Tải bản đầy đủ (.doc) (41 trang)

các động vật nuôi trong nhà đặc điểm sinh lý

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (123.29 KB, 41 trang )

I.Các giống Lợn
1. Lợn Móng Cái
Lợn Móng Cái: Là giống lợn có nguồn gốc từ huyện Móng Cái, tỉnh
Quảng Ninh. Hiện nay, lợn Móng Cái được nuôi khắp các tỉnh Miền Bắc,
miền Trung và một số tỉnh Tây Nguyên. Chủ yếu là nuôi làm cái nền để lai
với lợn đực ngoại cho con lai nuôi lấy thòt. Đặc điểm ngoại hình: Lợn có
màu lông lang trắng đen rất ổn đònh . Đầu đen, trán có điểm trắng, cổ
khoang trắng kéo dài xuống 4 chân và vùng bụng. Đường ranh giới giữa
vùng đen và trắng rộng khoảng 2 -3 cm có da đen, lông trắng. Tầm vóc
trung bình, lưng hơi võng, thể chất yếu. Hướng sản xuất: hướng mỡ
2.Lợn Duroc
Lợn Duroc:Giống heo Duroc còn gọi là heo bò. Nguồn gốa ở Mỹ tạo
ra do sự phối hợp của hai giống lợn đỏ ở New York và Fersey.
Ngoại hình: có sắc lông màu nâu đỏ từ lợt đến đậm (hoặc lông màu
vàng xẫm.) đầu nhỏ, mõm vừa, tai nhỏ và hơi sụ về phía trước,vai,mông và
đùi sau nở nang , chân cao vừa, to.khoẻ có tính đẻ sai, mau lớn, nhưng khó
nuôi con, cho nạc nhiều mỡ ít.Heo Duroc nuôi 5 – 6 tháng đạt 100kg, có ưu
điểm chòu nóng tốt.Hiện nay giống lợn này dùng để lai tạo ra giống lợn
nhiều nạc.
Trang 2
3.Lợn Ba Xuyên
Lợn Ba Xuyên: Có nguồn gốc từ vùng Vò Xuyên, tỉnh Sóc Trăng cũ,
nay là Tỉnh Hậu Giang. Đặc điểm ngoại hình: màu lông đốm đen trắng nên
còn gọi là heo bông. Khối lượng trưởng thành 120 – 150kg. Lợn thích nghi
tốt với các Tỉnh miền Tây Nam Bộ, sử dụng làm nái nền lai kinh tế với các
giống lợn ngoại.
Trang 3
4.Lợn Yóoc Sai
Lợn Yóoc Sai: Là giống lợn được hình thành ở vùng Yóoc Sai của
nước Anh. Đặc điểm ngoại hình: lông màu trắng có ánh vàng, đầu cổ hơi
nhỏ va dài, mõm ngắn, mặt gẫy, tai to hướng về phía trước. Mình dài, lưng


Trang 4
hơi cong, bụng gọn, 4 chân chắc chắn và khoẻ. Hướng sản xuất thiên về
hướng nạc.
5.Lợn Ỉ
Lợn Ỉ: Có thân màu đen, thân thể nhỏ, chân ngắn, mõm ngắn, lưng võng,
bụng sệ. Lợn ỉ là một trong những lợn sớm trưởng thành về sinh dục. Con
đực bốn tháng tuổi đã sản xuất ra tinh trùng, con cái bốn tháng tuổi thì bắt
đầu động dục. Ln ỉ cho năng suất thòt và tỉ lệ đẻ,nuôi con thấp. Lợn ỉ
không được ưa chuộng bằng lợn Móng Cái. Tuy nhiên, Lợn Ỉ vẫn dùng để
làm nái nền trong lai kinh tế, với các giống lợn ngoại để nâng cao chất
lượng thòt và nâng cao tầm vóc lợn lai. Lợn Ỉ có nhiều ưu điểm như tính dục
Trang 5
sớm, sinh sản tốt, có khả năng chòu được điều kiện khắc nghiệt, sức đề
kháng cao, dễ thích nghi với mội trường sống, chất lượng thòt cao.
6.Lợn Lan đo rat
Lợn Lan đo rat: Là giống lợn được tạo ra ở Đan Mạch, hiện nay được
nuôi rộng rãi khắp thế giới. Đặc điểm ngoại hình: màu lông trắng, đầu to
vừa phải, tai to, dài, rủ xuống có khi che kín mắt. Thân dài, ngực nông, mình
Trang 6
hơi lép, bốn chân chắc chắn, phần mông rất phát triển. Hướng sản xuất:
hướng nạc.
II.CÁC GIỐNG BÒ.
1. Bò vàng Việt Nam


