng có diện tích nhỏ hơn như sông Cu Đê 400 km<small>2</small>, Túy Loan 300 km<small>2</small>, Lili 280 km<small>2</small>…

Các sơng có lưu lượng dòng chảy lớn, đầy nước quanh năm, lưu lượng dịng chảy sơng Vu Gia 400m<small>3</small>/s, Thu Bồn 200m<small>3</small>/s có giá trị thủy điện, giao thông và thủy nông lớn. Hiện tại trên hệ thống sông Thu Bồn, nhiều nhà máy thủy điện công suất lớn như Sông Tranh 1 và 2, Sông A Vương, Sông Bung… đang được xây dựng góp phần cung cấp điện cho nhu cầu ngày càng tăng của cả nước. [27]

<b>1.2. Sơ lược về cây dưa lưới </b>

<i><b>1.2.1. Nguồn gốc và phân loại cây dưa lưới</b></i>

<i>1.2.1.1. Nguồn gốc </i>

Dưa lưới có nguồn gốc từ Ấn Độ và Châu Phi. Người Ai Cập là những người đầu tiên trồng loài cây này, sau đó là người Hy Lạp và La Mã. Và ngày nay dưa được trồng nhiều nơi trên thế giới. [15]

Hồ sơ rộng rãi cũng được tìm thấy trong các tác phẩm Trung Quốc cổ đại từ khoảng năm 2000 trước CN (WALTERS 1989) và các văn bản Hy Lạp và La Mã từ thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, Pangalo (1929) cho rằng các loại dưa ngọt được nhập khẩu từ Ba Tư hoặc hành lý của khách du lịch làm cho chúng xuất hiện ở Châu Âu chỉ khoảng thế kỷ XIII. [25]

Theo một số tài liệu nghiên cứu, cây dưa có nguồn gốc ở Châu Phi, người Ai Cập đã sử dụng dưa ít nhất 4000 năm. Nhà truyền giáo David Livingstone (1857) đã phát hiện thấy cả hai loài dưa ngọt và dưa đắng hoang dại sinh trưởng ở Châu Phi. Ông để ý thấy người địa phương dùng chúng như nguồn nước trong mùa khô. Ở vùng cận nhiệt đới Châu Phi vẫn còn những vùng dưa hấu rộng lớn tồn tại cho tới ngày nay.

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

Tên dưa đã được xuất hiện trong ngôn ngữ văn chương của dân tộc trên thế giới như: Ả Rập, tiếng Phạm, tiếng Tây Ban Nha…

Cây dưa lưới lần đầu tiên được Cristoforo Colombo đưa đến Bắc Mỹ trên hành trình lần thứ hai của ơng đến Tân Thế Giới vào năm 1494. [15]

Dưa lưới mới xuất hiện ở nước ta khoảng 10 năm trở lại đây. Dưa lưới là cây mới nhập nội và trong một số năm gần đây nó đã thích nghi với khí hậu nước ta, cho kết quả tốt, nhân dân ta tự để giống được. Tuy vậy, trong một số năm phẩm chất dưa lưới đã kém đi, quả to ra, mùi thơm và vị ngọt giảm, màu sắc khơng thuần. Đó là do người trồng chưa có cơng thức bón phân đúng và phù hợp với cây dưa lưới.

Dưa lưới có nguồn gốc từ Đài Loan là giống mới được nhập nội và trồng tại Việt Nam trong một vài năm gần đây và đã cho kết quả khá khả quan về năng suất, chất lượng quả, giá thành bán cao do đó được người trồng rất quan tâm. Tuy nhiên, vấn đề của sản xuất hiện nay là chúng ta chưa có bộ giống tốt, chưa có quy trình canh tác cũng như quy trình sử dụng phân bón cụ thể cho cây dưa nên năng suất, chất lượng của dưa lưới khơng cao, trong đó ngun nhân chính có thể là do dinh dưỡng cung cấp cho cây chưa phù hợp với sự sinh trưởng của cây dưa lưới.

<i>1.2.1.2. Phân loại </i>

<i>Dưa lưới cịn được gọi là dưa vàng, có tên khoa học là Cucumis melo.</i>

- Giới : Plantae

- Ngành : Magnoliophyta - Lớp : Dicotyledoneae - Bộ : Cucurbitales - Họ : Cucurbitaceae - Chi : Cucumis - Loài : melo - Phân loài : melo

- Thứ : cantalupensis. [15]

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

<i><b>1.2.2. Đặc điểm sinh học của cây dưa lưới </b></i>

<i><b>Hình 1. Cây dưa lưới (Cucumis melo.L) </b></i>

<i>- Thân: Dưa lưới có dạng thân bị hoặc leo. Thân rỗng, sinh trưởng khỏe, </i>

cao từ 2 – 5m, phân thành nhiều nhánh. Trên thân có nhiều lơng tơ màu trắng. Thân có nhiều mắc, mỗi mắc có 1 lá, 1 chồi nách và vịi bám. Chồi nách có khả năng phát triển thành nhánh như thân chính, chồi gần gốc phát triển mạnh hơn

<b>chồi gần ngọn. </b>

<i>- Lá: Có hai dạng lá là lá mầm và lá thật. Lá mầm là lá ra đầu tiên, tồn tại </i>

trong suốt q trình sinh trưởng của cây, ni cây trong giai đoạn đầu, lá có hình oval hay hình trứng. Lá mầm là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự sinh trưởng của cây ở giai đoạn đầu. Lá mầm to dày, phát triển cân đối hứa hẹn cây sinh trưởng mạnh, lá mầm nhỏ, mỏng, mọc không cân đối cây sẽ sinh trưởng yếu. Lá thật là lá đơn, hình trái tim.

