Tải bản đầy đủ (.doc) (54 trang)

TÀI LIỆU ÔN THI MÔN TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (367.71 KB, 54 trang )

Tài liệu ôn thi
Môn: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
1
MỤC LỤC
Nhiều thách thức 50
Câu 1: CMR tiền tệ ra đời gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất và
trao đổi hàng hoá?
Tiền tệ là một phạm trù kinh tế nhưng cũng lại là một phạm trù lịch sử. Sự xuất
hiện của tiền tệ là một phát minh vĩ đại của loại người trong lĩnh vực kinh tế, nó
có tác dụng thúc đẩy nhanh chóng các hoạt động giao lưu kinh tế, làm thay đổi
bộ mặt kinh tế xã hôi. Một truờng phái cho rằng tiền tệ ra đời là kết quả tất yếu
khách quan của quá trình trao đổi hang hóa .Theo Mác, trong lịch sử phát triển
của loại người, lúc đầu con người sống thành bầy đàn, kiếm ăn một cách tự
nhiên, chưa có chiếm hữu tư nhân, chưa có sản xuất và trao đổi hàng hóa nên
chưa có tiền tệ. Tuy nhiên, ngay từ trong xã hội nguyên thủy đã xuất hiện mầm
móng của sự trao đổi. Lúc đầu trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên và được tiến
hành trực tiếp vật này lấy vật khác. Giá trị (tương đối) của một vật được biểu
hiện bởi giá trị sử dụng của một vật khác duy nhất đóng vai trò vật ngang giá.
Khi sự phân công lao động xã hội lần thứ nhất xuất hiện, bộ lạc du mục tách
khỏi toàn khối bộ lạc, hoạt động trao đổi diễn ra thường xuyên hơn. Tương ứng
với giai đoạn phát triển này của trao đổi là hình thái giá trị mở rộng. Tham gia
trao đổi bây giờ không phải là hai loại hàng hóa mà là một loạt các loại hàng
hóa khác nhau. Đây là một bước phát triển mới, tiến bộ so với hình thái giá trị
giản đơn, song bản thân nó còn bộc lộ một số thiếu sót:
Biểu hiện tương đối của giá trị mọi hàng hóa chưa được hoàn tất, vẫn còn
nhiều hàng hóa làm vật ngang giá Các hàng hóa biểu hiện cho giá trị của một
hàng hóa lại không thuần nhất.Phân công lao động xã hội và sản xuất phát triển
thì hình thức trao đổi hàng hóa trực tiếp ngày càng bộc lộ các nhược điểm của
nó. Các hàng hóa chỉ được trao đổi với nhau khi những người chủ của nó có
cùng muốn trao đổi, muốn trùng khớp. Như vậy, cùng với sự phát triển của sản
xuất thì trao đổi trực tiếp ngày càng khó khăn và làm cho mâu thuẫn trong lao


động và phân hóa lao động xã hội ngày càng tăng. Do đó, tất yếu đòi hỏi phải
có một thứ hàng hóa đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung tất ra từ tất cả
các thứ hàng hóa khác và các hàng hóa khác có thể trao đổi được với nó, ví dụ
như súc vật. Thích ứng với giai đoạn phát triển này của trao đổi là hình thái giá
trị chung. Nhưng trong giai đoạn này, tác dụng của vật ngang giá chung vẫn
chưa cụ thể tại một thứ hàng hóa nào, trong những vùng khác nhau tì có những
thứ hàng hóa khác nhau có tác dụng làm vật ngang giá chung.Cuộc phân công
lao động xã hội lần thứ hai xuất hiện, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp
làm cho sản xuất hàng hóa phát triển và thị trường mở rộng. Tình trạng nhiều
hàng hóa có tác dụng vật ngang giá chung phát sinh mâu thuẫn với nhu cầu
ngày càng tăng của thị trường, thị trường đòi hỏi phải thống nhất một vật ngang
giá đơn nhất. Khi vật ngang giá chung cố định ở một loại hàng hóa thì sinh ra
hình thái tiền tệ. Khi đó, tất cả hàng hóa được biểu hiện giá trị của nó trong một
thư hàng hóa, thứ hàng hóa đó trở thành vật ngang giá chung.
Như vậy, tiền tệ xuất hiện sau một quá trình phát triển lâu dài của trao đổi và
của các hình thài giá trị.
2
Câu 2: Phân tích các chức năng của tiền tệ và giải thích mối quan hệ giữa
chúng. Đồng tiền VN thực hiện các chức năng này như thế nào
Để phân tích được chức năng của tiền, trước tiên ta cần phải hiểu tiền là gì?
Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Tiền tệ là phương tiện thanh toán,
Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Tiền tệ là phương tiện thanh toán,


bao gồm tiền giấy, tiền kim loại và các giấy tờ có giá như tiền” (Điều 9).
bao gồm tiền giấy, tiền kim loại và các giấy tờ có giá như tiền” (Điều 9).
Dù tiền thể hiện dưới bất kì hình dạng nào, chúng đều thể hiện 3 chức năng cơ
bản sau đây:
Chức năng phương tiện trao đổi
-Đây là chức năng cơ bản nhất. Khi tiền được sd làm phương tiện mua bán, trao

đổi hàng hoá dịch vụ và được sd để thnah toán trong nền KT. Tiền thực hiện
chức năng phương tiện trao đổi  Giúp cho nền KT có sự chuyên môn hoá cao
hơn, sâu hơn, phát triển hơn.
-Đk để có thể là tiền:
+ Tiền phải được chấp nhận rộng rãi trong lưu thông: được con người chấp nhậ
nó là phương tiện trung gian trong trao đổi.
+ Có thể chia nhỏ được 1 cách dễ dàng: tiền phải có nhiều mệnh giá, thuận tiện
trong từng trường hợp mua bán khác nhau.
+ Không bị hư hỏng 1 cách nhanh chóng: để các chi phí phát hành thiền được
coi là nhỏ nhất
+ Nó phải là phương tiện đủ dùng trong trao đổi
*Chức năng thước đo giá trị
-Các hàng hoá khi trao đổi với nhau cần có sự so sánh để hình thành tỉ lệ trao
đổi. Chức năng này của tiền tệ biểu hiện giá trị hàng hoá thànht iền, nhờ đó mà
các hàng hoá có thể so sánh được với nhau về mặt lượng. điều này có tầm quan
trọng rất lớn do tiết kiệm được các chi phí giao dịch, bởi số lần hình thành giá
trung gian trong trao đổi trực tiếp. Chi phsi này càng trở nên nặng nề khi số
lượng hàng hoá tham gia trao đổi tăng lên và số lần hình thành giá trung gian
nhiều lên gấp bội. Về mặt này, chức năng tính toán giá trị cũng góp phần vào
việc tăng cường hiệu quả của sx XH
-Kd để tiền là thước đo giá trị
+ Tiền phải có giá trị
+ Phải có tiêu chuẩn giá cả
*Chức năng phương tiện tích lũy
-Khi con người SH tiền tệ ko sd tiền cho việc mua bán hàng hoá hiện tại mà đưa
vào dự trữ tích lũy nhằm mục đích để chuyển hoá thành hàng hoá địch vụ trong
ương lai thì tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện tích lũy
-Tiền được đưa vào tích lũy phải có các đk sau:
+ Tiền phải là tiền mặt (vì tiền có tính thanh khoản cáo nhất  là đặc tính quan
trọng để ta tích lũy tiền mà ít là những ts #: nhà cửa, ô tô…)

+ Tiền chỉ nên được sd tích lũy trong đk KT XH ổn định (tiền ko bị mất giá)
 3 chức năng có mqh mật thiết với nhau trong đó chức năng thước đo giá trị
càng phát triển thì các chức năng phương tiện khác càng tiến hành trôi chảy, thể
hiện rõ được sự ổn định giá trị các hình thái của tiền.
Câu 3: Nội dung cơ bản của tín dụng thương mại? mối quan hệ giữa tín
dụng thương mại và tín dụng ngân hàng?
3
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các DN được thực hiện thông
qua hình thức mua bán chịu hàng hoá, trong đó người cho vay là người bán chịu
hàng vì đã chuyển sd lượng giá trị hàng hoá chịu cho người mua. Ngược lại,
thay vì việc phải trả tiền ngay, người mua được sd số tiền đó trong 1 thời gian
nhất định phụ thuộc vào thời gian bán chịu Chủ thể tham gia: các doanh
nghiệp, thông qua việc trao đổi hàng hóa dịch vụ, thông thường không có khâu
trung gian đứng giữa người sử dụng vốn và người có vốn
- Hình thức kinh doanh: Các hàng hoá dịch vụ
- Cơ sở pháp lý để xđ nợ nần trong quan hệ tín dụng thương mại là thương
phiếu. Đó là loại giấy chứng nhận nợ đặc biệt xđ quyền đòi nợi của người sở
hữu thương phiếu và nghĩa vụ phải hoàn trả nợ của người mua khi đến hạn.
Thương phiếu có những được điểm sau:
+ Tính trừu tượng: Thương phiếu ko ghi rõ nguyên nhân dẫn đến quan hệ tín
dụng mà chỉ có các yểu tố: Tổng số tiền nợ, thời hạn thanh toán, người mắc nợ,
người thụ hưởng.
+ Tính bắt buộc: Đến thời hạn thanh toán người mắc nợ phải thanh toán ngày
cho chủ nợ 1 cách vô đk. Tính bắt buộc này được pháp luật nhà nước bảo hộ.
+ Tính lưu thông: trong thời gian hiệu lực, thương phiếu được sd như 1 phương
tiện thanh toán. Có nghĩa là nó được chuyển nhượng hoặc bán trên thị trường và
được chiết khấu tại các NH.
 Hoạt động mua bán hàng hoá được thúc đẩy hạn chế lưu thông tiền mặt.
-Ưu điểm:
+ Đáp ứng nhu cầu vốn và góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá,

phát triển sx
+ Giảm được chi phí giao dịch, giảm được chi phí phát hành, bảo quản tiền
thông qua việc lưu thông thương phiếu
+ Tham gia điều tiết nhu cầu thừa, thiếu vốn giữa các DN
-Nhược điểm:
+ Gây rủi ro trong quan hệ mua bán chịu  Lợi tức dây chuyền cao  phá sản
(nếu có rủi ro xảy ra mà ko thanh toán được nợ)
+ Vì mua bán chịu nên lượng hàng hoá bán ra với số lượng nhỏ, quy mô hẹp lại
phải cộng thêm các điều khoản mua bán chịu
+ Thời hạn tín dụng ngắn (thường trong 1 – 2 tháng)
+ Phạm vi tín dụng hẹp, các chủ thể thường phải có cung - cầu hàng hoá phù
hợp nhau.
+ Chỉ được thực hiện trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau
+ TDTM là “mầm mống” của khủng hoảng thừa
*Mqh giữa tín dụng thương mại với tín dụng ngân hàng
TDTM và TDNH đều là các hình thức tín dụng thúc đẩy qtrinh sx và lưu thông
hh phát triển.
Tín dụng ngân hàng góp phần khắc phục những hạn chế tín dụng
Tín dụng ngân hàng góp phần khắc phục những hạn chế tín dụng


thương mại, đồng thời tạo điều kiện cho tín dụng thương mại phát triển thông
thương mại, đồng thời tạo điều kiện cho tín dụng thương mại phát triển thông


qua chiết khấu thương phiếu
qua chiết khấu thương phiếu. Trong qtrình hđ chúng bổ sung cho nhau và thúc
đẩy nhau cùng phát triển, bởi sự phát triển của TDTM tạo đk mở rộng hoạt
động của TDNH thông qua nghiệp vụ chiết khấu và cầm cố thương phiếu. Đồng
thời những hạn chế của TDTM cũng đã được TDNH khắc phục.