Bò vàng Việt Nam :gồm nhiều nhóm bò ở các vùng khác nhau và
được gọi tên theo đòa phương: Bò Thanh Hoá, Nghệ An, Lạng Sơn, Bò mèo
Hà Giang……
Đặc điểm ngoại hình: Sừng ngắn, đầu thanh, trán lõm. Lông màu
vàng (có thể vàng nhạt hoặc vàng sẫm). Tầm vóc nhỏ, thấp, ngắn, hình lép,

hệ cơ kém phát triển, tỉ lệ thòt xẻ thấp (40-50%)….Do tầm vóc quá nhỏ bé
nên không dùng làm nền để lai tạo với các giống bò chuyên dụng thòt, sữa
được. Khả năng sản xuất thấp về mọi mặt, giá trò kinh tế thấp, vì vậy cần
Trang 7
được cải tạo một cách căn bản. Ưu điểm nổi bật là thành thục sớm, mắn đẻ,
khả năng thích nghi cao, chòu đựng kham khổ tốt, ít bệnh tật.
Khối lượng trưởng thành (kg) của các nhóm bò như sau: Bò Thanh
Hoá: 200 – 250, bò Nghệ An: 200 – 275 , bò Lạng Sơn: 180 – 230, bò Mèo
(hay bò H

mông) : 220 – 280.
2.Bò Sind đực
Bò Sind đực: Đặc điểm ngoại hình : da màu nâu sẫm, u yếm phát triển,đuôi
thẳng,dài,tai cúp xuống dưới,sừng ngắn,cong ve phía trước đâud dạng hình
thang, mõm màu trắng hai chân trước ngắn hơn hai chân sau.
- Khả năng sản xuất: lấy thòt, lấy sức kéo,làm giống để lai tạo.
3.Bò Sind cái
Trang 8
BòSind cái: Đặc điểm ngoại hình :da màu nâu đỏ, u, yếm phát triển,đuôi
thẳng-dài,tai úp xuống dưới, cong và hướng lên trên,đầu có dạng hình tam
giác, mõm ngắn chân cao, bầu vú phát triển.
- Khả năng sản xuất: lấy sức kéo, lấy thòt.
4. Bò Lai Sin
Bò lai sin là giống bò hình thành là kết quả lai tạo giữa bò Sin đỏ
(Red Sindhi) với bò vàng Việt Nam. Hiện nay, đàn bò này chiếm khoảng
30% tổng đàn bò nội, tập trung chủ yếu ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,
An Giang, Long An, Nam Đònh, Ninh Bình, Hải Dương với số lượng ngày
càng tăng.
Trang 9
Đặc điểm ngoại hình: Tầm vóc to hơn bò vàng Việt Nam. Màu lông

vàng hoặc đỏ sẫm. Đầu hẹp, trán gồ, tai to yếm da ở dưới cổ và rốn rất phát
triển, u vai nổi rõ, ngực sâu, mông dốc, con cái bầu vú khá phát triển. Khối
lượng trưởng thành: 280 – 320kg (Cái) và 450 – 500 (đực). Tỉ lệ thòt xẻ:
50%. Năng suất sữa xấp xỉ 1000kg/chu kỳ (270 – 290 ngày). Khả năng cày
kéo tốt hơn bò Vàng Việt Nam.
5.Bò Hà Lan (Holstein Friesian) (HF)
Nguồn gốc từ Hà Lan, là giống bò sữa cao sản được tạo ra ở
đỉnh Fulixon ở Bắc Hà Lan từ thế kỷ XIV. Ngày nay giống bò này được
phân bố rất rộng trên thế giới.
Đặc điểm ngoại hình: Màu lông trắng đen, trắng đỏ hoặc đen tuyền.
Ngoại hình đẹp, điển hình của loại hình hướng sữa.
Bò cái đầu thanh, nhẹ, tai to, trán phẳng, có đốm trắng, sừng thanh và
công hướng về phía trước. Cổ dài cân đối, không có yếm. Vai, lưng, hông,
mông thẳng; ngực sâu; 4 chân thẳng, dài, khoẻ, cự li chân rộng. Bầu vú phát
triển t, tónh mạch vú nổi rõ. Toàn thân phát triển dạng như hình cái nêm
Trang 10
(Phần sau phát triển hơn phần trước). Khối lượng trưởng thành: cái: 450 –
750kg; đực: 750 – 1100kg. tỉ lệ thòt xẻ: 40 – 50%.
Năng suất sữa bình quân: 5000kg/chu kỳ (290 – 300 ngày). Tỉ lệ mở
sữa: 3,42% (Kỉ lục: bò cái Canaim Ormby Madcapfayne đạt 18750kg
sữa/chu kỳ 365 ngày, tỉ lệ mỡ sữa 3,32% (bình quân: 5,23kg/ngày). Ở nước
ta: bò HF được nuôi nhiều ở Mộc Châu (Sơn La), Đức Trọng (Lâm Đồng)
và Ba Vì (Hà Tây). Năng suất sữa 4500 – 5000kg/chu kỳ.
6.Bò lai hướng sữa (Bò đực Hà Lan và Bò cái Lai Sin)
Bò để nuôi lấy sữa ở nước ta chủ yếu là bò lai giữa hai giống
này nên còn gọi là bò sữa Việt Nam. Bò lai (HF x Lai sind) có màu lông
Trang 11
trắng đen. Thường phân biệt với bò Hà Lan qua đặc điểm: có yếm và rốn
khá phát triển. Năng suất sữa của bò lai khoảng từ 1800 – 4500kg/chu kỳ
tuỳ mức độ lai (F1,F2,F3 mang tỷ lệ tương ứng là 1/2, 3/4, 7/8 và máu bo