<i>- Rễ: Rễ dưa lưới phát triển rất mạnh, rễ chính có thể ăn sâu từ 50 -120cm, </i>

rễ phụ ăn lan rộng trên lớp đất mặt cách gốc 60 - 80cm. Rễ khơng có khả năng phục hồi do đó khi chăm sóc tránh làm đứt rễ.

<i>- Hoa: Là hoa đơn tính cùng cây, màu vàng có 5 cánh dính, 5 lá đài, hoa </i>

mọc đơn từ nách lá. Hoa cái có bầu nỗn hạ, vịi nhụy ngắn, đầu nhụy có xẻ 3

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

thùy. Hoa đực có 3 – 5 tiểu nhị, chỉ nhị ngắn. Hoa lưới thụ phấn nhờ côn trùng. Trên cây dưa lưới hoa đực nhiều hơn hoa cái, cứ 6 - 7 hoa đực có 1 hoa cái, hoa đực thường nở trước hoa cái.

<i>- Quả: Hình ơval, da quả màu xanh, khi chín thương phẩm ngã xanh vàng </i>

và có các đường gân trắng đan xen như lưới nên có tên gọi là vân lưới. Thịt quả dưa vân lưới màu vàng da cam nghiêng vàng đỏ như đu đủ rất hấp dẫn và giàu Caroten, ăn giòn, mát và thơm ngọt, hàm lượng đường cao đạt bình quân 15 - 16 độ đường. Vỏ quả dưa vân lưới đầy, cứng rất dễ vận chuyển mà không sợ giập nát. [4], [21]

<i><b>1.2.3. Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế của cây dưa lưới </b></i>

<i>1.2.3.1. Giá trị dinh dưỡng của cây dưa lưới </i>

Các loại rau nói chung và dưa nói riêng là loại thực phẩm cần thiết trong đời sống hằng ngày và không thể thay thế. Rau được coi là nhân tố quan trọng đối với sức khỏe và đóng vai trò chống chịu bệnh tật. Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà dinh dưỡng học trong và ngoài nước thì khẩu phần ăn của người Việt Nam cần khoảng 2300-2500 Calo năng lượng hằng ngày để sống và hoạt động. Rau không chỉ đảm bảo cung cấp chỉ số Calo trong khẩu phần ăn cho con người mà còn cung cấp cho cơ thể các loại vitamin và các nguyên tố đa lượng, vi lượng không thể thiếu được cho sự sống của mỗi cơ thể. Hàm lượng vitamin trong rau khá cao lại dễ kiếm. [1]

Cây dưa có giá trị dinh dưỡng khá cao. Tuy nhiên giá trị dinh dưỡng của dưa lại phụ thuộc vào giống.

Dưa đỏ là một nguồn cung cấp tuyệt vời của beta-carotene, acid folic, kali, vitamin C và chất xơ.

Phần cùi của dưa lưới có chứa đường, tinh bột, vitamin C, vitamin B, carotene. Bên cạnh đó, dưa lưới rất giàu sắt, canxi, kali, natri, magiê. Vì thế, dưa lưới rất có lợi cho người bị kiệt sức, thiếu máu, xơ vữa động mạch và các bệnh về tim.

Ngồi ra, dưa lưới cịn là một phương thuốc lợi tiểu. Dưa lưới là nguồn chứa chất chống oxy hóa dạng polyphenol, là chất có lợi cho sức khỏe trong việc

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

phòng chống bệnh ung thư và tăng cường hệ miễn dịch. Các chất này điều tiết sự tạo thành nitric oxit, một chất quan trọng đối với nội mạc và các nguy cơ tim mạch.

