Tải bản đầy đủ (.doc) (64 trang)

14 Tổ chức kế toán nguyên Vật liệu tại Công ty Dệt Kim Đông Xuân - Tổng Công ty dệt may Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (311.58 KB, 64 trang )

Lời nói đầu
Một trong những nhân tố có tính chất quyết định tới giá bán và chất l-
ợng sản phẩm là tiết kiệm chi phí sản xuất. Tiết kiệm chi phí sản xuất nhng vẫn
đảm bảo chất lợng sản phẩm, đó là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp có thể
giảm giá bán, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trờng, tăng lợi nhuận thu đợc.
Để đạt đợc mục đích này, các đơn vị phải quan tâm đến các khâu của quá trình
sản xuất kể từ khi bỏ vốn ra đến khi thu vốn về.
Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố không thể thiếu đợc của quá
trình sản xuất, đó là t liệu lao động chủ yếu cấu thành nên thực thể sản phẩm.
Chi phí về nguyên vật liệu chiếm một tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất. Chỉ cần sự biến động nhỏ về chi
phí cũng làm ảnh hởng đến giá thành sản phẩm và đến lợi nhuận thu đợc. Do
đó nếu tiết kiệm đợc chi phí nguyên vật liệu thì đây là một trong những biện
pháp hữu hiệu nhất để doanh nghiệp có thể đạt đợc mục đích của mình. Muốn
vậy có một chế độ quản lý và sử dụng nguyên vật liệu hợp lý, khoa học, có
công tác hạch toán vật liệu phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp là rất cần
thiết.
Trớc sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của rất nhiều doanh nghiệp dệt may trong
và ngoài nớc công ty dệt kim Đông Xuân cũng đang phải đứng trớc một vấn đề
bức xúc trong công tác quản lý và sử dụng nguyên vật liệu.
Trong những năm qua đợc tiếp thu về mặt lý luận của các thầy, các cô giáo
trong Học Viện Tài Chính và qua quá trình thực tập tại công ty Dệt kim Đông
Xuân, em nhận thấy vai trò quan trọng của kế toán, đặc biệt là kế toán vật liệu
đối với công tác quản lý của công ty. Sau thời gian đi sâu tìm hiểu công tác kế
toán tại công ty Dệt Kim Đông Xuân, em đã nhận thấy những u nhợc điểm và
những mặt còn hạn chế.
1
Chính vì vậy em đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: Tổ chức kế toán nguyên
Vật liệu tại công ty Dệt Kim ĐôngXuân-Tổng công ty dệt may Việt Nam
làm chuyên đề thực tập của em.
Chuyên đề đợc chia làm 3 chơng :


Chơng I: Những vấn đề lý lụân cơ bản về tổ chức công tác kế toán vật
liệu trong doanh nghiệp sản xuất.
Chơng II: Tình hình thực tế tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu
tại công ty dệt kim Đông Xuân.
Chong III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên
vật liệu tại công ty Dệt kim Đông Xuân.
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2003
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hải Thu
2
Ch ơng I
Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán
nguyên vật liệu trong doanh
nghiệp sản xuất.
1.1. Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán vật liệu trong
doanh nghiệp sản xuất .
1.1.1. Vị trí và vai trò của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất.
1.1.1.1. Vị trí của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất.
Khái niệm vật liệu:
Vật liệu là đối tợng lao động - một trong 3 yếu tố cơ bản của quá trình
sản xuất và là cơ sở vật chất để hình thành nên sản phẩm. Trong quá trình tham
gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ
sản xuất, bị tiêu hao toàn bộ giá trị mộtt lần vào chi phí sản xuất kinh doanh
trong kỳ.
Đặc điểm vị trí vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất :
Vật liệu là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể của sản phẩm, vì thế nó
là yếu tố không thể thiếu đợc của mỗi quá trình sản xuất. Trong các doanh
nghiệp sản xuất, chi phí vật liệu thờng chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm.
Xét về mặt hiện vật thì nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản
xuất nhất định nên khi tham gia vào sản xuất, giá trị của nguyên vật liệu sẽ đợc

tính hết một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Vì vậy có thể nói vật liệu là yếu tố quan trọng quyết định cả về số lợng
và chất lợng của sản phẩm. Vật liệu có chất lợng cao đúng quy cách chủng loại,
chi phí đợc hạ thấp, giảm mức tiêu hao vật liệu thì sản phẩm sản xuất ra đạt yêu
3
cầu, với giá thành hạ. Đậy là yếu tố mang tính sống còn đối với một doanh
nghiệp. Hơn nữa nguyên vật liệu là tài sản dự trữ thuộc loại tài sản lu động việc
sử dụng nguyên vật liệu một cách hợp lý và tiết kiệm sẽ góp phần làm tăng tốc
độ lu chuyển vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Và trong một chừng mực nào
đó sử dụng nguyên vật liệu tiết kiệm còn là c sở để tăng thêm của cải vật chất
cho xã hội.
Từ đặc điểm trên cho thấy vật liệu giữ một vai trò hết sức quan trọng đối
với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Do đó tăng cờng
công tác quản lý vật liệu là một yêu cầu không thể coi nhẹ trong các doanh
nghiệp sản xuất.
1.1.1.2.Vai trò của kế toán đối với việc quản lý và sử dụng nguyên vật liệu
Kế toán nguyên vật liệu là việc ghi chép, phản ánh đầy đủ tình hình thu, mua,
nhập, xuất, tồn, dự trữ nguyên vật liệu. Việc tổ chức tốt công tác hạch toán vật
liệu sẽ thúc đẩy việc cung cấp một cách kịp thời, đồng bộ vật liệu cần thiết cho
sản xuất. Đồng thời nó giúp cho công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành các
định mức dự trữ, tiêu hao vật liệu, ngăn ngừa các hiện tợng lãng phí, hao hụt,
mất mát vật liệu trong quá trình sản xuất. Qua đó các nhà quản lý có những
chính sách phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu. Mặt khác
tính chính xác, kịp thời của công tác hạch toán giá thành. Do vậy đảm bảo hạch
toán giá thành chính xác thì khâu đầu tiên cũng phải hạch toán vật liệu chính
xác và khoa học
1.1.2 ý nghĩa và yêu cầu quản lý vật liệu đối với doanh nghiệp sản xuất
Ngày nay trong cơ chế thị trờng cạnh tranh gay gắt một doanh nghiệp muốn
tồn tại phải có khối lợng sản phẩm chất lợng cao, mẫu mã đa dạng phong phú.
Do vậy vật liệu cung cấp cho sản xuất cũng không ngừng đợc nâng cao cả chất

