Tải bản đầy đủ (.doc) (78 trang)

tổ chức thi công cốp pha trượt cho các công trình đứng theo phương pháp dây chuyền

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.6 MB, 78 trang )

MỤC LỤC
II.1.2 Các hệ thống ván khuôn 24
II.1.2.1 Hệ thống ván khuôn 24
II.1.2.2 Hệ thống sàn nâng 25
II.1.2.3 Hệ thống nâng trượt: 25
II.1.2.4 Giải pháp kỹ thuật thi công trượt cho công trình cần có các nội dung sau: 27
II.1.2.5 Tiêu chuẩn Việt Nam 9342-2012 về trượt ván khuôn 28
II.2 Các sự cố thường gặp và cách sử lý 31
II.2.1 Sự cố bê tông 31
PHẦN MỞ ĐẦU
Ngành xây dựng cơ bản là một trong những ngành sản xuất vật chất lớn
nhất của nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò chủ chốt ở khâu cuối cùng của
quá trình tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật và tài sản cố định (xây dựng công
trình và lắp đặt thiết bị vào công trình) cho mọi lĩnh vực hoạt động của đất
1
nước và xã hội dưới mọi hình thức (xây dựng mới, cải tạo và hiện đại hoá tài
sản cố định).
Các công trình xây dựng thể hiện trình độ phát triển kinh tế, văn hoá,
khoa học kỹ thuật, là sự kết tinh của các ngành hội họa, kiến trúc, điêu khắc
Các công trình xây dựng thể hiện đường lối phát triển kinh tế của đất
nước, tạo ra cơ sở hạ tầng tạo đà cho các ngành khác phát triển. Ghóp phần
nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, góp phần phát triển văn
hoá và nghệ thuật kiến trúc, có tác động quan trọng đến môi trường sinh thái.
Xây dựng cơ bản chiếm một tỷ trọng lớn trong đầu tư phát triển kinh tế
trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy việc quản lý tiền vốn cũng như tổ chức
biện pháp thi công hợp lý sẽ nâng cao rất nhiều hiệu quả trong ngành.
Ngành sản xuất xây dựng có một số đặc thù khác với những ngành khác
đó là: sản phẩm cố định, đơn chiếc do đó sản xuất mang tính lưu động, thời
gian sản xuất kéo dài nên dễ gây tình trạng ứ đọng một nguồn vốn lớn. Vì vậy
rút ngắn thời gian thi công sớm đưa công trình vào sử dụng sẽ tạo được hiệu
quả trong sử dụng nguồn vốn.


Sản xuất xây dựng tiến hành ngoài trời, chịu ảnh hưởng của thời tiết do
vậy quá trình thi công có thể bị gián đoạn. Do sự đa dạng về kiểu dáng, kiến
trúc nên mỗi công trình lại phải có thiết kế biện pháp tổ chức riêng. Vì vậy tổ
chức thi công là quá trình hình thành sản phẩm xây dựng là giai đoạn chuyển
từ bản vẽ trên giấy thành công trình trên thực tế. Tổ chức thi công tốt sẽ đem
lại hiệu quả cao về kinh tế, kỹ thuật, thẩm mỹ, rút ngắn thời gian xây dựng và
đảm bảo hoàn thành dự án như đã ký kết. Tổ chức thi công tốt sẽ tránh được
rủi ro ứ đọng vốn, kế hoạch sử dụng vật liệu, máy móc nhân lực được thực
hiện tốt đảm bảo cho thi công được nhịp nhàng, tiết kiệm được vật liệu, tối đa
hoá máy móc và nâng cao chất lượng công trình cũng như tiết kiệm được chi
phí, tạo được uy tín cho đơn vị xây lắp
2
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Ngày nay công nghệ thi công cốp pha trượt là một trong những công
nghệ thi công tiên tiến, có trình độ cơ giới tương đối cao, được sử dụng hiệu
quả trong việc thi công các công trình cao từ 25m trở lên. Mặc dù vốn đầu tư
ban đầu lớn nhưng công nghệ cốp pha trượt có ưu điểm nổi trội là thời gian
thi công được rút ngắn tối đa, cấu trúc bê tông được hình thành liên tục và
tính toàn khối rất cao, ván khuôn chỉ phải lắp, tháo tổng thể một lần duy
nhất trong toàn bộ quá trình trượt nâng mà không cần hệ thống chống đỡ
cồng kềnh kèm theo. Quá trình thi công đòi hỏi trình độ tổ chức lao động
khoa học, nghiêm ngặt, đội ngũ công nhân và cán bộ lành nghề, sự phối hợp
giữa các dây chuyền kỹ thuật nhịp nhàng, quá trình theo dõi, kiểm tra liên
tục … vì vậy công trình đạt được chất lượng rất cao.
Thi công công trình dạng đứng có chiều cao tương đối lớn sử dụng
công nghệ cốp pha trượt là một trong những lĩnh vực ứng dụng của công
nghệ này. Các công trình kể đến là xi lô, ống khói, bun ke, thân tháp nước,
tháp điều khiển không lưu, tháp tạo hạt, tháp truyền hình, tháp điều áp, lõi
thang máy nhà cao tầng… Đặc điểm chung của các công trình này là có
chiều cao khá lớn, tiết diện hình tròn, hình chữ nhật, chiều dày thành, độ côn