Dưa lưới là nguồn cung cấp vitamin C dồi dào. Trong dưa hàm lượng nước chiếm tới 90%. Trong dưa lưới cịn có một số chất như: chất xơ (0,9g), chất béo (0,19g), axit pantothenic (0,105g), vitamin E (0,05mg), vitamin K (2,5mg)… [15]

<b>Bảng 1. Thành phần dinh dưỡng trong 100g dưa lưới. [15] Chất dinh dưỡng Khoáng (mg) Vitamin (mg) </b>

Theo các nhà nghiên cứu Pháp, trong dưa lưới có enzyme superoxyd dismutase (SOD) giúp cải thiện những dấu hiệu stress về thể chất lẫn tinh thần. SOD được xem như một enzyme mạnh hơn các vitamin chống ơxy hóa khác. Nó kích thích sản xuất kháng thể trong cơ thể, giảm tỷ lệ cholesterol xấu, ngăn ngừa xơ cứng và giúp giảm cân. Beta caroten sẽ chuyển thành vitamin A, có vai trị quan trọng đối với thị giác, sức khỏe của da và niêm mạc. [20]

Dưa lưới rất giàu beta-caroten có thể giảm nguy cơ ung thư thực quản, thanh quản và phổi. Dưa lưới chứa nhiều hợp chất adenosine, được sử dụng ở bệnh nhân bị bệnh tim như một chất làm loãng máu và nó cũng là liều thuốc giảm thiểu những cơn đau thắt ngực.

Theo Ðông y, dưa vàng có vị ngọt nhạt, tính hàn, hoạt chất có lợi cho tràng vị, giải rượu, ngộ độc. Lưu ý, người bệnh cảm sốt hoặc mới chớm khỏi bệnh, phụ nữ vừa sinh con trong tháng, tạng hàn thì kiêng dùng dưa lưới.

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

Tuy nhiên, theo lời của bà Nhina Taranhenko - chủ nhiệm khoa nội bệnh viện Kiev, cần phải biết sử dụng loại hoa quả này. Không nên ăn dưa lưới như ăn dưa hấu. Ðây không phải là loại đồ ăn nhẹ. Những người bị bệnh tiểu đường, béo phì, bị viêm ruột mãn tính, các bệnh về gan và thận không nên ăn dưa lưới. Bạn nên rửa dưa lưới trước khi cắt, bổ hay gọt tỉa vì bề mặt của dưa lưới có thể chứa vi khuẩn có hại. [20]

<i>1.2.3.2. Ý nghĩa kinh tế của cây dưa lưới</i>

Dưa là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao: Giá trị sản xuất 1ha dưa gấp 2-3 lần so với 1ha lúa [1]. Hiệu quả lớn hay nhỏ cịn phụ thuộc vào trình độ thâm canh của người dân, công nghệ sản xuất, kinh nghiệm và chủng loại dưa. Ở Việt Nam, cũng đã có một số mơ hình sản xuất và xuất khẩu rau, hoa, quả đạt giá trị sản xuất 400-500 triệu đồng/ha/năm, cao hơn gấp 10 lần so với trồng lúa và các cây trồng khác. Nhìn chung, cây dưa có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể trồng nhiều vụ trong năm do đó sản lượng trên đơn vị diện tích tăng.

Cây dưa lưới là loại rau ăn quả có hiệu quả kinh tế cao và là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước như Mỹ, Brazil, Israel...

Ðồng thời đây cũng là loại cây trồng quan trọng trong kế hoạch chuyển dịch cơ cấu cây trồng của nhiều địa phương bởi kỹ thuật trồng dưa đơn giản, cho năng suất cao, có thị trường tiêu thụ khá lớn và ổn định.

Năm 2013, tại Lam Sơn (Thọ Xuân - Thanh Hoá), giống dưa Vàng Kim Hoàng Hậu được nhập khẩu từ Ðài Loan, mỗi cây chỉ cho một quả duy nhất. Riêng vụ mùa Ðông Xuân 2013-2014, sản lượng dưa đạt hơn 7 tấn quả trên tổng diện tích 2.500 m<small>2</small>. [13]

Tại Hải Dương, giống dưa bở Vàng thơm Số 1 sai quả, số quả/cây giao động 1,7-2,1 quả, khối lượng quả từ 1,32-1,39 kg/quả rất thơm cho năng suất ổn định trong điều kiện đồng ruộng, đạt 28-30 tấn/ha. Giống có dạng quả đẹp, màu sắc hấp dẫn, chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng. [14]

Lạng Sơn: Vụ Xuân Hè năm 2013, giống dưa lê Kim Cơ Nương có quả hình Oval, vỏ trơn, khi chín có màu vàng kim, ruột màu vàng, cùi giịn, ngọt mát, có thời gian sinh trưởng từ 58-60 ngày, khả năng sinh trưởng và phát triển tốt tại

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

Lạng Sơn cho năng suất, chất lượng cao. Trọng lượng quả khi thu hoạch đạt từ 1,1-1,5 kg, hàm lượng đường đạt 15% -18%, chất lượng quả tốt. Trong điều kiện sinh thái của tỉnh Lạng Sơn có thể trồng mỗi năm 2 vụ dưa, kết hợp với 1 vụ trồng cây khác. Với phương pháp canh tác như vậy, trên 1 sào đất mỗi năm bà con trồng từ 700–800 cây dưa/vụ kết hợp 1 vụ trồng ớt ngọt, hoặc cà chua hay hoa tươi có thể cho thu nhập trên 70 triệu đồng. [14]