lợng và chủng loại. Tuy nhiên nguồn vật liệu trong nớc cha đáp ứng đủ cả về
mặt số lợng và chất lợng, rất nhiều vật liệu chúng ta phải nhập ngoại. Vấn
đềcần dặt ra ở đây là làm sao sử dụng vật liệu tiết kiệm nhng vẫn đảm bảo đạt
4
hiệu quả kinh tế cao, muốn thế cần phải có hệ thống quản lý vật liệu ở các
khâu: Từ thu mua, bảo quản, dự trữ đến sử dụng.
- Tại khâu thu mua: vật liệu là tài sản dự trữ sản xuất, thờng xuyên biến
động, các doanh nghiệp thờng phải tiến hành thu mua vật liệu để đáp ứng kịp
thời cho quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và phục vụ cho nhu cầu quản lý
khác của doanh nghiệp. Ngay từ khâu thu mua phải quản lý về số lợng, quy
cách chủng loại, giá mua, lựa chọn địa điểm mua thích hợp để hạ thấp chi phí
thu mua góp phần hạ giá thành sản phẩm.
- Tại khâu bảo quản: Tổ chức hệ thống kho tàng hợp lý phù hợp kỹ thuật,
tránh lãng phí tổn thất.
- Tại khâu dự trữ: Doanh nghiệp phải xác định đợc mức dự trữ tối đa, tối
thiểu cho từng loại vật liệu để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh đợc
tiến hành bình thờng không bị ngừng trệ, gián đoạn do cung ứng, mua không
kịp thời hoặc gây tình trạng ứ đọng vốn do dự trữ quá nhiều.
- Tại khâu sử dụng: Đòi hỏi phải thực hiện việc sử dụng hợp lý tiết kiệm
trên cơ sở xác định mức dự toán chi phí nhằm hạ thấp mức tiêu hao vật liệu
trong giá thành sản phẩm, tăng thu nhập tích luỹ cho doanh nghiệp. Do vậy
trong khâu này cần phải tổ chức tốt việc ghi chép, phản ánh tình hình xuất dùng
vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh.
1.1.3. Nhiệm vụ kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất:
Để thực hiện chức năng giám đốc và là công cụ quảnlý kinh tế, xuất phát từ
vị trí của vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất và vai trò của kế toán đối với
việc quản lý và sử dụng vật liệu thì nhà nớc đã xác định nhiệm vụ kế toán vật
liệu trong các doanh nghiệp sản xuất nh sau :
- Thực hiện việc đánh giá phân loại vật liệu phù hợp với các nguyên tắc yêu
cầu quản lý thống nhất và yêu cầu quản trị của doanh nghiệp.

- Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời số hiện có và tình hình luân chuyển của
vật t hàng hoá cả về giá trị và hiện vật. Tính toán đúng đắn trị giá vốn (hoặc giá
thành) thực tế của vật t, hàng hoá nhập, xuất kho, trị giá vốn của hàng hoá tiêu
5
thụ, nhằm cung cấp thông tin kịp thời, chính xác phục vụ cho yêu cầu quản lý
doanh nghiệp.
- Kiểm tra tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về mua vật t hàng hoá, kế
hoạch sử dụng vật t cho sản xuất và kế hoạch bán hàng hoá.
- Tổ chức kế toán phù hợp với phơng pháp kế toán hàng tồn kho, áp dụng đúng
đắn các phơng pháp về kỹ thuật hạch toán vật liệu. Hớng dẫn kiểm tra các bộ
phận, đơn vị trong doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán ban đầu về vật liệu
(Lập chứng từ, luân chuyển chứng từ) mở các sổ thẻ kế toán chi tiết thực hiện
hạch toán vật liệu đúng chế độ đúng phơng pháp quy định nhằm đảm bảo sự
thống nhất trong công tác kế toán cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập báo
cáo tài chính và phân tích hoạt động kinh doanh.
1.2 Nội dung công tác kế toán vật liệu trong doanh nghiệp sản
xuất :
1.2.1. Phân loại vật liệu:
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử
dụng nhiều loại vật liệu khác nhau, mỗi loại vật liệu đợc sử dụng có nội dung
kinh tế và chức năng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, có tính năng lý hoá
khác nhau. Bởi vậy để quản lý dợc vật liệu đảm bảo có đủ vật liệu phục vụ cho
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi phải nhận biết từng loại, từng
thứ vật liệu. Mặt khác tổ chức phân loại nguyên vật liệu còn có ý nghĩa rất lớn
đối với công tác kế toán nguyên vật liệu trong quá trình vận dụng các tài khoản
lựa chọn các phơng phơng pháp hạch toán nguyên vật liệu hợp lý. Đồng thừi
giúp cho ngời quản lý doanh nghiệp nhận biết đợc nội dung kinh tế, vai trò
chức năng của từng loại nguyên vật liệu tham gia vào quá trình sản xuất kinh
doanh, từ đó có biện pháp quản lý, thích hợp đối với từng loại nguyên vật liệu.
- Căn cứ vào nội dung kinh tế và yêu cầu kế toán quản trị trong doanh

nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu đợc chia thành các loại sau:
6
+ Nguyên liệu, vật liệu chính (Bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài)
đối với các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu chính là đối tợng lao động
chủ yếu cấu thành c bản nên thực thể của sản phẩm nh sắt thép trong doanh
nghiệp chế tạo máy, cơ khí, xây dựng cơ bản , bông trong doanh nghiệp kéo
sợi, vải trong doanh nghiệp may...Đối với nửa thành phẩm mua ngoài trong các
doanh nghiệp dệt cũng đợc coi là nguyên vật liệu chính. Nguyên vật liệu chính
dùng vào sản xuất hình thành nên chi phí vật liệu trực tiếp.
+ Vật liệu phụ: vật liệu phụ chỉ có tác dụng trong quá trình sản xuất
chế tạo sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm hoặc phục vụ cho công tác quản lý,
phục vụ cho việc bảo quản bao gói sản phẩm nh: các loại thuốc nhuộm, thuốc
tẩy, dầu nhờn, xà phòng ...
+ Nhiên liệu là loại nhiên liệu phục vụ cho công nghệ sản xuất sản
phẩm cho hoạt động của các phơng tiện máy móc, thiết bị hoạt động trong quá
trình sản xuất kinh doanh nh xăng dầu, than củi, khí ga ...
+ Phụ tùng thay thế: Bao gồm các loại thiết bị phơng tiện đợc sử
dụng trong công việc xây dựng cơ bản ( Cả thiết bị cần lắp, không cần lắp ...)
+ Vật liệu khác: là các loại vật loại ra trong quá trình sản xuất chế tạo
sản phẩm nh : gỗ, sắt, thép vụn hoặc phế liệu thu hồi trong quá trình thanh lý
tài sản cố định.
-Căn cứ vào nguồn gốc vật liệu đợc chia thành.
+ Vật liệu do mua ngoài
+ Vật liệu tự gia công chế biến hoặc thuê ngoài chế biến
+ Vật liệu nhập do nhận vốn góp liên doanh.
Tuỳ thuộc vào đặc điểm của mỗi doanh nghiệp mà có cách phân
loại khác nhau phù hợp với nhu cầu quản lý, thực hiện tốt việc sử
dụng vật liệu một cách có hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.
1.2.2. Đánh giá nguyên vật liêụ:
7