có thể không đổi hoặc thay đổi, được bố trí một mình hoặc theo cụm, việc
thi công công trình bằng cốp pha trượt đòi hỏi phải thường xuyên theo dõi,
kiểm tra hệ thống thiết bị trượt bởi khả năng xoay vặn, lệch nghiêng rất rễ
xảy ra.
Ở Việt Nam có rất nhiều công trình thi công dạng đứng được thi công
bằng cốp pha trượt.
Tuy nhiên phạm vi áp dụng còn nhỏ hẹp và có nhiều hạn
chế do trình độ kỹ thuật, suất đầu tư ván khuôn lớn, tổ chức quản lý chưa thành
thục
3
Chính vì những mục đích như vậy mà đề tài của luận văn “Tổ chức
thi công cốp pha trượt cho các công trình đứng theo phương pháp dây
chuyền” mong muốn của công tác tổ chức thi công những công trình dạng
đứng thành những mô hình tổ chức – công nghệ mang tính khoa học và ứng
dụng cao, dựa trên cơ sở công nghệ và năng lực sẵn có của các công ty xây
dựng tại Việt Nam hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ thi công hiện đại trên
thế giới và ở Việt Nam. Tác giả tìm hiểu điều kiện thực tế ở Việt Nam để có
thể đề xuất một số nội dung liên quan đến tổ chức thi công các công trình
dạng đứng ở Việt Nam một cách hiệu quả…
3. Phạm vi nghiên cứu.
Tổ chức thi công các công trình dạng đứng theo phương pháp dây
chuyền
4. Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu lý thuyết kết hợp với các mô hình thi công cốp pha trượt
các công trình dạng đứng tại Việt Nam.
5. Nội dung của luận văn
Luận văn bao gồm 4 chương.
Chương I:

Tổng quan về thi công cốp pha trượt trên thế giới và ở Việt Nam.
Chương II: Cơ sở khoa học về tổ chức thi công cốp pha trượt.
Chương III: Tổ chức thi công cốp pha trượt cho các công trình dạng đứng.
Chương IV: Kết luận, kiến nghị, hướng phát triển đề tài.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ SỬ DỤNG CỐP PHA TRƯỢT TRÊN
THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
I.1. Các công trình sử dụng cốp pha trượt trên thế giới và ở Việt Nam
I.1.1 Các công trình thi công cốp pha trượt trên thế giới.
4
Ở nhiều nước trên thế giới công nghệ thi công dạng ống bằng cốp pha
trượt thường được sử dụng cho các công trình như xi lô, ống khói, tháp
nước, kho chứa, tháp làm lạnh dạng hypebol…
I.1.2 Các công trình xi lô được thi công bằng cốp pha trượt.
- Năm 1962 – 1968 ở Rumani đã xây dựng các xi lô 1500 – 2000T
cho 8 nhà máy đường. Xi lô 2000T có đường kính 35m, cao 27m, tường dày
26cm, mác bê tông 300, sử dụng 249 bó sợi cốt thép d7 x12 được neo vào 6
trụ sườn ở 83 đầu neo. Thành xi lô có hệ thống thông gió tạo bằng cách đặt
sẵn 420 lỗ thẳng đứng bằng ống thép d75mm. Các bó sợi được lắp vào trong
quá trình thi công trượt và được căng sau khi bê tông đã đông cứng. Mái lợp
bằng tấm BTCT nhẹ trên hệ dầm thép và tháp nâng nằm ở trung tâm bằng
kết cấu thép
Xây dựng kho xi lô chứa xi măng 1000T ở nhiều nhà máy trong đó có
3 xi lô đường kính 16m, cao 40m, thành dày 20cm, bê tông mác 200, cốt
thép bó sợi d5x12 neo vào 4 sườn. Mái kết cấu BTCT được ghép ở dưới và
kết hợp nâng lên cùng cốp pha trượt .
Khu xi lô tổng hợp chứa vật liệu rời, bột, có dạng tròn, vuông và đa
giác chứa được 20.000-100.000T, gồm các loại xi lô loại 100-2000T. Khu xi
lô chứa hạt tinh dầu gồm 6-8 xi lô tròn đường kính 10m, cao 46m thành dày
20cm, xây dựng từ mặt móng, phễu xi lô BTCT được đỡ bằng hệ khung
BTCT độc lập với tường, Mái xi lô bằng BTCT tại chỗ, cốp pha trượt sử