Mơ hình trồng dưa trong nhà lưới cải tiến đang mang lại hiệu quả cho bà con nông dân ở nhiều địa phương. Áp dụng mơ hình này, bà con khơng cần một hệ thống nhà kính, nhà lưới kiên cố để trồng dưa, đồng thời lại rất cơ động và hạn chế thấp nhất sâu, bệnh hại cây [7]. Nhờ vậy, giúp người dân giảm chi phí, tăng năng suất và hiệu quả kinh tế. Mỗi ha trồng khoảng 2,53 vạn cây dưa. Như vậy, chúng ta có thể thu hoạch xấp xỉ 60 tấn dưa. Với giá bán 15.000-25.000/1kg như hiện nay, 1ha dưa thu nhập tới vài trăm triệu. Trừ chi phí đầu tư, nếu làm khéo thì chỉ khoảng 1,5-2 năm là người trồng có thể hồn vốn cho chi phí xây dựng nhà lưới. Hiện nay, mơ hình trồng dưa chất lượng cao, sạch bệnh và an toàn thực phẩm đang là hướng phát triển mới, bền vững. Mô hình này giúp đẩy mạnh sản xuất tiến tới nền nơng nghiệp cơng nghệ cao, góp phần nâng cao thu nhập cho người sản xuất.

<b>1.3. Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây dưa lưới </b>

<i><b>1.3.1. Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây dưa lưới</b></i>

<i>1.3.1.1. Kỹ thuật trồng cây dưa lưới </i>

<i><b>- Ươm hạt: Ngâm hạt trong nước ấm qua đêm, sau đó cho vào khăn ẩm </b></i>

<b>gói lại. Sau 36 giờ thì hạt nứt nanh và bắt đầu nảy mầm. </b>

Chuẩn bị bầu ươm hạt, dùng ly nhựa tiện lợi để ươm cây. Dùng phân chuồng, phân lân và đất xốp nhẹ đã xử lý sạch mầm bệnh, trộn đều nhau theo tỷ lệ 30%+10%+60%, tưới ẩm đất. [8]

Đếm số hạt nảy mầm, sau đó đem gieo hạt vào ly nhựa. Gieo vào bầu 1hạt/1 bầu. Thời gian ươm khoảng 7-10 ngày (vụ thu đơng), 15 ngày đối với vụ Xn, khi cây có 1-2 lá thật đem gieo trồng.

<i><b>- Làm đất: Dưa lưới có thể trồng được trên nhiều loại đất, nhưng tốt nhất </b></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

là đất cát pha, đất thịt nhẹ, tơi xốp và có độ màu mỡ cao. Nên chọn những chân đất có nguồn nước tưới chủ động. Có điều cần chú ý là dù là đất tốt cũng không nên trồng liên tiếp nhiều vụ, năm này sang năm khác. Sauk hi trồng một vài vụ nên luân canh với cây lúa nước hoặc một số cây trồng khác như hành, ngị, rau cải… (khơng luân canh với những cây thuộc họ bầu bí, mướp, các loại dưa…) để hạn chế sâu bệnh phá hại.

Ðất được làm tơi xốp, sạch cỏ rác, san bằng đất, lên luống rộng khoảng 1,0 – 1,2m, cao 0,2 – 0,25m (Làm luống cao để tránh ngập úng khi mưa lớn). Sau đó, bón lót bằng phân trùn quế, phân hữu cơ và phân vô cơ trước khi đem cây

<b>con ra trồng. </b>

<i>- Mật độ: Vào mùa khô là hàng kép kiểu nanh sấu, đạt 2500 – 2700 </i>

cây/1000 m<small>2 </small>; mùa mưa trồng hàng kép đạt 2200 – 2500 cây/1000 m<small>2</small> [9]. Dưa leo giàn nên trồng hàng đơn hay hàng đôi đều được, mùa thuận nên trồng dày để có năng suất cao, mùa nghịch nên trồng thưa để dễ chăm sóc, phịng trừ sâu bệnh.

<i>- Trồng cây ra đất: Nên trồng vào buổi chiều mát, đặt cây nhẹ nhàng để </i>

tránh tổn thương cây con, không nén quá chặt, trồng xong phải tưới nước ngay.

<i><b>- Phân bón: </b></i>

<i> + Bón lót: Mỗi ha bón 10 tấn phân hữu cơ + 100kg urê + 250kg super </i>

<b>lân + 50kg KCl. </b>[2]<b> </b>

<i> + Bón thúc: Sau trồng 3 - 4 ngày hòa phân tưới: 10g urea + ngâm ít phân </i>

lân hoặc DAP pha lỗng/10 lít nước, tưới nhiều lần cho dưa. Khi dưa có 4 - 5 lá chuẩn bị leo hoặc bị, bón rải cách xa gốc 20cm, mỗi gốc từ 5 – 10g urê + 5 – 10g NPK 16-16-8, lấp đất lại [3]. Tiến hành cắm giàn và buộc ngọn dưa cho leo. Sau khi định quả khoảng 10 ngày bón ni quả bằng NPK dùng loại phân có tỷ lệ lân và kali cao. Mỗi gốc bón khoảng 10g, đào rãnh cách gốc 20cm hoặc khoét lỗ rồi lấp đất lại và tưới nước cho cây. Lúc này cũng có thể bón bổ sung phân hữu cơ giúp cho tăng năng suất và chất lượng quả. [18]

<i>1.3.1.2. Chăm sóc cây dưa lưới </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

<i><b>- Giai đoạn cây con: </b></i>

Tưới đủ nước, che mưa và nắng gắt. Đặt nơi thơng thống.

