Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Transport Dumpster trong Exchange 2007 (P.2) ppsx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (223.37 KB, 6 trang )

Transport Dumpster trong Exchange 2007 (P.2)
Quản trị mạng - Trong phần hai cũng là phần cuối của bài viết này chúng ta sẽ
tìm hiểu kĩ hơn về Transport Dumpster trong Exchange Server 2007. Trong
phần một, chúng ta đã tìm hiểu Transport Dumpster là gì, phương pháp cấu
hình và giao diện của nó.

>> Transport Dumpster trong Exchange 2007 (P.1)

Tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu thêm phương pháp thay đổi kích thướcTransport
Dumpster và phương pháp kiểm soát nó trên hệ thống.

Dung lượng của Transport Dumpster

Dung lượng của Transport Dumpster có ảnh hưởng tới thiết kế của máy chủ
Hub Transport vì bạn sẽ phải cân nhắc kích thước của hàng đợi mail trong
Transport Dumpster cũng như đĩa I/O (Input/Output) bổ sung sẽ được hiển thị
khi Transport Dumpster được kích hoạt.

Phải công nhận rằng dung lượng đĩa hiện tại của Transport Dumpster không
cần thiết phải lớn nếu máy chủ Hub Transport không được sử dụng cho một số
lượng lớn Storage Group. Cần nhớ rằng dung lượng của Transport Dumpster
được cấu hình trên một Per-Storage Group Basis. Trước tiên chúng ta sẽ thử
nghiệm một hệ thống gồm hai máy chủ Hub Transport được sử dụng cho một
hệ thống CCR riêng biệt chứa 10 Group Storage. Nếu dung lượng mail tối đa
trong hệ thống là 30MB thì chúng ta phải đặt giá trị cho tham số
MaxDumpsterSizePerStorageGroup là 45MB. Do đó vùng trống trên ổ đĩa cần
sử dụng là 450MB (45MB * 10). Thông thường bạn sẽ muốn chiếm dụng
không gian đĩa này trên mỗi máy chủ Hub Transport vì bạn muốn đảm bảo
rằng toàn bộ hệ thống vẫn hoạt động bình thường trong trường hợp một trong
hai máy chủ Hub Transport gặp sự cố.


Một ví dụ khác, chúng ta có một hệ thống gồm hai máy chủ Hub Transport, và
cả hai máy chủ này được sử dụng cho 3 hệ thống CCR, mỗi CCR chứa 15
Storage Group với kích thước mail tối đa cho phép là 50MB. Trong trường hợp
này tham số MaxDumpsterSizePerStorageGroup cần được đặt giá trị là 75MB
(50MB * 1.5). Vì có tổng cộng 45 Storage Group bạn sẽ cần phải chuẩn bị
khoảng 3,4GB (45 * 75MB) không gian đĩa cho Transport Dumpster.

Cần nhớ rằng những yêu cầu không gian đĩa của Transport Dumpster liên quan
tới đĩa lưu trữ file cơ sở dữ liệu mail.que của máy chủ Hub Transport vì
Transport Dumpster được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu này. Do cơ sở dữ liệu
Hub Transport là một cơ sở dữ liệu ESE (Extensible Storage Engine – Công cụ
lưu trữ có thể mở rộng) nên file mail.que thường được di chuyển tới ổ đĩa
chuyên dụng vì lí do thực thi.

Những tác động trên đĩa I/O gây ra do kích hoạt tính năng Transport Dumpster,
vì quá trình kích hoạt Transport Dumpster sẽ làm tăng dung lượng đĩa I/O do
đó bạn cần xét đến trường hợp này.

Quản lý Transport Dumpster

Trong một hệ thống CCR, lệnh Get-StorageGroupCopyStatus có thể được sử
dụng để lưu trữ thông tin trên toàn bộ hệ thống phản hồi. Có một tham số phụ
không được sử dụng theo mặc định có thể được sử dụng để hiển thị thông tin
trên những số liệu thống kê của Transport Dumpster. Tham số này là
DumpsterStatistics. Ví dụ, hình 7 hiển thị lệnh Get-StorageGroupCopyStatus
chạy cùng với lệnh format-list và được lọc bổ sung để hiển thị mọi tham số
chứa trong chuỗi dumpster. Trong hình 7, những tham số được lặp lại hai lần
vì không có Storage Group trên hệ thống CCR cụ thể này.



Hình 7: Lệnh Get-StorageGroupCopyStatus.
Từ hình 7 bạn cũng có thể thấy rằng không có thống kê về dumpster nào được
hiển thị. Để kiểm tra những thống kê này bạn cần phải sử dụng thêm tham số
DumpsterStatistics như trong lệnh dưới đây:
Get-StorageGroupCopyStatus –DumpsterStatistics | fl *dumpster*
Kết quả của lệnh này được hiển thị trong hình 8. Tham số DumpsterStatistics
hiển thị những mục 0 trong dumpster cho máy chủ Hub Transport có tên
SRV1, những mục 0 này cho biết dung lượng là 0KB. Ngoài ra bạn cũng có thể
thấy những tác động xảy ra khi một máy chủ Hub Transport trong cùng một
trang Active Directory như hệ thống CCR không thể liên lạc. Trong trường
hợp này máy chủ Hub Transport được gọi là SRV2 được không được hiển thị
như khi nó xuất hiện trong danh sách DumpsterServersNotAvailable.