dụng cốt thép của các trụ sườn làm thanh trụ kích. Công trình được thi công
vào mùa đông với tốc độ trượt 2m/ngày.
- Năm 1955 ở Anh đã xây dựng 2 xi lô chứa đường, đường kính 20,1;
cao 30,5m; thành dày 20cm; sử dụng cốp pha thép ứng trước. Ở đây sử dụng
cốp pha gỗ và sau khi kết thúc nâng, các kết cấu chịu lực sàn nâng bằng thép
được cố định giữ lại trên tường. Nâng cốp pha bằng kích “TENDDIK” với
5
tốc độ 20cm/h. Khi thi công xi lô đầu tiên bê tông có chỗ bị hư hỏng, đến xi
lô thứ 2 phải tăng thêm kích.
- Năm 1972-1973 ở Liên Xô cũ đã xây dựng 2 kho xi lô đường kính
28m và cụm xu lô 12 chiếc, đường kính 12m. Tầng phễu sử dụng hệ khung,
cột lắp ghép tiết diện (0,8x0,8)m cao 15,6m nặng 25 tấn, xung quanh cột
được xây chèn, thành xi lô dày 24cm cao 42m được thi công bằng cốp pha
trượt. Để thi công trình cần phải có 2 cần trục CK – 100 và K-406A, còn để
xi lô phải sử dụng cần trục tháp 5-8T Công trình đầu tiên về xi lô chứa
đường ở Liên Xô cũ có đường kính ngoài 22,44m thành dày 22cm có 4 bổ
trụ kích thước trên mặt bằng 2x0,22m. Thành xi lô có độ cao đến 41,25m,
thi công bằng cốp pha trượt với mác bê tông 300. Khoảng cách bố trí giữa
các kích là 1,5-2m.
Năm 1966 Liên Xô cũ đã xây dựng 2 xi lô đường kính 36m, cao 28m
và tháp nâng. Thành xi lô và tháp nâng sử dụng bê tông mác 300. Thành xi
lô dày 35cm từ độ cao 4,2m đến 27m có bố trí lỗ thẳng đứng d=40mm cách
nhau 30cm. Thành xi lô sử dụng cốp pha nâng chuyển cao 95cm bằng gỗ
dán dày 7mm, còn tháp sử dụng cốp pha trượt bằng thép cao 1,1m.
Năm 1969 ở Pháp đã xây dựng 1 xi lô đường kính 36m, cao 28m
30.000T đường, chi phí 5.800m3 bê tông, tháp nâng kích thước 6,5x6,4m
và cao 55m, thành xi lô cao 38m có sử dụng BTCT ứng lực trước. Năm
1971 xây dựng xi lô 35.000T đường cũng ở dạng trụ cao 48,25m, đường
kính 36m, chiều dày tường trong 21cm tường ngoài 17cm.
Xây dựng xi lô BTCT ứng suất trước, đường kính lớn có hiệu quả

kinh tế cao chi phí bê tông giảm 10-15%, chi phí lao động giảm 2 lần, giá
thành giảm 20-38% so với xi lô đường kính nhỏ.
I.1.3 Các công trình ống khói được thi công bằng cốp pha trượt.
6
Ống khói bằng BTCT đổ toàn khối có dạng hình trụ, hình côn. Loại
loại ống khói có kết cấu hợp lý là hình côn có tiết diện thay đổi. Ống khói
được thi công bằng cốp pha trượt đảm bảo được độ toàn khối và đỡ tốn giàn
giáo cốp pha. Cốp pha trượt sử dụng hợp lý với ống khói dạng trụ có đường
kính không lớn, loại ống khói cao có hình côn thì sử dụng cốp pha trượt sẽ
gặp nhiều khó khăn, yêu cầu phải có trình độ kỹ thuật cao và công nhân lành
nghề. Hiện nay cốp pha trượt được áp dụng rộng rãi trong thi công ống khói
với nhiều sáng kiến cải tiến (ở các nước: Đức , Thụy Điển, Rumani, Hung
ga ri…)
- Ống khói dạng côn được xây dựng thường cao từ 60-250m. Ống
khói loại này lần đầu tiên được xây dựng bằng cốp pha trượt ở Rumani năm
1962 có đường kính 6,4m và trên là 4,2m, cao 70m(1962-1968). Ở Rumani
đã xây dựng 20 ống khói loại này với chiều cao 100, 120, 140, 160, 200,
220m, với chiều dày tường thay đổi từ 70-20cm.
- Ở Hung ga ri (1962) đã thi công ống khói cao 200m bằng cốp pha
trượt. Bên trong ống khói đường kính không đổi là 9m. Tường có chiều dày
thay đổi: 59cm ở độ cao 24m và trên cùng là 22cm. Đoạn dưới (đến độ cao
16,8m) được thi công bằng cốp pha tháo lắp, còn trên đoạn thi công bằng
cốp pha trượt mất 120 ngày. Vật liệu cách nhiệt sử dụng tấm rời từ bê tông
perlit dày 20cm, phía trong ốp gạch chịu lửa dày 10cm, có bố trí khe nhiệt
cách 10m. Biên độ dao động ống khói do tải trọng gió là 4,7cm. Độ mở rộng
tiết diện của ống khói là 4cm/20m chiều cao và được thực hiện nhờ tháo
tách bộ phận với tấm cốp pha ngoài.
Ống khói dạng hình trụ thường được xây dựng trong công nghiệp hóa
dầu với chiều cao 40-60m, chiều dày tường 12-25cm, có lối ra vào cao 1,5-
2,5m. Loại ống khói này có độ ổn định kém, chiều cao lớn nhất bị hạn chế