Sau khi trồng ra đất cần che nắng gắt và mưa lớn, tưới đủ nước, thường xuyên làm cỏ và xới đất quanh gốc.

<i><b>- Giai đoạn ra nhánh: </b></i>

Bắt đầu làm giàn khi cây bắt đầu mọc ra tua cuốn. Dưa lưới là loại cây thân leo, do đó việc làm giàn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất cũng như chất lượng của trái.

Trồng xung quanh ô 6 cây tre cao khoảng 2m, dùng dây thép quấn quanh 6 cây tre này cho cố định chắc chắn, phía trên phủ một lớp lưới (ơ 20×20cm), dùng cây tre dài khoảng 2m, rộng khoảng 3cm cắm cách gốc dưa lưới 7 – 10 cm để dưa bu lên giàn.

Khi cây bắt đầu ra tua cuốn ta làm cỏ, xới đất quanh gốc và bón thúc lần 1.

 Tỉa nhánh:

Các nhánh ra từ lá thứ 1 đến lá thứ 8 bấm tỉa, từ lá thứ 9 đến lá thứ 12 mới để nhánh ra hoa. Nhánh sau khi ra hoa để thêm 1 lá nữa mới bấm ngọn nhánh. Từ lá thứ 23 đến lá thứ 25 mỗi nhánh để 1 lá sau đó bấm ngọn nhánh. Mỗi nhánh cây để 1 quả. [19]

Chỉ bấm ngọn thân chính khi cây dưa lưới được 22-25 lá.

<i><b>- Giai đoạn ra hoa: </b></i>

Khi bắt đầu xuất hiện nụ, ngừng tưới nước trên lá, chỉ tưới gốc vào sáng sớm và chiều tối, làm cỏ và xới đất quanh gốc.

<i><b>- Giai đoạn tạo quả: </b></i>

Khi hoa bắt đầu nở rộ, cả hoa đực và hoa cái nở, bắt đầu thụ phấn cho hoa cái bằng cách ngắt hoa đực, bỏ cánh và chụm nhị hoa đực vào đầu nhụy hoa cái sao cho phấn hoa bám vào núm nhụy.

Tưới nước vào gốc cây mỗi sáng sớm và chiều tối, làm cỏ, xới đất quanh gốc cây cho rễ được thống khí.

Sau khi thấy trái đậu số lượng nhiều tiến hành bón thúc lần 2.

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

Khi vỏ quả xuất hiện vân (sau khi đậu quả khoảng 20 ngày) phải giữ cho mặt đất khô ráo để tránh quả bị nứt hoặc thối. Thời gian quả chín cũng phải giữ cho đất khô ráo quả mới đạt chất lượng tốt.

<i><b>1.3.2. Kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh</b></i>

<i>1.3.2.1. Sâu hại </i>

<i>- Bọ trĩ (Thrip palmi) đây là loa ̣i côn trùng đặc biệt nguy hiểm với trồng </i>

dưa lưới. Đối với loa ̣i này dùng các thuốc Polytrin, Confidor 100SL, Admire 050EC, Oncol, Regent…

<i>- Dòi đục lá (Liriomyza trifolii): Polytrin, Bulldock 025EC, Baythroid </i>

50EC, Cyper MapEC…

<i>- Sâu ăn tạp (Spodoptera littura): Bulldock 025SL, Sumicidin, Mimic 20F, </i>

Viphensa.

<i>- Rầy mềm (Aphis gossypii và Myzus persicae) là loa ̣i vetor truyền bê ̣nh </i>

phấn trắng trên dưa lưới: Confidor100SL, Admire 050EC, Bulldock 025EC… [16]

<i>1.3.2.2. Bệnh hại </i>

<i>- Bệnh nứt thân chảy nhựa (Mycosphaerella melonis): Phun hay tưới </i>

Benlate, CopperB 23% vào gốc. Phun trị bằng: Score, Ridomil, Antracol 75WP, Topsin, Ridomil, Cuproxat, Aliette 80WP, Mancozeb, Fusin… Mă ̣t khác cần giảm lượng nước và phân đa ̣m.