HF). Có con cao sản đạt 6500/chu kỳ.( báo cáo của trung tâm nghiên cứu bò
và đồng cỏ Ba Vì). Giống bò này ưu khí hậu mát mẻ, khô ráo, nhiệt độ 18
0
C
- 20
0
C; nuôi ở vùng đồng bằng nóng ẩm, nhiệt độ cao thì thích nghi kém, dễ
mắc bệnh.
7.BÒ SINĐÔ.
Trang 12
BÒ SINĐÔ:Bò có lông màu đỏ nâu, đỏ vàng, hoặc màu vàng đỏ.
Ngoại hình giống như Bò sin, nhưng u vai ở con đực thể hiện rõ, yếm to và
dầy, con cái thì bầu vú phát triển.
Bò trưởng thành con đực nặng 500 –600 kg, con cái đến 400-450kg,
được nuôi ở nước nhiệt đới để lấy sữa. Sản lượng sữa 1600- 2700kg sữa / chu
kì 300 ngày. Tỷ lệ mỡ trong sữa là 4- 4.5%. Bò thường được dùng làm bò nền
cho lai với bò đực.
8.Bò Charolais
- Tên giống: bò Charolais có nguồn gốc từ vùng Charo nước Pháp.
- Đặc điểm ngoại hình: sắc lông màu trắng đục hay màu kem. Da và
niêm mạc có sắc tố. Mông và đùi phát triển,thòt thăng, tỉ lệ cao. Thân hình
to lớn, có khả năng di truyền cho thòt cao. Giống bò này thường dễ bò sanh
khó.
- Hướng sản xuất: nuôi theo hướng chuyên thòt.
Bò cái trưởng thành nặng : 850-900 kg
Bò đực trưởng thành nặng: 1200-1400 kg
9.Bò Beefmaster
Trang 13
Tên giống: bò Beefmaster. Giống bò này được lai tạo ở tiểu bang
Texas nước Mỹtừ giống Brahman, Shorthorn và hereford.

- Đặc điểm ngoại hình: màu sắc lông của bò này có nhiều thay đổi do
chưa chọn lọc chặt chẽ trên chỉ tiêu này. Bò này có sức tăng trọng tốt, nuôi
con tốt và tầm vóc lớn.Tuy nhiên, giống bò này còn thô, trưởng thanh sinh
dục chậm.
- Hướng sản xuất: nuôi theo mục đích sản xuất thòt có hiệu quả kinh
tế cao.
Bò đực trưởng thanh nặng 1650 kg
Bò cái trưởng thành nặng trên 650 Ibs
10.Bò lai Hà Lan F1(1/2 HF)
Bò lai Hà Lan F1(1/2 HF)
- Được lai tạo giữa bò cái lai sind với bò đực giống Hà Lan
( Holstein Friesian).Hầu hết bò lai F1 có màu lông đen,nếu
có vết lang trắng thì rất nhỏ,ở dưới bụng,bón chân,khấu
đuôi,trên trán
Trang 14
- Bò đực F1 trưởng thành nặng từ 500 – 600 kg,bò cái nặng
350 – 420 kg.Bê sơ sinh nặng 25 – 30kg.Sản lượng sữa đạt
2500 – 3000kg/chu kỳ.Thời gian cho sữa kéo dài trên 300
ngày,ngày cao nhất có thể đạt 15 – 20l tỉ lệ bơ û 3,6 – 4,2%.
- Bò F1 chòu đựng tương đối với điều kiện nóng ( 30 - 35°C),ít
bệnh tật, có thể ăn nhiều cỏ xanh nên không đòi hỏi ăn
nhiều thức ăn tinh.
- Bò F1 mắn đẻ, khoảng cách giữa hai lứa đẻ 13 – 14
tháng.Tuổi lên giống lần đầu bình quân 17 tháng.Do các ưu
điểm trên ở vùng mới bắt đầu chăn nuôi bò sữa, bò F1 được
xem là bò chủ lực
11.Bò lai Hà Lan F2(3/4 HF)
Bò lai Hà Lan F2(3/4 HF)
Trang 15
- Được lai giữa bò cái lai F1 với bò đực Hà Lan.Về ngoại hình

