Tải bản đầy đủ (.doc) (76 trang)

Kế toán tập hợp chi phí sản xuất & tính giá thành sản phẩm tại Công ty tư vấn đầu tư & thiết kế xây dựng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (339.54 KB, 76 trang )

Lời mở đầu
Nớc ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trờng điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp sản
xuất đặc biệt là doanh nghiệp quốc doanh phải năng động để thích nghi với cơ chế
mới. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các nghiệp đều phải thực hiện theo chế
độ tự hạch toán kinh doanh, xoá bỏ chế độ quản lý quan liêu bao cấp, tự lấy thu bù chi
đảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi. Để quản lý một cách có hiệu quả và tốt nhất đối
với các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá hay dịch vụ, Các doanh nghiệp đều
phải sử dụng đồng thời hàng loạt các công cụ quản lý khác nhau. Trong đó, kế toán đ-
ợc coi là một công cụ hữu hiệu nhất.
Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, là
điều kiện quan trọng không thể thiếu đợc trong công tác quản lý tài chính doanh
nghiệp để kiểm tra, giám sát vật t, lao động, tiền vốn. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm là hai quá trình liên quan mật thiết với nhau, việc phấn đấu
tiết kiệm chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một mục tiêu quan trọng không
những của mọi doanh nghiệp mà là vấn đề quan tâm của toàn xã hội
Qua thời gian thực tập, tìm hiểu thực tế công tác kế toán tại công ty t vấn đầu t và
thiết kế xây dựng (công ty vừa có chức năng thi công nội ngoại thất, vừa có chức năng
t vấn thiết kế và khảo sát địa chất). Trong đó chức năng thi công nội ngoại thất là chức
năng chính của công ty. Đợc đối diện với thực trạng quản lý kinh tế của đơn vị, kết hợp
giữa lý luận và thực tiễn về tầm quan trọng của công tác kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm, em đã mạnh dạn đi sâu tìm hiểu và lựa chọn đề tài
kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty t
vấn đầu t và thiết kế xây dựng.
Nội dung chính đề tài gồm 3 chơng:
Chơng I: Một số vấn đề lý luận về công tác tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm
Chơnh II: Thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm ở công ty t vấn đầu t và thiết kế xây dựng
Chơng III: một số nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành ở công ty t vấn đầu t và thiết kế xây dựng.
Để hoàn thành đề tài này, em đã nhận đợc sự giúp đỡ của các cán bộ phòng kế toán


công ty, sự cố gắng của bản thân, đặc biệt là sự hớng dẫn nhiệt tình của thầy Lê Thế T-
ờng. Tuy nhiên với phạm vi đề tài rộng, thời gian nghiên cứu có hạn, trong chuyên đề
này không tránh khỏi sai sót và hạn chế nhất định. Vì vậy, em rất mong nhận đợc
những ý kiến góp ý, bổ sung của các thầy cô và các bạn để bản thân em đợc nâng cao
kiến thức nhằm phục vụ tốt hơn trong quá trình học tập, nghiên cứu và công tác thực tế
sau này.
1
kết luận
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành ở các doanh nghiệp sản xuất
nói chung và doanh nghiệp xây lắp nói riêng có một vị trí hết sức quan trọng để tồn
tại. Việc hạch toán chính xác còn tạo điều kiện để doanh nghiệp xác định đúng kết
quả tài chính của mình. Vì thế yêu cầu đặt ra là phải có phơng pháp hạch toán và
thông tin chính xác, kịp thời về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nhằm đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của công tác quản lý
ở công ty t vấn đầu t và thiết kế xây dựng Hà Nội, việc tổ chức công tác công
tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm rất đợc coi trọng. Đơn vị luôn
quan tâm đến việc cải tiến thiết bị, quản lý giám sát chặt chẽ chi phí sản xuất, tiết
kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm, đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách
hàng. Đây là một trong những vấn đề then chốt mà đơn vị đã và đang cố gắng thực
hiện.
Những phân tích đề xuất trên với góc độ của sinh viên kế toán thực tập tại một
đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính đặc thù. Với phạm vi đề tài rộng,
thời gian nghiên cứu có hạn. Do vậy những vấn đề này khó tránh khỏi những sai sót
và hạn chế nhất định. Em rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp bổ xung của các
thầy cô giáo và các cán bộ trong phòng tài chính kế toán của công ty
Qua đây em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa tài chính kế toán trờng
đai học quản lý và kinh doanh Hà Nội, các cán bộ kế toán của công ty, đặc biệt là
thầy giáo Lê Thế Tờng đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Hà nội ngày 20/1/2001
2

Chơng I
Một số vấn đề Lý luận về kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm ở doanh nghiệp xây lắp trong
điều kiện hiện nay

I. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp
xây dựng là một ngành sản xuất độc lập có những điểm đặc thù về mặt kinh tế,
tổ chức quản lý và kỹ thuật chi phối trực tiếp đến việc tổ chức sản xuất thi công và
tổ chức công tác kế toán. Các doanh nghiệp xây dựng cũng có những đặc điểm
khác biệt so với những doanh nghiệp sản xuất khác. Sự khác biệt này có những
ảnh hởng, chi phối nhất định đến việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm. Sự chi phối này đợc thể hiện nh sau:
- Sản xuất xây lắp là một loại sản xuất theo đơn đặt hàng. Sản phẩm xây lắp
mang tính chất đơn chiếc, riêng lẻ. Mỗi đối tợng xây lắp đòi hỏi yêu cầu kỹ
thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng thích hợp cụ thể trên từng thiết kế
dự toán của từng đối tợng xây lắp riêng biệt.
Do đó, kế toán phải hạch toán chi phí, tính giá thành và xác định kết quả cho
từng loại sản phẩm xây lắp riêng biệt (từng công trình hạng mục công trình hoặc
từng nhóm sản phẩm xây lắp)
- Đối tợng sản xuất xây dựng cơ bản thờng có khối lợng lớn, giá trị lớn, thời
gian thi công tơng đối dài.
- Sản xuất xây dựng mang tính thời vụ. Do chịu tác động trực tiếp của môi trờng
tự nhiên nên phải có biện pháp bảo quản máy thi công và vật liệu, ngoài ra còn
có thể gặp nhiều rủi ro bất ngờ (ma gió, bão lụt phải phá đi làm lại, ngừng thi
công ) gây thiệt hại, khi đó phải tổ chức theo dõi và hạch toán phù hợp với
nguyên nhân gây ra.
- Sản xuất thi công xây dựng đợc thực hiện trên các địa điểm cố định. Sản xuất
xây dựng cơ bản mang tính chất ổn định, gắn liền với địa điểm xây dựng, khi
hoàn thành thì không nhập kho nh sản phẩm thuộc ngành sản xuất khác.
- Trong quá trình thi công, các công cụ, dụng cụ, thiết bị phục vụ cho thi công