<i>- Bệnh thối gốc, lở cổ rễ (Rhizoctonia solani và Fusarium solani): Bón </i>

vơi, luân canh với cây trồng nước đối với trồng dưa lưới trên đất. Phun phòng trị: Topsin, Cuproxat, Ridozeb, Rovral, Polygram, Monceren 250SC, Validacin 3SC, Ridomil…

<i>- Bệnh thối rễ héo dây (Phytopthora sp): Phun Polygram DT80, Ridozeb </i>

72WP , Cuproxat, Ridomin, Score…

<i>- Bệnh sương mai (Pseudoperonospera): Phun Bayfidan 250EC, Antracol </i>

70WP, Ridomin 25WP, Daconil 75WP, Aliette 80WP, Polygram DF80, Cuproxat...

<i>- Bệnh phấn trắng (Erysiphe cichoracearum): Phun Benlate 0,01%, Topsin </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

0,1%, Anvil, Kulumus, Tilt- super, BavistinFL, Carbenda 50SC . . .

<i>- Bệnh thán thư (Colectrotrichum lagenarium): Phun Antracol 70WP phun </i>

7 -10 ngày/lần, Zineb, Cuproxat hoặc Mancozeb. [16], [17]

<i><b>1.3.3. Ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh đến sự sinh trưởng và phát triển của cây dưa lưới</b></i>

Trong suốt thời gian sinh trưởng và phát triển, cây dưa vàng chịu tác động của nhiều yếu tố ngoại cảnh như: Nhiệt độ, ánh sáng, nước, đất đai.

 Về nhiệt độ và nước

Nhiệt độ thích hợp 17-33<small>0</small>C, phạm vi tối thích tương đối rộng cho nên có thể gieo trồng ở hầu hết các tháng trong năm trừ những ngày giá rét (<15<small>0</small>C). Do đó, thời vụ gieo trồng cây này có thể kéo dài từ giữa mùa xuân tới giữa mùa thu hằng năm. Nhưng thời vụ gieo trồng chính của nhiều nơi lại là khoảng tháng 2-3 dương lịch và được thu quả khoảng tháng 5 - 6.

Ðộ ẩm đất thích hợp 75-80%. Dưa vân lưới ưa thời tiết mát mẻ, không trồng được ở vụ có nền nhiệt độ cao, thời kỳ quả đậu được 15-20 ngày không được tưới quá ẩm và không để đọng nước. [22]

 Về ánh sáng

Cũng như các loại dưa khác, khi trời âm u, ít ánh sáng, lại có mưa phùn thì cây con (2- 3 lá thật) dễ bị mắc bệnh thối nhũn, lở cổ rễ. Cây dưa cũng phát triển kém trong điều kiện ánh sáng yếu, nhiệt độ cao, đặc biệt giảm tỷ lệ đậu quả, phẩm chất giảm. Ðất không thông thống, bị che lấp ánh sáng khơng nên trồng dưa lưới. [10]

 Đất đai và dinh dưỡng

Dưa ưa đất thịt nhẹ và cát pha nhất là đất phù sa, đất cát pha và thịt nhẹ vừa thoát nước tốt, giữ được dinh dưỡng vừa điều hoà được nhiệt độ đất, thúc đẩy quá trình phát dục giúp dưa nhanh có quả, màu sắc đẹp và chất lượng ngon. Ðất trồng dưa lưới cần chọn đất chân cao, đất tốt, đất thịt nhẹ hay cát pha. Ðất xấu, đất cát cần tăng thêm phân bón lót và tăng thêm lần bón thúc. Ðất sét, đất thịt nên xới xáo nhiều hơn và bón tăng phân hữu cơ. Ðất cần ln ln ẩm, song lại phải thật thốt nước. Sau mỗi trận mưa rào, nước cần được tháo bỏ nhanh. Dưa lưới không cần

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

luân canh triệt để như dưa hấu nhưng trồng liên tục trên một mảnh đất cũng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng vì thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết và bị phá hoại bởi mầm mống sâu bệnh còn lại trong đất, tàn dư thực vật vụ trước. [10]

<b>1.4. Tình hình nghiên cứu về cây dưa lưới trên thế giới và ở Việt Nam </b>

<i><b>1.4.1. Trên thế giới</b></i>

<i>Dưa lưới (Cucumis melo L.) được xem là loại trái cây số một tại Châu Âu </i>

và chiếm giữ vị trí quan trọng trên thị trường này trong suốt 25 năm qua. Trong

<i>đó, Galia muskmelon (Cucumis melo L. var. Reticulatus Ser.) là giống dưa lai F1 </i>

nổi tiếng và được ưa chuộng nhất. Kể từ khi được giới thiệu ra thị trường năm 1973 bởi nhà chọn giống người Israel (Zvi Karchi), “Galia” đã trở thành tên thương mại để gọi chung cho hơn 60 giống dưa lưới có hình dạng tương tự (vỏ quả màu xanh hoặc hơi vàng, vỏ có lưới, ngọt và có mùi thơm). Dưa lưới được trồng nhiều ở Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Ma Rốc, Ai Cập, Trung Ðơng và một số quốc gia Châu Á. Trong đó, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Ma Rốc và Israel là những quốc gia xuất khẩu dưa lưới hàng đầu cho thị truờng Châu Âu.