4
-Thứ nhất, TDTM bị giới hạn về quy mô nghĩa là bị giới hạn bởi khối lượng hh
bán chịu thì đc TDNH khắc phục bởi khối lượng TDNH lớn  cả 2 mặt huy
động vốn và cho vay đều có thể đạt đc với 1 khối lượng vốn lớn.
-Thứ 2, thời hạn cho vay của TDTM chỉ là ngắn hạn, trong khi đó TDNH khắc
phục đc điều đó, TDNH có thời hạn đa dạng, thời hạn của nó phụ thuộc vào
thời hạn nhàn rỗi của các nguồn vốn và nhu cầu xin vay của khách hàng.
-Thứ 3, phạm vi hoạt động của TDTM hẹp thì TDNH khắc phục đc điều đó,
TDNH có phạm vi hoạt động rộng, TDNH huy động vốn và cho vay vốn đối
với mọi tác nhân, thể nhân
Câu 4: Phân tích những ưu điểm & hạn chế của các hình thức tín dụng
trong nền KT.
-Tín dụng thương mại
-ĐN: là quan hệ tín dụng giữa các DN được thực hiện thông qua hình thức mua
bán chịu hàng hoá, trong đó người cho vay là người bán chịu hàng vì đã chuyển
sd lượng giá trị hàng hoá chịu cho người mua. Ngược lại, thay vì việc phải trả
tiền ngay, người mua được sd số tiền đó trong 1 thời gian nhất định phụ thuộc
vào thời gian bán chịu.
-Ưu điểm:
+ Đáp ứng nhu cầu vốn và góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ lưu thông của hàng
hoá
+ Giảm được chi phí giao dịch
+ Giảm được chi phí phát hành, bảo quản tiền
-Nhược điểm:
+ Gây rủi ro trong quan hệ mua bán chịu  Lợi tức dây chuyền cao  phá sản
(nếu có rủi ro xảy ra mà ko thanh toán được nợ)
+ Vì mua bán chịu nên lượng hàng hoá bán ra với số lượng nhỏ, quy mô hẹp lại
phải cộng thêm các điều khoản mua bán chịu
+ Thời hạn tín dụng ngắn (thường trong 1 – 2 tháng)
+ Phạm vi tín dụng hẹp, các chủ thể thường phải có cung - cầu hàng hoá phù

hợp nhau.
+ TDTM là “mầm mống” của khủng hoảng thừa
*Tín dụng ngân hàng
-ĐN: Là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa NH với các chủ thể KT # trong XH,
trong đó NH giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay
-Ưu điểm:
+ Quy mô lớn: Các chủ thể cần vốn KD đều có thể vay vốn
+ Thời hạn tín dụng rất linh hoạt: ngắn hạn – trung hạn – dài hạn  phfuhợp
với nhu cầu.
+ Phạm vi tín dụng: Ko hạn chế chủ thể, chi nhánh NH được bố trí rộng khắp
+ Thúc đẩy hoạt động trong lưu thông của TDTM
-Nhược điểm:
+ Đk TDNH đặt ra ko phải chủ thể nào cũng đáp ứng được
+ Khi xảy ra phá sản, hệ thống NH dễ bị sụp đổ theo dây chuyền
*Tín dụng nhà nước:
5
-ĐN: Là quan hệ TD giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong XH nhằm đảm
bảo thực hiện nhiều chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong quản lý KT
XH.
-Ưu điểm:
+ TDNN góp phần bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước
+ TDNN là công cụ điều tiết vĩ mô nền KT
+ Các công cụ do Nhà nước phát hành có độ an toàn cao
-Nhược điểm:
+ Các công cụ do Nhà nước phát hành có lãi suất thấp
+ Rủi ro võ nợ Nhà nước
*TD thuê mua
-KN: là quan hệ TD nảy sinh giữa các công ty cho thuê tài chính và các DN sx
KD dưới hình thức cho thuê TS
-Ưu điểm:

+ Góp phần hiện đại hoá sx khi nguốn vốn tự có của DN còn hạn hẹp
+ DN dễ tiếp cận vì hình thức này ko nhất định phải có TS đảm bảo  phù hợp
với các DN vừa và nhỏ ở VN
-Nhược điểm:
+ Lãi suất cao
+ Rủi ro đối với bên cho thuê
*Tín dụng tiêu dùng
Tín dụng tiêu dùng là hình thức cấp phát tín dụng cho cá nhân để đáp ứng nhu
Tín dụng tiêu dùng là hình thức cấp phát tín dụng cho cá nhân để đáp ứng nhu


cầu tiêu dùng: mua nhà, xe, hàng hoá bằng tiền: do ngân hàng cho vay; hoặc
cầu tiêu dùng: mua nhà, xe, hàng hoá bằng tiền: do ngân hàng cho vay; hoặc


bằng hàng bán chịu, bán trả góp do doanh nghiệp cho vay.
bằng hàng bán chịu, bán trả góp do doanh nghiệp cho vay.
- Ưu điểm
- Ưu điểm
: tạo đk cho người tiêu dùng có khả năng mua những vật dụng mà
: tạo đk cho người tiêu dùng có khả năng mua những vật dụng mà


hiện tại chưa có đủ khả năng thanh toán đồng thời giúp các DN sx gia tăng
hiện tại chưa có đủ khả năng thanh toán đồng thời giúp các DN sx gia tăng


doanh số bán hàng
doanh số bán hàng
-

-
Nhược điểm:
Nhược điểm:
Ko phải lúc nào cũng vay được
Ko phải lúc nào cũng vay được
*TD quốc tế:
-KN: Là mqh nảy sinh giữa chủ thể của 1 QG với chủ thể 1 QG # hoặc với tổ
chức QT
-Ưu điểm:
+ Giúp các QG nghèo, kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo
Đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển KT khi nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp
+ Góp phần nâng cao trình độ KHKT và kiến thức chuyên môn của người lđ
-Nhược điểm
+ Bị hạn chế bởi đk vay vốn, về mặt chính trị
+ Ko phải cứ vay được là vay mà pảhi tính đến nguồn trả nợ. Nếu ko sẽ lâm vào
tình trạng khủng hoảng nợ  khủng hoảng tài chính  mọi hoạt động của nền
KT đều bị ảnh hưởng
*Mối quan hệ giữa các hình thức tín dụng với nhau
Hệ thống tín dụng đa dạng đã giúp cung ứng vốn 1 cách kịp thời cho các nhu
cầu sx và tiêu dùng của các chủ thể KT trong XH nhằm thoả mãn nhu cầu đa
dạng về vốn của nền KT. Không những vậy còn làm cho sự tiếp cận các nguồn
vốn trở nên dễ dàng, tiết kiệm  góp phần thúc đẩy quá trình tái sx XH
6
Không những vậy, việc mở rộng mối liên hệ giữa tín dụng nhà nước và các
quan hệ tín dụng # đã khiến cho tín dụng trở thành kênh chuyển tải tác động của
Nhà nước đến các mục tiêu vĩ mô đồng thời là công cụ thực hiện các chính sách
XH
Câu 5: Trình bày chức năng và vai trò của thị trường tài chính trong nền
kinh tế
1. Khái niệm:

TTTC là nơi mua bán các công cụ tài chính, nhờ đó mà vốn đc chuyển giao một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ các chủ thể dư thừa vốn đến các chủ thể có nhu
cầu về vốn.
2. Chức năng của thị trường tài chính: có 3 chức năng
a, Chức năng dẫn vốn:
Thị trường tài chính thực hiện chức năng này trong vc dẫn vốn từ người tạm
thời thừa vốn đến người tạm thời thiếu vốn. Cung cấp một lượng vốn liên tục
cho các doanh nghiệp, người tiêu dùng và Chính phủ để hỗ trợ cho cả chi tiêu
đầu tư và tiêu dùng trong nền kt. Tạo đk gia tăng năng suất của các nguồn của
cải xã hội và tạo ra mức sống cao hơn cho cá nhân và gđ.
 Như vậy, đây là chức năng nòng cốt, cốt lõi của thị trường tài chính, cho
phép chuyển vốn từ người ko có cơ hội đầu tư sinh lời tới người có cơ hội đầu
tư sinh lời.
b, Chức năng tiết kiệm:
Thị trường tài chính cung cấp điểm sinh lời cho tiết kiệm. Mục đích của tiết
kiệm ngày hôm nay là để có thể mua sắm được nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn
trong tương lai. Thông qua thị trường tài chính người tiết kiệm có thể kiếm đc
thu nhập dưới hình thức tiền lãi, cổ tức, tiền lời của vốn… Lãi suất cao sẽ động
viên các đơn vị, cá nhân thặng dư tiết kiệm nhiều hơn, tiêu dùng bớt đi và
ngược lại.
 Như vậy thị trường tài chính cung cấp một cơ chế động viên tiết kiệm và tạo
ra một luồng quỹ chảy vào đầu tư.
c, Chức năng thanh khoản:
Thị trường tài chính cung cấp phương thức chuyển đổi các loại tài sản tài chính
thành tiền mặt, làm cho ts tài chính “lỏng” thêm, khiến chúng được ưa chuộng
hơn và như thế làm dễ dàng hơn chức năng dẫn vốn và chứng năng tiết kiệm
của thị trường tài chính.
 Như vậy, nếu thiếu thị trường tài chính hoặc thị trường tài chính kém phát
triển, tính thanh khoản của các tài sản tài chính kém thì người tiết kiệm chỉ ưa
thích nắm giữ tài sản hoặc vốn dưới hình thái tiền mặt hơn là các hình thái khác