Đánh giá vật liệu là dùng thớc đo tiền tệ để biểu hiện giá trị của vật liệu
theo những nguyên tắc nhất định đảm bảo yêu cầu thực thống nhất.
- Tại sao phải đánh giá vật liệu ?
Trong nền kinh tế thị trờng, giá cả hàng hoá luôn biến động theo quan hệ cung
cầu và nhiều yếu tố khác. Nguyên liệu, vật liệu cũng không nằm ngoài quy luật
đó, chúng cũng luôn có sự biến động. Vì thế việc xác định chính xác giá trị của
nguyên vật liệu xuất dùng vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ đồng thời
là căn cứ để tính chính xác giá thành sản phẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọn.
Và công tác quản lý phải thực hiện nghiêm túc việc đánh giá nguyên liệu, vật
liệu.
- Nguyên tắc đánh giá vật liệu.
Theo quy định hiện hành vật t hàng hoá hiện ở doanh nghiệp đợc phản ánh
trong sổ kế toán và báo cáo kế toán theo trị giá vốn thực tế tức là toàn bộ số
tiền doanh nghiệp bỏ ra để có số vật t hàng hoá đó. Song đối với những doanh
nghiệp thờng xuyên có sự biến động về giá cả, khối lợng, chủng loại vật liệu thì
có thể sử dụng giá hạch toán để tính trị giá vốn thực tế của vật liệu xuất kho.ty
nhiên dù đánh giá theo giá hạch toán thì kế toán vẫn phải đảm bảo việc phản
ánh tình hình nhập xuất vật liệu trên các tài khoản, sổ kế toán tổng hợp theo giá
thực tế.
1.2.2.1 Đánh giá vật liệu theo giá thực tế:
- Giá thực tế nhập kho:
Trong các doanh nghiệp sản xuất vật liệu đợc nhập từ nhiều nguồn khác nhau
nên giá của chúng trong từng trờng hợp đợc xác định cụ thể nh sau:
+ Đối với vật liệu mua ngoài:
Trị giá vốn thực
tế của hàng mua
nhập kho.
=
Trị giá mua thực tế
của hàng mua

nhập kho.
+
Các khoản chi phí thu
mua( Chi phí vận chuyển,
thuế nhập khẩu nếu có ...)
8
* Tại doanh nghiệp áp dụng phơng pháp khấu trừ thuế GTGT thì giá trị
mua thực tế là số tiền ghi trên hoá đơn không kể thuế GTGT trừ đi các khoản
chiết khấu, giảm giá, hàng trả lại (nếu có).
* Tại doanh nghiệp áp dụng phơng pháp tính thuế GTGT trực tiếp thì giá
mua thực tế là trị giá thanh toán (gồm cả thuế GTGT) trừ đi các khoản giảm giá
triết khấu và hàng trả lại.
+ Đối với doanh nghiệp tự gia công chế biến:
Trị giá vốn thực
tế vật liệu nhập
kho
=
Giá thực tế của vật
liệu xuất gia công
chế biến
+
Các chi phí gia
công chế biến
+ Đối với vật liệu nhập kho do thuê ngoài gia công chế biến
Giá vốn
thực tế vật
liệu nhập
kho
=
Giá vốn thực tế vật

liệu xuất cho gia
công chế biến
+
Số tiền phải trả cho
đơn vị nhận gia công
chế biến (không có
thuế GTGT
+
Chi phí v/c
vật liệu
+ Đối với vật liệu đơn vị khác góp vốn liên doanh thì giá vốn thực tế vật liệu
nhập kho là giá do hội đồng Liên doanh quyết định.
+ Đối với vật liệu đợc ngân sách, cấp trên cấp, giá vốn thực tế bằng giá thoả
thuận cấp (lấy trong biên bản cấp) cộng chi phí khác nếu có.
+ Đối với phế liệu nhập kho
Giá vốn thực tế = Giá ớc tính (nếu giá trị nhỏ)
Giá vốn thực tế = Giá thực tế tơng đơng trên thị trờng ( nếu giá trị lớn).
+ Vật liệu khác đợc đánh giá theo ớc tính.
-Giá thực tế xuất kho:
Vật liệu đợc nhập kho thờng xuyên từ nhiều nguồn khác nhau, có giá mua khác
nhau nên khi xuất kho kế toán phải tính trị giá mua thực tế của hàng xuất kho
theo phơng pháp tính đã đăng ký áp dụng, phải đảm bảo tính nhất quán trong
niên độ kế toán. Để tính trị giá nguyên vật liệu xuất kho mỗi doanh nghiệp có
9
thể lựa chọn một trong các phơng pháp dới đây cho phù hợp với đặc điểm
riêng, yêu cầu trình độ quản lý.
+ Tính theo đơn giá thực tế tồn đầu kỳ:
Theo phơng pháp này trị giá mua thực tế của hàng xuất kho đợc tính bằng công
thức:
Trị giá thực tế

vật liệu xuất
kho
=
Số lợng vật
liệu xuất kho x
Đơn giá thực tế
vật liệu tồn đầu
kỳ
Trong đó:
Đơn giá thực tế thực tế
vật liệu tồn đầu kỳ =
Trị giá vốn thực tế của vật liệu tồn đầu kỳ
Số lợng vật liệu tồn đầu kỳ
+ Tính theo đơn giá bình quân gia quyền:
Giá thực tế vật liệu xuất kho đợc căn cứ vào số lợng vật liệu xuất kho trong kỳ
và đơn giá bình quân để tính.
Trị giá thực tế
vật liệu xuất kho
= Số lợng vật
liệu xuất kho
x Đơn giá bình
quân
Trong đó:
Đơn giá
bình quân =
Trị giá mua thực tế còn
đầu kỳ +
Trị giá mua thực tế nhập
trong kỳ
Số lợng còn đầu kỳ + Số lợng nhập trong kỳ