phải di chuyển. Ngoài ra còn phải có các công trình tạm thời phục vụ cho công
nhân và việc thi công, chi phí chuẩn bị và dọn dẹp mặt bằng thi công Kế
toán cần phản ánh chính xác các chi phí này và tổ chức phân bổ hợp lý.
3
I. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây
lắp
1. Chi phí sản xuất xây lắp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn sản xuất kinh doanh cũng phải có
đầy đủ ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất đó là: T liêu lao động, đối t-
ợng lao động và sức lao động. Sự kết hợp ba yếu tố này trong quá trình sản
xuất để tạo ra những sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của con ngời .
Việc tiêu hao một lợng nhất định về các yếu tố trên để sản xuất ra các sản
phẩm và dịch vụ đó gọi là chi phí.
Nh vậy, chi phí sản xuất xây lắp là toàn bộ hao phí về lao động sống và
lao động vật hoá phát sinh trong quá trình XDCB cấu thành nên giá thành
xây lắp (với khối lợng xây lắp đã hoàn thành). Trong điều kiện nền kinh tế
hàng hoá và cơ chế hạch toán kinh doanh mọi chi phí trên đều đợc thể hiện
bằng tiền. Trong đó chi phí về tiền công, BHXH, BHYT, KPCĐ đợc biểu
hiện bằng tiền của hao phí lao động sống, còn chi phí về khấu hao TSCĐ,
nguyên nhiên vật liệu là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động vật hoá.
CPSX trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm nhiều loại khác nhau, công
dụng và mục đích của chúng trong quá trình sản xuất cũng khác nhau.
2. Phân loại chi phí sản xuất xây lắp
2.1 Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố
Theo cách phân loại này các chi phí có cùng nội dung kinh tế đợc xếp
chung vào cùng một yếu tố không kể chi phí phát sinh ở đâu hay dùng vào
mục đích gì trong quá trình sản xuất. Đối với doanh nghiệp xây lắp bao
gồm các yếu tố chi phí sau;
- Chi phí về nguyên vật liệu bao gồm: vật liệu chính nh xi măng, sắt thép
nhiên liệu nh xăng, dầu và công cụ dụng cụ nh quần áo bảo hộ lao động.

- Chi phí về nhân công bao gồm: tiền lơng và các khoản trích theo lơng của
công nhân viên.
- Chi phí khấu hao TSCĐ bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao của các
loại TSCĐ nh: nhà xởng, vật kiến trúc, máy thi công, máy vận chuyển và
các TSCĐ dùng trong quản lý
- Chi phí dịch vụ mua ngoài nh điện nớc, điện thoại
- Chi phí bằng tiền khác
Cách phân loại này cho ta biết tỷ trọng của từng loại chi phí đã chi ra
trong quá trình sản xuất. Từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch, định
4
mức về vốn lu động trong các thời kỳ và xác định mức tiêu hao vật chất, thu
nhập quốc dân.
2.2 Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là chi phí các loại vật liệu chính, vật liệu
phụ, vật liệu sử dụng luân chuyển cần thiết để tạo nên sản phẩm xây lắp
- Chi phí nhân công trực tiếp: là chi phí tiền lơng cơ bản, các khoản phụ cấp
lơng, phụ cấp có tính chất ổn định của công nhân trực tiếp sản xuất cần
thiết để hoàn thành sản phẩm xây lắp
- Chi phí sử dụng máy thi công: là chi phí sử dụng máy để hoàn thành sản
phẩm xây lắp, gồm: chi phí khấu hao máy thi công, chi phí thờng xuyên
máy móc thi công, động lực, tiền lơng của công nhân điều khiển máy và
chi phí khác của máy thi công
- Chi phí sản xuất chung: là chi phí cho bộ máy quản lý thuộc tổ đội, các khoản
trích BHXH, BHYT, KPCĐ
Theo cách phân loại này mỗi loại chi phí thể hiện điều kiện khác nhau của chi
phí sản xuất, thể hiện nơi phát sinh chi phí, đối tợng chịu chi phí. Đồng thời cách
phân loại này tạo điều kiện để xác định mức ảnh hởng của các nhân tố khác nhau
và giá thành sản phẩm phục vụ cho công tác kế hoạch hoá và tính giá thành sản
phẩm.

2.3. Phân loại chi phí sản xuất theo phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất
và mối quan hệ với đối tợng chịu chi phí
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất đợc chia làm hai loại:
- Chi phí trực tiếp là những chi phí có liên quan trực tiếp với quá trình sản
xuất ra một loại sản phẩm, một công trình nhất định bao gồm nguyên vật
liệu xây dựng, tiền lơng chính của công nhân sản xuất, khấu hao thiết bị thi
công.
- Chi phí gián tiếp là những chi phí có liên quan đến việc sản xuất ra nhiều
loại sản phẩm, nhiều công việc. Kết cấu của chi phí gián tiếp cũng tơng tự
nh chi phí trực tiếp nhng những chi phí này phát sinh ở bộ phận quản lý đội,
phân xởng sản xuất của đơn vị xây lắp, vì vậy kế toán phải tiến hành phân
bổ cho các đối tợng có liên quan theo một tiêu thức thích hợp.
Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc tập hợp chi phí và phân bổ chi
phí cho các đối tợng một cách hợp lý.
Mỗi loại chi phí trên có tác dụng khác nhau đến khối lợng và chất lợng
công trình nên việc định rõ hai loại chi phí này có ý nghĩa thực tiễn cho
việc đánh giá tính hợp lý của chi phí sản xuất và tìm biện pháp không
5
ngừng giảm chi phí gián tiếp, nâng cao hiệu quả vốn đầu t của doanh
nghiệp, việc đa ra quyết định đầu t vốn vào bộ phận nào là hợp lý
II. Đối tợng và phơng pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất xây lắp
3. Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất xây lắp
Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất xây lắp là phạm vi, giới hạn mà các
chi phí sản xuất phát sinh đợc tập hợp theo phạm vi giới hạn đó.
Để xác định đợc đối tợng tập hợp chi phí sản xuất ở từng doanh nghiệp
cần căn cứ vào các yếu tố sau :
- Tính chất sản xuất, đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm (sản
xuất giản đơn hay phức tạp)
- Loại hình sản xuất: sản xuất đơn chiếc
- Đặc điểm tổ chức sản xuất: có hay không có phân xởng, bộ phận công tr-

ờng, tổ đội thi công
- Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp
- Đơn vị tính gía thành áp dụng trong doanh nghiệp xây lắp
Dựa vào những căn cứ trên, đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các
doanh nghiệp xây lắp thờng đợc xác định là từng công trình, hạng mục công
trình hay theo đơn đặt hàng
4. Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất xây lắp

Chi phí sản xuất xây lắp phát sinh ở các địa điểm xây dựng, lắp đặt khác
nhau, có nội dung kinh tế khác nhau, có mối quan hệ khác nhau đối với các
đối tợng chịu chi phí. Vì vậy có hai phơng pháp tập hợp chi phí cho các đối
tợng nh sau:
- Phơng pháp tập hợp trực tiếp: áp dụng các chi phí có liên quan trực tiếp
đến đối tợng kế toán tập hợp chi phí đã xác định, thờng chỉ liên quan đến
một đối tợng chịu chi phí (một công trình hoặc hạng mục công trình)
- Phơng pháp phân bổ gián tiếp: áp dụng khi một loại chi phí có liên quan đến
nhiều đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất, không thể tập hợp trực tiếp cho
từng đối tợng đợc, do đó phải phân bổ theo tiêu thức hợp lý cho các đối tợng
tập hợp chi phí.
5. Tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất xây lắp
3.1 Tài khoản kế toán sử dụng
6
Theo quy định của chế độ kế toán hiện hành, các doanh nghiệp xây lắp
thực hiện hạch toán hàng tồn kho theo phơng pháp kê khai thờng xuyên, do
đó kế toán tập hợp chi phí sản xuất sử dụng các tài khoản sau:
- TK621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- TK622: Chi phí nhân công trực tiếp
- TK623: Chi phí sử dụng máy thi công
- TK627: Chi phí sản xuất chung
- TK154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang

Ngoài ra kế toán còn sử dụng một số tài khoản liên quan nh:TK155, 632,
334, 214, 111, 112
3.2 Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp xây lắp bao gồm giá thực tế toàn bộ vật
liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện, các bộ phận kết cấu công trình sử
dụng trong quá trình sản xuất xây lắp từng công trình, hạng mục công trình.
Nó không bao gồm giá trị vật liệu, nhiên liệu sử dụng cho máy thi công và
vật liệu sử dụng cho quản lý đội công trình. Chi phí vật liệu trực tiếp còn
bao gồm cả các chi phí về công cụ, dụng cụ đợc sử dụng nhiều lần
Vật liệu sử dụng cho công trình, hạng mục công trình nào thì tính trực
tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó. Trờng hợp không tách riêng đ-
ợc phải tiến hành phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình theo
định mức tiêu hao vật liệu, hoặc theo khôí lợng thực hiện. Do đó, để tập hợp
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào đối tợng tập hợp chi phí sản xuất, có
hai phơng pháp:
- Phơng pháp tập hợp trực tiếp: chỉ liên quan đến từng đối tợng tập hợp chi
phí.
- Phơng pháp phân bổ gián tiếp: trờng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
liên quan đến nhiều đối tợng khác nhau không thể tập hợp trực tiếp cho
từng đối tợng. Khi đó sử dụng công thức sau:
C
Ci = x T
i
T
i

Trong đó
C
i
: Chi phí nguyên vật liệu phân bổ cho đối tợng thứ i

C: Tổng chi phí NVL đã tập hợp cần phân bổ
7
T
i
: Tổng đại lợng tiêu chuẩn dùng để phân bổ
Chi phí nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài có
thể chọn tiêu thức phân bổ là : Chi phí định mức, chi phí kế hoạch,
khối lợng sản phẩm sản xuất.. Để tính toán tập hợp chính xác, cần
xác định số nguyên vật liệu đã lĩnh nhng cha sử dụng hết và giá trị
phế liệu thu hồi (nếu có) để loại khoỉ chi phí về nguyên vật liệu trực
tiếp trong kỳ.
= - -
Để tập hợp và phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử
dụng TK621- chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp (sơ đồ 1)
3.3 Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm tiền lơng
chính, các khoản phụ cấp lơng và lơng phụ có tính chất ổn định của công nhân
trực tiếp xây lắp, để hoàn thành sản phẩm xây lắp theo đơn giá XDCB
Để tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK622-
Chi phí nhân công trực tiếp sản xuất xây lắp
Về nguyên tắc, chi phí nhân công trực tiếp cũng đợc tập hợp giống nh đối
với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Chi phí nhân công trực tiếp đợc tập hợp riêng theo từng đối tợng(công trình,
hạng mục công trình). Trình tự hạch toán (sơ đồ 2)
3.4 Kế toán tập hợp chi phí sử dụng máy thi công
Các chi phí sử dụng máy thi công trong doanh nghiệp xây lắp là toàn bộ các
chi phí trực tiếp phát sinh trong quá trình sử dụng máy thi công để thực hiện
khối lợng công việc xây lắp bằng máy theo phơng pháp thi công hỗn hợp. Chi
phí máy thi công gồm các khoản sau đây:
- Chi phí nhân công: lơng chính, lơng phụ, phụ cấp phải trả cho công nhân trực

tiếp điều khiển máy thi công
- Chi phí vật liệu: nhiên liệu, vật liệu dùng cho máy thi công
- Chi phí khấu hao máy thi công
8
Chi phí
nguyên vật
liệu thực tế
trong kỳ
Trị giá NVL
xuất đa vào sử
dụng
Trị giá NVL
còn lại cuối kỳ
cha sử dụng
Trị giá phế
liệu thu hồi
- Chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho máy thi công
- Chi phí bằng tiền khác cho xe máy thi công
Kế toán chi phí sử dụng máy thi công phụ thuộc vào hình thức sử dụng máy thi
công
+ Đối với doanh nghiệp có tổ chức đội thi công riêng biệt và có tổ chức kế toán
riêng thì hạch toán giống nh bộ phận sản xuất phụ.. Sản phẩm của bộ máy thi
công cung cấp cho các công trình xây dựng có thể tính theo giá thành sản xuất
thực tế hoặc giá khoán nội bộ. Mọi chi phhí của đội sẽ theo trình tự (sơ đồ 3)
+ Đối với doanh nghiệp có đội máy thi công riêng nhng không có tổ chức kế toán
riêng thì trình tự hạch toán đợc tiến hành nh (sơ đồ 4)
Trong trờng hợp doamh nghiệp có sử dụng máy thi công nhng không tổ chức
thành một bộ phận riêng hoặc chỉ thuê thực hiện một số ca máy hoạt động nhất
định thì không cần tổ chức theo dõi riêng chi phí sử dụng máy thi công mà có thể
hạch toán vào TK627

3.5 Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm lơng nhân viên
quản lý đội thi công. BHXH, BHYT, KPCĐ tính theo tỷ lệ quy định trên tổng tiền
lơng của công nhân trực tiếp xây lắp, nhân viên quản lý đội, nhân viên kỹ thuật, kế
toán đội thi công. Chi phí vật liệu, công cụ dùng cho quản lý đội. Chi phí khấu
haoTSCĐ không phải là máy thi công sử dụng ở đội. Chi phí dịch vụ mua ngoài và
các chi phí khác bằng tiền có liên quan phục vụ cho quá trình thi công. Trình tự
hạch toán chi phí sản xuất chung (sơ đồ 5)
3.6 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp
Do đặc điểm của sản xuất xây lắp là thời gian thi công dài, giá trị công trình
lớn. Vì vậy ngoài việc phải xác định giá thành công trình, hạng mục công trình
theo đúng thiết kế dự toán đợc chủ đầu t, nghiệm thu và chấp nhận thanh toán
trong kỳ báo cáo có thể có một bộ phận công trình hoặc khối lợng công việc hay
giai đoạn hoàn thành nghiệm thu bàn giao cho ngời giao thầu và đợc thanh toán.
Điều này đòi hỏi phải tính đợc giá thành của khối lợng xây lắp hoàn thành quy ớc
Khối lợng xây lắp hoàn thành quy ớc là khối lợng xây lắp hoàn thành đến một
giai đoạn nhất định và phải thoả mãn các điều kiện sau:
+ Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lợng
+ Phải đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý
Cuối kỳ các chi phí sẽ đợc kết chuyển sang TK154 để tập hợp chi phí và tính
giá thành sản phẩm. Trình tự tập hợp chi phí và tính giá thành: (sơ đồ 6)
6. phơng pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ
9
Trong các doanh nghiệp xây dựng, sản phẩm làm dở có thể là công trình,
hạng mục công trình dở dang cha hoàn thành hay khối lợng công việc dở dang
trong kỳ cha đợc đợc bên chủ đầu t nghiệm thu chấp nhận thanh toán. Những hạng
mục công trình quy định thanh toán sau khi hoàn thành toàn bộ thì giá trị sản
phẩm làm dở bằng chi phí sản xuất phát sinh từ khi khởi công công trình đến thời
điểm kiểm kê đánh giá. Đánh giá sản phẩm làm dở là việc tính toán xác định phần
chi phí sản xuất trong kỳ cho khối lợng sản phẩm làm dở cuối kỳ theo theo những