gần với tiền.
 3 chức năng trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: CN thanh khoản được
thực hiện tốt sẽ kích thích CN dẫn vốn và tiết kiệm.
3. Vai trò của thị trường tài chính:
a, TTTC góp phần năng cao năng suất và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế:
Bất kỳ nền kinh tế nào, trong quá trình fát triển cũng fải đối đầu với sự khan
hiếm về nguồn lực. TTTC là sản fẩm tất yếu của sự đòi hỏi tập trung tài nguyên
cho sản xuất lớn và chống lãng fí dưới mọi hình thức. Với chức năng dẫn vốn
và chức năng tiết kiệm, TTTC đã tạo điều kiện để huy động nguồn lực trong xã
7
hội, lôi kéo các cá nhân trở thành các nhà đtư, tận dụng mọi nguồn lực nhỏ
nhất, thúc đẩy hoạt động sang tạo ra sp và dvụ.
Đối với ngân sách Nhà nước, việc bù đắp các khoản bội chi bằng cách vay nợ
trên TTTC thay vì fát hành thêm giấy bạc NH và lưu thông là một biện fáp hết
sức quan trọng, bởi vì làm như vậy sẽ vừa có thể kiềm chế được lạm fát vừa có
thể tạo đk cho tăng trưởng nền ktế.
Tóm lại, một TTTC hđ có hiệu quả sẽ tận dụng được ở mức cao nhất mọi nguồn
vốn tiềm tàng trong nước và từ nước ngoài để phát triển kt và cải thiện đời sống
của nhân dân.
b, TTTC tạo môi trường thuận lợi để dung hòa các lợi ích kt của các chủ
thể kt khác nhau trên thị trường:
Thông qua các cuộc đấu giá tập trung giữa các nguồn cung và nguồn cầu, cơ
chế thị trường sẽ hình thành nên mức giá cả tốt nhất, có lợi cho cả người mua
và người bán, đảm bảo sự công bằng trên thị trường. Các cá nhân hoặc cộng
đồng chỉ có thể tìm thấy sự fát triển tốt nhất cho chính mình trong sự hỗ trợ để
các cá nhân hoặc cộng đồng khác cùng fát triển. Nếu thiếu TTTC hoặc TTTC
kém fát triển, điều kiện để cung cầu gặp gỡ, cọ xát sẽ bị hạn chế, do đó ko thể
có mức giá cả fản ánh đầy đủ chính xác sức mua, sức bán.
c, TTTC tạo nên công cụ kích thích tính hiệu quả của các DN:
Tự bản thân cơ chế giao dịch của TTTC sẽ chọn ra các DN, các dự án đtư có

triển vọng để tài trợ. Các DN hay các dự án có triển vọng sẽ có thể có thêm vốn
với chi fí rẻ hơn. Ngược các các DN kém và các dự án tồi sẽ khó thu hút vốn
hoặc fải trả chi fí sử dụng vốn cao hơn. Do đó, các DN hay các dự án đtư muốn
huy động vốn và duy trì vốn hoạt động thông qua TTTC fải tính toán sao cho
sản xuất kinh doanh lành mạnh và có hiệu quả ngày càng cao hơn.
d, TTTC tạo đk thuận lợi cho các giao dịch tài chính.
TTTC là nơi dẫn vốn từ chủ thể thừa vốn đến chủ thể thiếu vốn. Nhờ vào sự fát
triển của công nghệ thông tin liên lạc mà chủ thể thừa vốn và chủ thể thiếu vốn
cách nhau hang ngàn dặm có thể giao dịch một cách có hiệu quả, từ đó tiết kiệm
chi fí liên quan đến các giao dịch tài sản tài chính như: chi fí thu thập thông tin,
chi fí nghiên cưú, chi fí tìm gặp….
Câu 6: Phân biệt thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Mối quan hệ giữa 2
TT này.
1. Phân biệt thị trường tiền tệ và thị trường vốn:
TT tiền tệ TT vốn
KN Là nơi mua bán trao đổi các công cụ
tài chính ngắn hạn (có thời hạn
thanh toán dưới 1 năm)
Là nơi trao đổi mua bán các công
cụ tài chính trung hạn và dài hạn
(có thời hạn thanh toán trên 1
năm)
8

ng
cụ
- Tín fiếu kho bạc
- Tín fiếu NHNN
- Thương fiếu
- Chấp fiếu NH

- Chứng chỉ tiền gửi
- Hợp đồng mua lại
- Đô la châu âu
- Cổ fiếu
- Trái fiếu
- Chứng khoán fái sinh
Đặ
c
trư
ng
côn
g
cụ
- Có tính thanh khoản cao
- Mức rủi ro thấp
- Thời hạn của các công cụ tài chính
ngắn  lãi suất ít biến động  biến
động giá thấp
- Lợi nhuận thấp
- Có tính thanh khoản thấp
- Mức rủi ro cao
- Thời hạn của các công cụ tài
chính dài  lãi suất biến động
mạnh  biến động giá cao
- Lợi nhuận cao
Ch

thể
tha
m

gia
Hộ gia đình, doanh nghiệp, trung
gian tài chính, NHTW, kho bạc Nhà
nước, nhà môi giới…
Nhà fát hành, nhà đầu tư, tổ chức
trung gian chứng khoán, cơ quan
quản lý Nhà nước về chứng
khoán…
Phâ
n
loại
thị
trư
ờng
TT tiền tệ bao gồm thị trường tiền tệ
lien NH và thị trường tiền tệ mở
rộng
TT vốn bao gồm thị trường tín
dụng trung và dài hạn; thị trường
chứng khoán
Ch
ức
năn
g
Là thị truờng quan trọng để đáp ứng
nhu cầu về vốn lưu động cho các
DN, CP (TSX giản đơn là chủ yếu)
Thoả mãn ncầu về vốn đtư dài hạn
cho DN và CP (TSX mở rộng)
2. Mối quan hệ giữa 2TT này:

Thị trường tiền tệ và thị trường vốn là hai bộ phận cấu thành nên thị trường tài
chính cùng thực hiện một chức năng là cung cấp vốn cho nền kinh tế. Do đó các
nghiệp vụ hoạt động ở trên hai thị trường có mối liên quan bổ sung và tác động
hỗ tương.
Trên thực tế, các hoạt động của thị trường tiền tệ và thị trường vốn được thực
hiện đồng bộ đan xen lẫn nhau, tác động và chịu sự ảnh hưởng của nhau, tạo
thành cơ cấu hoàn chỉnh của một thị trường tài chính.
Việc phân định thị trường tài chính thành 2 bộ phận là thị trường tiền tệ và thị
trường vốn chỉ là biện pháp để tạo thuận lợi cho quá trình nghiên cứu từng loại
thị trường. Trên thực tế, không phải dễ dàng có thể chỉ ra đâu là khu vực
chuyên môn hoá của thị trường tiền tệ và đâu là khu vực chuyên môn hoá của
thị trường vốn.
Hai thị trường này có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Các biến đổi về giá cả, lãi
suất trên thị trường tiền tệ thường kéo theo các biến đổi trực tiếp trên thị trường
9
vốn. Ngược lại, các biến đổi về chỉ số chứng khoán hoặc trị giá cổ phiểu của thị
trường vốn cũng phản ảnh các hiện tượng tốt xấu đã đang và sẽ xảy ra trên thị
trường tiền tệ. Các chính sách của Nhà nước như chính sách lãi suất, tiền tệ với
mục đích phát triển thị trường tiền tệ đồng thời cũng là các yếu tố ngăn cản
phạm vi hoạt động của thị trường vốn.
Xét trong tương lai, xuất phát từ những đòi hỏi thực tế, không thể tồn tại một thị
trường tiền tệ thuần tuý cũng như không thể tồn tài một thị trường vốn thuần
tuý mà phải tồn tại một thị trường tài chính bao gồm cả thị trường vốn và thị
trường tiền tệ hỗn hợp.
Câu 7: Phân biệt thị trường tài chính trực tiếp và thị trường tài chính gián
tiếp. Vai trò của các trung gian tài chính thể hiện trên các thị trường này
ntn?
1. Phân biệt thị trường tài chính trực tiếp và thị trường tài chính gián tiếp
Thị trường tài chính trực tiếp Thị trường tài chính gián tiếp
KN: là thị trường mà vốn đc chuyển

giao trực tiếp từ người tiết kiệm đến
người đàu tư thông qua người môi
giới (là người được hưởng hoa hồng
cho vc kết nối cung cầu vốn mà ko có
quyền thực hiện giao dịch cho bản
thân)
Đặc điểm:
- Luân chuyển vốn trực tiếp
- Hình thức chuyển giao vốn: chủ yếu
thông qua môi giới
- Người tiết kiệm được hưởng toàn bộ
lợi nhuận nhg rủi ro cao
- Quan hệ giữa chủ thể thừa vốn và
chủ thể thiếu vốn mang tính fáp lý
- Chi fí chuyển giao vốn cao
- Ko biến đổi về qui mô, thời hạn
KN: là TT mà vốn đc chuyển giao gián
tiếp từ người tiết kiệm đến người đầu
tư thông qua vai trò của các trung gian
tài chính (các trung gian tài chính: ngân
hàng trung gian, các tổ chức tài chính fi
ngân hàng…)
Đặc điểm:
- Luẩn chuyển vốn gián tiếp
- Hình thức chuyển giao vốn: thông qua
trung gian tài chính.
- Người tk hưởng lợi nhuận thấp hơn
đồng thời chịu rủi ro ít hơn
- Quan hệ giữa chủ thể thừa vốn và chủ
thể thiếu vốn ko mang tính fáp lý (chỉ

có quan hệ fáp lý với các trung gian tài
chính)
- Chi fí chuyển giao vốn thấp
- Biến đổi về qui mô, thời hạn
2. Vai trò của các trung gian tài chính thể hiện trên các thị trường này ntn?
a, Trên thị trường tài chính trực tiếp : vai trò của các trung gian tài chính ko
lớn, họ ko tgia vào thị trường mà chủ yếu với tư cách nhà môi giới kết nối cung
cầu vốn để hưởng hoa hồng và ko có quyền thực hiện giao dịch cho bản thân
b, Trên thị trường tài chính gián tiếp: vai trò của các trung gian tài chính rất
lớn, họ trực tiếp tham gia vào thị trường làm cho thị trường ngày càng sôi động
và fát triển. Trung gian tài chính khắc fục đc nhg hạn chế của đầu tư trực tiếp và
do đó kích thích mong muốn đtư bởi trung gian tài chính có lợi thế hơn trong
việc thu thập và fân tích thông tin liên quan đến đối tượng đtư, do đó đảm bảo
an toàn cho các khoản đtư. Ngoài ra, trung gian tài chính còn cung cấp các công
10
cụ đtư với tính lỏng cao và rủi ro thấp cho người đtư. Vai trò này cuar trung
gian tài chính được thể hiện bởi 2 CN:
* Chức năng môi giới: Các trung gian tài chính hoàn thành CN này khi đóng vai
trò là đại lý cho người tk trg vc cung cấp thông tin về các dịch vụ và giao dịch
theo yêu cầu. Với CN này, các TGTC góp fần quan trọng vào vc giảm các chi fí
liên quan đến thu thập và fân tích thông tin cũng như chi fí giao dịch, từ đó thúc
đẩy tỷ lệ đtư.
* Chức năng biến đổi tài sản:
Đây là CN chủ yếu hình thành nên lợi thế của kênh chuyển giao vốn gián tiếp
so với kênh chuyển giao vốn trực tiếp. Trong CN này các trung gian tài chính
fát hành các công cụ tài chính thứ cấp với tính lỏng cao, rủi ro thấp cho nhg
người tk nhằm thay thế cho các công cụ tài chính sơ cấp do nhg người đtư trực
tiếp fát hành.
Thông qua vai trò của các TGTC này, vốn từ tay người TK đến tay người sử
dụng đã biến đổi cả về khối lượng và thời hạn.