+ Tính theo phơng pháp nhập trớc, xuất trớc:
Theo phơng pháp này giả thiết số vật liệu nào nhập kho trớc thì xuất kho trớc
và lấy trị giá mua thực tế của vật đó để ớc tính.
+ Tính theo phơng pháp nhập sau xuất trớc:
Theo phơng pháp này cũng phải xác định đợc đơn giá thực tế của từng
lần nhập kho và cũng giả thiết rằng hàng nào nhập kho sau thì xuất trớc sau đó
căn cứ vào số lợng xuất kho tính ra giá trị vật liệu thực tế xuất kho theo nguyên
tắc: Tính theo đơn giá thực tế của các lần nhập trớc đó. Nh vậy giá trị thực tế
vật liệu tồn kho cuối kỳ lại là giá trị thực tế vật liệu thuộc các lần nhập đầu kỳ.
10
+ Tính theo giá thực tế đích danh:
Theo phơng pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý theo dõi vật liệu
từng lô. Khi xuất kho vật liệu thuộc lô nào thì căn cứ vào số lợng xuất kho và
đơn giá nhập kho thực tế của lô hàng đó để tính ra giá trị thực tế vật liệu xuất
kho.
1.1.2.2 Đánh giá vật liệu theo giá hạch toán:
Đối với các doanh nghiệp mua vật t thờng xuyên có sự biến động về giá
cả, khối lợng và chủng loại, tình hình nhập xuất diễn ra nhiều thì việc xác định
giá thực tế của mỗi loại vật liệu sau mỗi nghiệp vụ nhập xuất kho là rất phức
tạp. Ngay cả trong trờng hợp ta có thể xác định đợc đối với từng lần, từng đợt
nhập thì chi phí quá tốn kém mà công tác kế toán lại không hiệu quả.Vì thế
doanh nghiệp có thể sử dụng giá hạch toán để tính trị giá vốn thực tế của vật
liệu xuất kho.
Giá hạch toán là giá ổn định do doanh nghiệp tự xây dựng, giá này
không có tác dụng giao dịch với bên ngoài. Doanh nghiệp có thể lấy giá kế
hoạch hoặc bất kỳ giá mua nào tại một thời điểm nào đó. Giá hạch toán phải đ-
ợc quy định thống nhất trong một thời gian dài ít nhất là một kỳ kế toán.
Việc nhập xuất vật liệu hàng ngày đợc thực hiện theo giá hạch toán.
Cuối kỳ kế toán phải tính giá thực tế để ghi sổ kế toán tổng hợp. Để tính đợc
giá trị thực tế của vật liệu xuất kho, trớc hết phải tính hệ số giữa giá thực tế và

giá hạch toán của vật liệu trong kỳ(H). Sau đó tính giá trị thực tế của vật liệu
xuất trong kỳ
H =
Trị giá vốn thực tế của vật liệu
tồn đầu kỳ
+ Trị giá vốn thực tế của
vật liệu nhập trong kỳ
Trị giá hạch toán của vật liệu tồn
đầu kỳ
+ Trị giá hạch toán của
vật liệu nhập trong kỳ
Trị giá thực tế của vật
liệu xuất trong kỳ =
Trị giá hạch toán của
vật liệu xuất trong kỳ
x Hệ số giữa giá thực
tế và giá hạch toán
11
Việc sử dụng giá hạch toán của vật liệu trong công tác kế toán vật liệu
hàng ngày sẽ giảm nhẹ công việc tính toán giá vật liệu nhập xuất tồn kho hàng
ngày, tạo thuận lợi cho công tác kiểm tra của kế toán.
Mỗi phơng pháp tính giá thực tế vật liệu xuất kho đều có u nhợc điểm
riêng vì thế doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh
doanh, khả năng trình độ nghiệp vụ kế toán, yêu cầu quản lý cũng nh điều kiện
trang bị phơng tiện kỹ thuật tính toán, xử lý thông tin mà có thể đăng ký lựa
chọn phơng pháp thích hợp.
1.2.3 Kế toán chi tiết vật liệu:
1.2.3.1 Chứng từ sử dụng:
Để đáp ứng yêu cầu quản lý kế toán chi tiết vật liệu đợc thực hiện ở cả
kho và phòng kế toán dựa trên các chứng từ về hàng tồn kho trong hệ thống

chứng từ kế toán do Bộ tài chính ban hành. Các chứng từ về vật liệu bao gồm:
- Phiếu nhập kho (mẫu 01-Vt)
- Phiếu xuất kho (mẫu 02-VT)
- Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho(mẫu 02- BH)
- Hoá đơn cớc vận chuyển (mẫu 03-BH)
- Hoá đơn giá trị gia tăng (mẫu 01- GTGT) nếu doanh nghiệp nộp VAT
theo phơng pháp trực tiếp.
- Hoá đơn bán hàng (mẫu 02- GTGT) nếu doanh nghiệp nộp VAT theo
phơng pháp trực tiếp.
- Biên bản kiểm kê vật t sản phẩm hàng hóa (mẫu 08-VT)
Ngoài các chứng từ bắt buộc sử dụng thống nhất theo quy định của nhà
nớc các doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán hớng
dẫn nh:
- Phiếu xuất vật t theo hạn mức (mẫu 04- VT)
- Biên bản kiểm nghiệm vật t (mẫu 05-VT)
- Phiếu báo vật t còn lại cuối kỳ (mẫu 07-VT)
12
Đối với chứng từ kế toán thống nhất bắt buộc phải lập kịp thời, đầy đủ theo
đúng quy định về mẫu biểu, nội dung, phơng pháp lập. Mọi chứng từ kế toán về
vật liệu phải tổ chức luân chuyển theo trình tự thời gian hợp lý do kế toán trởng
quy đinh phục vụ cho việc phản ánh ghi chép và tổng hợp số liệukịp thời của
các bộ phận cá nhân có liên quan.
1.2.3.2 Sổ chi tiết vật liệu:
Tuỳ theo phơng pháp kế toán chi tiết áp dụng trong doanh nghiệp mà kế
toán sử dụng các sổ (thẻ) kế toán chi tiết nh sau:
- Sổ (thẻ) kho
- Sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu
- Sổ đối chiếu luân chuyển
- Sổ số d
Ngoài ra sổ kế toán chi tiết nêu trên còn có thể mở thêm các bảng kê nhập, xuất