nguyên tắc nhất định. Để xác định giá thành sản phẩm một cách chính xác thì một
trong những điều kiện quan trọng là phaỉ đánh giá chính xác sản phẩm làm dở
cuối kỳ. Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp là có kết cấu phức tạp, công tác xác
định mức độ hoàn thành của nó là rất khó khăn nên khi đánh giá sản phẩm làm dở
kế toán cần tập hợp chặt chẽ với bộ phận kỹ thuật và các bộ phận có liên quan. Có
nhiều phơng pháp đánh giá sản phẩm làm dở, song trong doanh nghiệp xây dựng
việc đánh giá sản phẩm làm dở thừơng đợc áp dụng theo một số phơng pháp sau:
4.1 phơng pháp đánh giá sản phẩm làm dở theo tỷ lệ hoàn thành tơng đ-
ơng
Phơng pháp này chủ yếu áp dụng đối với việc đánh giá sản phẩm làm dở
đối với lắp đặt. Theo phơng pháp này chi phí thực tế của khối lợng lắp đặt
đợc xác định bằng công thức:
Chi phí TT Chi phí TT
của KLXLDD + KLXL thực hiện Chi phí của
Chi phí đầu kỳ trong kỳ KLXLDD
TTKLXLDD = ì cuối kỳ đã
Cuối Kỳ chi phí của KL chi phí của KL tính chuyển
XL hoàn thành + XLDD cuối kỳ đã theo SPHT
Bàn giao trong kỳ tính chuyển theo
SPHT
4.2 Phơng pháp đánh giá sản phẩm làm dở theo chi phí dự toán
Phơng pháp này đợc áp dụng trong trờng hợp đối tợng tập hợp chi phí sản xuất
cũng là đối tợng tính giá thành. Theo phơng pháp này chi phí thực tế của KLXLDD
cuối kỳ đợc xác định theo công thức sau:
Chi phí TT của Chi phí TT của
KLXLDD đầu + KLXL thực hiện Chi phí
10
Chi phí TT kỳ trong kỳ của KLLX
của KLXLDD cuối = ì DD Cuối
kỳ Chi phí của KLXL Chi phí của KLXL kỳ theo

hoàn thành bàn giao + DD cuối kỳ theo dự toán
trong kỳ theo dự toán dự toán
4.3 Phơng pháp đánh giá sản phẩm làm dở theo giá trị dự toán
Theo phơng pháp này chi phí thực tế của khối lợng xây lắp dở dang
cuối kỳ đợc tính theo công thức sau:
Chi phí TT của Chi phí TT của KLXL
KLXLDD đầu kỳ + thực hiện trong kỳ Giá trị
Dự toán
Chi phí TT của = ì KLXLDD
KLXLDD cuối kỳ Giá trị dự toán Giá trị dự toán cuối kỳ
KLXL hoàn thành + KLXLDD cuối kỳ
Bàn giao trong kỳ đã hoàn thành
III. Kế toán tính giá thành sản phẩm xây lắp
7. Giá thành sản phẩm xây lắp
Đối với doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xây lắp nói riêng, giá thành sản
phẩm là vấn đề đợc doanh nghiệp thờng xuyên quan tâm. Để xây dựng một công
trình hay hoàn thành một lao vụ thì doanh nghiệp xây lắp phải đầu t vào qúa trình
sản xuất thi công một lợng chi phí nhất định. Những chi phí sản xuất mà doanh
nghiệp bỏ ra trong quá trình thi công đó sẽ tham gia cấu thành nên giá thành sản
phẩm xây lắp hoàn thành
Nh vậy: giá thành của sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí bỏ ra nh chi phí vật
t, chi phí nhân công, chi phí máy móc thi công và những chi phí khác tính bằng
tiền để hoàn thành một khối lợng sản phẩm xây lắp, một công trình hoặc hạng
mục công trình. Giá thành sản phẩm là căn cứ để tính toán xác định hiệu quả
kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
8. Phân biệt khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp đều là biểu hiện bằng tiền
của chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt động sản xuất thi công. Tuy nhiên
hai khái niệm này cũng có những điểm khác nhau:
11

- Chi phí sản xuất luôn gắn với thời kỳ phát sinh chi phí còn giá thành xây lắp
lại luôn gắn với từng công trình, hạng mục công trình hay giai đoạn công việc
có điểm dừng kỹ thuật hoàn thành
- Giá thành sản phẩm xây lắp bao gồm cả một phần chi phí trực tiếp phát sinh
hoặc một phần chi phí sẽ phát sinh ở các kỳ sau nhng đã ghi nhận là chi phí
của kỳ này và là một phần của chi phí khác chuyển sang
Hai khái niệm này có mối quan hệ mật thiết với nhau vì chi phí sản xuất là căn cứ
và là cơ sở để tính giá thành của công trình, hạng mục công trình.
9. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
3.1 căn cứ vào cơ sở số liệu để tính giá thành của sản phẩm xây lắp đợc
chia ra thành
- Gía thành dự toán: là tổng số các chi phí dự kiến để hoàn thành một khối lợng
xây lắp công trình, hạng mục công trình. Giá thành dự toán đợc xác định trên
cơ sở các định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá của nhà nớc
Giá thành dự toán nhỏ hơn giá trị dự toán ở phần lãi định mức:
Giá dự toán = giá thành dự toán + l i định mứcã
- Gía thành kế hoạch: là giá thành đợc xây dựng từ những điều kiện cụ thể của
doanh nghiệp về các định mức, đơn giá, biện pháp quản lý và thi công. Giá
thành kế hoạch tính theo công thức;
-
Gía thành kế hoạch = giá thành dự toán mức hạ giá thành kế hoạch
Với doanh nghiệp không có giá thành dự toán thì giá thành kế hoạch đợc xác
định khi bớc vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế năm trớc và các định mức
kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp. Nó bao gồm các chi phí gắn liền với sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm theo một danh mục thống nhất theo từng ngành sản xuất lập
ra trên cơ sở hao phí lao động, hao phí vật chất và giá cả kế hoạch. Do vậy, bên
cạnh giá thành kế hoạch còn có giá thành định mức đợc xây dựng trên cơ sở định
mức hiện hành cho từng giai đoạn của từng thời kỳ (tháng, quý, năm).
- Gía thành thực tế: là biểu hiện bằng tiền của những chi phí thực tế để hoàn
thành khối lợng xây lắp. Gía thành thực tế đợc tính trên cơ sở số liệu kế toán về

chi phí sản xuất của khối lợng xây lắp thực hiện trong kỳ
3.2 Căn cứ vào phạm vi tính giá thành
12
Vì đặc điểm sản phẩm xây lắp có thời gian thi công dài nên để tiện cho việc
theo dõi chặt chẽ những chi phí phát sinh ngời ta thừơng phân chia giá thành hai
loại sau:
- Gía thành khối lợng công tác xây lắp thực tế: phản ánh giá thành của một khối
lợng công tác xây lắp hoàn thành đến một điểm dừng kỹ thuật, nó cho phép
xác định kịp thời những chi phí thực tế phát sinh ở những giai đoạn xây lắp
nhất định, phát hiện những nguyên nhân tăng giảm chi phí sản xuất.
- Giá thành công trình, hạng mục công trình hoàn thành là toàn bộ chi phí chi ra
để tiến hành thi công một công trình, hạng mục công trình kể từ khi khởi công
đến khi kết thúc hoàn thành bàn giao cho bên chủ đầu t
-
10.Đối tợng tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp
Xác định đối tợng tính giá thành là công việc đầu tiên trong toàn bộ công
tác tính giá thành. Việc xác định đối tợng tính giá thành phải căn cứ vào đặc điểm,
cơ cấu tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất và trình độ hạch toán kinh
tế và quản lý của doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp xây lắp, đối tợng tính giá thành trùng với đối tợng tập hợp
chi phí sản xuất có thể là công trình, hạng mục công trình hay khối lợng xây lắp
hoàn thành bàn giao
11.Kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắp
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán phải tiến hành công việc tính
giá thành cho các đối tợng tính giá thành. Xác định kỳ tính giá thành thích hợp sẽ
giúp cho việc tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm đợc hợp lý, khoa học, đảm
bảo cung cấp số liệu về việc tính giá thành thực tế của các sản phẩm lao vụ kịp thời
phát huy đợc đầy đủ chức năng giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch giá thành
sản phẩm của kế toán
Để xác định kỳ tính giá thành kế toán phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản

xuất và chu kỳ sản xuất sản phẩm. Căn cứ vào đặc điểm riêng của ngành xây lắp
mà tính giá thành có thể đợc xác định nh sau;
- Đối với các sản phẩm theo đơn đặt hàng có thời gian thi công dài, công việc đ-
ợc coi là hoàn thành khi kết thúc mọi công việc trong đơn đặt hàng thì khi
hoàn thành toàn bộ đơn đặt hàng mới tính giá thành.
- Đối với công trình, hạng mục công trình lớn, thời gian thi công dài thì chỉ khi
nào có một bộ phận hoàn thành có giá trị sử dụng đợc nghiệm thu, bàn giao
thanh toán thì mới tính giá thành thực tế bộ phận đó
- Đối với những công trình xây dựng, lắp đặt thiết bị có thời gian thi công nhiều
năm mà không tách ra đợc từng bộ phận công trình nhỏ đa vào sử dụng thì khi
từng bộ phận xây lắp đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý, theo thiết kế kỹ thuật
13
có ghi trong hợp đồng thi công sẽ đợc bàn giao thanh toán thì doanh nghiệp
xây lắp tính giá thành thực tế cho khối lợng xây lắp hoàn thành bàn giao.
- Ngoài ra, với công trình lớn, thời gian thi công dài kết cấu phức tạp thì kỳ
tính giá thành có thể đợc xác định là từng quý.
12.Phơng pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp
Phơng pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp là phơng pháp sử dụng số liệu
về chi phí sản xuất để tính toán ra tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế sản
phẩm, lao vụ đã hoàn thành theo các yếu tố hoặc khoản mục giá thành trong kỳ đã
đợc xác định. Trong kỳ tính giá thành là thời kỳ mà bộ phận kế toán giá thành cần
phải tiến hành công việc tính giá thành cho các đối tợng tính giá thành.
Có nhiều phơng pháp tính giá thành, song tuỳ thuộc vào từng đặc điểm của
từng đối tợng tính giá thành và mối quan hệ giữa đối tợng tập hợp chi phí sản xuất
và đối tợng tính giá thành mà kế toán áp dụng một trong nhiều phơng pháp thích
hợp để tính giá thành cho từng đối tợng. ở doanh nghiệp xây lắp thờng áp dụng
các phơng pháp tính giá thành sau:
6.1 phơng pháp tính giá thành trực tiếp
Phơng pháp tính giá thành trực tiếp là phơng pháp đợc sử dụng phổ biến
trong các doanh nghiệp xây dựng hiện nay. Vì sản phẩm xây dựng mang

tính đơn chiếc, đối tợng tập hợp chi phí sản xuất lại phù hợp với đối tợng
tính giá thành
Theo phơng pháp này, tập hợp tất cả các chi phí sản xuất trực tiếp cho một công
trình, hạng mục công trình từ khi khởi công đến khi hoàn thành chính là tổng giá
thành của một công trình, hạng mục công trình đó
Công thức: Z = C.
Trong đó:
Z: là tổng giá thành sản phẩm sản xuất
C: là tổng chi phí sản xuất đã tập hợp theo đối tợng
Trờng hợp công trình, hạng mục công trình cha hoàn thành mà có khối lợng
xây lắp hoàn thành bàn giao, thì giá thành thực tế của khối lợng xây lắp hoàn thành
bàn giao đợc xác định nh sau:
= + -
14
Giá thành thực
tế của KLXL
hoàn thành bàn
giao
Chi phí thực tế
dở dang đầu kỳ
Chi phí thực tế
phát sinh trong
kỳ
Chi phí thực tế
dở dang cuối
kỳ
6.2 Phơng pháp tính giá theo đơn đặt hàng
Trong các doanh nghệp thuộc loại hình sản xuất kinh doanh đơn chiếc, công việc
sản xuất kinh doanh thờng đợc tiến hành căn cứ vào các đơn đặt hàng của khách
hàng. Đối với doanh nghiệp xây dựng, phơng pháp này áp dụng trong trờng hợp các

doanh nghiệp nhận thầu xây lắp theo đơn đặt hàng và nh vậy đối tợng tập hợp chi phí
sản xuất, đối tợng tính giá thành là từng đơn đặt hàng. Theo phơng pháp này, hàng
tháng chi phí đợc tập hợp theo từng đơn đặt hàng và khi nào hoàn thành công trình thì
chi phí sản xuất tập hợp đợc chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng. Những đơn
đặt hàng cha sản xuất xong thì toàn bộ chi phí sản xuất đã tập hợp đợc theo đơn đặt
hàng đó đều là chi phí sản xuất của khối lợng xây lắp dở dang.
6.3 Phơng pháp tính giá thành tổng cộng chi phí
Phơng pháp này đợc áp dụng với các công trình, hạng mục công trình phải trải qua
nhiều giai đoạn thi công. Theo phơng pháp này thì giá thành thực tế của toàn bộ công
trình, hạng mục công trình đợc tính nh sau;
Z = C
1
+ C
2
+ +C
N
+ D
ĐK
D
CK
Trong đó:
Z: là giá thành thực tế của toàn bộ công trình, hạng mục công trình
C
1
+ C
2
+ +C
N
: Chi phí sản xuất xây lắp của các giai đoạn
D

ĐK
,D
CK
: Chi phí thực tế sản phẩm dở dang đầu kỳ, cuối kỳ
6.4 Phơng pháp tính giá thành theo định mức
Phơng pháp này đợc áp dụng đối với các doanh nghiệp xây dựng thoả mãn các điều
kiện sau:
- Phải tính đợc giá thành định mức trên cơ sở các định mức và đơn giá tại các
thời điểm tính giá thành
- Vạch ra đợc một cách chính xác các thay đổi về định mức trong quá trình thực
hiện thi công công trình
- Xác định đợc các chênh lệch so với định mức và nguyên nhân xảy ra chênh
lệch đó
- Theo phơng pháp này giá thành thực tế đợc xác định nh sau:
= +
_
+
_ _
15
Giá thành
thực tế của
sản phẩm
xây lắp
Giá thành định
mức của sản
phẩm định
mức
Chênh lệch
do thay đổi
định mức

