Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

sáng kiến kinh nghiệm y học đại học – Phế nham (ung thư phế quản) docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (176.73 KB, 7 trang )

sáng kiến kinh nghiệm y học đại học – Phế nham (ung thư phế quản)


1. Phế nham.
Bệnh nguyên phát, bệnh biến tại phế; biểu hiện triệu chứng chủ yếu là: Nội phế kết
độc, độc thành khối u lưu, hữu hình, hữu chứng, khái thấu, suyễn tức, khí đoản,
khái đàm trệ huyết, hung thống phát sốt; kèm theo đau xương khớp, ngón tay biến
dạng, bì phu cơ nhục cải biến hoặc phiền khát đa niệu, nam giới vú to lên, thời kỳ
sau gầy gò, cổ nách nhiều hạch (thành đám hoặc kết hòn hoặc xâm lấn dần vào cơ
quan hoặc lưu chuyển đến tạng phủ khác để xuất hiện các triệu chứng tương ứng.

Nguyên nhân phế nham bệnh: có ngoại cảm tà độc, có nội thương thất tình, có
phiêu phong dị thường.
Chủ bệnh là : khí cơ không thông, đàm độc nội kết, ứ huyết thương lạc.
Về biện chứng phương trị loại trừ nguyên nhân sinh bệnh là thứ yếu, chủ yếu là
biện chứng về tà chính hư thực, tiêu bản hoãn cấp, cứu nguy kéo dài đời sống là cơ
bản.
– Phế nham đột xuất phải phối hợp tây y – y học cổ truyền để điều trị trong thời kỳ
đầu; thời kỳ giữa phải phẫu thuật phối hợp với xạ trị, hóa liệu, Trung y dược biện
chứng, biện bệnh, phù chính – trừ tà, điều lý diệt độc sẽ nâng cao hiệu qủa điều trị.
Sau khi điều trị bằng phóng xạ, hóa chất, phẫu thuật phối hợp với Trung y dược trị
sẽ hạn chế phần nào được di căn, tái phát và kéo dài thêm đời sống cho bệnh nhân.
– Phế nham thời kỳ sau: dùng các thuốc tây y không hiệu qủa; điều trị thuốc Trung
y lại thấy không ít bệnh nhân tiến triển đột biến tốt, thời gian sống thêm tương đối
dài.

2. Biện chứng luận trị:
2.1. Chứng trị ưu điểm:
Phế nham là loại thũng lưu cao độ ác tính, phát triển nhanh, biến hóa nhanh, tỷ lệ
tử vong cao. Hiện nay, tỷ lệ điều trị khỏi rất thấp, chỉ có kết hợp trung – tây y, kết
hợp phẫu thuật sớm với tia xạ, hoá chất và kế theo là thuốc thảo mộc thì tỷ lệ tử


vong sớm sẽ được cải thiện, hiệu qủa điều trị sẽ được nâng cao.
Phải xuất phát từ tình hình thực tế trên mỗi người bệnh, biện chứng luận trị chặt
chẽ, kết hợp với chọn các thuốc thảo mộc có tác dụng kháng nham phối hợp với
thuốc phù chính – trừ tà, điều hòa miễn dịch thì mới hy vọng kéo dài đời sống cho
bệnh nhân. Trước mắt, ứng dụng thuốc thảo mộc trong một số phương diện sau:
+ Thời kỳ đầu (nguyên lập nham) chưa hình thành kết hạch có thể dùng đơn thuần
thuốc thảo mộc.
+ Đối với 1 số bệnh nhân trong thời kỳ đầu không có ý nguyện, họ không tiếp thu
phương pháp điều trị tây y hoặc là ở thời kỳ sau tây y đã điều trị mà không hiệu
qủa, nên dùng điều trị đơn thuần thuốc Trung y (thuốc Đông y).
+ Phối hợp phẫu thuật sớm, xạ trị, hóa chất trị, phù chính điều lý, giảm độc để tăng
hiệu qủa sau phẫu thuật; điều trị củng cố bằng hóa dược hoặc xạ trị.
Nguyên tắc điều trị tổng hợp của trung – tây y là kết hợp giữa biện chứng với biện
bệnh vận dụng tổng hợp châm cứu khí công liệu pháp, nắm chắc quan hệ giữa tà
khí và chính khí để trừ tà phù chính. Kết hợp nghiên cứu hiện đại các phương
thuốc truyền thống với các thuốc thảo mộc có tác dụng kháng nham có hiệu qủa,
phải trị phế là chủ yếu.
Ngoài ra còn phải phối hợp mối liên quan phế với các tạng phủ khác theo quan
điểm biện chứng trị luận trị chỉnh thể.
2.2. Chứng trạng phương trị:
2.2.1. Sau phẫu thuật:
Phế nham thời kỳ đầu, phần phế nham đã được cắt bỏ, bệnh lý chứng thực đã được
loại trừ bằng phẫu thuật, không nhất thiết phải điều trị phóng xạ hoặc hóa dược
(hoá chất) mà có thể chọn dùng các thuốc trung y có tác dụng phù chính – trừ tà
điều hòa miễn dịch phối hợp với các thuốc kháng nham thảo mộc.
Biện chứng đặc trưng: thời kỳ đầu sau phẫu thuật, đa số khí hư, âm hư là chủ, số ít
có ứ nhiệt, sau hồi phục đa phần là hư chứng ở mức độ khác nhau.
– Phương pháp trị liệu:
. Sau phẫu thuật: ích khí dưỡng âm, thanh nhiệt hoạt huyết.
. Khi hồi phục: ích khí dưỡng âm, hóa ứ tán kết.

