Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

nâng cao hiệu quả kinh doanh trong tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (232.98 KB, 31 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Kiểm toán nội bộ là công cụ kiểm tra, đánh giá hoạt động doanh
nghiệp ở từng bộ phận, ở tất cả các giai đoạn trước, trong và sau quá trình
kinh doanh, là công việc thuờng xuyên theo nhu cầu và chỉ đạo của lãnh
đạo doanh nghiệp . Nếu không có kiểm soát nội bộ, doanh nghiệp sẽ không
đánh giá được năng lực, hiệu quả kinh doanh của mình, không thể tiết
kiệm được nguồn lực, chi phí. Đối với các báo cáo tài chính, nếu không
được kiểm tra kịp thời thì khi lập báo cáo sẽ gây khó khăn cho doanh
nghiệp . Khi hoạt động kinh tế mạnh và có uy tín thì các báo cáo của doanh
nghiệp sẽ đợc tin tưởng hơn, giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc
bạn hàng, nhà đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất xâm nhập thị trường.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, môi trường cạnh tranh
khốc liệt thị trường thay đổi hàng ngày, vai trò của kiểm toán nội bộ lại
càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đặc biệt là trong vần đề kiểm soát
thông tin tài chính. Với tinh thần đó đề tài “Nâng cao hiệu quả kinh
doanh trong Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4” hi vọng
có thể phần nào nói lên được mối quan hệ giữa hoạt động của kiểm toán
nội bộ với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Kết cấu đề tài gồm 3
phần:
- Phần I. Một số lí luận cơ bản về kiểm toán nội bộ và hiệu quả kinh
doanh trong trong doanh nghiệp.
- Phần II. Thực trạng hoạt động kiểm toán nội bộ với việc nâng cao
hiệu quả kinh doanh trong Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4.
- Phần III: Ý kiến đánh giá và giải pháp
1
PHẦN I: MỘT SỐ LÍ LUẬN CĂN BẢN VỀ KIỂM TOÁN
NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Sự hình thành và phát triển
1.1.1 Khái niệm
Một cách cơ bản có thể hiểu Kiểm toán nội bộ là một bộ phận được
lập ra trong một đơn vị,do các kiểm toán viên nội bộ của đơn vị tiến hành


nhằm mục đích rà soát lại hệ thống kế toán và các qui chế kiểm soát nội bộ
có liên quan, kiểm tra lại các thông tin kinh tế do kế toán cung cấp, kiểm
tra tính hiệu lực, tính hiệu quả của các hoạt động trong đơn vị. Thực hiện
chức năng giám sát này giúp cho các nhà quản lý cấp cao trong đơn vị đó
gia tăng được quyền lực của mình để quán xuyến được các hoạt động đã và
đang diễn ra trong đơn vị, bao gồm: những qui tắc đặt ra có được tuân thủ
không? tài sản có được sử dụng hợp lý không? Cán bộ công nhân viên làm
việc có hiệu quả không? các qui định hiện hành có còn phù hợp khi điều
kiện thay đổi ? Xác định tính chính xác của các báo cáo tài chính và các
báo cáo khác.
Như vậy, Kiểm toán nội bộ hình thành và phát triển xuất phát từ nhu
cầu quản lí của bản thân doanh nghiệp . Kiểm toán nội bộBộ là chức năng
đánh giá một cách độc lập và khách quan cơ cấu kiểm soát nội bộ của
Doanh nghiệp . Phạm vi của kiểm toán nội bộbộ bao gồm tất cả mọi mặt
hoạt động của Doanh nghiệp ở tất cả các cấp quản lí khác nhau. Kiểm toán
nội bộ xem xét, đánh giá và báo cáo về thực trạng của hệ thống kiểm soát
nội bộ, đưa ra những phân tích, kiến nghị , tư vấn mang tính chuyên ngiệp
để lãnh đạo Doanh nghiệp có cơ sở tin cậy trong việc quản lí thành công
các hoạt động của Doanh nghiệp
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
•Trên thế giới
-Hoạt động của kiểm toán nói chung đã xuất hiện từ lâu trên thế giới
2
cùng với sự phát triển không ngừng về kinh tế và xã hội cũng như nhiều
mặt khác của mỗi quốc gia . So với kiểm toán độc lập và kiểm toán Nhà
nước thì loại hình kiểm toán nội bộ ra đời muộn hơn, bắt đầu từ năm 1940
mới xuất hiện khái niệm Kiểm toán nội bộ . Nhưng nó có sự phát triển rất
mạnh mẽ đặc biệt trong công việc quản trị doanh nghiệp . Các đơn vị kiểm
toán cơ sở phát hiện ra rằng hệ thống Kiểm toán nội bộ là phương tiện
quản lí có hiệu quả và là công cụ đắc lực giúp các nhà quản lí giám sát

