Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

ĐÔ THỊ HÓA ĐƯỢC VÀ MẤT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (405.63 KB, 19 trang )

KINH TẾ PHÁT TRIỂN
‗‗۞‗‗
CHỦ ĐỀ:
ĐÔ THỊ HÓA ĐƯỢC VÀ MẤT.
DANH SÁCH NHÓM:
Nguyễn Thị Thanh Hà
Nguyễn Thị Thanh Hoa
Châu Viết Hưng
Trần Đại Dương
Phan Thị Mỹ Nhuỵ
Nguyễn Thị Hoài Yên
Trần Minh Nhật
Nguyễn Đức Quang
Huế, tháng 04/2010
- 1 -
CHỦ ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA ĐƯỢC VÀ MẤT
I. Đặt vấn đề: đưa ra nguyên nhân chọn đề tài
1.Giới thiệu:

- Cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách nhanh
chóng như hiện nay thì ĐTH là một quá trình tất yếu của tất cả
các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Bên cạnh những
lợi ích mà ĐTH mang lại thì quá trình này cũng gây ra không ít
những tiêu cực, việc ĐTH tự phát, thiếu quy hoạch khoa học sẽ
làm nảy sinh và để lại nhiều hậu quả lâu dài làm cản trở sự phát
triển của đất nước. Chính vì tính cấp thiết của vấn đề này, đồng
thời để giúp các bạn hiểu rõ hơn về quá trình ĐTH ở Việt Nam
và thế giới, hôm nay nhóm chúng tôi xin trình bày chủ đề: ĐÔ
THỊ HOÁ-ĐƯỢC VÀ MẤT
2.Nguyên nhân


- Sự di chuyển nông thôn đến đô thị
- Người nông thôn tin rằng mức sống ở các đô thị sẽ đưoc tốt
hơn nhiều tại các khu vực nông thôn.
- Tỷ lệ tăng tự nhiên gây ra bởi sự giảm tỷ lệ tử vong trong
khi tỷ lệ sinh vẫn còn cao.
→đô thị hoá là sự tăng lên của cư dân đô thị. Sự tăng lên này
theo 3 dòng chính: sự tăng dân số tự nhiên của cư dân đô thị,
dòng di dân từ nông thôn ra thành thị và điều chỉnh về biên giới
lãnh thổ hành chính của đô thị. Ba dòng này có vai trò và vị trí
khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
- Đô thị hóa xuất hiện tự nhiên từ những nỗ lực cá nhân và
doanh nghiệp để giảm thời gian và chi phí trong đi lại và
giao thông vận tải, vừa nâng cao cơ hội việc làm, giáo dục,
- 2 -
nhà ở và giao thông vận tải. Sinh sống tại các thành phố cho
phép các cá nhân và gia đình để tận dụng các cơ hội của gần
nhau, sự đa dạng, và cạnh tranh thị trường.
- Tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của các khu vực đô thị là
kết quả của hai yếu tố: tăng dân số tự nhiên, và di cư đến
các khu vực đô thị.
3.Tốc độ đô thị hóa.
Vào năm 1900, toàn thế giới chỉ có 10% dân số sốngở đô thị.
Đến năm 1950 con số này là gần 30%.Vào 2007,theo thống kê
của Liên hợp quốc, số người sống ở đô thị đã vượt ở nông thôn.
Xu thế này sẽ còn gia trong những năm tới, đặc biệt là tại châu
Phi và châu Á, hai khu vực vào năm 2030 sẽ tập trung đa số các
đô thị lớn của thế giới. Lúc đó,số người sống ở thành thị sẽ lên
tới 5 tỉ người, chiếm 60% dân số toàn cầu.
(Đến cuối năm 2007 có chừng 3,3 tỉ người sống ở đô thị).
- 3 -

II. Nội dung:
1.Khái niệm về đô thị hóa:

Đô thị hoá là quá
trình chuyển đổi
một khu vực, một
vùng nào đó từ
chưa "đô thị"
thành "đô thị".
Những vùng, khu
vực có thể là vùng
ven đô thị hay
ngoại thành, có thể
thị trấn, thị tứ khi
có cơ hội đô thị
hoá, từ đô thị mở
rộng không gian và
diện tích cũng như
thu hút luồng di cư
của dân không nhất
thiết từ đô thị trung
tâm mà cả những
vùng khác nhất là
nông thôn trong cả
nước .
HÌNH 1
Hình 1 cho thấy dân số đô thị tăng trưởng giữa năm 1950 đến năm 2000.
Năm 1950, ít hơn 30% dân số thế giới sống tại các thành phố. Con số này
đã tăng đến 47% trong năm 2000 (2,8 tỷ người), và dự kiến sẽ tăng lên 60%
vào năm 2025.