Câu 11: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất. giải thích mqh giữa
giá chứng khoán với lãi suất thị trường
* Cung cầu vốn vay
* Cung cầu vốn vay
:
:
- Quan hệ cung cầu vốn vay quy định mức lãi suất cân bằng của nền KT
- Quan hệ cung cầu vốn vay quy định mức lãi suất cân bằng của nền KT
- Cầu quỹ cho vay là những nhu cầu về vốn phục vụ sx và tiêu dùng cho các
- Cầu quỹ cho vay là những nhu cầu về vốn phục vụ sx và tiêu dùng cho các


chủ thể trong nền KT
chủ thể trong nền KT
- Cung quỹ cho vay là khối lượng vốn sẵn sàng cung ứng cho nhu cầu sx và tiêu
- Cung quỹ cho vay là khối lượng vốn sẵn sàng cung ứng cho nhu cầu sx và tiêu


dùng của DN. Chủ thể tạo ra cung quỹ cho vay: các hộ gđ, các DN, Nhà nước,
dùng của DN. Chủ thể tạo ra cung quỹ cho vay: các hộ gđ, các DN, Nhà nước,


nước ngoài
nước ngoài
* Các nhân tố tác động đến cầu tiền
* Các nhân tố tác động đến cầu tiền
- Tỉ suất lợi tức dự tính tăng
- Tỉ suất lợi tức dự tính tăng



cầu tiền tăng
cầu tiền tăng
- Lạm phát vừa phải
- Lạm phát vừa phải


cầu tiền tăng
cầu tiền tăng
- Ngân sách nhà nước thâm hụt
- Ngân sách nhà nước thâm hụt


cầu tiền tăng
cầu tiền tăng
* Các yếu tố tác động đến cung tiền - Thu nhập tăng
* Các yếu tố tác động đến cung tiền - Thu nhập tăng


cung tăng
cung tăng
- Tỷ suất lợi tức tăng
- Tỷ suất lợi tức tăng


cung tăng
cung tăng
- Công cụ của các công cụ đầu tư càng rủi ro và mạo hiểm
- Công cụ của các công cụ đầu tư càng rủi ro và mạo hiểm



cung giảm
cung giảm


lãi
lãi


suất tăng
suất tăng


Cung vốn vay tăng, lãi suất giảm và ngược lại
Cung vốn vay tăng, lãi suất giảm và ngược lại


Cầu vốn vay tăng, lãi suất tăng và ngược lại
Cầu vốn vay tăng, lãi suất tăng và ngược lại
* Thay đổi mức cung tiền tệ
* Thay đổi mức cung tiền tệ
- Ảnh hưởng đối với vốn vay: cung tiền tăng, cung vốn vay tăng, lãi suất giảm
- Ảnh hưởng đối với vốn vay: cung tiền tăng, cung vốn vay tăng, lãi suất giảm


và ngược lại
và ngược lại
- Ảnh hưởng đối với lạm phát dự kiến: cung tiền tăng, lạm phát tăng, lãi suất
- Ảnh hưởng đối với lạm phát dự kiến: cung tiền tăng, lạm phát tăng, lãi suất



tăng và ngược lại
tăng và ngược lại
* Chính sách tiền tệ
* Chính sách tiền tệ
:
:
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
- Thị trường mở
- Thị trường mở
- Tái cấp vốn, tái chiết khấu
- Tái cấp vốn, tái chiết khấu
* Các nhân tố khác
* Các nhân tố khác
:
:
- Lạm phát tăng lãi suất tăng và ngược lại
- Lạm phát tăng lãi suất tăng và ngược lại
- Thời hạn dài, lãi suất cao và ngược lại
- Thời hạn dài, lãi suất cao và ngược lại
11
- Rủi ro cao, lãi suất cao và ngược lại.
- Rủi ro cao, lãi suất cao và ngược lại.
* Mqh giữa giá chứng khoán với lãi suất thị trường
* Mqh giữa giá chứng khoán với lãi suất thị trường
Lãi suất là khoản tiền chênh lệch thu được giữa vốn gốc ban đầu với khoản thu
nhận được trong tương lai
Mối quan hệ giữa lãi suất và giá trái phiếu: Đây là mối quan hệ trực tiếp và
ngược chiều nhau. Giá của trái phiếu là giá trị hiện tại của các dòng tiền. Khi lãi
suất thị trường càng cao thì các dòng tiền bị chiết khấu với lãi suất càng lớn, do

vậy dẫn đến giá trái phiếu càng nhỏ. Vì vậy, khi lãi suất cao, giá trái phiếu thấp
có thể là một cơ hội tốt để mua vào trái phiếu
Câu 12: Trình bày nội dung của lý thuyết dự tính khi giải thích cấu trúc kỳ
hạn của lãi suất
Lý thuyết dự tính hình thành từ tiền đề cho rằng những người mua công cụ nợ
không ưu tiên những công cụ nợ có kì hạn thanh toán này hơn là những công cụ
nợ có một kì hạn thanh toán khác mà họ ưu tiên cho những công cụ nợ nào có
tỷ suất lợi tức cao hơn bất kể kì hạn của nó ngắn hay dài. Mỗi sự khác biệt về tỉ
suất lợi tức giữa các công cụ nợ với kì hạn khác nhau đều dẫn tới các hoạt động
kinh doanh chênh lệch giá và kết quả là sự khác biệt đó sẽ bị xoá nhoà.
Xuất phát từ tiền đề trên, lý thuyết dự tính cho rằng lãi suất của một công cụ nợ
dài hạn bằng trung bình của các mức lãi suất ngắn hạn trong tương lai được
trông đợi xuất hiện trong suốt thời gian tồn tại của công cụ nợ dài hạn đó (nếu
không, hoạt động KD chênh lệch giá sẽ diễn ra). Nội dung giả thuyết dự tính có
thể cụ thể hoá bằng công thức tổng quát sau:
Trong đó:
n
iiii
i
e
nt
e
t
e
t
e
t
n
t
121


−+++
++++
=
n
t
i
: Lãi suất tại thời điểm t của công cụ nợ n giai đoạn
i
n
: Lãi suất tại thời điểm t của công cụ nợ loại 1 giai đoạn
e
nt
e
t
e
n
iii
121
, ,,
−+++
: Lãi suất của một công cụ nợ loại 1 giai đoạn dự tính cho giai
đoạn kế tiếp
Theo lý thuyết này, nếu các mức lãi suất ngắn hạn dự tính (
e
nt
e
t
e
n

iii
121
, ,,
−+++
) có
những giá trị khác nhau thì lãi suất của các công cụ nợ với kì hạn thanh toán
khác nhau sẽ khác nhau. điều này được biểu hiện qua hình dạng đường cong lãi
suất. Dạng dốc lên là do các mức lãi suất ngắn hạn dự tính tăng lên trong tương
lai. Vì thế, thời hạn công cụ nợ càng dài, lãi suất càng cao. Dạng dốc xuống là
do các mức lãi suất ngắn hạn trong tương lai có xu hướng giảm xuống làm cho
trung bình của các lãi suất ngắn hạn trong tương lai giảm. Trong trường hợp
này, thời hạn càng dài, lãi suất càng thấp. Dạng đường lãi suất nằm ngang là do
các lãi suất ngắn hạn dự tính ko thay đổi.
Lý thuyết dự tính có ưu điểm là giải thích một cách đơn giản về hình thái diễn
biến của cấu trúc kì hạn của lãi suất. Tuy nhiên, tiề đề hình thành giả thuyết còn
thiếu tính thực tiễn khi cho rằng các nhà đầu tư không quan tâm đến kì hạn mà
chỉ quan tâm đến mức sinh lời của công cụ nợ và do vậy ko giải thích được hiện
tượng các nhà đầu tư thường thích nắm giữ các công cụ nợ ngắn hạn hơn dài
hạn. Ngoài ra, giải thuyết cũng ko giải thích được một hiện tượng thực tế là
12
đường cong lãi suất thường có xu hướng dốc lên ngay cả khi lãi suất ngắn hạn
trong tương lãi suất có xu hướng giảm.
Câu 13: Trình bày nội dung lý thuyết môi trường ưu tiên trong việc giải
thích cấu trúc kì hạn của lãi suất
Lý thuyết môi trường ưu tiền phát biểu rằng lãi suất của mọi công cụ nợ dài hạn
sẽ bằng trung bình công của các những lãi suất ngắn hạn được trông đợi trong
thời gian tồn tại của công cụ nợ công với 1 mức bù kì hạn. Mức bù kì hạn bị chi
phối bởi đk cung - cầu của công cụ đó.
Nội dung của lý thuyết môi trường ưu tiên có thể trình bày dưới dạng công thức
tổng quát

nt
e
nt
e
t
e
t
e
t
nt
k
n
iiii
i
+
++++
=
−+++
)1(21

Trong đó:
i
nt
: Lãi suất tại thời điểm t của công cụ nợ loại n giai đoạn
i
t
: Lãi suất tại thời điểm t của công nợ loại 1 giai đoạn
e
nt
e

t
e
n
iii
121
, ,,
−+++
: lãi suất của một công cụ nợ loại 1 giai đoạn dự tính cho giai
đoạn sau.
k
nt
: Mức bù kì hạn tại thời điểm t của công cụ nợ loại 1 giai đoạn.
Như vậy, lý thuyết ưu tiên thừa nhận những công cụ nợ có kì hạn thanh toán
khác nhau có thể thay thế cho nhau nhưng không hoàn hảo. Việc di chuyển mục
tiêu đầu tư từ công cụ này sang công cụ khác phải được bù đắp bởi một mức bù
kì hạn k
nt
. Đây được coi như mức giá trả thêm cho nhà đầu tư để họ hy sinh việc
nắm giữ loại công cụ với thời hạn ưa thích.
Lý thuyết môi trường ưu tiên bổ sung hoàn hảo cho thuyết dự tính khi đề cập
tức mức bù kì hạn. Theo đó, hình dạng đường cong lãi suất là kết quả của sự
thay đổi các mức lãi suất ngắn hạn dự tính trong tương lai và mức bù kì hạn.
Tuỳ thuộc vào mức độ biến động dự tính của hai nhân tố này mà đường cong lãi
suất thể dốc lên, dốc xuống hoặc nằm ngang. Tuy vậy, vì người đầu tư có xu
hướng ưa thích loại công cụ nợ với thời hạn ngắn hơn nên mức bù kì hạn có thể
dương làm cho hình dạng đường cong lãi suất có thể dốc lên, dốc xuống hoặc
nằm ngang. Tuy vậy, vì người đầu tư có xu hướng ưa thích loại công cụ nợ với
thời hạn ngắn hơn nên mức bù kì hạn dự tính và mức trung bình của chúng có
xu hướng giảm trong tương lai.
Gắn bó chặt chẽ và cụ thể hơn lý thuyết môi trường ưu tiên là lý thuyết phần