– Phương thuốc thường dùng:
. Sau phẫu thuật: Sinh mạch ẩm, sa sâm, mạch đông thang, “bổ phế a giao thang”
gia giảm.
. Khi hồi phục: “Sinh mạch ẩm” gia vị.
2.2.2. Phế nham thời kỳ tiến triển:
Là chỉ bệnh có triệu chứng thũng lưu cấp nham rõ rệt, nhưng hình thể còn mập,
sinh hoạt thể lực hoạt động, ăn uống chưa có trở ngại, tức là “Tà khí thịnh mà
chính khí dương xung” , là thời kỳ chính tà giao tranh.
– Phương trị: Giải độc tán kết, hóa ứ hành khí, hoạt huyết, chỉ huyết, công trục
đàm ẩm liễm ngoan khí âm.
– Phương thuốc:
. Hoàng liên giải độc thang, đạo đàm thang, huyết phụ trục ứ thang.
. Đình lịch đại táo tả phế thang, đại hãm hung thang, ngưu hoàng thang
2.2.3. Phế nham thời kỳ muộn:
Chỉ khối u phát triển lan rộng xâm lấn nhiều, toàn thân suy sụp, gầy gò, mệt mỏi,
vô lực, ăn kém, hoạt động sinh hoạt khó khăn, diễn biến phức tạp đa dạng, tà độc
nội thịnh gây “chứng hư tà thực” rõ rệt. Vì vậy, thời lỳ này chỉ cần giảm nhẹ triệu
chứng, cải thiện chất lượng sự sống, kéo dài sự sống là rất quí.
– Phương pháp trị liệu: ích khí dưỡng âm – kiện tỳ – bổ thận – chỉ khái – hoá đàm
– bình suyễn – chỉ thống – chỉ huyết – khai vị…
– Phương thuốc: “ Bát chân thang”, “nhân sâm dưỡng vinh thang”, “bổ phế
thang”, “ sinh mạch ẩm”, “đô khí hoàn”, “đương qui bổ huyết thang”, “sa sâm
mạch đông thang”, “qui tỳ thang”, “tả qui hoàn”, “hữu qui hoàn”, “đại bổ âm
hoàn”, “tam giác phục mạch thang”.

2.2.4. Y học cổ truyền kết hợp với xạ trị
Người ta cho rằng, tác dụng phụ của xạ trị thuộc “Nhiệt độc chi tà” khi dùng kéo
dài dễ thương âm hao khí, nên thường phối hợp các phương thuốc: “sinh mạch
ẩm”, “thanh táo cứu phế thang”, “dưỡng âm thanh phế thang” và “bách hợp cố
kim thang”.


2.2.5. Thuốc y học cổ truyền kết hợp với điều trị hóa chất
Trung y cho rằng, điều trị thuốc hóa chất đa số thuộc hàn lương, số ít có tính ôn
nhiệt (thiên về ôn nhiệt) nên sau điều trị thường bị khí – huyết lưỡng thương kèm
theo chứng trạng hư hàn, thiểu số có chứng hư nhiệt. Thường sau đợt điều trị hóa
chất có phản ứng tiêu hóa, tủy xương bị ức chế, chức năng tâm can thận bị tổn hại,
công năng miễn dịch giảm thấp, một số thuốc hóa chất còn gây sốt, xơ hóa phổi,
tổn thương các mạt đoạn thần kinh cảm giác. Khi phối hợp với thuốc trung thảo
dược thường khắc phục được tồn tại trên, hạn chế tác dụng phụ và hiệu qủa điều
trị được nâng cao.
– Phương pháp trị liệu: ích khí dưỡng huyết – kiện tỳ bổ thận là chủ, chống phản
ứng đường tiêu hóa phải lấy hòa vị giáng nghịch – lý khí tiêu trướng , kết hợp kiện
tỳ chỉ tả. Chống tủy xương bị ức chế phải thêm thuốc bổ khí huyết; chống chức
năng gan bị tổn thương phải xơ can – lợi đởm; chống chức năng tạng tâm bị tổn
hại phải dưỡng tâm – an thần; mạt đoạn thần kinh tổn thương phải dưỡng huyết –
tức phong; miễn dịch bị ức chế phải lấy thuốc phù chính là chủ.
– Phương thuốc thường dùng: “Sinh huyết thang”, “kiện tỳ bổ thận phương”,
“nhân sâm dưỡng vinh thang”, “quất bì trúc nhự thang”, “qui tỳ thang”, “kiện tỳ
hoàn”, “khai vị tiêu thực thang”, “hương sa lục quân tử thang” và “sâm linh bạch
truật hoàn”.
2.3. Phương thuốc kinh nghiệm chữa phế nham
- Phương thuốc thường dùng
Ngư tinh thảo 20g
Trư phục linh 15g
Sa sâm 5g
Mạch đông 10g
Qua lâu 20g
Ngân hoa 10g
Xuyên bối mẫu 10g
Tử uyển 10g

Tiên cước thảo 30g
Đông hoa 10g
Thảo tử sâm 20g
Nhân sâm 6g
Bạch mao đằng 30g
Bạch hoa sà thiệt thảo 20g.
– Tham khảo phương thuốc trên phải chú ý một số vị thuốc ở Việt Nam sẵn có để
trộn thay thế:
Hạ khô thảo 15g
Bạch hoa xà thiệt thảo 40g
Thổ bối mẫu 20g
Thổ phục linh 30g
Long quí 30g
Tiên cước thảo 20g.

×