Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Các nhà bán lẻ: Tiết kiệm mà vẫn có lợi nhuận potx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (137.33 KB, 6 trang )

Các nhà bán lẻ: Tiết kiệm
mà vẫn có lợi nhuận
Giống như hầu hết những người dân Mỹ, các nhà bán lẻ đang
phải vật lộn với tình trạng leo thang giá nhiên liệu

Giờ đây, các nhà bán lẻ phải chi nhiều tiền hơn để mua hàng hoá
từ các nhà sản xuất mà bản thân chi phí sản xuất cũng tăng lên,
và giá cước vận chuyển hàng hoá từ trung tâm phân phối đến
cửa hàng cũng tăng lên.
Nhưng các công ty bán lẻ không hề muốn đẩy việc tăng những
chi phí này theo dây chuyền đến khách hàng. Để tránh cho giá
không bị đẩy lên, nhiều nhà bán lẻ đã áp dụng chiến lược chống
lạm phát đã được kiểm chứng:
* Thu hẹp hoạt động
* Cắt giảm hàng tồn kho
* Giảm giờ làm của các nhân viên bán thời gian
* Tiết kiệm năng lượng
* Mua nhiều hàng hoá nội địa hơn để tiết kiệm chi phí vận tải
* Đưa ra nhiều ưu đãi thu hút khách hàng
Khi được bảo đảm, các nhà bán lẻ sẽ thậm chí đạt được thành
công đối với chính mức lợi nhuận của họ trước khi tăng giá của
các mặt hàng trên kệ hàng. Tất cả những chiến lược này đã tỏ rất
hiệu quả đối với các nhà bán lẻ các mặt hàng như là quần áo, đồ
nội thất, và điện tử, như được minh chứng bởi sự thật là lạm phát
đối với những ngành hàng này hầu như bằng không.
Nhưng những nhà kinh doanh rau quả và nhà hàng ăn uống lại
phái đối mặt với tình huống tồi tệ gấp đôi: ngoài việc tăng chi phí
vận chuyển và sản xuất họ còn phải đối mặt với việc giảm nguồn
cung lương thực, rất nhiều loại hàng hoá truyền thống hiện đang
được sử dụng làm nhiên liệu. Điều kiện hạn hán và năng suất
mùa màng kém ở một số vùng đã làm trầm trọng hơn tác động


này.
Các lương thực cơ bản như ngô, lúa gạo, lúa mỳ, trứng, sữa và
đậu nành đã đạt mức giá kỷ lục, làm cho người buôn bán có sự
lựa chọn hơn nhưng vẫn phải dồn gánh nặng đó sang người tiêu
dùng. Tất nhiên, nhiều loại thực phẩm đã sơ chế và chế biến phụ
thuộc vào những nguyên liệu chính và do đó giá cả các sản phẩm
có thành phần chính là trứng, ngô, lúa mỳ cũng tăng lên.
Các hàng hoá như thực phẩm (và chất đốt) là không thể thiếu
được; người tiêu dùng vẫn phải mua chúng. Có thể hiểu là, người
tiêu dùng trở nên sợ hãi lạm phát và các nhà bán lẻ thường trở
thành nơi để họ kêu ca và gánh chịu sự khó chịu của người Mỹ
khi giá cả tăng cao. Các nhà bán lẻ có thể mong muốn bắt đầu
những nỗ lực hai hướng nhằm đối trọng lại sự khó chịu mà khách
hàng có thể liên tưởng đến nhãn hiệu của họ bởi vì giá cả.
Giáo dục nhân viên: Những nhân viên bán lẻ tuyến đầu thường
phải đối mặt với sự khó chịu của khách hàng. Nhưng nhiều nhân
viên có lẽ không hiểu được sự phức tạp của chính việc giá cả leo
thang. Chỉ có vài người hiểu mà thôi. Cung cấp cho nhân viên thu
ngân một số kiến thức cơ bản mà họ có thể truyền đạt tới khách
hàng khi họ phẫn nộ về chuyện bao nhiêu tiền phái trả cho một
gallon sữa, chỉ có thể hỗ trợ.
Giáo dục khách hàng: Các công ty nên xem xét các nguồn lực
cam kết đến việc quảng bá sản phẩm và hệ thống bảng hiệu
hướng trực tiếp vào người tiêu dùng. Cần phải giải thích làm
cách nào mà nhà bán lẻ đang cố gắng giữ cho giá cả xuống thấp
và tại sao giá cả lại không thể kiểm soát được.
Cần phải lưu ý rẳng trong khi những chiến lược này có thể được
thực hiện khác nhau ở nhiều ngành khác nhau, đó là những ý
tưởng quản lý có sức hút toàn cầu. Người làm thuê khi tiếp xúc
với khách hàng thường có lợi khi có thể đưa ra lời giải thích hợp

lý đối với những khách hàng không hiểu biết hoặc hiểu sai. Và
khách hàng cũng được lợi từ việc có thêm hiểu biết do đó họ
không phải hỏi rõ ngay từ đầu.
Những người bán rau quả cũng thực hiện chiến lược đặc trưng
của ngành. Đối với thời hạn ngắn, một số người bán rau quả đã
áp dụng sáng kiến ưu đãi cho phép các khách hàng đổi ra tiền
mặt phần thuế hoàn, hoặc chuyển chúng thành các phiếu mua
hàng với thêm 10% giảm giá.
Các nhà bán lẻ dài hạn đang mong chờ chính quyền Washington
giúp đỡ họ để giảm bớt sức ép về giá cả. Họ ngày càng trở nên
quan tâm hơn đến chính sách nguyên liệu sinh học của liên bang,
đặc biệt là etanol từ bắp và dầu đậu nành, chịu trách nhiệm một
phần cho việc giá cả leo thang đối với các mặt hàng lương thực.
Và trong khi các yếu tố khác như nhu cầu đang tăng lên từ các
nước đang phát triển và hạn chế xuất khẩu quốc tế chỉ chiếm một
phần, chính sách nhiên liệu sinh học là một yếu tố chính mà
những nhà hoạch định chính sách của Mỹ đang kiểm soát trực
tiếp. Nếu như được trì hoãn lại hoặc loại bỏ, các nhà bán lẻ và
nhà hàng tin rằng chính sách nhiên liệu sinh học có thể có tác
động ngay lập tức đến lạm phát giá lương thực.
Lạm phát, cụ thể là lương thực và nhiên liệu, là mối quan tâm lớn
đối với hầu hết các nhà bán lẻ và nhà hàng. Một khi việc trợ giúp
giảm giá tạm thời được thực hiện, người tiêu dùng sẽ không
được hỗ trợ bù đắp với giá cả cao hơn và các nhà bán lẻ sẽ tiếp
tục cảm thấy áp lực.

×