tồn kho vật liệu, phục vụ cho việc ghi sổ kế toán chi tiết đợc đơn giản, nhanh
chóng kịp thời.
1.2.3.3. Nội dung các phơng pháp kế toán chi tiết vật liệu:
Trách nhiệm quản lý vật t trong doanh nghiệp liên quan đến nhiều bộ
phận nhng việc trực tiếp nhập, xuất, tồn vật t do thủ kho và bộ phận kế toán
hàng tồn kho đảm nhận. Vì vậy giữa thủ kho và kế toán phải có sự liên hệ, phối
hợp trong việc sử dụng các chứng từ nhằm đảm bảo sự phù hợp số liệu trên thẻ
kho và sổ kế toán. Mặt khác tránh sự ghi chép trùng lặp. Kế toán có thể áp
dụng một trong 3 hình thức kế toán chi tiết vật liệu
- Phơng pháp ghi thẻ song song
- Phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển
- Phơng pháp sổ số d
*Kế toán chi tiết tại kho: Dù theo phơng pháp nào thì việc hạch toán chi tiết tại
kho đều thực hiện trên thẻ kho. Thẻ kho mở ra cho từng loại vật liệu và xắp xếp
theo từng kho vật liệu tơng ứng phù hợp với kết quả phân loại vật liệu Căn cứ
13
vào các chứng từ nhập, xuất vật liệu thủ kho kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của
chứng từ rồi tiến hành ghi chép số thực nhập, xuất vào chứng từ và thẻ kho.
Cuối ngày tính ra số tồn kho ghi thẻ kho. Riêng đôí với phơng pháp sổ số d thì
kế toán cuối tháng phải ghi số tồn kho đã tính trên thẻ kho sang sổ số d vào cột
số lợng.
*Kế toán chi tiết tại phòng kế toán :
Tuỳ thuộc vào phơng pháp kế toán chi tiết áp dụng mà việc hạch toán chi
tiết vật liệu có thể thực hiện trên các cơ sở.
- Sổ chi tiết vật liệu (nếu là phơng pháp thẻ song song)
- Sổ đối chiếu luân chuyển (nếu là phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển)
- Sổ số d, bảng kê nhập, bảng kê xuất, bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho
(nếu là phơng pháp sổ số d)
Căn cứ hạch toán là các chứng từ kế toán. Việc hạch toán chủ yếu tiến hành
theo chỉ tiêu giá trị trừ phơng pháp ghi thẻ song song hạch toán cả chỉ tiêu số l-

ợng.
+ Phơng pháp ghi thẻ song song
Căn cứ vào phiếu nhập, xuất vật liệu và các chứng từ liên quan, kế toán kiểm
tra tính hợp pháp, hợp lý của chứng từ rồi tiến hành ghi sổ theo phơng pháp đã
chọn theo chỉ tiêu giá trị (hoặc cả số lợng).Cuối tháng tiến hành kiểm tra đối
chiếu số liệu giữa sổ đã ghi với thẻ kho và số liệu kế toán tổng hợp.
Công ty dệt kim Đông Xuân áp dụng hình thức kế toán chi tiết vật liệu theo
phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển.
Sơ đồ hạch toán chi tiết theo phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển:
14
Thẻ kho
Chứng từ nhập
Chứng từ nhập
1.2.4. Kế toán tổng hợp vật liệu:
Trong công tác kế toán kế toán chi tiết không phản ánh một cách đầy đủ số
hiện có tình hình biến động của toàn bộ tài sản trong doanh nghiệp theo chỉ tiêu
giá trị nên kế toán tổng hợp vật liệu đợc sử dụng nhằm đáp ứng đợc yêu cầu
này.
Vật liệu là tài sản lu động thuộc nhóm hàng tồn kho của doanh nghiệp
cho nên việc mở các tài khoản tổng hợp ghi chép sổ kế toán và xác định giá trị
hàng tồn kho, giá trị hàng bán ra hoặc xuất dùng tùy thuộc vào việc doanh
nghiệp áp dụng phơng pháp kế toán hàng tồn kho là: Kê khai thờng xuyên hay
kiểm kê định kỳ.
1.2.4.1. Kế toán tổng hợp vật liệu theo phơng pháp kê khai thờng xuyên:
Phơng pháp kê khai thờng xuyên hàng tồn kho là phơng pháp ghi chép
phản ánh thờng xuyên, liên tục có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn kho vật
liệu trên các tài khoản kế toán, sổ kế toán tổng hợp trên cơ sở chứng từ nhập,
xuất.
Nh vậy việc xác định trị giá vật liệu xuất kho theo phơng pháp này căn
cứ vào chứng từ xuất kho sau khi đã tập hợp phân loại theo các đối tợng sử

dụng để ghi vào các tài khoản và sổ kế toán.
Tài khoản kế toán sử dụng:
+ Tài khoản 152 nguyên liệu và vật liệu: Tài khoản này phản ánh số hiện
có và tình hình tăng giảm nguyên vật liệu theo trị giá vốn thực tế (hay giá thành
15
Sổ đối chiếu luân
chuyển
Bảng kê nhập
Bảng kê xuất
thực tế).Tài khoản này có thể mở thành các tài khoản cấp 2 để kế toán chi tiết
vật liệu theo từng loại phù hợp với cách phân loại theo nội dung kinh tế và yêu
cầu kế toán quản trị của doanh nghiệp.
Trong từng tài khoản cấp hai lại có thể chi tiết thành tài khoản cấp ba, cấp bốn
tới từng thứ, nhóm vật liệu tùy thuộc vào yêu cầu quản lý tài sản của doanh
nghiệp.
Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản liên quan khác nh: TK111, TK112,
TK141,TK151,TK333, TK154, TK621, TK641, TK 331. . . .
1.2.4.2 Kế toán tổng hợp vật liệu theo phơng pháp kiểm kê định kỳ:
Phơng pháp kiểm kê định kỳ là phơng pháp không theo dõi, phản ánh th-
ờng xuyên, liên tục tình hình nhập, xuất vật liệu trên các tài khỏan kế toán hàng
tồn kho tơng ứng.
Việc xác định trị giá vật liệu xuất dùng trên tài khoản kế toán tổng hợp
không căn cứ vào chứng từ xuất kho mà căn cứ vào trị giá thực tế vật liệu tồn
kho đầu kỳ, nhập trong kỳ và kiểm kê cuối kỳ để xác định.
Trị giá vật
liệu xuất
dùng
=
Trị giá vật
liệu tồn đầu

kỳ
+
Trị giá vật
liệu nhập
trong kỳ
_
Trị giá vật
liệu tồn
cuối kỳ
Tài khoản kế toán sử dụng:
Theo phơng pháp này kế toán sử dụng tài khoản 611 Mua hàng để phản ánh
giá trị của vật t mua vào và nhập trong kỳ. Còn tài khoản 152 chỉ dùng để phản
ánh giá trị hàng tồn kho lúc đầu và cuối kỳ. Ngoài ra kế toán cũng sử dụng các
tài khoản liên quan khác tơng tự nh phơng pháp kê khai thờng xuyên.
Trình tự hạch toán tổng hợp vật liệu theo phơng pháp kê khai thờng
xuyên hạch toán theo sơ đồ sau:
TK151 TK152 TK621
16
Nhập kho hàng đang xuất dùng trực tiếp