Chênh lệch
do thoát ly
định mức
16
Chơng 2
Thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm tại công ty t vấn
đầu t và thiết kế xây dựng
I. Đặc điểm và tình hình chung của công ty t vấn đầu t và thiết kế xây dựng Hà
Nội
1. Qúa trình hình thành và phát triển
Công ty t vấn đầu t và thiết kế xây dựng là doanh nghiệp nhà nớc trực thuộc
tổng công ty xây dựng Hà Nội, đợc thành lập theo quyết định số
150A/BXD/TCLĐ ngày 26/03/1993 của bộ trởng bộ xây dựng trên cơ sở sát
nhập ban quản lý dự án số 1, trung tâm kinh tế kỹ thuật xây dựng, trung tâm
khoa học ứng dụng và khảo sát thiết kế, xí nghiệp thi công xây lắp thực nghiệm
nội ngoại thất.
Công ty t vấn đầu t và thiết kế xây dựng Hà Nội đợc nhà nớc và tổng công ty giao
vốn, tài nguyên đất đai và các nguồn khác, có trách nhiệm sử dụng hiệu quả, bảo toàn
và phát triển vốn đợc giao bằng cách bổ xung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Công ty đợc hình thành và phát triển trong điều kiện đất nớc đã và đang bớc
sang nền kinh tế mới Nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa. Mặc dù tuổi đời hoạt động của công ty còn rất trẻ song trong
suốt thời gian qua kể từ khi thành lập đến nay, công ty đã có những cố gắng rất lớn và
không ngừng phát triển nhằm đáp ứng đợc yêu cầu trong công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc.
Hiện nay trụ sở chính của công ty đặt tại 38 Phơng Mai- Đống Đa- Hà Nội, văn
phòng t vấn đặt tại 57 Quang Trung- Hai Bà Trng- Hà Nội. Công ty đợc cấp lại giấy
phép kinh doanh ngày 25/12/1996 mang số hiệu: OR:0104- 02- 00-01- 142. Lĩnh vực

hoạt động của công ty bao gồm các ngành nghề chủ yếu sau: T vấn đầu t ,khảo sát và
thiết kế các công trình công nghiệp và dân dụng, thi công xây lắp, trang trí nội ngoại
thất.
Công ty t vấn đầu t và thiết kế xây dựng hiện tại có đội ngũ biên chế chính thức
là 165 cán bộ công nhân viên.
Để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, công ty thờng xuyên sử dụng một
đội ngũ công tác viên thông qua hợp đồng lao động ngắn hạn. Mục tiêu hoạt động
của công ty là chuyên t vấn thiết kế, thi công xây lắp, giám sát các công trình, cơ sở
17
hạ tầng, các công trình dân dụng và công nghiệp trong phạm vi chức năng hoạt
động đợc bộ xây dựng cho phép kinh doanh.
Với đội ngũ cán bộ của công ty đợc đào tạo chính quy ở các trờng đại học trong
và ngoài nớc, đã qua kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm công tác kết hợp với việc đổi
mới, phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ, lực lợng công nhân đợc đào tạo ở các
trờng đào tạo công nhân kỹ thuật của bộ và công ty. Trong những năm gần đây, để
đáp ứng yêu cầu của ngành xây dựng, công ty đã mạnh dạn đầu t thêm máy móc thiết
bị phục vụ cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt
quan tâm đến đầu t máy móc thiết bị cho xí nghiệp thi công xây lắp nội ngoại thất nh-
: máy kéo uốn mẫu ximăng 500 kg kiểu L16, máy nén ba trục Italia, máy nén 50T
Controls kiểu N19
Thực tế cho thấy, hoạt động trong cơ chế thị trờng có sự điều tiết vĩ mô của nhà n-
ớc, đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trờng
nh quy luật gía trị, quy luật cạnh tranh đã buộc các doanh nghiệp sản xuất phải hết
sức quan tâm đến việc giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Đối với công ty t vấn đầu
t và thiết kế xây dựng cũng vậy, sự nỗ lực cố gắng của cán bộ công nhân viên toàn
công ty trong những năm gần đây đã góp một phần không nhỏ cho ngân sách nhà n-
ớc, đồng thời góp phần nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên toàn công ty.
Sau đây là một số chỉ tiêu kinh tế mà công ty đã đạt đợc qua một số năm gần
đây:
Bảng một số chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh của công ty t vấn đầu t

và thiết kế xây dựng Hà Nội.
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Số TT Chỉ tiêu Năm 2000 2001
So sánh
Mức %
1. Doanh thu thuần 5.383 8.509 3.126 + 58%
2. Giá vốn 4.780 7.795 3.015 + 63%
3. Chi phí quản lý doanh nghiệp 603 714 111 + 18%
4. Lợi nhuận hoạt động kinh doanh 210 315 105 + 50
5. Lợi nhuận hoạt động tài chính
6. 6 Lợi nhuận hoạt động bất thờng
7. Nộp ngân sách 385 412 271 7%
8. Lợi nhuận sau thuế 143 214 + 71 49%
2. Đặc điểm tổ chức sản xuất
Công ty t vấn đầu t và thiết kế xây dựng Hà Nội là một doanh nghiệp nhà
nớc hạch toán độc lập và có t cách pháp nhân. Công ty chịu sự kiểm tra và
18
giám sát, quản lý về mặt tài chính của tổng công ty và cục quản lý vốn tài
sản doanh nghiệp thành phố Hà Nội. Công ty có các xí nghiệp với các đội
sản xuất phụ thuộc văn phòng công ty. Cơ cấu sản xuất của công ty gồm 4
xí nghiệp thành viên, mỗi xí nghiệp có chức năng và nhiệm vụ khác nhau,
cụ thể:
- Trung tâm dự án và lập hồ sơ dự thầu: thực hiện việc lập dự án đầu t, t vấn đấu
thầu, xây dựng và thẩm định dự án đầu t, thẩm định thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán.
- Xí nghiệp thiết kế: tổ chức thực hiện thiết kế quy hoạch, thiết kế kỹ thuật xây
dựng
- Xí nghiệp khảo sát đo đạc và kiểm định chất lợng: tiến hành khảo sát đo đạc và
kiểm định chất lợng xây dựng trớc khi bàn giao cho bên A
- Xí nghiệp thi công và thực nghiệm nội ngoại thất: có chức năng tổ chức và
triển khai thi công thực nghiệm nội ngoại thất và giám sát kỹ thuật các công trình

theo sự phân công của công ty, thi công công trình theo đúng quy trình, quy phạm
của nhà nớc đã ban hành.
Các xí nghiệp trên đợc công ty giao các chỉ tiêu kinh tế và phân công hạch
toán. Kế toán ở các xí nghiệp (mỗi xí nghiệp chỉ có một kế toán) chỉ có nhiệm vụ
tổng hợp các số liệu, các chứng từ ban đầu (phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, bảng
kê ) cuối tháng gửi về phòng kế toán của công ty để công ty tổng hợp và lập báo cáo
tài chính.
Do sản phẩm của công ty nói riêng cũng nh sản phẩm của ngành xây dựng nói
chung mang tính đơn chiếc nên phơng thức của công ty là theo đơn đặt hàng sau khi
nhận thầu. Công ty áp dụng rộng rãi cơ chế khoán đối với tất cả các hạng mục công
trình mà công ty nhận thâù thi công cho xí nghiệp trực thuộc công ty với nguyên tắc
đảm bảo hiệu quả kinh tế, chất lợng, tiến độ và an toàn lao động.
Các hình thức giao khoán đó là:
- Hình thức giao khoán chi phí trực tiếp: khoán chi phí trực tiếp bao gồm chi phí
vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy, căn cứ dự toán công trình và chi phí
phát sinh đợc bên A chấp nhận thanh toán cho công ty.
+ Xí nghiệp đợc hởng 98% giá trị trực tiếp, xí nghiệp đợc tự chủ trong việc sử
dụng nhân lực, vật t, xe máy thi công. Xí nghiệp đợc công ty hỗ trợ về vốn lu động
trong định mức và vốn vay ngân hàng, các chi phí về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
bảo hiểm lao động.
+Xí nghiệp đợc thực hiện khoán gọn sau khi trừ chi phí, nếu lãi xí nghiệp đợc h-
ởng 68% khoản lãi, công ty giữ lại 32%.
19
- Hình thức khoán gọn nhân công: khoán gọn chi phí nhân công là khoán trọn
gói 100% phần nhân công. Căn cứ vào vào dự toán công trình gồm cả chi phí phát
sinh đợc bên A chấp nhận thanh toán cho công ty. Xí nghiệp đợc chủ động sử dụng
nhân lực của công ty hoặc lao động thuê ngoài (nếu đợc phép của công ty). Xí nghiệp
phải nộp nghĩa vụ đối với công ty để công ty nộp nghĩa vụ với nhà nớc.
- Hình thức khoán gọn giá trị dự toán: là hình thức khoán tổng dự toán công
trình ký đợc với chủ đầu t. Công ty sẽ thanh toán cho xí nghiệp khi kết thúc công