do độ cứng kém. Cốt thép ngang và đứng được bố trí sát thành ngoài của
7
ống khói. Để các lớp lót lò cần phải hàn các chi tiết đỡ cách nhau 10-15m
theo chiều cao.
Một số hình ảnh công trình thi công bằng cốp pha trượt trên thế giới
Ống khói có độ cao 380m,
nằm tại thành phố Moundsville của Mỹ.
được xây dựng vào năm 1971.
8
Ống khói có độ cao 371m,
nằm tại thành phố Homer City của Mỹ.
được xây dựng vào năm 1977.
9
I.2. Các công trình thi công cốp pha trượt ở Việt Nam.
Thi công các công trình dạng ống sử dụng công nghệ cốp pha trượt tại
Việt Nam đang được coi là một công nghệ thi công “ Truyền Thống”. Khá
nhiều công trình đã được thi công sử dụng công trình này như tháp tạo hạt
cao 95m, đường kính 26m tại nhà máy đạm Phú Mỹ - Bà Rịa – Vũng Tàu;
Cụm 6 xi lô đường kính 19m đến 26m, cao từ 42 đến 87m tại nhà máy xi
măng Tam Điệp – Ninh Bình; Tháp điều khiển không lưu sân bay Nội Bài –
Hà Nội; Xi lô bột liệu đường kính 19m cao 72m tại nhà máy xi măng Bỉm
Sơn – Thanh Hóa; Xi lô clinker đường kính 26m cao 46m tại nhà máy xi
măng Hải Vân – Đà Nẵng; Xi lô 2 lõi đường kính 24m và 16m cao 86.4m tại
nhà máy xi năng Hải Phòng (Mới); Ống khói cao 80m tại nhà mày phân đạm
Hà Bắc; Ống khói cao 120m nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn; Ống khói
cao75m tại nhà máy xi măng La Hiên; Ống khói cao 100m khu luyện đồng –
Tà Loỏng – Lào Cai; Ống khói nhà máy nhiệt điện Phả Lại cao 130m;
Bunke bột mỳ 12mx24m cao 41m nhà máy bột mỳ - Cái Lân – Quảng Ninh;
Tháp nước 200m3 cao 25m tại nhà máy lắp ráp xe máy VMEP Hà Tây;
Tháp nước 300m3 cao 37m tại Đình Vũ – Hải Phòng… Trong việc thi công

các công trình này, công nghệ cốp pha trượt đã khẳng định được ưu thế vượt
trội của mình so với các công nghệ thi công khác.
10
Một số hình ảnh công trình thi công bằng cốp pha trượt ở Việt Nam.
Ống khói nhà máy nhiệt điện Vũng Áng cao 175,6m
11
Ống khói nhiệt điện Mông Dương 1 cao 205m
12
Cụm 6 xi lô Nhà máy Xi măng Lam sơn – Ninh Bình
13
Lõi tòa nhà Keangnam sử dụng cốp pha trượt
14
I.3.Tình hình tổ chức thi công trên công trường.
Tổ chức thi công xây dựng là một tổng hợp ba hệ thống cơ bản: tổ
chức lao động, tổ chức thời gian, tổ chức không gian (tổ chức tổng mặt bằng
xây dựng)
I.3.1.Tổ chức nhân lực trên công trường.
Tổ chức lao động trên công trường là việc bố trí đội ngũ: người quản
lý, kỹ sư, cán bộ kỹ thuật, người lao động… để thi công công trình. Trong
đó quan trọng nhất là tổ chức đội ngũ lao động là các công nhân hay thợ làm
việc trực tiếp trên công trường xây dựng.
Hiện nay tại các công trường xây dựng cao tầng thường bố trí các tổ
đội công nhân chính là: tổ đội cốp pha (cốp pha truyền thống và cốp pha
trượt), tổ đội cốt thép, tổ bê tông. Đây là cách tổ chức theo mô hình chuyên
môn hoá, mỗi tổ đội sẽ làm các công việc chuyên môn của mình là thi công
cốp pha, thi công cốt thép, thi công bê tông trên công trường. Với mô hình
này nếu tổ chức tốt thì năng suất lao động sẽ rất cao, tay nghề công nhân
luôn đảm bảo và tích lũy được nhiều trong quá trình thi công.
Tuy nhiên, do nhu cầu lao động trong lĩnh vực xây dựng là rất lớn, số
công nhân qua đào tạo ở các trường công nhân kỹ thuật xây dựng chỉ đáp