đi đờng kỳ trớc cho sản xuất
TK111,141,331 TK627,641,642
N.kho vật liệu mua ngoài xuất dùng cho Q.lý
TK133 bán hàng, sản xuất
VAT
TK 411 TK632,157
Nhận vốn góp liên doanh
xuất bán, gửi bán

TK154 TK154

N.kho vật liệu tự chế,
Xuất tự chế hoặc
thuê ngoài
thuê ngoài
TK333(3333)
Thuế nhập (nếu có) TK 138

phát hiện thiếu khi
TK338 kiểm kê chờ xử lý
Phát hiện thừa khi
kiểm kê chờ xử lý
TK412 TK412
chênh lệch giảm
Chênh lệch tăng do
đánh giá lại do đánh giá lại
Sơ đồ kế toán tổng hợp vật liệu theo phơng pháp kiểm kê định kỳ
TK151,152 TK611 TK151,152
Kết chuyển trị giá vật liệu kết chuyển giá trị vật liệu
17

tồn kho đầu kỳ tồn kho cuối kỳ
TK111,112 TK111,128,138
Mua vật liệu nhập kho chiết khấu hàng mua

Hàng mua trả lại
T133
TK621

cuối kỳ kết chuyển số


vật liệu dùng cho SXKD

TK333(3333) TK632
Thuế nhập khẩu (nếu có) xuất bán
TK411 TK111,138,334
Nhận vốn góp cổ phần vật t thiếu hụt mất mát
TK412 TK412
Chênh lệch do đánh giá tăng Chênh lệch đánh giá giảm
1.2.4.3. Hệ thống sổ kế toán sử dụng trong phơng pháp kế toán tổng hợp
vật liệu.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
đều đợc phản ánh vào các chứng từ kế toán. Tuy nhiên thông tin phản ánh trên
18
chứng từ chỉ là những thông tin rời rạc, cha có tác dụng đối với công tác quản
lý tổng hợp. Vì vậy để quản lý có hiệu quả các hoạt động kinh tế, tài chính
những thông tin này cần phải đợc phân loại và phản ánh một cách có hệ thống
vào các tài khoản kế toán trong các sổ kế toán phù hợp. Các doanh nghiệp có
thể sử dụng các loại sổ kế toán khác nhau hình thành nên các loại sổ kế toán
khác nhau.
- Hình thức kế toán nhật ký sổ cái:
Hình thức này sử dụng nhật ký sổ cái làm sổ kế toán tổng hợp duy nhất để ghi
chép tất cả các hoạt động kinh tế-tài chính theo thứ tự thời gian và theo hệ
thống. Căn cứ vào các chứng từ kế toán về thu mua, nhập vật liệu, kế toán lập
bảng chứng từ gốc. Sau đó lấy số liệu ghi vào sổ nhật ký sổ cái các TK 152
hoặc TK 611. Căn cứ vào các chứng từ xuất kho vật t hoặc bảng tổng hợp,
chứng từ gốc, trị giá vốn thực tế vật liệu xuất kho đợc ghi vào sổ nhật ký sổ cái,
sau đó ghi vào sổ chi tiết.
- Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ:
Các hoạt động kinh tế-tài chính đợc phản ánh ở chứng từ gốc đều đợc phân loại,
tổng hợp, lập chứng từ về nhập nguyên vật liệu để lập chứng từ ghi sổ. Sau đó

dựa vào số liệu chứng từ ghi sổ vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ và ghi sổ cái các
tài khoản TK152 hoặc TK611. Trị giá nguyên vật liệu xuất kho theo trị giá vốn
thực tế phản ánh trên bảng phân bổ nguyên vật liệu đợc dùng làm căn cứ ghi sổ.
- Hình thức kế toán nhật ký chung:
Đặc điểm của hình thức này là sổ nhật ký chung dùng để ghi chép tất cả các
hoạt động kinh tế tài chính theo thứ tự thời gian và theo quan hệ dối ứng tài
khoản, sau đó sử dụng số liệu ở sổ nhật ký chung để ghi sổ cái các tài khoản
liên quan. Kế toán vật liệu căn cứ vào chứng từ nhập vật liệu ghi vào sổ nhật ký
chuyên dùng hàng ngày hoặc định kỳ. Sau đó thông qua số liệu tổng hợp từ sổ
nhật ký chuyên dùng và nhật ký chung để ghi vào sổ cái TK152. Trị giá vốn
thực tế nguyên vật liệu xuất kho đợc phản ánh trên bảng phân bổ nguyên vật
19
liệu và đợc dùng làm căn cứ để ghi vào nhật ký chung. Dựa vào số liệu tổng
hợp trên sổ nhật ký chung ghi vào sổ cái TK452, 611.
- Hình thức kế toán nhật ký chứng từ:
Đặc điểm hình thức này là các hoạt động kinh tế đợc phản ánh ở chứng từ gốc
đều đợc phân loại để ghi vào sổ nhật ký chứng từ, cuối tháng tổng hợp số liệu
từ các sổ nhật ký chứng từ ghi vào sổ cái các tài khoản.
Trong hình thức nhật ký chứng từ kế toán các nghiệp vụ thu, mua, nhập vật
liệu và thanh toán với ngời bán đợc thực hiện trên bảng kê số 3, sổ chi tiết
thanh với ngời bán, nhật ký chứng từ số 5, bảng phân bổ nguyên vật liệu.
+ Bảng kê số 3 dùng để tính giá thành thực tế nguyên vật liệu. Bảng này lấy số
liệu từ NKCT số 1,2,5. . . .
bảng kê tổng hợp giá trị vật liệu nhập kho và phần chênh lệch giữa giá thực tế
và giá hạch toán. Trên cơ sở đó tính ra hệ số giá vật liệu rồi tính ra giá vật liệu
xuất dùng hoặc tồn kho.
+ Sổ chi tiết TK331 gồm hai phần
Phần ghi có TK331, nợ TK152. . . .
Phần theo dõi thanh toán ghi nợ TK331, có TK. . . .
Nguyên tắc ghi trên sổ kế toán chi tiết TK331 là mỗi nhà cung cấp ghi trên một