thưởng tính lỏng. Lý thuyết này cho rằng mức bù kì hạn luôn dương và tăng
cùng với kì hạn của công cụ nợ. Cách giải thích này xuất phát từ thực tế là các
công cụ nợ với thời hạn dài hơn sẽ chịu đựng mức rủi ro lãi suất lớn cao hơn vì
thế thời hạn càng dài, mức bù rủi ro tính lỏng càng cao. Như vậy hình dạng
đường cong lãi suất phản ánh sự biến động của một mức bù kù hạn luôn dương
và những thay đổi của các mức lãi suất ngắn hạn dự tính.
Lý thuyết môi trường ưu tiên và lý thuyết phần thưởng tính lỏng đã kết hợp các
đặc điểm của cả giả thuyết dự tính và lý thuyết thị trường phân cách. Những
giải thích về cấu trúc kì hạn lãi suất là khá thuyết phục và thực tiễn. Căn cứ vào
lý thuyết này, nội dung thông tin của đường cong lãi suất là rất rõ ràng: nó cho
phép dự đoán chiều hướng biến động của lãi suất ngắn hạn trong tương lai cũng
13
như cho thấy mức độ diễn biến theo nhau của các mức lãi suất trên các bộ phận
thị trường tài chính
Câu 10: Trình bày lộ trình tự do hoá lãi suất ở VN
1. Tự do hóa lãi suất là gì?
Tự do hóa lãi suất là việc trao cho thị trường vốn toàn bộ việc xác định lãi suất
cân bằng, NHTW chỉ sử dụng các công cụ can thiệp một cách gián tiếp để điều
chỉnh cho phù hợp chiến lược và mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ phát triển
của nền kinh tế.
Quá trình tự do hóa lãi suất ở VN
1. Trước năm 1988: Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản lý nền kinh tế theo
phương thức quản lý kế hoạch hóa tập trung
2. Từ năm 1988 đến 2006: Lãi suất thời kỳ nền kinh tế bắt đầu chuyển sang
nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà
nước
a) Giai đoạn (1989-5.1992): Thực hiện cơ chế thực thi chính sách lãi suất cố
định
b) Giai đoạn (6.1992-1995): Thực hiện cơ chế điều hành khung lãi suất
c) Giai đoạn (1996-7.2000): Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất trần

d) Giai đoạn (8.2000-5.2002): Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm
biên độ
e) Giai đoạn (6.2002 – 2006): Thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận
* Việc điều chỉnh gần đây của NHNN VN
- Trong năm 2008, NHNN VN đã tăng lãi suất cơ bản 3 lần và tới thời điểm
tháng 6/2008, mức lãi suất đang là 14%, mức cao nhất ở Châu Á, từ mức 12%
trước đó. NHNN cũng giảm giá đồng VND 2% trong tháng này nhằm giải tỏa
áp lực đối với đồng tiền trong nước
- Ban hành các văn bản có hiệu lực kể từ 5/12/2008 về điều chỉnh giảm lãi suất,
tỷ lệ dự trữ bắt buộc; quy định mức lãi suất cho vay bằng đồng VN của Quỹ tín
dụng nhân dân cơ sở đối với khách hàng
Câu 14: Trình bày những nội dung cơ bản của các loại hình NH trung gian
trong nền KT thị trường. Đặc điểm chung của các loại hình này
* NH trung gian là các tổ chức được thành lập theo luật KD trong lĩnh vực tiền
tệ, tín dụng và NH
* Hệ thống NH trung gian
a) NHTM
- KN: là loại hình NH hđ vì mục đích lợi nhuận thông qua việc KD các khoản
vốn NH là chủ yếu
- Mục tiêu: là lợi nhuận thông qua việc KD các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu
- Huy động vốn:
+ Huy động từ tiền gửi của khách hàng: tiền gửi ko kì hạn, tiền gửi có kì hạn,
tiền gửi tiết kiệm
+ Vốn đi vay: vay từ NHTW, vay từ NH hay các trung gian tài chính # và vay
công chúng
+ Vốn của NH: vốn tự có, vốn coi như là tự có
- Sd vốn:
+ Nghiệp vụ ngân quỹ
14
+ Nghiệp vụ đầu tư

+ Những ts Có #
+ Các dịch vụ NH
b) NH phát triển
- KN: Là Nh có chức năng chủ yếu là huy động các nguồn vốn trung và dài hạn
dưới hình thức cấp TD, góp vốn mua cổ phiếu
- Mục tiêu: Mang tính chất phục vụ sự nghiệp xd và phát triển đất nước trên cơ
sở tập trung vốn cho những khu vực KT thiết yếu có tính chất quyết định đến sự
phát triển KT XH của QG, mục tiêu lợi nhuận chỉ là thứ yếu
- Huy động vốn: Chủ yếu huy động các nguồn vốn trung và dài hạn từ các
nguồn tiền gửi có kì hạn của công chúng, phát hành các chứng khoán có giả để
thu hút vốn vay trên thị trường tiền tệ và vay ngắn hạn từ các NHTW tiếp nhận
các khoản vốn từ ngân sách cho mục tiêu phát triển.
- Sd vốn: Chú ý là cấp TD trung và dài hạn cho các dự án đầu tư, phát trểin sx,
cho các DN đầu tư vào cổ phiểu, thực hiện bảo lãnh vay vốn.
c) NH đầu tư
- ĐN: là NH hđ vì mục tiêu lợi nhuận mà hđ chủ yếu là lĩnh vực chứng khoán
và các dịch vụ liên quan đến phát hành, bảo lãnh chứng khoán.
- Mục tiêu: là lợi nhuận, chủ yếu hđ trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán và các
dịch vụ liên quan.
- Huy động vốn: Các NH đầu tư thường là các NH “bán buôn”, nguồn tiền gửi
hầu hết là có kì hạn của các định chế tài chính công ty và cá nhân. Nó cũng
được quyền phát hành chứng từ có giá để thu hút vốn hoặc đi vay các định chế
tài chính #
- Sd vốn: Chấp nhận hối phiếu, tư vấn cho các hđ tài chính công ty, giao dịch
chứng khoán, quỹ đầu tư phát triển.
d) NH Chính sách
- ĐN: là NH cổ phần nhà nước, hđ ko vì mục đích lợi nhuận, phục vụ cho các
đối tượng chính sách nhằm hiện thực các chính sách KT XH của QG
- Mục tiêu: Nhằm tài trợ vốn cho các đối tượng chính sách vì mục đích XH và
phát triển nên ko vì mục tiêu lợi nhuận

- Huy động vốn: Nguồn vốn huy động chủ yếu là từ ngân sách nhà nước, juy
động vốn từ XH: phát hành chứng từ có giá , huy động tiền gửi có hoặc ko kì
hạn
- Sd vốn: Phục vụ cho các đối tượng chính sách, cho người nghèo, sinh viên…
vay vốn
e) Tín dụng hợp tác
- KN: là tổ chức TD thuộc sở hữu tập thể hoặc cổ phần, được thành lập theo
nguyên tắc tự nguyện = vốn góp của các thành viên và chủ yếu cho các thành
viên vay nhằm mục tiêu tương trợ phát triển sx, KD và đời sống.
- Mục tiêu: tương trợ nhau phát triển sx
- Huy động vốn:
+ Vốn điều lệ: vốn xác lập, vốn thường xuyên, vốn huy động
+ Vốn đi vay: vay trong hệ thốgn các tổ chức tín dụng hợp tác cơ sở hoặc TW,
vay từ các tổ chức tín dụng #, vay NHTW
15
- Sd vốn: cho vay, thực hiện cho vay đối với các thành viên có nhu cầu, bao
gồm cả cho vay ngắn hạn và cho vay dài hạn phục vụ cho nhu cầu KD và tiêu
dùng.
Câu 15: Trình bày chức năng của NHTM và giải thích mối quan hệ giữa
các chức năng đó
- KN: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng hoạt động vì mục đích lợi
nhuận thông qua việc kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu. Khái
niệm về ngân hàng đang thay đổi vì sự pha trộn các hoạt động truyền thống của
ngân hàng với các loại hình trung gian tài chính khác.
- Chức năng trung gian thanh toán:
Ngân hàng làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu
của khách hàng như trích tiền từ khoản tiền gửi của họ để thanh toán hàng hóa,
dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và
các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở

thực hiện chức năng làm thủ quỹ cho XH. Việc nhận tiền gửi và theo dỗi các
khoản thu, chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền để ngân hàng thực
hiệnv ai trò trung gian thanh toán. Mặt khác, việc tính toán trực tiếp bằng tiền
mặt giữa các chủ thể KT có nhiều hạn chế, đó là rủi ro do vận chuyển tiền, chi
phí thanh toán lớn, đặc biệt là với khách hàng ở cách xa nhau đã tạo nên nhu
cầu thanh toán qua ngân hàng.
* Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động
KT. Trước hết, thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng góp phần tiết
kiệm chi phí lưu thông tiền mặt và đảm bảo thanh toán an toàn. Khả năng lựa
chọn hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thích hợp cho phép khách hàng
thực hiện thanh toán nhanh chóng và hiệu quả. Điều này góp phần tăng nhanh
tốc độ lưu thông hàng hoá, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái
SX XH.
Thứ hai, việc cung ứng một dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt có chất
lượng làm tăng uy tín cho ngân hàng và do đó tạo đk để thu hút nguồn vốn tiền
gửi.
*Chức năng trung gian tín dụng
Ngân hàng làm trung gian tín dụng khi nó là “cầu nối” giữa người có vốn dư
thừa và người có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền
tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền KT, ngân hàng hình thành nên quỹ cho vay của
nó rồi đem cho vay đối với nền KT, mà chủ yếu là vay ngắn hạn. Với chức
năng này ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người
cho vay.
Chức năng trung gian tín dụng xuất phát từ đặc điểm hoàn vốn tiền tệ trong quá
trình tái sx XH. Sở dĩ ngân hàng làm được chức năng này vì nó là một tổ chức
chuyên kinh doanh về tiền tệ, tín dụng, có khả năng nhận biết được tình hình
cung cầu về tín dụng. Thông qua việc thu hút tiền gửi với một khối lượng lớn,
ngân hàng có thể giải quyết mqh giữa cung và cầu tín dụng cả về khối lượng
vốn cho vay và thời gian cho vay.
16

Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đã góp phần
tạo lợi ích cho tất cả các bên trong quan hệ là người gửi tiền, ngân hàng và
người đi vay và đảm bảo lợi ích của nền KT:
- Người gửi tiền thu được lợi từ vốn tạm thời nhàn rỗi của mình thông qua
khoản lãi tiền gửi. Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo an toàn cho các khoản tiền
gửi và cung cấp cho khách hàng các dịch vụ thanh toán tiện lợi.
- Người đi vay sẽ thoả mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh
toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi
cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp.
- Bản thân ngân hàng thương mại sẽ tìm kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch
giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận này
chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại.
- Đối với nền KT, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng
trưởng KT vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sx được thực
hiện liên tục và để mở rộng quy mô sx. Với chức năng này, ngân hàng đã biến
vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân
chuyển vốn, thúc đẩy sx, kinh doanh.
Khi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng, hình thành nên ngân hàng phát
hành và các ngân hàng trung gian thì ngân hàng trung gian không còn chức
năng phát hành giấy bạc ngân hàng. Song kết hợp giữa chức năng trung gian tín
dụng và chức năng trung gian thanh toán làm cho hệ thống ngân hàng thương
mại có khả năng tạo tiền gửi thanh toán. Thông qua chức năng làm trugn gian
tín dụng, ngân hàng sd số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại
được khách hàng sd để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên
tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của
tiền giao dịch, được họ sd để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ… Khi ngân
hàng chỉ thực hiện chức năng nhận tiền gửi mà chưa cho vay, ngân hàng chưa
hề tạo tiền, chỉ khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, ngân hàng mới bắt đầu tạo tiền.
Trước đây, sự phân biệt giữa ngân hàng thương mại và các ngân hàng trung
gian khác chính là chức năng trung gian thanh toán và khả năng tạo tiền gửi

thanh toán. Ngày nay hầu như các ngân hàng trung gian đều được phép nhận
tiền gửi không kì hạn, làm trung gian thanh toán và do vậy đều có khả năng tạo
ra tiền gửi thanh toán. Sự phân biệt các loại hình ngân hàng trung gian chủ yếu
dựa vào tài sản Có, vào mục đích cho vay và đầu tư.
Các chức năng của ngân hàng thương mại có mqh chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho
nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ
sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt
chức năng thủ quỹ và trugn gian thanh toán lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín
dụng, mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng
Câu 16: Phân tích tính chất và tầm quan trọng các nguồn vốn của NHTM.
để khơi tăng nguồn vốn các NHTM cần phải làm j.
Cho đến thập niên 1960, nguồn vốn của NHTM trên khắp thế giới vẫn tập trung
vào 3 nhóm phổ biến, đó là:
-Vốn tiền gửi
+ Tiền gửi không kì hạn:
17
Tiền gửi không kì hạn là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc
nào. Khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng trích tiền từ tài khoản này để chi trả
cho người được hưởng về tiền hàng hoá, cung ứng lao vụ. Đồng thời khách
hàng cũng có thể yêu cầu ngân hàng chuyển số tiền được hưởng vào tài khoản
này. Đối với khoản tiền gửi này, mục đích chính của người gửi tiền là nhằm
đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản thanh toán qua ngân hàng và
do vậy nó thường được gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán. Ở nhiều nước phần
lớn các giao dịch thanh toán thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán được thực
hiện bằng séc và do vậy người ta cũng có thể gọi đây là tài khoản tiền gửi có thể
phát hành séc.
Tiền gửi có thể phát hành séc là một nguồn vốn quan trọng và rẻ nhất của
NHTM. Tuy vậy, ngoài lãi suất, chi phí đầy đủ cho việc huy động vốn này phải
kể đến cả chi phí duy trì tiền gửi có thể phát hành séc, bao gồm chi phí trong
việc phục vụ những tài khoản này (xử lý và lưu giữ những séc đã thanh toán,

soạn và gửi các thông báo tình hình hàng tháng, cung cấp những thủ qũy có
năng lực hoàn thành công việc - người hoặc máy, duy trì một tào nhà gây được
ấn tượng, quảng cáo…).
Ở VN, tài khoản séc thường được gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán gồm tài
khoản thanh toán dùng cho DN và tài khoản thanh toán dùng cho cá nhân. Hiện
nay các NHTM trả lãi cho loại tiền gửi này (khoảng 0,1%/năm), đồng thời cũgn
thu phí thanh toán khi khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng.
Tiền gửi có thể phát hành séc là một tài sản Có đối với người gửi, bởi vì nó là
một phần của cả của người gửi. Ngược lại, người gửi tiền có thể rút vốn khỏi tài
khoản của họ bất cứ khi nào có nhu cầu và ngân hàng có nghĩa vụ thoả mãn vô
điều kiện yêu cầu đó. Do vậy đây là một nguồn vốn biến động thường xuyên.
Với tính chất như vậy, giải pháp chủ yếu tăng cường nguồn vốn này không phải
là yếu tố lãi suất mà là sự an toàn, thuận tiện của nguồn vốn gửi cũng như chất
lượng của các dịch vụ ngân hàng đặc biệt là dịch vụ thanh toán không dùng tiền
mặt.
+ Tiền gửi có kì hạn:
Tiền gửi có kì hạn là loại tiền gửi mà khách hàng được rút ra sau một thời hạn
nhất định từ một vài tháng đến 1 vài năm (3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm, 3
năm, 5 năm…). Mục đích của người gửi tiền là lấy lãi và ngân hàng có thể chủ
động kế hoạch hoá việc sử dụng nguồn vốn vì tính có thời hạn của nguồn vốn.
Mức lãi suất cụ thể phụ thuộc vào thời hạn gửi tiền và sự thoả thuận giữa ngân
hàng và khách hàng trên cơ sở xem xét đến mức độ an toàn của ngân hàng cũng
như quan hệ cung cầu về vốn tại thời điểm đó. Tuy nhiên, để tạo nên tính lỏng
cho loại tiền gửi có kì hạn và do đó mà hấp dẫn khách hàng, ngân hàng có thể
cho phép khách hàng được rút tiền trước hạn với những khoản phạt đáng kể
(được hưởng lãi suất thấp hơn quy định).
Ở Mỹ và nhiều nước khác, tiền gửi có kì hạn còn được biến tướng dứoi dạng
các chứng chỉ tiền gửi (CD), chủ yếu được phát hành cho các công ty và ngân
hàng khác mua. CD loại lớn là loại có thể đem bán lại ở thị trường thứ cấp
trước khi đến hạn. Vì lý do đó, loại CD này được các công ty, các quỹ tương trợ

thị trường tiền tệ và các tổ chức tài chính khác nắm giữ như là tài sản thay thế
cho các tín phiếu Kho bạc và những trái khoán ngắn hạn khác. Việc xuất hiện
18
CD là một cuộc cách mạng trong hoạt động ngân hàng. Các chủ ngân hàng giờ
đây có trong tay công cụ huy động vốn chủ động theo nhu cầu sd vốn mà không
phụ thuộc hoàn toàn vào nhu cầu gửi tiền của khách hàng.
* Tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm là tiền để dành của dân cư được gửi vào ngân hàng nhằm
mục đích hưởng lãi.
Hình thức phổ biến và cổ điển nhất là loại tiền tiết kiệm có sổ. Đối với loại tiền
gửi này, người gửi tiền được ngân hàng cấp cho một cuốn sổ dùng để ghi tiền
gửi vào và tiền rút ra. Đồng thời quyển sổ này cũng xác nhận số tiền số tiền đã
gửi. Loại hình này vẫn còn tồn tại đến nay và trong những năm 90 nó có thể
chuyển sang tài khoản séc dễ dàng. Do vậy, nó có khả năng thanh toán rất cao.
Ngoài ra ở nhiều nước còn có tiền gửi tiết kiệm phổ biến chẳng hạn như chứng
chỉ tiết kiệm (Saving certificates), trái phiếu tiết kiệm (Saving bands).
Ở VN, các hình thức tiền gửi tiết kiệm phổ biến là:
- Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể gửi
nhiều lần và rút ra bất cứ lúc nào.
- Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn: Là loại tiền gửi được rút ra sau một thời hạn nhất
định. Tuy vậy khách hàng có nhu cầu rút tiền trước hạn cũng có thể đáp ứng với
đk hưởng lãi suất thấp (thường bằng mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm ko kì hạn)
hoặc thậm chí ko được hưởng lãi. Các ngân hàng có thể áp dụng tiền gửi tiết
kiệm có kì hạn thông thường (người gửi được hưởng lãổnhặc trong những thời
kì) và có thể áp dụng tiền gửi tiết kiệm có thưởng kèm theo lãi để khuyến khích
nhân dân gửi tiết kiệm vào ngân hàng.
- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: thường là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn
nhằm mục đích xây dựng nhà ở. Những người tham gia loại hình tiết kiệm này
ngoài việc hưởng lãi còn được ngân hàng cho vay nhằm mục đích bổ sung thêm
vốn xây dựng nhà ở.

Tiền gửi có kì hạn và tiền gửi tiết kiệm được gọi chung là tiền gửi phi giao dịch.
Chúng có đặc tính chung là được hưởng lãi và chủ những tài khoản này ko được
phát hành séc. Mức lãi suất của chúng ta thường cao hơn tiền gửi tài khoản séc
bởi vì những người gửi tiền đó khôgn được hưởng nhiều dịch vụ như đối với tài
khoản séc.
Vốn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỉ trọng cao nhất trong số nguồn vốn của
NHTM, là nguồn vốn chủ yếu cho ngân hàng kinh doanh. Chính vì vậy người ta
gọi NHTM là ngân hàng kí thác hay ngân hàng tiền gửi.
-Vốn đi vay
Các NHTM có thể vay vốn từ NHTW, vay các ngân hàng hoặc trung gian tài
chính khác và vay từ công chúng.
+ Phát hành các chứng từ có giá
Trong hình thức này ngân hàng chủ động phát hành phiếu nợ để huy động vốn
thường nhằm mục đích đã định, ví dụ phát hành kì phiếu để có tiền cho vay
khắc phục hậu quả bão lụt, để cho vay thu mua nông sản, để đầu tư một dự án…
Việc huy động vốn dưới hình thức phát hành kì phiếu được áp dụng theo 2
phương thức:
19
i/ Phát hành theo mệnh giá: Trong hình thức này người mua trả tiền mua kì
phiếu theo mệnh giá đã được ghi trên kì phiếu. Khi đến hạn ngân hàng sẽ hoàn
trả vốn gốc và thanh toán lãi cho người mua kì phiếu;
ii/ Phát hành dưới hình thức chiết khấu: Nghĩa là người mua kì phiếu sẽ trả số
tiềin mua bằng mệnh giá trừ đi khoản lãi mà họ được hưởng. Khi đến kì hạn,
ngân hàng sẽ hoàn trả cho khách hàng theo mệnh giá của kì phiếu. Như vậy,
nếu cùng một mức lãi suất như phương thức trên, thì trên thực tế, người mua kì
phiếu theo phương thức này được hưởng một mức lãi suất cao hơn vì họ đã
được nhận lãi trước hay nói cách khác họ phải mua kì phiếu với giá gốc nhỏ
hơn mệnh giá.
+ Vay của NHTW
Bất kì NHTM nào khi được NHTW cho phép thành lập hoạt động đề được