bò lai F2 gần giống bò lai Hà Lan thuần, với màu lông lang
trắng đen
- Bò đực trưởng thành nặng 600 – 700kg, bò cái nặng 400 –
450 kg.Bê sơ sinh nặng 30 - 35 kg.Sản lượng sữa đạt 3000 –
3500 kg/chu kỳ.Thời gian cho sữa 305 nhày.Tỉ lệ bơ 3,2 – 3,8
%.
- Bò F2 tỏ ra kém chòu đựng hơn hẳn bò F1 với điều kiện
nóng(>30°C).Tuổi đẻ lứa đầu thường vào lúc 27 tháng tuổi.
12.Bò Santa- Gertrudis
Trang 16
Bò Santa- Gertrudis: Giống bò thòt lai tạo giữa bò đực zebu ( gugerat
vaàa Nelhore ) với bò cái giống Shorthorn tại Mỹ và công nhận giống năm
1940. Bò có 5/8 máu Shorthorn và 3/8 máu bò zebu. Bò nặng cân, yếm to và
dầy,có nhiều nếp gấp, ngực sâu và rộng, lưng phẳng da mỏng, lông màu đỏ
thẫm, đôi khi có đốm trắng ở phía dưới bụng, có khả năng thích ứng, chòu
đựng nhiệt độ và độ ẩm cao vùng nhiệt đới, chống chòu tốt với bệnh kí sinh
trùng đường máu. Con đực trưởng thành nặng 800- 1000kg, con cái nặng
550-800kg. Nuôi thòt 18 tháng tuổi bê đực đạt 500kg, bê cái đạt 370kg, tỷ lệ
thòt xẻ 61-62%. Ở Việt Nam trong 1978- 1982 dùng bò đực Santa cho lai
kinh tế với bò Laisin, bê lai nuôi 22-24 tháng tuổi đạt 240-250 kg, tỷ lệ thòt
xẻ 50-51%.
13.Bò LIMOUSIN
Trang 17
Bò Limousin: có lông đen tuyền, không có sừng, lưng thẳng, không có
u, yếm ít phấ triển, tai nhỏ , đầu nhỏ, mõm ngắn, chân ngắn và nhỏ . Bò đưc
trưởng thanh nặng từ 1000-1100 kg, bò cai năng từ 540 – 600 kg . Sinh
trưởng nhanh nuôi 12 tháng tuổi đạt 450- 460 kg , tỷ lệ thòt xẻ la 70%. Nuôi
bò Limousin chủ yếu để lấy thòt.
14.Bò Hereford
Bò Hereford : có nguồn gốc ở Hereford, nước Anh vào thế kỉ 18. Màu