sổ hoặc một trang sổ. Mỗi hóa đơn ghi trên một dòng theo thứ tự thời gian và đ-
ợc theo dõi đến luc thanh toán.
Phần theo dõi thanh toán ghi nợ TK331, có TK. . . .
+ Nhật ký chứng từ số 5: Là sổ tổng hựop thanh toán với ngời bán về các
khoản mua nguyên vật liệu, hàng hóa và các lao vụ dịch vụ khác. Căn cứ để ghi
NKCT số 5 là các sổ chi tiết phải trả ngời bán. Cuối tháng phải căn cứ vào số
tổng cộng của từng sổ chi tiết TK331 để ghi NKCT số 5. Mỗi nhà cung cấp ghi
một dòng.
Ch ơng II
20
thực tế tổ chức công tác kế toán nguyên vật
liệu công ty dệt kim đông xuân
2.1 Đặc điểm chung của công ty dệt kim đông xuân:
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty dệt kim Đông Xuân:
Công ty dệt kim Đông Xuân với tên giao dịch DOXIMEX đợc thành lập từ
năm 1959, là doanh nghiệp nhà nớc đầu tiên của ngành dệt kim Viêt Nam. Trụ
sở chính của công ty đặt tại trung tâm Hà Nội 67 Ngô Thì Nhậm rất thuận tịên
cho việc giao dịch và quan hệ với bạn hàng trong và ngoài nớc.
Với dây truyền sản xuất hoàn chỉnh từ dệt ,xử lý hoàn tất, cắt may, in, thêu
bằng các thiết bị hiện đại bằng công nghệ tiên tiến của Nhật Bản, CHLB Đức,
Italia .Các sản phẩm của công ty đã đáp ứng đ ợc các yêu về chất lợng, đặc
biệt là mặt hàng dệt kim 100% Côtton luôn đợc khách hàng trong và ngoàI nớc
a chuộngvà giữ đợc uy tín trong suốt hơn 40 phát triển.
Các sản phẩm của Đông Xuân đa dạng với nhiều kiểu dệt Single, Rip,
Interlock, Kanoko, Milano, tạo vòng cào bông. . . thích hợp cho mọi đối tợng
trong sinh hoạt hàng ngày, hoạt động thể dục thể thao, du lịch . . . Năng lực sản
xuất hiện nay từ 10 đến 14 triệu sản phẩm/năm. Trong đó phần lớn xuất sang
thị trờng Nhật Bản, EU và một số nớc trong khu vực thu về một lợng ngoạI tệ
lớn. Diện tích nhà xởng trên 30.000 m2 gồm 6 xí nghiệp thành viên ( XN dệt,
XN xử lý hoàn tất, 3 XN may và XN cơ khí động lực ) với tổng số lao động trên

1500 ngời, trong đó có 85% công nhân kỹ thuật lành nghề, 8% kỹ s và cử nhân
kinh tế, bộ máy điều hành tinh giảm có kinh nghiệm và cơ chế quản lý trực
tuyến luôn đảm bảo yêu cầu cao của khách hàng.
Trở lại 44 năm trớc đây, ngày 13-04-1959 nhà máy dệt kim Đông Xuân đợc
khánh thành và đi vào hoạt động. Trong những ngày đầu cơ sở sản xuất tại 67
Ngô Thì Nhậm- Hà Nội chỉ gồm 4 phân xởng với 380 lao động. Dây truyền
thiết bị gồm 180 máy chủ yếu là của Trung Quốc với công suất 1 triệu sản
phẩm/năm. Sản phẩm bao gồm quần áo dệt kim các loại, khẩu trang, thắt lng
21
phục vụ nhu cầu trong nớc và quốc phòng. Bắt đầu từ thập niên 70 công ty đợc
giao thêm nhiệm vụ làm hàng xuất khẩu sang các nớc thuộc Liên Xô cũ, Mông
Cổ, Lào, Ba Lan, Hungari ... Đ ợc sự đồng ý của tổng công ty và với năng lực
tích luỹ công ty mở rộng sản xuất phát triển thêm 2 cơ sở nữa 250 và 524 Minh
Khai Hà Nội.
Đến năm 1986 đờng lối đổi mới của Đảng và chính sách mở cửa của nhà nớc
đã mở ra hớng phát triển mới cho công ty Đông Xuân. Trên cơ sở đầu t, đổi
mới thiết bị và áp dụng công nghệ tiên tiến, chủ động vơn ra thị trờng mới.
Năm 1987 sản phẩm của công ty đã đợc xuất khẩu sang Bắc Âu, Tây Âu và bắt
đầu thăm dò thị trờng Nhật Bản. Năm 1989 công ty đã ký thoả thuận hợp tác
dài hạn với khách hàng Nhật Bản từ năm 1989 đến1999 và hiện nay đã ra hạn
thêm 10 năm ( đến năm 2009 ). Bên cạnh đó công ty vẫn tiếp tục phát triển các
mối quan hệ thơng mại với bạn hàng EU ( Đức, Hà Lan, Pháp ....)
Ngày 19-08-1992 Bộ công nghiệp quyết định đổi tổ chức hoạt động của nhà
máy thành công ty dệt kim Đông Xuân với tên giao dịch là DOXIMEX.
Với định hớng sản xuất, kinh doanh chủ yếu là phục vụ xuất khẩu, thị trờng đòi
hỏi cao về chất lợng, quy cách, mẫu mã sản phẩm đa dạng, thời hạn giao hàng
nghiêm ngặt và khả năng cạnh tranh cao, công ty không ngừng đầu t thiết bị
hiện đại và công nghệ tiên tiến để đáp ứng nhu cầu này. Hơn 10 năm qua sản
phẩm của công ty đã khẳng định vị trí vững vàng trên thị trờng trong và ngoài
nớc đặc biệt là Nhật Bản, Đức, Pháp . . .

Tuy vậy công ty vẫn luôn quan tâm tới thị trờng trong nớc, tham gia các hội trợ
triển lãm để giới thiệu sản phẩm, đa sản phẩm tới tay ngời tiêu dùng và đã đợc
thị trờng chấp nhận 2 năm liền 2000 và 2001 công tyđợc báo Kinh tế Sài Gòn
trao danh hiệu Hàng Việt Nam chất Lợng cao đợc khách hàng a chuộng.
Trải qua hơn 40 năm phát triển công ty dệt kim Đông Xuân luôn là doanh
nghiệp nhà nớc đầu tiên có công nghệ xử lý hàng dệt kim 100% côtton có chất
lợng cao, là doanh nghiệp dệt may đầu tiên có sản phẩm xuất khẩu đợc cấp dấu
22
chất lợng cao của Việt Nam. Công ty xứng đáng là doanh nghiệp trung tâm,
doang nghiệp đầu đàn của ngành dệt kim Việt Nam.
2.1.2. Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và dây truyền công
nghệ của công ty:
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý:
Bộ máy quản lý của công ty tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng
nhằm đáp ứng kịp thời thông tin, số liệu cho các cấp lãnh đạo đồng thời cũng
tiện cho việc đa ra chỉ thị, mệnh lệnh từ lãnh đạo, cấp trên xuống cấp dới một
cách nhanh chóng kịp thời.
Bộ máy quản lý là ban lãnh đạo gồm 3 ngời: tổng giám đốc và 2 phó
tổng giám đốc
+ Tổng giám đốc là ngời có quyền cao nhất, quyết định và chỉ đạo mọi
hoạt động sản xuất của công ty và chịu trách nhiệm trớc nhà nớc, bộ công
nghiệp và toàn bộ công ty.
+ Hai phó tổng giám đốc (một phụ trách kỹ thuật, một phụ trách về kỹ
thuật thơng mại) cùng với trợ lý tổng giám đốc giúp việc cho tổng giám đốc.
Bên dới là hệ thống các phòng ban có chức năng sau:
- Phòng nghiệp vụ kinh doanh: Có nhiệm vụ xây dựng giá thành, lên kế
hoạch sản xuất hàng tháng và điều động tiến trình thực hiện, quản lý vật t
tiêu thụ sản phẩm, quản lý kho, theo dõi và tập hợp các hợp đồng, quản lý
lao động và xây dựng chế độ lao động tiền lơng.
- Phòng kỹ thuật: Có nhiệm vụ quản lý các quy trình công nghệ trên toàn bộ