trình bằng giá trị quyết toán thu đợc với chủ đầu t.
+Công ty giữ lại 15% để chi phí cho bộ máy quản lý của mình và làm nghĩa vụ
đối với nhà nớc và cấp trên, bảo toàn và phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh.
Trong đó xí nghiệp phải nộp các khoản: lãi xuất tiền vay ngân hàng và lãi xuất quá
hạn (nếu có).
+Nếu đội sử dụng máy thi công thì phải nộp tiền thuê theo đơn giá ca máy của
nhà nớc quy định và khoản chênh lệch tiền lơng thực tế với lơng thợ điều khiển trong
giá ca máy, bảo đảm tính điều hoà về thu nhập giữa các công nhân tham gia thi công
trong cùng công trình.
+ Bảo hiểm xã hôị ngời lao động nộp theo TT-19-BLĐTBXH.
+ Công ty nghiêm cấm các xí nghiệp dùng xe máy vật t, nhân lực của công ty để
thi công công trình ngoài mà không có sự đồng ý của lãnh đạo công ty.
Nh vậy tuỳ theo tính chất đặc điểm của từng công trình ký đợc mà công ty áp
dụng các hình thức giao khoán cho xí nghiệp phù hợp với yêu cầu quản lý của công
ty
20
Có thể khái quát sơ đồ cơ cấu tổ chức sản xuất ở công ty nh sau:


Với đặc điểm riêng có của ngành xây dựng, sản phẩm của công ty mang tính
đơn chiếc, thời gian sản xuất lâu dài, sản phẩm cố định tại nơi sản xuất, do vậy các
điều kiện khác nh lao động (các cán bộ kỹ thuật, đội trởng, đội phó), thiết bị máy
móc phải di chuyển đến địa điểm đặt sản phẩm. Tại mỗi công trờng xây dựng thông
thờng có khoảng 20 cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật là lao động chủ chốt của công
ty, số trực tiếp thi công khoảng 60-110 ngời (tuỳ thuộc vào quy mô của công trình và
tuỳ thuộc vào từng phần việc mà số lao động trực tiếp này có thể tăng giảm trong quá
trình thi công). Công ty t vấn đầu t và thiết kế xây dựng có phạm vi hoạt động trong
cả nớc, do vậy sản phẩm của công ty cũng đợc thực hiện ở nhiều địa điểm khác nhau.
Cho nên để giảm đến mức thấp nhất các chi phí nh chi phí đi lại, sinh hoạt công ty
đã tận dụng triệt để lực lợng lao động tại địa phơng nơi đặt sản phẩm để góp phần

tăng lợi nhuận cho công ty.
Thực hiện phơng châm đa dạng hoá sản phẩm, công ty vừa có chức năng xây
lắp thi công nội ngoại thất, vừa có chức năng t vấn thiết kế, khảo sát địa chất. Trong
đó chức năng thi công xây lắp nội ngoại thất là chức năng chính của công ty. Có thể
khái quát chức năng này theo sơ đồ sau:
21
Công ty t vấn đầu t và
thiết kế xây dựng Hà Nội
Trung tâm
dự án và lập
hồ sơ thầu
Xí nghiệp
thi công
thực
nghiệm nội
ngoại thất
Xí nghiệp
khảo sát đo
đạc và kiểm
định CLXD
Xí nghiệp
thiết kế
3. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
Để phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, bộ máy quản lý của
công ty đợc bố trí nh sau:
* ở bộ phận lãnh đạo công ty:
- Giám đốc: là ngời điều hành phụ trách chung tất cả các hoạt động sản xuất
kinh doanh của các bộ phận sản xuất và các bộ phận khác.
- Phó giám đốc: đề xuất những phơng án trong việc quản lý chất lợng công nghệ
và trang bị kỹ thuật hợp lý nhằm nâng cao chất lợng sản phẩm theo đúng dự

toán. Đồng thời lập kế hoạch dự toán các công trình chuẩn bị các hợp đồng
kinh tế trình giám đốc
- Kế toán trởng: có chức năng tham mu cho giám đốc về các chiến lợc kinh tế tài
chính của công ty, là ngời chỉ đạo trực tiếp công tác kế toán thống kê, thông tin
kinh tế ở công ty.
* Các phòng chức năng:
22
Xây lắp
thi công
thực
nghiệm
nội và
ngoại thất
Công tác
chuẩn bị
Tổ chức thi
công
Kết thúc quá
trình thi công
Thu dọn mặt bằng
Khảo sát đo đạc
Nhân lực
Kho bãi vật t: xi măng, sắt
thép cát đá
Phần nền móng
Phần thân bao che
Phần hoàn thiện
Kiểm tra nghiệm thu
Quyết toán A-B về khối lợng
sản phẩm hoàn thành (công trình

hoặc hạng mục công trình)
Bàn giao
- Phòng tổ chức lao động- thanh tra bảo vệ- hành chính: Đợc đặt dới sự chỉ đạo
của phó giám đốc, là phòng chuyên môn tổ chức triển khai chỉ đạo về các mặt
công tác: tổ chức lao động, thanh tra bảo vệ công tác hành chính, quản trị, xây
dựng các mô hình sản xuất kinh doanh tại các xí nghiệp cũng nh các phòng
ban khác trong công ty thông qua các công tác tổ chức, bố trí lao động cũng
nh chính sách u đãi, thởng phạt đối với ngời lao động nhằm quản lý về mặt
hành chính toàn công ty.
- Phòng kế hoạch đầu t: có nhiệm vụ tham mu giúp việc cho giám đốc triển khai
trong lĩnh vực kế hoạch đầu t và liên doanh, liên kết, triển khai chỉ đạo về mặt
tiếp thị và kinh tế, thực hiện việc lập kế hoạch và tổ chức việc thu mua, cung
cấp vật t.
- Phòng tài chính kế toán: chịu sự giám sát của kế toán trởng, có chức năng tham
mu cho lãnh đạo tổ chức, triển khai thực hiện toàn bộ công tác tài chính kế
toán, thông tin kinh tế và hạch toán kinh tế trong toàn công ty. Đồng thời kiểm
tra giám sát mọi hoạt động tài chính của công ty theo pháp luật, thực hiện
nhiệm vụ t vấn cho lãnh đạo về công tác tài vụ, kế toán và tình hình luân
chuyển vốn của công ty.
- Phòng quản lý kỹ thuật và thẩm định dự án: có chức năng t vấn cho giám đốc
về công tác quản lý kỹ thuật liên quan đến lập dự án và thiết kế theo đúng quy
trình, quy phạm kỹ thuật của ngành và của nhà nớc. Thực hiện việc kiểm tra,
kiểm soát và lu trữ các hồ sơ thiết kế thẩm định dự án và thiết kế kỹ thuật các
công trình có quy mô theo giấy phép kinh doanh của công ty.
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý ở công ty (sơ đồ 7)
4. Tổ chức công tác kế toán của công ty.
Công ty t vấn đầu t và thiết kế xây dựng Hà Nội có bốn xí nghiệp thành viên,
mỗi xí nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh mang nét riêng biệt song vẫn
đảm bảo chuyên môn hoá cao trong từng lĩnh vực, đảm bảo mối liên kết hỗ trợ cho
nhau không những phát huy khả năng tiềm tàng trong công ty mà còn đảm bảo tính