hưởng quyền vay tại NHTW trong trường hợp cần bổ sung nhu cầu vốn khả
dụng. NHTW cấp tín dụng cho các NHTM chủ yếu dưới 2 hình thức:
i/ Tái cấp vốn mà chủ yếu dưới hình thức tái chiết khấu các chứng từ có giá.
Ii/ Cho vay thế chấp hay ứng trước
Hình thức tái cấp vốn được NHNN VN thực hiện theo 3 cách:
i/ Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng
ii/ Chiếu khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
iii/ Cho vay đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác.
Khoản vay này liên quan đến lượng tiền trung ương, đến việc thực hiện chính
sách tiền tệ của NhTW.
+ Vay các ngân hàng và tổ chức tài chính khác
Một mục đích quan trọng của loại vay này là nhằm đảm bảo nhu cầu vốn khả
dụng trong thời gian ngắn. Trong quá trình hoạt động, một số NHTM có những
ngày cho vay quá nhiều hoặc có nhu cầu lớn về các nghĩa vụ tài chính dẫn đến
sự thiếu hụt dự trữ tại NHTW. Trong khi đó lại có một vài NHTM khác trong
tình trạng thừa dự trữ. Hành vi vay lẫn nhau giữa các ngân hàng là nhằm đảm
bảo nguồn vốn lưu chuyển liên tục trong hệ thống ngân hàng.
+ Các nguồn vốn đi vay khác:
* Tiền vay từ những công ty mẹ của ngân hàng (những công ty nắm giữ ngân
hàng)
Ở các nước có nền KT phát triển, một công ty hoặc tập đoàn kinh doanh có thể
là chủ của một hoặc nhiều NHTM. Bởi vì khi ngân hàng phát hành trái phiếu
hoặc giấy nợ để vay tiền trên thị trường, nó có thể chịu sự quản lý và rằng buộc
của NHTW về dự trữ, lãi suất và thủ tục. Trong khi công ty mẹ thực hiện điều
này, nó không phải bị rằng buộc bởi những điều đó vì bản thân nó không phải là
một ngân hàng. Do vậy các công ty mẹ của ngân hàng thường thay thế nó phát
hành trái phiếu công ty để huy đôngọ vốn, sau đó chuyển vốn huy động được về
ngân hàng hoạt động dưới hình thức cho vay.
* Phát hành hợp đồng mua lại. Đây là những thảo thuận vay tiền từ các công ty.

Hợp đồng mua lại hay giấy thoả thuận mua lại (Repurchase Agreements – RPs)
là một hợ đồng bán chứng khoán giữa ngân hàng và các đối tượng kinh doanh
chứng khoán tương đối thừa tiền mặt như: các công ty tài chính, các quỹ tiết
kiệm, các quỹ tín dụng, các quỹ hưu trí, các công ty chứng khoán… Chứng
20
khoán mà ngân hàng đem bán là các chứng khoán mà nó đang đầu tư tài sản. Có
như trái phiếu Kho bạc, cổ phiếu… Điểm đặc biệt của hợp đồng này là chỉ bán
trong 1 ngày, 2 ngày hay một tuần, 2 tuần. Sau đó ngân hàng được phép mua
lại chính các loại chứng khoán đó mà nó đã bán với giá mua bằng giá đã bán
cộng thêm chi phí giao dịch. Chính vì vậy, chứng khoán của ngân hàng chỉ
được bán lại cho ngân hàng vào một thời gian đã thoả thuận, không được phép
bán cho người khác.
Hợp đồng mua lại là một hình thức giải quyết vấn đề thiếiu tiền mặt nhát thời
cho NHTM. Chẳng hạn trường hợp thiếu tiền mặt bất ngờ cho những thương vụ
đầu tư được kí kết, hoặt thiếu hụt dự trữ tại NHTW… Ở các nước công nghiệp
hiện nay, thời gian bán tối đa của hợp đồng này thường k hông quá 2 tuần.
Khi ngân hàng bán chứng khoán ra theo kiểu hợp đồng mua lại nó sẽ thu tiền
mặt về. Lượng tiền mặt này được xem như một kho ản vay ngắn hạn từ thị
trường bởi lẽ lượng chứng khoán mà ngân hàng xuất ra bán được coi như một
bộ phận cấu thành của tài sản Có mà ngân hàng sẽ thu hồi. Còn khoản vay ngắn
hạn này là một bộ phận của tài sản Nợ. Chủ thể mua chứng khoán là người cho
vay, giờ bán chứng khoán theo hợp đồng mua lại cho dân chúng, bởi vì nếu bán
cho dân chúng sau này mất nhiều thời gian, hiểu quả không cao, không đáp ứng
được nhu cầu tiền mặt cấp thiết trong ngắn hạn.
+ Vay nước ngoài
Các NHTM cũng có thể tìm kiếm nguồn vốn hoạt động từ việc phát hành phiếu
nợ để vay tiền ở nước ngoài. Do loại tiền sd trong thanh toán quốc tế hiện nay
là USD, cho nên vay tiền ở nước ngoài thường vay bằng USD. Đối với các
NHTM ở Mỹ, đó là khoản vay mược đôla châu Âu (tức là những khoản tiền gửi
bằng đôla thuộc các ngân hàng nước ngoài hoặc những chi nhánh ở nước ngoài

của các ngân hàng Mỹ). Vào những năm 1940, thị trường vay chủ yếu của các
ngân hàng Mỹ là Châu Âu nên phát sinh thuật ngữ đôla hoá Châu Âu (Euro
Dollars) để chỉ các khoản vay USD từ châu Âu của các NHTM Mỹ.
Đến những năm 1960, các NHTM ở các nước Nhật Bản, Pháp, Đức, Anh cũng
phát hành phiếu nợ để vay USD từ nước ngoài không chỉ ở châu Âu mà còn lan
sang thị trường giàu có USD khác như các nước xuất khẩu dầu khí Trung Đông,
Nam Mỹ, Đông Á… Tuy nhiên thuật ngữ đôla hoá Châu Âu vẫn tiếp tục được
sd khá phổ biến ở phần lớn các ngân hàng trên thế giới để chỉ khoản tài sản Nợ
này.
Loại trái phiếu đôla hoá châu Âu chỉ dùng để vay USD và khi đến hạn cũng trả
vốn và lãi bằng USD. Thời gian đến hạn của loại trái phiếu này thường rất
ngắn, dưới 3 tháng. Trong những thị trường tài chính lớn như New York,
London, Paris, Franfrut, Tokyo… loại trái phiếu này được xem không khác gì
USD.
Ở nhiều nước (Hàn Quốc, VN, Thái Lan…) việc phát hành loại trái phiếu Euro
Dollars chỉ được giới hạn vào một số ngân hàng đặc biệt như Ngân hàng Ngoại
thương, Ngân hàng xuất nhập khẩu.
Vốn vay đã trở thành nguồn vốn quan trọng của ngân hàng khi nó làm cho các
ngân hàng chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh. Việc áp dụng một chính
sách lãi suất linh hoạt kèm theo các đk phi lãi suất thích hợp đố với các công cụ
nợ khi đi vay ngân hàng có thể chủ động nguồn vốn phù hợp với nhu cầu.
21
-Vốn của ngân hàng
Khoản mục cuối cùng trong phần tài sản Nợ của bảng quyết toán tài sản ngân
hàng là vốn thuộc sở hữu ngân hàng. Nó bằng hiệu số giữa tổng tài sản Có với
tài sản Nợ. Ở VN, khoản mục vốn bao bồm 2 bộ phận: Vốn tự có và coi như tự
có.
+ Vốn tự có, bao gồm:
* Vốn điều lệ (hay vốn pháp định): là vốn mà NHTM phải có để đi vào hoạt
đôngọ được ghi vào trong văn bản pháp quy. Tùy theo hình thức sở hữu mà

nguồn vốn này được hình thành từ những nguồn khác nhau: đối với NHTM
quốc doanh, nguồn vốn tự có được hình thành do phát hành cổ phiếu.
Chẳng hạn năm 1960, vốn điều lệ của các NHTM quốc doanh khi thành lập là
200 triệu đồng VN.
* Các quỹ dự trữ được trích từ lợi nhuân ròng hàng năm bổ sung vào vốn tự
có: quỹ dự trữ có thể bổ sung vốn pháp định và quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp
rủi ro.
+ Vốn coi như tự có gồm phần lợi nhuận chưa chia, các quỹ khác chưa sd, có
thể xem là phần vốn tự có của NHTM, vì đó là những khoản tiền mà ngân hàng
phải sd vào mục đích nhất định nhưng chưa sd.
Vốn của NHTM mang tính chất ổn định, nó thường chiếm một tỉ trọng nhỏ
trong tổng nguồn vốn của ngân hàng (khoảng dưới 10%), nhưng nó có một ví
trí quan trọng, quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, là cơ sở để ngân
hàng tiến hành kinh doanh, huy động vốn và cho vay. Người ta ví nó như một
cái đệm để chốgn đỡ sự giảm giá trị của những tài sản Có của ngân hàng mà có
thể đẩy ngân hàng đến tình trạng thiếu khả năng chi trả và phá sản.
Câu 17: Trình bày kết cấu ts Có của NHTM. Mqh giữa khả năng sinh lời
và việc bảo đảm thanh toán của NH
Nghiệp vụ thuộc tài sản Có phản ánh việc sd vốn của NHTM. Xuấtg phát từ đặc
điểm nguồn vốn của ngân hàng, cơ cấu sd vốn phải đảm bảo an toàn và sinh lời.
- Nghiệp vụ ngân quỹ
Khoản mục này bao gồm các loại sau:
+ Tiền mặt tại quỹ gồm tiền giấy và tiền kim loại hiện có tại kho của ngân
hàng. Nhu cầu dự trữ tiền mặt cao hay thấp tuỳ thuộc vào quy mô hoạt động của
ngân hàng, nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng và còn mang tính chất thời vụ.
+ Tiền gửi ở ngân hàng khác: nhiều ngân hàng nhỏ gửi tiền trong những ngân
hàng lớn để đổi lấy nhiều dịch vụ khác nhau như thanh toán giữ các ngân hàng
giao dịch ngoại tệ, giúp mua chứng khoán. Các ngân hàng cũng có thể mở tài
khoản ở ngân hàng khác để thực hiện các nghiệp vụ thanh toán.
+ Tiền gửi ở NHTW gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định của NHTW và