ứng được một phần nhu cầu này, nên thực tế rất ít tổ đội công nhân làm việc
trên công trường đã qua đào tào nghề mà chủ yếu là các tổ đội gồm những
người nông dân, những người ở các vùng nông thôn trên thành phố chưa qua
đào tạo nghề và chỉ có rất ít công nhân kỹ thuật. Ngoài ra, việc bố trí số
lượng người, thành phần bậc thợ trong các tổ đội cũng chưa thật hợp lý mà
chỉ bố trí theo kinh ngiệm, theo cảm tính và theo từng công việc. Do đó, có
thể nói rằng, tổ chức lao động trên công trường còn lộn xộn không mang
tính chuyên nghiệp, trình đông nhân trong các tổ đội thấp dẫn đến năng suất
lao động chưa cao, lãng phí nhân công, không đảm bảo được chất lượng
15
công trình theo yêu cầu và chưa thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao
trong lĩnh vực thi công các công trình cao có tính phức tạp.
I.3.2. Tổ chức không gian.
Tổ chức không gian xây dựng về cơ bản là một tập hợp các mặt bằng
mà trên đó ngoài việc xây dựng các công trình đã được thiết kế, còn phải bố
trí và xây dựng các công trình tạm, công trình phụ trợ, máy móc, thiết bị xây
dựng, các kho bãi, xưởng sản xuất, các nhà làm việc, nhà ở và sinh hoạt,
mạng lưới giao thông, hệ thống cấp điện, cấp nước… dùng để phục vụ cho
quá trình xây dựng và đời sống của con người trên công trường.
Với kinh nghiệm đã dần tích lũy được thì việc thiết kế và tổ chức
không gian xây dựng luôn được các nhà thầu chú trọng và phần nào đã được
đáp ứng được yêu cầu trong quá trình thi công xây dựng công trình.
I.3.3. Tổ chức thời gian.
Tổ chức thời gian trong xây dựng thực chất là sử dụng thời gian hợp
lý để xây dựng công trình, nhiệm vụ chủ yếu của công tác này là:
- Lập kế hoạch về thời gian ( hay tiến độ thi công ) để thực hiện các
dự án xây dựng sao cho hợp lý nhất để đạt được các mục tiêu tối ưu.
- Quản lý tiến độ đó trong suốt quá trình xây dựng bằng các công cụ
và kỹ thuật, sao cho quá trình điều khiển có thể kiểm soát được tiến độ, để
đạt được các mục tiêu mong muốn như hoàn thành đúng kế hoạch hoặc rút

ngắn thời gian kế hoạch.
Lập kế hoạch là điều hết sức khó khăn, đòi hỏi người lập kế hoạch
không những am hiểu về các phương pháp khoa học để lập kế hoạch mà còn
phải có rất nhiều kinh nghiệm từ thực tế sản xuất, tức là cần phải có kiến
thức sâu rộng về rất nhiều lĩnh vực như công nghệ xây dựng, kinh tế, tin
học…Thực tế trong thời gian qua, có rất nhiều công trình cao tầng, phức
tạp…khi tiến hành xây dựng đã không đạt được tiến độ như đã vạch ra, điều
16
này chủ yếu là do trình độ quản lý còn thấp và chưa có kinh nghiệm dẫn đến
việc không bao quát và dự báo những công việc phải thực hiện, bên cạnh đó
cũng cần phải nói đến các yếu tố rủi ro mà không ai có thể lường trước
được.
Qua những vấn đề như đã trình bày như ở trên, có thể tóm tắt lại rằng:
trình độ tổ chức thi công xây lắp của các nhà thầu thi công trong nước nói
chung chưa đạt yêu cầu, còn thiếu tính toán khoa học, chưa mang tính sản
xuất công nghiệp, việc tổ chức công trường xây dựng còn mang tính tự phát,
có đâu dùng đó, gặp đâu làm vậy, chưa có sự đầu tư nghiên cứu đầy đủ.
Triển khai thi công chưa mang tính dự án trong cơ chế thì trường, có nghĩa
là chưa xác định được kế hoạch chi phí, thời gian thi công một cách chính
xác, chưa lường trước các vấn đề sẽ gặp phải trong quá trình thi công. Muốn
đạt được điều này người quản lý cần phải làm tốt khâu chuẩn bị như:
- Tìm hiểu các yếu tố như cơ sở hạ tầng, con người, xã hội, thị trường
xung quanh địa điểm xây dựng công trình;
- Làm rõ các thông số như: khả năng cung cấp tài chính, nguồn cung
ứng vật tư, thiết bị nhân công;
- Căn cứ vào các số liệu thu được cần phân tích, để đánh giá lựa chọn
phương án thi công tối ưu (bao gồm cả phương án vận chuyển, lựa chọn
thiết bị thi công …)
- Sau khi lựa chọn được phương án thi công tối ưu, dựa vào khả năng
cung ứng nguồn vật liệu, nhân công, thiết bị tại từng thời điểm, người quản