thống nhất chung cho cả công ty trong việc đa dạng hoá sản phẩm. Chính bởi vậy các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong tháng rất nhiều và phong phú, tình hình nhập xuất
vật liệu(cát, sỏi, ximăng, sắt thép ) phục vụ cho việc thi công các công trình diễn ra
tơng đối thờng xuyên. Vì vậy để phản ánh chính xác, kịp thời các hoạt động của công
23
ty, công ty đã hạch toán theo từng tháng (kỳ kế toán là một tháng) và sử dụng phơng
pháp kê khai thờng xuyên để hạch toán hàng tồn kho
Có thể nói việc tổ chức công tác kế toán không những đợc nhìn nhận ở trạng thái
tĩnh mà còn phải xem xét ở trạng thái động nhất là trong điều kiện kinh tế thị trờng
khi mà các nhân tố ảnh hởng đến việc tổ chức công tác kế toán cũng luôn luôn ở
trạng thái vận động. Nắm bắt đợc điều đó nên hiện nay hình thức tổ chức công tác kế
toán mà công ty đang áp dụng là hình thức tổ chức công tác kế toán tập trung nhằm
đáp ứng yêu cầu quản lý tại doanh nghiệp, phát huy vai trò, chức năng và thực hiện
tốt nhiệm vụ kế toán ở toàn công ty.
Do bộ máy quản lý của công ty có đặc điểm vừa quản lý bốn xí nghiệp thành
viên vừa quản lý công ty, trong đó xí nghiệp thiết kế nằm ngay tại công ty nên mọi
nghiệp vụ kinh tế của xí nghiệp này do phòng kế toán công ty thực hiện hạch toán.
còn ba xí nghiệp khác: xí nghiệp thi công thực nghiệm nội ngoại thất; xí nghiệp khảo
sát, đo đạc và kiểm định chất lợng xây dựng; trung tâm dự án và lập hồ sơ thầu nằm
tách riêng với văn phòng công ty nên đợc công ty phân cấp hạch toán các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh tại các xí nghiệp( mỗi xí nghiệp có nhân viên kinh tế). Cuối tháng
nhân viên kinh tế ở các xí nghiệp tổng hợp và nộp chứng từ cho phòng kế toán công
ty để phòng kế toán tổng hợp số liệu chung và lập báo cáo kế toán định kỳ.
Với hình thức tổ chức nh trên, các xí nghiệp phụ thuộc đợc phân cấp quản lý ở
các mức độ khác nhau cho nên loại hình tổ chức công tác kế toán tập trung áp dụng ở
công ty đã tạo điều kiện cho kế toán gắn với các hoạt động ở công ty, kiểm tra giám
sát các hoạt động một cách chặt chẽ, có hiệu quả và phù hợp với quy mô của công ty.
Biên chế tại phòng tài chính kế toán cần có 6 ngời nhng hiện tại chỉ có 5 ngời,
và đợc phân công nh sau:
- Kế toán trởng: chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy kế toán của công ty, tổ

chức vận dụng các chính sách chế độ về tài chính kế toán, tham mu cho giám
đốc và chỉ đạo thực hiện các chỉ thị của giám đốc về các vấn đề có liên quan
đến tài chính, thực hiện các công việc về:
+ Kiểm tra chứng từ gốc và báo cáo quyết toán vào cuối kỳ hạch toán
+ Tham gia ký kết hợp đồng kinh tế
+ Lập hồ sơ vay vốn trung và dài hạn
- Kế toán tổng hợp kiêm kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
làm nhiệm vụ tổng hợp số liệu, lập báo cáo tài chính, tính giá thành sẩn phẩm,
đồng thời có thể thay mặt kế toán trởng khi kế toán trởng đi vắng
- Kế toán tiền lơng và thanh toán bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn, công nợ:
có nhiệm vụ theo dõi tình hình thanh toán tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền
vay và các khoản công nợ giữa công ty với các xí nghiệp và bên ngoài công ty.
24
- Kế toán vật liệu, công cụ lao động; có nhiệm vụ theo dõi tình hình nhập, xuất,
tăng, giảm các loại vật t, công cụ, hàng hoá và giá trị tồn kho.
Nh vậy ở công ty có phòng tài chính kế toán còn ở các xí nghiệp có nhân viên
kinh tế. ở phòng kế toán công ty có nhiệm vụ thực hiện hạch toán đầy đủ theo
pháp lệnh kế toán thống kê nhà nớc quy định; ở xí nghiệp nhân viên kinh tế làm
nhiệm vụ thu thập và xử lý chứng từ ban đầu rồi gửi về công ty.
Bộ máy kế toán của công ty có thể khái quát (sơ đồ 8)
Công ty t vấn đầu t và thiết kế xây dựng Hà Nội là một trong những công ty
trực thuộc Tổng công ty xây dựng Hà Nội. Hàng năm công ty tiến hành xây dựng các
công trình cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi phục vụ nhu cầu của nhân dân và
toàn xã hội. Hiện nay hình thức kế toán mà công ty đang áp dụng là hình thức kế toán
nhật ký chung. Hệ thống tài khoản, hệ thống sổ sách chứng từ đợc áp dụng theo chế
độ kế toán quy định hiện hành. Với hình thức nhật ký chung, hệ thống sổ sách mà
công ty đang sử dụng chủ yếu là các sổ cái các tài khoản, sổ nhật ký chung, các sổ
chi tiết theo dõi nhập xuất vật liệu, các sổ chi tiết công nợ các chứng từ kế toán sử
dụng theo mẫu chứng từ của bộ tài chính quy định nh: phiếu thu, phiếu chi, phiếu
nhập kho, hoá đơn kiêm phiếu xuất kho

Quy trình hạch toán kế toán theo hình thức nhật ký chung đợc vận dụng ở
công ty (sơ đồ9)
Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ đợc dùng làm căn cứ ghi sổ, trớc hết kế toán
ở công ty tiến hành ghi nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào sổ nhật ký chung, sau đó căn
cứ vào số liệu đã ghi trên sổ nhật ký chung để ghi vào sổ cái theo các tài khoản kế
toán phù hợp nh sổ cái tài khoản 152, sổ cái tài khoản 111 do công ty có mở sổ kế
toán chi tiết nên đồng thời với việc ghi nhật ký chung các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
còn đợc ghi vào các sổ kế toán chi tiết liên quan nh sổ chi tiết vật liệu
Việc sử dụng máy vi tính ở công ty đã hoàn toàn thay cho việc ghi chép bằng
tay cũng nh làm giảm đợc khối lợng ghi chép của kế toán, giảm bớt đợc chi phí nhân
công mà thông tin kế toán vẫn cung cấp nhanh chóng, kịp thời, chính xác phục vụ
cho công tác quản lý. Đây chính là mặt thuận lợi tạo điều kiện cho công ty trong việc
đẩy mạnh và phát triển để ngày càng hoàn thiện và nâng cao tổ chức công tác kế toán.
II. Thực trạng tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm ở công ty t vấn đầu t và thiết kế xây dựng Hà Nội.
1. Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành
25

×