- 4 -
Một số nước điển hình:

- Chủ yếu diễn ra tại các nước đang phát triển nằm ở Nam bán cầu,
với làn sóng người từ các vùng nông thôn đổ về thành phố, dẫn tới
việc hình thành các trung tâm đô thị khổng lồ mà người ta vẫn gọi
mà các megacity

- Những nơi có tỉ lệ đô thị hoá cao nhất : Châu Âu, Bắc Mỹ chiếm
vị trí hàng đầu với ¾ dân số sống ở thành thị. đặc biệt là châu Mỹ la
tinh 78% dân số sống ở đô thị.
-Các quốc gia phát triển có một tỷ lệ cao của cư dân đô thị ít hơn so
với các nước phát triển. Tuy nhiên, là đô thị hóa diễn ra nhanh
chóng trong nhiều hơn các nước phát triển, và dự kiến rằng tăng
trưởng đô thị nhất sẽ xảy ra trong các nước kém phát triển trong
nhiều thập kỷ tiếp theo.
- Liên Hiệp Quốc xác định các khu định cư của hơn 20.000 như đô
thị, và những người có hơn 100.000 như các thành phố. Hoa Kỳ
xác định một khu vực đô thị hóa như là một thành phố và khu vực
xung quanh, với dân số tối thiểu là 50.000. Một khu vực đô thị bao
gồm cả các khu vực thành thị và nông thôn được xã hội và kinh tế
tích hợp với một thành phố cụ thể.
Các thành phố có hơn 5 triệu dân được biết đến như là megacities.
Có 41 trong năm 2000. Con số này dự kiến sẽ phát triển như là
tăng dân số trong những thập kỷ tới. Đó là dự đoán rằng đến năm
2015, 50 megacities sẽ tồn tại, và 23 trong số này dự kiến sẽ có hơn
10 triệu người. Đây là một bảng danh sách của 25 thành phố lớn
nhất thế giới vào năm 1995.
- 5 -
Thế giới của 25 thành phố lớn nhất, 1995

Dân số (triệu)
Tokyo, Nhật Bản 26,8
Sao Paulo, Brazil 16,4
New York, USA 16,3
Thành phố Mexico, Mexico 15,6
Bombay, Ấn Độ 15,1
Thượng Hải, Trung Quốc 15,1
Los Angeles, Hoa Kỳ 12,4
Bắc Kinh, Trung Quốc 12,4
Calcutta, Ấn Độ 11,7
Seoul, Hàn Quốc 11,6
Jakarta, Indonesia 11,5
Buenos Aires, Argentina 11,0
Thiên Tân, Trung Quốc 10,7
Osaka, Nhật Bản 10,6
Lagos, Nigeria 10,3
Rio de Janeiro, Brazil 9,9
Delhi, Ấn Độ 9,9
Karachi, Pakistan 9,9
Cairo, Ai Cập 9,7
Paris, Pháp 9,5
Metropolitan Manila, Philippines 9,3
Matxcơva, Nga 9,2
Dhaka, Bangladesh 7,8
Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ 7,8
Lima, Peru 7,2
Bảng I, Nguồn: Liên Hiệp Quốc, Dân số phận
thế giới đô thị. Triển vọng. 1994
- 6 -
2.Tổng quan về ĐTH ở Việt Nam-ĐTH thông qua

những con số:
- Trong hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, quá trình đô thị
hoá diễn ra hết sức nhanh chóng nhất là trong 10 năm trở lại đây,
đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố
Hồ Chí Minh.
Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát triển, lúc đó cả nước
mới có khoảng 500 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 17-18%), đến
năm 2000 con số này lên 649 và năm 2003 là 656 đô thị. Tính đến
nay, cả nước có khoảng 700 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực
thuộc trung ương, 44 thành phố trực thuộc tỉnh, 45 thị xã và trên 500
thị trấn. Bước đầu đã hình thành các chuỗi đô thị trung tâm quốc
gia: Các đô thị trung tâm quốc gia gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí
Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế. Các đô thị trung tâm vùng gồm
các thành phố như: Cần Thơ, Biên Hoà, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột,
Nha Trang, Nam Định, Thái Nguyên, Việt Trì, Hạ Long, Hoà
Bình… Các đô thị trung tâm tỉnh gồm các thành phố, thị xã giữ
chức năng trung tâm hành chính-chính trị, kinh tế, văn hoá, du lịch-
dịch vụ, đầu mối giao thông; và các đô thị trung tâm huyện; đô thị
trung tâm cụm các khu dân cư nông thôn đô thị mới. Hiện nay, tỷ lệ
dân số đô thị ở nước ta dưới 40%,
theo quy hoạch phát triển đến năm 2010 con số này sẽ 56-60%, đến
năm 2020 là 80%.
- Theo dự báo của Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hoá của Việt Nam vào
năm 2020 sẽ đạt khoảng 40%, tương đương với số dân cư sinh sống
tại đô thị chiếm trên 45 triệu dân. Mục tiêu đề ra cho diện tích bình
quân đầu người là 100m2/người. Nếu đạt tỷ lệ 100m2/người, Việt
- 7 -

×