lý cần phải xây dựng một tiến độ thi công tổng thể, tiến độ cung ứng vật tư,
thiết bị, nhân công một cách hợp lý đảm bảo cho thời gian thi công là ngắn
nhất, có độ tin cậy cao nhất.
- Tìm và lựa chọn nhân sự có đủ năng lực để tổ chức bộ máy quản lý
và điều hành công trường.
17
I.4. Ưu, nhược điểm của tổ chức và công nghệ thi công cốp pha trượt.
I.4.1 Ưu điểm.
- Tổ chức thi công bê tông cốp pha trượt rút ngắn được tối đa thời hạn
hoàn thành công trình do quá trình thi công liên tục cả ngày lẫn đêm. So với
bê tông toàn khối khác, đây là một tổ chức có thời gian thi công ngắn nhất .
- Không cần nhiều cốp pha và đặc biệt, không cần một hệ thống giáo
chống quy mô như các phương pháp thông thường. Điều này cho phép giảm
đáng kể chi phí vật liệu, chi phí nhân công cho việc lắp dựng và tháo dỡ cốp
pha.
- Tính liền khối của bê tông rất cao do quá trình thi công được tiến
hành liên tục. Chất lượng công trình do đó được đảm bảo vì không để lại
mạch ngừng (hoặc rất ít mạch ngừng).
- Tổ chức thi công cốp pha trượt đòi hỏi bố trí đội ngũ lao động đúng
vị trí trên công trình. Trong quá trình thi công, các công trình kỹ thuật được
phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng, uyển chuyển; các quá trình theo
dõi, kiểm tra, nghiệm thu cũng được tiến hành liên tục cùng với quá trình
trượt nâng … nên đem lại chất lượng tốt cho công trình.
- Công nghệ cốp pha trượt có thể được dùng để thi công các công
trình cao hàng trăm mét một cách rất hiệu quả. Bảo dưỡng và hoàn thiện
được tiến hành đồng thời với quá trình thi công bê tông nên giảm được chi
phí thi công khá nhiều. Khi hoàn thiện chỉ cần xoa nhẵn mặt tường với lớp
phủ 3-7mm thay cho lớp trát dày 25mm, vì mặt tường ra khỏi cốp pha đã
khá phẳng.
- Tổ chức thi công bằng cốp pha trượt khắc phục tương đối tốt các khó

khăn do mặt bằng thi công chật hẹp, bởi hệ thống cốp pha trượt tự bám vào
công trình mà leo lên. Do đó có thể áp dụng tổ chức thi công này để thi công
các công trình cao trong vùng xây chen chật chội.
18
- Việc lắp dựng, tháo dỡ tổng thể hệ thống cốp pha trượt chỉ phải tiến
hành duy nhất một lần trong toàn bộ quá trình thi công. Công nghệ cốp pha
trượt có trình độ cơ giới hoá tương đối cao, do đó giảm được lao động vất vả
của công nhân và làm tăng tốc độ thi công.
- Các bộ phận thiết bị cốp pha trượt có độ luân lưu cao. Ngoài ty kích,
Kích thuỷ lực…, hầu hết các bộ phận có thể sử dụng đến hàng trăm lần.
I.4.2 Nhược điểm.
- Công nghệ cốp pha trượt đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn, do hầu hết
các bộ phận của công nghệ phải đi mua (như kích thuỷ lực, hệ thống điều
khiển thuỷ lực, tời điện, thiết bị đo và quan trắc để khống chế đảm bảo độ
chính xác thi công…). Các bộ phận khác có thể tự gia công được nhưng giá
thành đầu tư vấn khác cao như bộ cốp pha, giá nâng, hệ thống sàn công
tác…
- Việc tổ chức thi công bằng cốp pha trượt khá phức tạp, đòi hỏi đội
ngũ lao động phải có kiến thức về công nghệ, có kinh nghiệm, có ý thức tự
giác chấp hành các nguyên tắc, nội quy đặt ra trong quá trình thi công; linh
hoạt xử lý kịp thời những sự cố kỹ thuật phát sinh.
- Thi công sử dụng cốp pha trượt là một quá trình liên tục cả ngày lẫn
đêm nên đòi hỏi phải có nhân lực, nguyên vật liệu cung cấp kịp thời cho các
dây chuyền thi công. Công tác lấy mẫu thí nghiệm phải được tiến hành
thường xuyên; công tác nghiệm thu phải được tiến hành một cách liên tục …
Người lao động phải làm việc theo ca, theo một thời gian biểu không cố
định, do đó làm thay đổi chu kỳ sinh lý của cơ thể dẫn đến giảm năng suất,
tăng nguy cơ mất an toàn lao động.
- Việc theo dõi, kiểm tra và chỉnh sửa hệ thống thiết bị phải được tiến
hành liên tục và nghiêm ngặt. Các sự cố nếu phát hiện và xử lý chậm sẽ gây