dây truyền sản xuất, thiết kế mẫu dệt may, tham gia đàm phán với khách
hàng về phơng diện kỹ thuật của sản phẩm, kiểm nghiệm các tiêu chuẩn do
khách hàng đề ra.
- Phòng kế toán tài chính: Có nhiệm vụ theo dõi,tính toán hoạt động sản
xuất của công ty, đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động sản xuất ,kinh
23
doanh, hạch toán lỗ, lãi trong sản xuất kinh doanh , thực hiện phân phối
theo lao động và thực hiện nghĩa vụ của công ty với Nhà nớc.
- Phòng quản lý chất lợng: Có chức năng kiểm tra, quản lý chất lợng sản
phẩm, việc thực hiện tiêu chuẩn về mọi mặt của sản phẩm, đề ra các biệnn
pháp nâng cao chất lợng sản phẩm, kiểm nghiệm các tiêu chuẩn do khach
hàng đề ra.
- Khối văn phòng đoàn thể nh: Đảng bộ, Công đoàn, đoàn thanh niên, y tế
nhà trẻ . . . có vai trò trong việc bảo vệ quyền lợi của công nhân viên trong
công ty ,
- Văn phòng: là bộ phận giải quyết các công việc hành chính, tiếp khách,
chuyển chủ trơng của lãnh đạo đến các đơn vị, bảo vệ trị an.
2.1.2.2 Tổ chức bộ máy kế toán của công ty dệt kim Đông Xuân
Hình thức tổ chức bộ máy kế toán của công ty đợc tổ chức theo kiểu tập
trung. Hình thức kế toán mà công ty đang áp dụng là hình thức Nhật ký chứng
từ .Hàng tồn kho của công ty đợc hạch toán theo phơng pháp kê khai thờng
xuyên. Biên chế của phòng kế toán hiện nay là 18 ngời trong đó có một kế toán
trởng là ngời trịu trách nhiệm tổ chức toàn bộ công tác kế toán tại đơn vị, hai
phó trởng phòng (một phụ trách về kế toán tính giá thành, một phụ trách về tiêu
thụ và thuế. Ngoài ra phòng kế toán còn có các bộ phận kế toán có phần hành
nh sau:
+ Bộ phận kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ: Tiến hành thực hiện
nhiệm vụ kế toán tổng hợp và chi tiết tình hình nhập xuất vật liệu, ccdc (hạch
toán chi tiết vật liệu theo phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển), lên báo cáo
nhập, xuất vật t, nộp báo cáo cho bộ phận hạch toán giá thành, hàng tháng lập

sổ chi tiết tài khoản 331 phải trả ngời bán, nhật ký chứng từ số 5, bảng kê
số 3 bảng tính giá thành thực tế vật liệu, CCDC, bảng phân bổ số 2
bảng phân bổ nguên liệu, vật liệu, CCDC.
+ Bộ phận kế toán tiền lơng và BHXH: có nhiệm vụ tính toán, chi trả l-
ơng và BHXH,BHYT, KPCĐ, các khoản phải trả khác cho công nhân viên, lập
24
bảng theo dõi và thanh toán lơng, bảng phân bổ số 1 Bảng phân bổ tiền l-
ơng và các khoản phải trả
+ Bộ phận kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
có nhiệm vụ tập hợp, phân bổ chi phí sản xuất theo các đối tợng sử dụng để tính
giấ thành của các thành phẫm trong tháng, lập bảng kê số 4.
+ Bộ phận kế toán tổng hợp kiêm kế toán TSCĐ: có nhiệm vụ tổng hợp
tất cả các số liệu do kế toán các bộ phận chuyển sang để lên cân đối và lập báo
cáo tài chính, căn cứ vào các nhật ký chứng từ để ghi vào sổ cái, sau đó lập
Bảng cân đối kế toán và Bảng tổng kết tài sản, theo dõi tình hình biến
động của TSCĐ, tiến hành trích khấu hao hàng tháng, lập bảng phân bổ số 3
Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ và Biểu theo dõi tăng, giảm TSCĐ
đang dùng và trích khấu hao
+ Bộ phận kế toán vốn bằng tiền và thanh toán bao gồm
- Một nhân viên thanh toán về tiền mặt:có nhiệm vụ viết phiêu thu, phiếu chi,
ghi sổ quỹ, ghi nhật ký chứng từ số 1.
- Hai kế toán tiền gửi ngân hàng: có nhiệm vụ theo dõi về ngoại tệ, mở LC,
theo dõi về tiền VNĐ, cuối tháng ghi vào bảng kê số 2, nhật ký chứng từ số
2, nhật ký chứng từ số 4, nhật ký chứng từ số 3, nhật ký chứng từ số 10
- Thủ quỹ tiền mặt: có nhiệm vụ bảo quản tiền mặt (ngân phiếu) tại quỹ của
công ty. Căn cứ vào các chứng từ gốc hợp lệ để thu, chi quy, ghi sổ quỹ
phần thu, chi, cuối ngày đối chiếu với sổ quỹ của kế toán tiền mặt.
+ Bộ phận kế toán tiêu thụ và thuế bao gồm:
- Một phó trởng phòng làm công tác tổng hợp xuất,nhập tồn kho tổng hợp
thành phẩm và vào các bảng kê số 8, là báo cáo nhập-xuất-tồn kho tổng hợp

thành phẩm cuối quý lên các sổ tổng hợp, sổ thanh toán, làm báo cáo xác
định kết quả kinh doanh, đồng tổng hợp đồng tổng hợpời theo dõi thuế VAT
đầu ra.
25

×