Nghiên cứu ảnh hưởng của kali đối với năng suất và chất lượng của dưa lưới trồng trong nhà kính tại Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy việc thay đổi hàm lượng K<small>2</small>O ở các mức 200, 400, 600 ppm không làm ảnh hưởng đến năng suất. Tuy nhiên, số quả và độ chắc của quả ở cơng thức bón 400, 600 ppm cao hơn cơng thức cịn lại. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng để tác động lên năng suất không cần thiết phải sử dụng K<small>2</small>O vượt qua mức 300 ppm. Thế nhưng với mục tiêu cải thiện chất lượng quả có thể tăng hàm lượng K<small>2</small>O lên tới 600 ppm mà không làm ảnh hưởng đến năng suất.

Các tài liệu cơng bố về cơng thức phân bón cho dưa lưới cũng có sự khác nhau. Trường Ðại học Florida đưa ra cơng thức phân bón dùng cho dưa lưới trồng trong nhà màng, tưới qua hệ thống nhỏ giọt với nồng độ N nguyên chất thay đổi tăng dần từ 80 - 180 ppm theo giai đoạn sinh trưởng của cây, K<small>2</small>O từ 150-225 ppm và P<small>2</small>O<small>5</small> là 50 ppm. Hartz và cs (1999), cho biết tổng lượng nước tưới nhỏ giọt cho dưa lưới thực hiện năm 1995 và 1996 tương ứng là 530 và 490 mm, dung dịch phân bón với tỷ lệ N:P:K là 5:3:8 và vi chất dinh dưỡng, tất cả

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

được hịa tan vào nước rồi bón cho cây thơng qua hệ thống tưới nhỏ giọt, tổng lượng phân N khoảng 0,035 kg/m<small>2</small>. [22]

Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều những thành tựu của các nhà khoa học về việc nghiên cứu, chọn, tạo ra những giống dưa lưới thích hợp với từng vùng sinh thái, từng mùa vụ, từng mục đích sử dụng khác nhau. Với nhiều con đường khác nhau như lai tạo, chọn lọc hợp tử, gây đột biến nhân tạo… bước đầu tạo ra những kết quả khả quan. [5]

Ðặc biệt bằng công nghệ gen, các nhà khoa học Pháp và Tây Ban Nha đã hoàn thành bản đồ một phần của các phân đoạn của chuỗi DNA dưa, DNA được chiết xuất từ mô lá thu 21 ngày sau khi trồng. Các nhà nghiên cứu Texas kết nối những phân đoạn với những phát hiện mới trong nghiên cứu của họ để hoàn thành toàn bộ bản đồ hệ gen của dưa. Bản đồ di truyền sẽ rất hữu ích cho các nghiên cứu trong tương lai trong việc xác định vị ngọt trái cây, chất lượng, kích

<b>cỡ, hình dạng và sức đề kháng với bệnh tật. [26] </b>

<i><b>1.4.2. Ở Việt Nam </b></i>

Ở nước ta trong những năm gần đây công tác nghiên cứu và chọn tạo giống dưa đang được quan tâm và đạt được những thành công đáng kể. Các nhà khoa học đã chọn tạo ra nhiều dịng, giống dưa thích ứng với điều kiện tự nhiên của nước ta, chúng có khả năng cho năng suất cao, phẩm chất tốt. Ðặc biệt là nghiên cứu và chọn tạo những giống dưa vụ Xuân hè. Ðây là hướng đi đúng hướng để chọn tạo giống dưa thích hợp, tạo ra lượng sản phẩm lớn để cung cấp cho thị trường đang trong thời kỳ khan hiếm.

Hiện nay, dưa lưới được trồng bằng nhiều biện pháp khác nhau như: Trồng dưa bằng biện pháp thủy canh, cải tiến quy trình trồng dưa ngồi đồng, trong nhà có mái che, nhập nội giống có năng suất cao… Tuy nhiên, cho đến nay chưa có giống dưa nuôi cấy mô hay chuyển gen được đưa ra đánh giá ở trên diện rộng ngồi đồng ruộng. Cơng tác nghiên cứu về dưa được thực hiện chủ yếu trên các lĩnh vực:

- Khảo nghiệm những giống dưa có phẩm chất tốt, phù hợp với khí hậu

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

nhiệt đới của nước ta.

- Thu thập, nhập nội nguồn gen các giống dưa tạo cơ sở cho lai tạo và nghiên cứu.

- Tạo nguồn vật liệu bằng lai tạo và xử lý đột biến bằng các tác nhân hóa học.

- Chọn tạo các giống dưa cho chế biến và sản xuất trái vụ.

- Bước đầu nghiên cứu rau sạch (hàm lượng Nitrat, dư lượng thuốc hóa học BVTV, hàm lượng kim loại nặng và VSV dưới ngưỡng cho phép).

- Tập trung việc phát triển các giống dưa tốt về sản lượng, chuyển giao công nghệ sản xuất dưa cho nông dân.