được toàn bộ hoạt động của đơn vị mình. Không những thế, trong các cơ
quan nhà nước việc hình thành các bộ phận Kiểm toán nội bộ để kiểm tra
thường xuyên các hoạt động trong cơ quan đang tỏ ra có nhiều tác dụng
thiết thực.
-Với sự lớn mạnh và gia tăng quy mô các doanh nghiệp vài thập niên
gần đây, tầm quan trọng của Kiểm toán nội bộ cũng lớn mạnh một cách
tương ứng, làm cho nó trở thành yếu tố chính trong việc thiết lập hệ thông
kiểm soát và kiểm tra nội bộ.ở một số nước, cơ quan lập pháp đã đưa ra
những văn bản pháp luật nhằm tạo ra hành lang pháp lí để tạo điều kiện
cho Kiểm toán nội bộ hoạt động và phát triển. bộ phận Kiểm toán nội bộ
đã phát triển cực nhanh ở Mĩ cũng như ở châu Âu từ những năm 60. Sự
phát triển này đă được khuyến khích bởi sự thành lập của tổ chức kiểm
toán nội bộ (IIA) năm 1944 tại New York, tổ chức này đã xác định bản
chất, mục tiêu và phạm vi hoạt động của bộ phận Kiểm toán nội bộ. Tổ
chức Kiểm toán nội bộ là thành viên của Liên đoàn kế toán quốc tế
(IFAC), đồng thời nó nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cấp chứng chỉ cho
các kiểm toán viên nội bộ.
•Tại Việt Nam
Kiểm toán nội bộ có vai trò quan trọng và cần thiết nhưng những
hiểu biết của chúng ta về lĩnh vực này còn quá ít so với kiểm toán Nhà
nước và kiểm toán độc lập. Trên thực tế , hầu như có rất ít các công trình
3
hay đề tài nghiên cứu khoa học một cách hệ thống và sâu sắc về Kiểm toán
nội bộ. Trong điều kiện đó, vướng mắc về nhận thức là lẽ đương nhiên;
việc triển khai thực hiện hoạt động Kiểm toán nội bộ ở các Doanh nghiệp
lại càng lúng túng.
Trong thời gian vừa qua, ở Việt Nam đã xuất hiện những nhu cầu và
điều kiện cần thiết cho việc thiết lập hệ thống Kiểm toán nội bộ trong các
đơn vị. Tuy nhiên vì là giai đoạn đầu nên việc hình thành mới được rất ít
và chậm chạp, chủ yếu tập trung ở các tổng công ty lớn, các Doanh nghiệp