Hình 8: Lệnh Get-StorageGroupCopyStatus được sử dụng cùng với
DumpsterStatistics.

Tiếp theo chúng ta sẽ kiểm tra những thông tin thống kê trên một máy chủ
đang bận. Trong hình 9 bạn có thể thấy rằng thông tin hiển thị cho một Storage
Group đơn lẻ đã được truy lục và Transport Dumpster cho máy chủ Hub
Transport SRV1 giờ đây chứa những mục 1030 với tổng dung lượng là 819KB.
Bạn cũng sẽ thấy ngày và giờ của mail cũ nhất trong hàng đợi Transport
Dumpster.


Hình 9: Những thông tin của Transport Dumpster.

Để kiểm tra những thông tin chi tiết hơn trên thống kê của Transport
Dumpster, chúng ta có thể sử dụng chương trình quản lý thực thi. Trên máy
chủ Hub Transport, một đối tương thực thi có tên MSExchangeTransport

Dumpster có thể được thấy rằng chứa 5 counter (thiết bị lưu trữ và hiển thị
những sự kiện hay tiến trình đã xảy ra). Bạn có thể thấy những counter này
trong hình 10.


Hình 10: Những Counter thực thi trong Transport Dumpster.

Những counter này bao gồm:


Dumpster Deletes/sec: Đây là số lượng mục bị xóa trong một giây từ
hàng đợi Transport Dumpster trên máy chủ Hub Transport này.



Dumpster Inserts/sec: Hiển thị số lượng mục được gửi đến hàng đợi
Transport Dumpster trên máy chủ Hub Transport này trong một giây.



Dumpster Item Count: Hiển thị tổng số mục hiện thời trong hàng đợi
Transport Dumpster trên một máy chủ Hub Transport cụ thể. Về cơ bản
đó là những thông tin tương tự mà bạn có thể lấy từ tham số
DumpsterStatistics của lệnh Get-StorageGroupCopyStatus mà bạn đã
thực hiện.



Dumpster Size: Counter Dumpster Size là tổng dung lượng của các mục
trong Transport Dumpster trên một máy chủ Hub Transport cụ thể.

Counter này được tính theo byte. Mặt khác conter này hiển thị cùng loại
thông tin mà bạn có thể kiểm tra bằng lệnh Get-
StorageGroupCopyStatus.



Redelivery Count: Counter này chỉ hiển thị số lượng các mục được
chuyển lại sau khi Exchange Replication Service đã yêu cầu gửi lại mail.


Ví dụ, chúng ta tiến hành một cuộc thử nghiệm trên hệ thống CCR,
chúng ta buộc tình huống chuyển đổi thất bại bằng cách tắt node đang
hoạt động trong khi mail đang được xử lý. Khi Microsoft Exchange
Replication Service trên node CCR còn lại yêu cầu gửi lại mail từ máy
chủ Hub Transport, sau đó khởi chúng ta khởi chạy công cụ kiểm soát
thực thi trên máy chủ Hub Transport đó và quản lý những đối tượng
Dumpster Item Count, Dumpster Size và Redelivery Count như bạn thấy
trong hình 11. Trong hình 11, toàn bộ hàng đợi Transport Dumpster có
1540 mục đã được gửi lại.








Hình 11: Kiểm soát những counter thực thi của Transport Dumpster.




Vậy những gì thực sự xảy ra trong một hệ thống CCR khi quá trình
chuyển đổi thất bại? node thụ động trước đó giờ đây trở thành node chủ
động và yêu cầu từ những máy chủ Hub Transport trong cùng trang
Active Directory mà mọi mail từ Transport Dumpster được gửi lại. Để
xem tiến trình này hoạt động, kiểm tra bản ghi sự kiện trên node CCR
còn lại cho sự kiện 2099 sử dụng nguồn MSExchangeRepl. Một mẫu của
mục bản ghi sự kiện này được thể hiện trong hình 12.

Bạn có thể thấy trong hình 12 rằng node hệ thống CCR có tên CCRB đã
yêu cầu máy chủ Hub Transport SRV1 gửi lại mail trong những thời
điểm cụ thể. Lưu ý rằng sự kiện này sẽ được ghi lại sau mỗi 15 phút nếu
máy chủ Hub Transport cụ thể này không sẵn có.








Hình 12: Yêu cầu gửi lại trong Transport Dumpster.



Kết luận
Đến đây chúng ta đã kết thúc bài viết gồm hai phần tìm hiểu Transport
Dumpster trong Exchange Server 2007. Tính năng này trong Exchange
2007 có thể giúp phục hồi dữ liệu bị mất do hệ thống CCR xảy ra sự cố.
Và ban chỉ cần sử dụng một số biến để tự động hóa một phần cho các tác

vụ của nó

×