19
hậu quả hết sức nghiêm trọng, làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng, tiến độ và
chi phí thi công công trình.
I.5. An toàn lao động cho ván khuôn trượt.
Để đảm bảo thi công ván khuôn trượt an toàn trong thi công, ngoài
việc phải tuân theo những quy định kỹ thuật an toàn có liên quan đề phòng
vật rơi từ trên cao, còn phải tôn trọng các yêu cầu kỹ thuật an toàn dưới đây:
- Cùng với việc lập phương án thi công ván khuôn trượt, còn phải dựa
vào đặc điểm cấu kiện công trình và điều kiện thi công, lập biện pháp kỹ
thuật an toàn tương ứng.
- Thiết kế trang bị ván khuôn trượt, phải có độ cứng tổng thể tương đối
tốt, an toàn và có tính vận hành tốt. Trên tổng thể, đảm bảo thiết bị ván
khuôn trượt vận hành ổn định và an toàn. Khi dùng phương án thi công trượt
không toàn bộ phải có biện pháp đảm bảo độ tin cậy của sàn và hệ thống ván
khuôn trượt đảm bảo ổn định của hệ thống sàn.
- Bố trí xung quanh sàn thao tác trượt chính, phải bố trí lan can bảo vệ
cao hơn phần trên của giá nâng 1,2m ( ở vị trí ty kích ). Lan can có không ít
hơn 4 thanh ngang và có treo lưới an toàn, chân của lan can phải bố trí tấm
chắn. Tấm lát của sàn thao tác chính và giá treo trong, ngoài phải khít và cố
định.
- Sàn thao tác giá ngoài: Mặt ngoài phải bố trí hai hàng thanh chắn và
một tấm chắn dưới chân ở vị trí cao 1m phía trong của nó phải lắp đặt một
hàng thanh chắn và thêm một tấm chắn dưới chân. Lưới an toàn treo vào giá
phải treo chắc vào mặt ngoài của giá, đồng thời vòng qua đáy của sàn đến
lan can phía trong và bọc chắc.
- Bốn xung quanh từ giá đến sàn thao tác, phải bố trí thang để lên
xuống đáp ứng yêu cầu an toàn thi công, miệng thang phải bố trí tấm đậy di
động. Nếu dùng hai lớp giá ngoài thì thang lên xuống lên đặt lệch nhau.
20
- Ván khuôn trượt đến tầng hai hoặc độ cao quy định, giá trong ngoài

và lưới an toàn đều phải kịp thời lắp đặt đầy đủ. Sau khi trượt đến đáy giáo
treo cách mặt đến 6m phải kịp thời dựng lưới an toàn ngang rộng 6m ở tầng
đầu. Nếu vì lưới ngang lắp dựng không theo kịp yêu cầu tiến độ thi công ván
khuôn trượt, cũng có thể dùng biện pháp phòng hộ an toàn hữu hiệu khác.
- Các lỗ đứng để sẵn của kết cấu như ban công, giếng, thang máy,
giếng trời, cùng với ván khuôn trượt lên đáy của giá nâng ở vị trí lỗ phải có
cơ cấu phòng hộ di động tạm thời, đợi kết thúc trượt kết cấu tầng xây lại
theo quy định dùng cơ cấu phòng hộ cố định thay cơ cấu phòng hộ di động
để giữa phòng liên tục phòng hộ an toàn của lỗ trong quá trình thi công
trượt. Lỗ ngang của kết cấu phải kịp thời bố trí cơ cấu phòng hộ.
- Tháo dỡ thiết bị ván khuôn trượt, phải lập phương án thi công tháo
dỡ, lập trình tự tháo dỡ, phương pháp tháo dỡ và biện pháp kỹ thuật an toàn.
Trước khi tháo dỡ thiết bị ván khuôn trượt, bốn xung quanh phía ngoài tầng
liền kề ở gần phía dưới giá ngoài phải dựng lưới an toàn ngang rộng 3m.
Trong quá trình tháo dỡ hệ thống ván khuôn xung quanh, cùng với việc tháo
dỡ ván khuôn, dựng hệ thống phòng hộ an toàn dọc bên ngoài. Trong quá
trình tháo dỡ ván khuôn phải phải đảm bảo tính liên tục phòng hộ dọc bên
ngoài.
- Trong quá trình thi công trượt, nếu gặp gió cấp 6 trở lên hoặc thời
tiết có mây mù lớn, phải dùng công tác trượt. Sau khi hết gió, mây mù đầu
tiên phải kiểm tra thiết bị ván khuôn trượt và biện pháp phòng chống cháy
xong mới có thể tiếp tục công việc.
- Trong quá trình nâng ván khuôn trượt, phải thường xuyên quan sát
và kiểm tra cường độ bên tông sau khi ra khỏi ván khuôn, trạng thái làm việc
của hệ thống chống đỡ và sàn thao tác, sự thay đổi độ lệch phương đứng của
kết cấu công trình, nếu thấy khác thường phải kịp xử lý.
21
I.6. Kết luận:
Tổ chức thi công cốp pha trượt ở Việt Nam còn tồn tại một số vấn đề
như sau:

- Tổ đội thi công trên công trường kéo dài thời gian, tính chuyên môn
hóa thấp, giá thành cao… Ví dụ như một tổ đội có thể làm được những công
việc như lắp dựng cốp pha, gia công lắp dựng cốt thép, đổ bê tông… dẫn tới
hiệ quả công việc không cao năng suất thấp, tay nghề giảm đi và công trình
không đảm bảo chất lượng.
- Một số tổ đội cùng làm công việc một lúc, không tổ nào quan tâm
đến tổ nào làm cho công việc bị chồng chéo nhau và gián đoạn. Đòi hỏi dự
tập trung sản xuất cao, nhu cầu tài nguyên lớn, dễ gây ra sai phạm hàng loạt
rất lãng phí.
- Mà trong thi công dây chuyền đối với cốp pha trượt ba công việc
chính là ván khuôn, cốt thép, bê tông nó phải nhịp nhàng và tạo thành ba dây
chuyền chuyên môn trong thi công cốp pha trượt. Nhưng đến những phần có
kết cấu ngang thì ba dây chuyền này sẽ chuyển từ phân đoạn theo chiều
đứng sang phân đoạn chiều ngang. Phân đoạn thi công cốp pha trượt được
quy ước theo chiều cao công trình và được tính bằng vận tốc nhân thời gian
trượt ván khuôn.
22
CHƯƠNG II: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TỔ CHỨC THI CÔNG CỐP
PHA TRƯỢT
II.1 Công nghệ cốp pha.
II.1.1 Công nghệ thi công cốp pha trượt.
Hệ kết cấu nhà cao tầng thường sử dụng kết cấu khung, khung –vách
cứng hoặc kết cấu ống. Công nghệ thi công trượt các kết cấu nói trên bao gồm
các quá trình:
- Công tác chuẩn bị thi công.
- Phóng tuyến.
- Lắp đặt giá nâng, vòng găng.
- Lắp đặt một mặt ván khuôn.
- Buộc cốt thép, đặt các đường ống chôn sẵn
- Lắp đặt mặt ván khuôn còn lại và ván khuôn các lỗ cửa.