sắc lông đỏ tươi; nhưng ở đầu, mặt, vungf dướ cổ, ngực, bụngcó màu lông
trắng. Phần lông màu đỏ tỉnh thoảng có maù đỏ lợt hay màu vàng; niêm
mạc mũi thường có màu đỏ hay màu bavàng. Giống này ngoại hình thấp;
phần thòt mông đùi phát triển; thân hình gọn, vạm vỡ, đầu ngắn,cổ đầy tròn
và ngắn vai rộng, mông dài và thẳng. Bộ xương cvững chắc, hơi thô , da
dầy. Giống bò này chỉ sản xuât đủ sữa để nuôi con.Nuôi chủ yếu để lấy thòt,
con cai trưởng thành nặng 600 -700 kg, con đực nặng 800 -1100 kg.
15.Bò Shorthorn
Trang 18
Bò Shorthorn : có nguồn gốc từ đông bắc nước Anh vào thế kỉ 18.
Lông có thể thay đổi, có khi toàn màu đỏ, toàn trắng, toàn đen hoặc trắng
pha đỏ, đen co sắc trắng vùng bụng, niêm mạc mũi có màu đỏ tươi hay màu
sẫm. Ngoại hình bò hơi thô, đầu ngắn, trán rộng và sâu, bụng tròn , không
lớn. Giống bò này tăng trưởng nhanh nuôi con tốt, có khả năng di truyền về
thòt cao. Nuôi để lấy thòt và lai tạo với các giống bò khác để tạo thanh giống
bò chuyên thòt, con cái trưởng thành nặng 850- 900 kg ,con đưc trưỏng thành
nặng 1100- 1300 kg.
16.Bò Brangus

Bò Brangus : là giống bò lai ở mỹ giữa bò cái Angus và bò đực
Brahman để thích nghi với các vùng khác nhau. Có màu nâu đen hoàn toàn.
Không có sừng, u, yếm nhỏ,chòu được điều kiện nóng ẩm tốt và có sức
khám bệnh cao.Nuôi để lấy thòt , bò cái trưởng thành nặng 600- 700 kg, con
đực trưởng thành nặng 800-900kg
17.Bò Polled Hereford
Trang 19
Bò Polled Hereford:là giống bò lai tạo ra từ loại bò Hereford. Lông
có màu đỏ là chủ yếu, ngoài ra co màu trắng ở 4 chân, sừng ngắn, cổ ngắn
và cao, đầu ngắn. Nuôi chủ yếu để lấy thòt.
III. Các giống gà:

1.Gà Hồ
Trang 20
Gà Hồ:Là giống gà nặng cân nồi tiếng với làng tranh Đông Hồ và hội
thi gà nên ngoại hình của gà được xem xét kỹ lưỡng với các tiêu chuẩn
sau:đầu cong,mình cốc,cánh vỏ trai,đuôi nơm,da chân đỗ nành(vảy
sần),mào xuýt,diều cân (ở giữa), quản ngắn, đùi dài, vòng chân tròn, các
ngón tách rời nhau.Gà trống lông màu mận chín hay màu đất thó.Da và
chân vàng, thòt thơm ngon.Tốc độ tăng trưởng nhanh.Lúc 7 tuần tuổi gà
trống nặng 2,2 – 2,3kg, gà mái nặng 1,6 – 1,7 kg, gà trưởng thành trống
nặng 4 – 4,5kg,mái nặng 2,8 – 3,2 kg.Sản lượng trứng thấp,ấp và nuôi con
kém.
2.Gà Tam Hoàng
Trang 21
Gà Tam Hoàng
Có nguồn gốc từ Quảng Đông – Trung Quốc, gà có màu lông vàng
tươi hoặc có vài chấm đen ở vùng lông cổ và lông đuôi. Thể hình kiêm dụng
thòt trứng, cơ ngực khá phát triển. Chân thấp, màu vàng, mào đơn, lá tai
vàng. Đẻ 130 – 155 quả/mái/năm.
3.Gà Lương Phượng
Trang 22
Gà Lương Phượng:Có nguồn gốc từ Trung Quốc. Màu lông đa dạng,
pha tạp, có đốm đen hay nâu, mào cờ, thể hình hướng kiêm dụng thòt, trứng.
Năng suất trứng 150 – 160 quả/mái/năm.
4.Gà Rốt Ri
Trang 23
Gà Rốt Ri:có nguồn gốc ở mó hướng sản xuất kiêm dụng,
lông dày có màu đỏ rất đẹp,lông đuôi đen và có màu ánh xanh,
phần cuối lông đuôi có màu đen. Gà trưởng thành :con trống nặng
3.5-3.8 kg, gà mái nặng 2.7-3 kg.Sản lượng trứng 170 quả/năm.
Trọng lượng trứng:55-60 gram, vỏ thường có màu nâu nhạt

5.Gà Kabir
Trang 24
Gà kabir:có nguông\f gốc từ Israel. Sắc lông màu vàng tuyền,nâu
vằn, đỏ vàng,hoa mơ. Gaf 10 tuần tuổi con trống đạt 2,6kg đến 3kg/con. Gà
mái đạt từ 2,0 đến 2,5 kg/con.năng suất trứng đạt từ180 quả-190
quả/năm/con.
6.Gà Ai cập
Trang 25

×