có qui mô lớn hoặc các doanh nghiệp nước ngoài. Hơn thế nữa, Kiểm toán
nội bộ bước đầu còn gặp nhiều khó khăn trong công tác tổ chức và hoạt
động, bộ phận Kiểm toán nội bộ còn quá mỏng manh so với cả một khối
lượng công việc khổng lồ.
Có thể thấy rằng hiện nay hệ thống Kiểm toán nội bộ ở Việt Nam
vẫn chưa thực sự phát triển mà vẫn ở giai đoạn hình thành và hoàn thiện.
Lực lượng kiểm toán viên còn quá ít, hệ thống chính sách, qui chế về Kiểm
toán nội bộ chưa được xây dựng đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu
kiểm toán của Doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động chưa cao. Mặc dù vậy,
hiện nay Nhà nước ta đang khuyến khích các Doanh nghiệp nhà nước hình
thành bộ phận Kiểm toán nội bộ trong Doanh nghiệp. Theo điều 36,
chương 5- nghị định số 59/NĐ-CP ngày 3/10/1996 qui định : “ Doanh
nghiệp tự tổ chức Kiểm toán nội bộ báo cáo tài chính của mình hoặc thuê
kiểm toán độc lập nếu thấy cần thiết” chính là nhằm tạo cho Doanh
nghiệp(nhà nước) cơ hội lựa chọn việc có nên tổ chức bộ phận Kiểm toán
nội bộ trong Doanh nghiệp hay không. Mặt khác giữa thực trạng phát triển
Kiểm toán nội bộ trong các Doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay và nhu
cầu đòi hỏi của nhà nước về khía cạnh pháp lý còn có một số mâu thuẫn.
Theo điểm 3, mục I- thông tư 73 TC/TC Doanh nghiệp ngày 12/11/1996
của Bộ tài chính: “ Báo cáo tài chính được lập được coi là hợp pháp, hợp lệ
khi có đủ chữ kí của người lập, người kiểm toán, kế toán trưởng, giám đốc
4
và đóng dấu Doanh nghiệp ”, trong điều kiện hiện nay khi lực lượng cán
bộ kiểm toán và hệ thống Kiểm toán nội bộ chưa thực sự hoàn thiện và
phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu kiểm toán của tất cả các Doanh
nghiệp thì việc qui định như vậy là chưa thoả đáng.
Vào tháng 10 năm 1997, kiểm toán nội bộ lần đầu tiên được ban hành
quy chế hoạt động theo quyết định Số 832 TC-QD-TKC của Bộ Tài chính
trên cơ sở luật ngân sách, quy chế quy định đầy đủ về loại hình kiểm toán
từ các ràng buộc trách nhiệm đến các quy định về nội dung, trình tự,

phương pháp cũng như tổ chức bộ máy và tổ chức thực hiện của kiểm toán
nội bộ. Nhìn chung Quyết định 832 đã đề cập tương đối đầy đủ và rõ ràng
về các yếu tố liên quan đến Bộ phận kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp,
xứng đáng là một trong nhưng văn bản pháp quy đầu tiên trong lĩnh vực
này.
Xét đến cùng, kiểm toán nội bộ Việt Nam vẫn đang ở trong giai
đoạn hình thành và phát triển, việc thí điểm mới chỉ dừng lại ở các Tổng
công ty, các Doanh nghiệp có qui mô lớn .Việc hình thành mô hình Kiểm
toán nội bộ nói chung còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Tuy nhiên, việc
phát triển hệ thống Kiểm toán nội bộ trong các Doanh nghiệp ở nước ta
trong điều kiện nền kinh tế thị trường là một đòi hỏi khách quan và cần
thiết vì sự tồn tại và hưng thịnh của chính các Doanh nghiệp trong cơ chế
thị trường khốc liệt.
1.2 Kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp
Kiểm toán nội bộ là nhu cầu tự thân của các Doanh nghiệp nên phạm
vi hoạt động của nó rất biến động và tuỳ thuộc vào qui mô, cơ cấu của
Doanh nghiệp cũng như nhu cầu quản lí đơn vị, do vậy Kiểm toán nội bộ
trong các doanh nghiệp khác nhau là khác nhau và phù hợp với từng điều
kiện, hoàn cảnh của Doanh nghiệp
1.2.1 Phạm vi và mục tiêu của kiểm toán nội bộ :
5
Kiểm toán nội bộ là nhu cầu tự thân của các Doanh nghiệp nên phạm
vi hoạt động của nó rất biến động và tuỳ thuộc vào qui mô, cơ cấu của
Doanh nghiệp cũng như nhu cầu quản lí đơn vị, do vậy Kiểm toán nội bộ
trong các doanh nghiệp khác nhau là khác nhau và phù hợp với từng điều
kiện, hoàn cảnh của Doanh nghiệp , thông thường, kiểm toán nội bộ haọt
động trên các lĩnh vực
• Kiểm toán hoạt động
- Kiểm tra việc huy động, phân phối sử dụng một cách tiết kiệm và có
hiệu quả các nguồn lực (nhân lực, vật tư, hàng hoá, tài sản, tiền vốn , lợi