- Lắp đặt sàn thao tác.
- Lắp đặt hệ thống áp lực dầu: kích, đường dầu, bộ phận điều khiển.
- Lắp đặt các thiết bị điện khí động lực, chiếu sáng thi công.
- Cắm ty kích.
- Đổ bêtông vào các cấu kiện và bắt đầu trượt.
- Lắp đặt ván khuôn các lỗ cửa, buộc cốt thép ngang, đặt các chi tiết
chôn sẵn, phối hợp đổ bêtông để tiến hành trượt bình thường.
- Trượt đến độ cao nhất định, lắp đặt các giá treo trong ngoài và các biện
pháp phòng hộ an toàn.
- Sau khi trượt đến bộ phận yêu cầu, tháo ván khuôn dừng trượt.
- Cài kết cấu sàn.
- Lắp lại tuần hoàn cho đến khi kết thúc thi công toàn bộ kết cấu, tháo dỡ
thiết bị ván khuôn.
23
Trong quá trình trượt phải luôn kiểm tra kích thước tim ván khuôn, tim
kết cấu, độ ngang bằng, độ thẳng đứng, vị trí ván khuôn, vị trí kích, độ phẳng
mặt ván khuôn, độ ngang bằng của sàn thao tác, sai lệch phương ngang của vị
trí vòng găng đường kính ván khuôn tròn hoặc chiều dài ván khuôn chữ nhật.
II.1.2
Các hệ thống ván khuôn
II.1.2.1
Hệ thống ván khuôn
Mảng ván khuôn trượt có chiều cao không lớn, thường từ 1,0-1,2m cá
biệt có thể đến 2m. Ván khuôn được phép bao quanh bề mặt kết cấu trên toàn
bộ mặt cắt ngang của công trình.
Các bộ phận của ván khuôn trượt bình thường
24
II.1.2.2
Hệ thống sàn nâng.
Hệ thống sàn nâng dung để thực hiện các thao tác trong quá trình thi

công. Hệ thống này được bố trí ở 2 cao trình:
- Cao trình trên liên kết trực tiếp vào mảng ván khuôn và được gọi là
sàn thao tác chính. Sàn thao tác dung để chứa vật liệu, lắp dựng cốt thép, vận
chuyển, đổ bê tông, lắp ván khuôn cửa hoặc dịch chuyển ván khuôn khi cần
thiết;
- Cao trình dưới được liên kết với sàn thao tác trên bởi xích hoặc dây
treo và gọi là sàn treo. Sàn treo dung để kiểm tra chất lượng bê tông, hoàn
thiện bề mặt ngoài và tháo dỡ hộp khuôn các lỗ nếu có.
II.1.2.3
Hệ thống nâng trượt:
Hệ thống nâng thông thường hiện nay là kích thuỷ lực. Nhờ áp lực dầu,
kích nâng đưa toàn bộ kết cấu ván khuôn và sàn nâng trượt lên dọc theo các
thanh trụ kích. Hệ thống nâng gồm 3 bộ phận:
- Khung kích: được chế tạo bằng gỗ hay kim loại. Khung kích giữ cho
các tấm ván khuôn ép sát vào kết cấu và không bị biến dạng khi có lực xô
ngang. Khung kích có dạng chữ Л, khi được nâng lên nó kéo theo các mảng
ván khuôn trượt. Khoảng cách giữa các khung kích được xác định theo tính
toán, nhưng thường là khoảng 1,5-2,0m. Hệ khung kích tiếp nhận toàn bộ tải
trọng của ván khuôn, kích, sàn nâng, các tải trọng của vữa bê tông và các tải
trọng quá trình thi công
- Thanh trụ kích( hay còn gọi là ty kích): là nhiệm vụ tỳ kích và tiếp
nhận toàn bộ tải trọng tác động từ khung kích và truyền lực xuống kết cấu. Ty
kích làm bằng thép, kích thước thường là Ф25-50mm có thể dài đến 6m, một
đầu được chôn ngầm chặt trong bê tông, đầu kia xuyên qua lỗ tỳ kích. Ty kích
có thể nằm lại hoặc rút ra khỏi kết cấu sau khi thi công.
25

×