tiền gửi thanh toán tại NHTW.
Các bộ phận trên hình thành nên phần dự trữ của NHTM. Mặc dù dự trữ ngân
hàng không tại nên lợi nhuận nhưng nó đảm bảo khả năng thanht oán và các
nghĩa vụ tài chính khác cho ngân hàng. Vì thế mà nó hạn chế rủi ro thanh toán,
nâng cao uy tín cho ngân hàng, toạ nền tảng vững chắc cho khả năng sinh lời
của ngân hàng.
-Nghiệp vụ cho vay:
22
Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ cung ứng vốn của ngân hàng trực tiếp cho các
nhu cầu sx, tiêu dùng tren cơ sở thoả mãn các đk vay vốn của ngân hàng. Khi
thực hiện nghiệp vụ vay, ngân hàng có thể kiểm soát trực tiếp và thường xuyên
mục đích sd tiền vay. đối với các ngân hàng truyền thống, cho vay là nghiệp vụ
sinh lời chủ yếu và được thực hiện thông qua các hình thức phổ biến sau:
+ Chiết khấu thương phiếu:
Chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn trong đó ngân hàng
mua những thương phiếu chưa đến hạn thanh toán của khách hàng với giá trị
bằng giá trị thương phiếu trừ đi phần lợi tức chiết khấu và hoa hồng phí. Đến
thời hạn thanh toán của thương phiếu, Ngân hàng đòi hỏi người mắc nợ thương
phiếu theo giá trị của thương phiếu.
+ Cho vay ứng trước
Tín dụng ứng trước là một thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp đồng
tín dụng, trong đó người đi vay được phép sd một mức cho vay trong một thời
hạn nhất định. Để thực hiện nghiệp vụ chuyển số tiền cho vay vào tìa khoản đó
để khách hàng sd.
+ Cho vay vượt chi (thấu chi)
Đây la hình thức đặc biệt của tín dụng ứng trước, thực hiện trên cơ sở hợp đồng
tín dụng, trong đó người vay được phép sd dư nợ trong giới hạn và thời hạn
nhất định trên tài khoản vãng lai. Gọi là vay thấu chi vì về nguyên tắc, khách
hàng luôn phải có số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán để sẵn sàng chi trả và
chỉ được chi trong số vốn có của mình. Như vậy ngân hàng đã tự động cho vay

một số tiền theo nhu cầu thanh toán của khách hàng.
Nghiệp vụ này giúp cho khách hàng sd vốn chủ động, tiện lợi nhưng ngân hàng
phải theo dõi chặt chẽ tài khảon này để trách vượt chi quá hạn mức. Nó thường
được áp dụng cho những khách hàng có khả năng tài chính mạnh và có uy tín.
+ Tín dụng uỷ thác thu hay bao thanh toán (Factoring)
Đây là dịch vụ do các Factor (công ty con của ngân hàng) thực hiện khi họ mua
lại giấy nợ của khách hàng để thanh toán hộ. Về mặt kĩ thuật, nghiệp vụ này
gần giống chiết khấu thương phiếu. Nó giúp cho DN thu hồi vốn nhanh chóng,
Ngân hàng thu được lãi do chênh lệch thanh toán và giá mua chứng từ nợ. Tuy
nhiên nghiệp vụ này cũng nhiều rủi ro.
+ Cho vay thuê mua
Cho vay thuê mua là hình thức tín dụng trung, dài hạn được thực hiện thông qua
việc cho thuê tài sản như máy móc, thiết bị, các động sản và bất động sản khác.
Ngân hàng sẽ dùng vốn của mình để mua tài sản theo yêu cầu của người thuê và
nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sd tài sản thuê và
thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được 2 bên thoả thuận và không
được huỷ bỏ hợp đồng trước thời hạn. Khi hết thời hạn thuê, bên thuê được
chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các đk đã thoả
thuận trong hợp đồng. Đây chính là một nghiệp vụ cho vay, bởi vì thay cho việc
vay bằng tiền để khách hàng mua tài sản, ngân hàng đã đứng ra mua và cho
thuê lại. Số tiền thuê phải bù đắp được chi phí khấu hao, chi phí tài chính (ứng
với lãi của số vốn ngân hàng bỏ ra mua tài sản), chi phí quản lý, lãi của người
cho thuê (Ngân hàng).
+ Tín dụng bằng chữ kí
23
Trong hình thức tín dụng này ngân hàng không trực tiếp cho khách hàng vay
bằng tiền nhưng bằng uy tín (chữ kí) của mình, ngân hàng tạo đk để khách hàng
sd vốn của người khác và đảm bảo thanh toán cho khách hàng. Cho nên nó là
một hình thức tín dụng nhưng trong hạch toán, nó không làm thay đổi quyết
toán tài sản mà được hạch toán ngoài bảng

*Tín dụng chấp nhận là việc ngân hàng đứng ra chấp nhận thương phiếu cho
khách hàng, hoặc là xác nhận việc đảm bảo thanh toán vốn của người trả tiền
thương phiếu. Ở nghiệp vụ này ngân hàng đã cho mượn uy tín của mình để
khách hàng vay vốn (người mua chịu được sd dụng vốn của người bán chịu
hàng hoá).
*Tín dụng bảo lãnh: Tín dụng bảo lãnh là việc ngân hàng đứng ra đảm bảo
thực hiện một nghĩa vụ của khách hàng thao cho người được bảo lãnh nếu
người này khôgn thực hiện được nghĩa vụ. Điểm này được cụ thể hoá bằng
vănb ản của ngân hàng gọi là thư bảo lãnh.
Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh trong các trườnghợp DN đề nghị bảo
lãnh để tham gia dự thầu, bảo đảm thực hiện hợp đồng, bảo đảm hoàn trả tiền
ứng trước, bảo đảm thanh toán, bảo đảm chất lượng sp theo hợp đồng, bảo đảm
hoàn trả vốn vay…
+ Tín dụng tiêu dùng
Đây là hình thức tín dụng được thực hiện để tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của
cá nhân. Tùy thuộc vào tình hình tài chính của mình mà người vay có nhu cầu
vay khác nhau. Tín dụng tiêu dùng chủ yếu tài trợ cho việc mua sắm, sửa chữa,
cải tạo, nâng cấp nhà ở, xe hơi, xe máy, các đồ dùng sinh hoạt đắt tiền…
-Nghiệp vụ đầu tư
Đầu tư vào chứng khoán là hình thức phổ biến nhất trong nghiệp vụ tài sản Có
của NHTM và các tổ chức tín dụng Ngân hàng có thể đầu tư vào trái khoán
Chính phủ hoặc trái khoán công ty để thu lợi tức đầu tư, do đó mạng lại thu
nhập cho ngân hàng. Nghiệp vụ này cũng nâng cao khả năng thanh toán cho
Ngân hàng, bảo tồn ngân quỹ, đặc biệt là đầu tư vào trái khoán chính phủ vì loại
trái khoán này có tính lỏng cao. Đồng thời nó còn làm đa dạng hoá các hoạt
động kinh doanh của ngân hàng nhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
Ở VN, theo Luật các Tổ chức tín dụng, ngoài việc đầu tư vào trái khoán, các tổ
chức tín dụng được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần
của DN và các tổ chức tín dụng khác

- Những ts Có khác
Đó là những vốn hiện vật như nhà làm việc, máy tính và những trang thiết bị
khác do NH sở hữu.
- Các dịch vụ NH
Các NHTM với chức năng vốn có thực hiện các dịch vụ thanh toán, KD ngoại
hối, các nghiệp vụ uỷ thác và đại lý theo yêu cầu của khách hàng… Với xu
hướng NH đa năng hiện nay, NH TM còn thực hiện các dịch vụ chứng khoán và
bảo hiểm.
Theo luật các Tổ chức TD của VN, hiện nay các dịchvụ mà NH được thực hiện
bao gồm:
24
+ Dịch vụ thanh toán: Cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ
thanh toán trong nước, dịch vụ thu và chi hộ và các dịch vụ thanh toán khác do
NHNN quy định
+ Kd ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế khi
được NHNN cho phép.
+ Thực hiện nghiệp vụ uỷ thác và đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến NH,
kể cả việc quản lý TS, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân theo hợp đồng.
+ Cung ứng dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ cho KH
Các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động NH như bảo quản hiện vật quý, giấy
tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch khác theo quy định của pháp luật
Theo luật, NH và các tổ chức TD ở VN còn được lập công ty bảo hiểm để KD
bảo hiểm và cung ứng các dịch vụ bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Câu 24: Mức cầu tiền tệ của nền kinh tế cấu thành từ các thành phần nào?
Giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến các thành phần đó?
Cầu tiền tệ là: tổng nhu cầu nắm giữ tiền của nền kinh tế.
Thành phần và những nhân tố ảnh hưởng: khác với cung tiền tệ các bộ phần cầu
tiền cũng như các nhân tố ảnh hưởng tới các bộ phận đó là ko giống nhau, tuỳ
theo quan điểm của các trường phái khác nhau:
* Quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển: MV=PY; hay M=P/V(Y). nếu

như V( tốc độ lưu thông tiền tệ) ít thay đổi trong ngắn hạn và P đc tự động điều
chỉnh bởi thị trg thì M( cầu tiền tệ) là 1 hàm của thu nhập M=k*f(Y) cho nên
phụ thuộc vào thu nhập.
* Quan điểm của các nhà kinh tế học tân cổ điển: về cơ bản thống nhất với các
nhà ktế học cổ điển. M=P/V(Y), song lại chỉ ra đc rằng cả P và V là những nhân
tố thay đổi, thậm chí ngay cả trong ngắn hạn, do vậy mà M phụ thuộc cả P,V.
Ngoài ra, các nhà kinh tế Tân cổ điển còn cho rằng dường như lãi suất cũng có
tác động đến M.
* Quan điểm của J.M.Keynes: Đây là quan điểm có thể coi như sự hoàn chỉnh
học thuyết về cầu tiền tệ. Thành phần của cầu tiền tệ gồm:
- Cầu giao dịch phụ thuộc vào tần suất thanh toán, giá cả, thu nhập…
- Cầu dự phòng, phụ thuộc vào thu nhập và các yếu tố xã hội khác.
- Cầu đầu cơ hay đầu tư, phụ thuộc vào thu nhập, lãi suất, và các yếu tố khác.
Vì vậy mà hàm cầu tiền theo quan điểm của J.M.keynes:
MD=
δ
(Y
+
, P,i
-
,Z)
Trong đó:
-Y là thu nhập,
-P là mức giá;
- f tần suất đc nhận các khoản thu nhập;
- I là lãi suất của nền kinh tế;
- Z là các yếu tố khác của nền ktế xã hội.
* Quan điểm của M.Friedman: có thể coi đay là sự phát triển quan điểm của
J.M.Keynes và gồm 2 phần chính:
- Giống quan điểm của keynes về thành phần và các nhân tố ảnh hưởng đến cầu

tiền tệ
25

×