thế kinh doanh ) của doanh nghiệp;
- Kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động sản xuất, kinh doanh; phân
phối và sử dụng thu nhập; kết quả bảo toàn và phát triển vốn.
- Kiểm tra và đánh giá tính hiệu quả hoạt động của các bộ phận chức
năng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
• Kiểm toán tuân thủ
- Kiểm tra tính tuân thủ luật pháp , chính sách, chế độ tài chính, kế
toán; chế độ quản lý của Nhà nước và tình hình chấp hành các chính sách,
nghị quyết, quyết định, quy chế của Hội đồng quản trị, của Ban Giám đốc;
- Kiểm tra tính tuân thủ các quy định về nguyên tắc, quy trỡnh nghiệp
vụ, thủ tục quản lý của toàn bộ cũng như của từng khâu công việc, của
từng biện pháp trong hệ thống kiểm soát nội bộ;
- Kiểm tra sự chấp hành các nguyên tắc, các chính sách, chuẩn mực
kế tóan từ khâu lập chứng từ, vận dụng hệ thống tài khoản, ghi sổ kế toán,
tổng hợp thông tin và trình bày báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị,
đến lưu trữ tài liệu kế toán ;
• Kiểm toán báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị
- Kiểm tra và xác nhận tính kịp thời, đầy đủ, khách quan, tính tin cậy
của báo cáo tài chính; báo cáo kế toán quản trị trước khi (Tổng) Giám đốc
ký duyệt và cụng bố;
6
- Kiểm tra và đánh giá các báo cáo tài chính, kế toán quản trị; đưa ra
những kiến nghị và tư vấn cần thiết cho hoạt động sản xuất, kinh doanh
nhằm đảm bảo sự hợp lý và hiệu quả.
1.2.2 Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ.
Theo điều 6 Quyết định số 832 TC/QUYẾT ĐỊNH/CĐKT ngày 28
tháng 10 năm 1997 của bộ Tài Chính về việc ban hành quy chế kiểm toán
nội bộ; Kiểm toán nội bộ có các nhiệm vụ sau :
•Kiểm tra tính phù hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát
nội bộ

•Kiểm tra và xác nhận độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài chính của
báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị trước khi trình duyệt.
•Kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lí kinh doanh
đặc biệt là sự tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ tài chính kế toán,
chính sách, nghị quyết của hội đồng quản trị, của ban giám đốc doanh
nghiệp
•Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lí, trong bảo vệ
tài sản của doanh nghiệp ; đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện
hệ thống quản lí, điều hành kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.3 Quyền hạn của kiểm toán nội bộ.
Do đặc trưng của kiểm toán nội bộ là kiểm tra, xác minh tính đúng
đắn của các báo các tài chính trong doanh nghiệp, tính tuân thủ và hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp nên kiểm toán nội bộ có những quyền hạn
riêng để đảm bảo mục đích hoạt động. KTNB có quyền:
 Thứ nhất, kiểm toán nội bộ độc lập với các bộ phận khác trong
doanh nghiệp, độc lập về chuyên môn nghiệp vụ trong phạm vi
7
khuôn khổ luật pháp và các chuẩn mực, phương pháp nghiệp vụ
chuyên môn.
 Thứ hai, yêu cầu các bộ phận và các cá nhân có liên quan cung cấp
đầy đủ, kịp thời các tài liệu về kế toán, tài chính và các tài liệu khác
có liên quan tới nội dung kiểm toán .
 Thứ ba, có quyền đối chiếu xác minh các thông tin kinh tế có liên
quan tới đối tượng được kiểm toán ở trong và ngoài DN.
 Thứ tư, có quyền kiến nghị với đối tượng được kiểm toán có biện
pháp sửa chữa sai phạm và có quyền ghi ý kiến của mình vào báo
cáo kiểm toán .
 Thứ năm, có quyền đề xuất với lãnh đạo DN những kiến nghị và
biện pháp về quản lý.
Đó là những quyền hạn cơ bản của KTNB, bên cạnh đó tuỳ thuộc vào