Vụ Xuân hè 2013, bộ môn Rau – Hoa – Quả khoa Nông học, trường Ðại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trồng thử nghiệm giống dưa lưới Kim Hoàng Hậu do Viện cây lương thực cung cấp. Ðây là giống dưa lưới có khả năng sinh trưởng tốt, mọc đều, cây khỏe, có khả năng cho năng suất cao. Sau trồng 75 ngày, cây bắt đầu cho thu hoạch quả. Tuy nhiên, để đảm bảo cây cho năng suất quả cao, chất lượng tốt trong vụ Hè cần chú ý phòng trừ sâu bệnh hại kịp thời như bệnh thối gốc, ruồi đục quả. [12]

Năm 2012, nhóm các nhà khoa học của Viện cây lương thực và cây thực phẩm (Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam) vừa thực hiện thành công phương pháp chọn lọc cá thể đồng dạng từ các mẫu giống dưa bở nhập nội năm 1997, để tạo thành giống dưa bở vàng số 1. Theo các nhà khoa học, giống dưa này rất thích hợp trồng trong cơ cấu cây rau màu vụ Xuân hè, vụ Hè (gieo hạt từ ngày 20/3 đến ngày 5/5) ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Hiện giống đã được Bộ NNPTNT công nhận tạm thời. Dưa bở vàng số 1 có thời gian sinh trưởng từ 70-75 ngày, dạng hình khỏe, thân, lá xanh đậm, khả năng phân nhánh trung bình, năng suất ổn định đạt 33,7-34,8 tấn/ha. Quả dưa bở vàng số 1 có dạng trịn cao, khối lượng quả đạt 1,2-1,3kg, khi chín vỏ có màu vàng sẫm, cùi dày, màu trắng ngà và rất thơm. Tuy nhiên, nhược điểm của giống dưa này là khả năng chịu lạnh kém. [23]

Năm 2012, tại Viện cây lương thực – cây thực phẩm (Viện Khoa học nông

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

nghiệp Việt Nam) đã trồng thử nghiệm mơ hình giống dưa lưới Kim Cơ Nương. Dưa lưới Kim Cơ Nương có nguồn gốc từ Ðài Loan, là giống dưa mới được nhập nội và trồng ở Việt Nam trong một vài năm gần dây. Giống dưa này đã cho kết quả khá khả quan về năng suất, chất lượng quả, giá thành bán cao do đó được người trồng trọt rất quan tâm. Dưa lưới Kim Cô Nương có thời gian sinh trưởng 58-60 ngày. Trọng lượng quả từ: 1,1-1,5 kg. Dạng quả hình Oval, vỏ trơn, khi chín có màu vàng kim, ruột màu trắng, cùi giòn, ngọt mát, chất lượng tốt, rất được ưa chuộng hiện nay.

Giống dưa này có thể trồng quanh năm, nhưng thích hợp nhất trong vụ Xuân hè. Ðây là mô hình đang cho hiệu quả kinh tế cao, có thể áp dụng trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng. [24]

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

<b>CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU </b>

<b>2.1. Đối tượng nghiên cứu </b>

<i>- Giống dưa lưới (Cucumis melo.L) của công ty TNHH - TM Trang Nông </i>

- Phân sử dụng: Phân urea, phân lân super, phân kali.

<b>2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu </b>

<i><b>2.2.1. Địa điểm nghiên cứu </b></i>

- Đề tài được thực hiện trong vụ Đông – Xuân, tại vườn thực nghiệm Sinh – Bảo vệ thực vật, khoa Lý – Hóa – Sinh, trường Đại học Quảng Nam.

<i><b>2.2.2. Thời gian nghiên cứu </b></i>

- Từ tháng 12/2016 đến tháng 4/2017.

<b>2.3. Phương pháp nghiên cứu </b>

<i><b>2.3.1. Phương pháp khảo cứu tài liệu </b></i>

Tìm hiểu tài liệu trong sách, báo, tạp chí khoa học, các đề tài đã nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến các loại cây trồng, thơng tin trên mạng…

<i><b>2.3.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm </b></i>

Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD) với 4 công thức và 3 lần nhắc lại. Diện tích ơ như sau:

+ Diện tích ơ: 1.08 m<small>2</small><b> (1.2 m x 0.9 m). Mỗi ơ thí nghiệm trồng 4 cây. </b>

+ Diện tích mỗi cơng thức thí nghiệm: 3 x 1.08 m<small>2 </small>= 3.24 m<small>2</small>. + Diện tích thí nghiệm: 4 x 3.24 m<small>2</small>= 12.96 m<small>2</small>

+ Diện tích cách li và bảo vệ: 9.74 m<small>2 </small>

+ Tổng diện tích thí nghiệm: 22.7 m<small>2 </small>

 Sơ đồ bố trí thí nghiệm: I

II III

Trong đó:

- CT1 (đối chứng): khơng bón phân vơ cơ.

- CT2 (tính cho 500 m<small>2</small>): 12,5 kg urea + 25 kg lân super + 7,5 kg kali.

</div>

×