từng DN, từng điều kiện cụ thể mà KTNB có thể có thêm các quyền hạn
khác.
8
1.2.3 Kiểm toán nội bộ với việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực
trong doanh nghiệp
“Sử sụng hiệu quả các nguồn lực- vấn đề trọng tâm cơ bản đối với
mọi nỗ lực của ban giám đốc”
Một doanh nghiệp bắt đầu hình thành vào một thời điểm nào đó với
một số nguồn tài nguyên ( nhân, vật lực) nhất định và mong muốn sử
dụng những nguồn tài nguyên này để đạt được một điều gì đó. Điều mà
doanh nghiệp muốn đạt được tức là mục tiêu của doanh nghiệp vốn được
mô tả như là một đích đến mong muốn và thường là dưới dạng một mức
lợi nhuận, bởi vì lợi nhuận làm hài lòng cổ đông cũng như chủ đầu tư. Lợi
nhuận là tiêu chí để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng nguồn tài nguyên
của doanh nghiệp . Và cách làm như thế nào để đạt được những mục tiêu
này thì đó chính là chiến lược của công ty.
1.2.3.1 Thế nào là hiệu quả kinh doanh
Theo cách hiểu thông thường, hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối
tương quan giữa chi phí đầu vào và kết quả nhận được ở đầu ra của một
quá trình Nếu gọi H là hiệu quả kinh doanh:
Kết quả đầu ra
Hiệu quả kinh doanh (H) =
Chi phí đầu vào
Công thức này thể hiện hiệu quả của việc bỏ ra một số vốn để thu
được kết quả cao hơn tức là đã có một sự xuất hiện của giá trị gia tăng với
điều kiện H>1, H càng lớn càng chứng tỏ quá trình đạt hiệu quả càng cao.
. Để tăng hiệu quả (H), chúng ta có thể sử dụng những biện pháp như:
giảm đầu vào, đầu ra không đổi; hoặc giữ đầu vào không đổi, tăng đầu ra;
hoặc giảm đầu vào, tăng đầu ra
9

Giảm chi phí đầu vào
Yếu tố quan trọng hàng đầu giúp giảm chi phí đầu vào là trang
thiết bị công nghệ. Nếu chúng ta đầu tư hợp lý cho công nghệ kỹ thuật thì
nó sẽ giúp làm giảm chi phí đầu vào rất nhiều do tính tiết kiệm cũng như
chất lượng của công nghệ mới.
Đầu vào thường xuyên của sản xuất là nguyên vật liệu do đó để
giảm chi phí đầu vào chúng ta cần chú ý đến việc tiết kiệm nguyên vật liệu,
sản xuất là một quá trình, để giảm được chi phí sản xuất cần phải nghiên
cứu quá trình đó. Trong đó các bước chủ yếu là:
 Quản lý nguồn lực sản xuất: ghi nhận thông tin về máy móc thiết
bị,công cụ dụng cụ theo danh mục phân loại, ghi nhận tiêu chuẩn chất
lượng, đặc điểm nguyên vật liệu…nhằm có sự quản lý chặt chẽ các nguồn
lực tránh thất thoát và tăng sự kiểm soát
 Kế hoạch sản xuất: thiết lập kế hoạch sản xuất phù hợp quy mô
thời kỳ, đối tác, loại sản phẩm…trong quá trình tiến hành triển khai kế
hoạch sản xuất cần theo dõi thường xuyên nhằm cập nhật những thông tin
kịp thời và dựa vào thông tin đó điều chỉnh cho phù hợp
 Điều độ sản xuất: phân công công việc cụ thể có tính trách nhiệm
cao đồng thời thường xuyên thao dõi quá trình thực hiện
•Giảm chi phí đầu ra
Chí phí đầu ra là những chi phí phục vụ cho tiêu thụ sản phẩm, nó
bao gồm chi phí đóng gói,chi phí vận chuyển, chi phí bán hàng và những
chi phí khác liên quan đến tiêu thụ sản phẩm. Việc thúc đẩy tiêu thụ sản
phẩm với mức chi phí tối thiểu cũng là giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp . Để giảm chi phí tiêu thụ điều trước tiên doanh nghiệp
cần làm là nắm bắt thị trường và hiểu rõ về doanh nghiệp mình trong thị
trường đó. Chỉ trên cơ sở nắm bắt thị trường doanh nghiệp mới có những
hướng đi đúng đắn trong việc tiết kiệm chi phí tiêu thụ sản phẩm.
10
Như vậy, từ sự phân tích trên: hiệu quả kinh doanh là một phạm trù

kinh tế, nó phán ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của Doanh
nghiệp để hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt kết quả cao nhất với chi phí
thấp nhất. Hiệu quả phải gắn liền với việc thực hiện những mục tiêu của
Doanh nghiệp và được thể hiện qua công thức sau:
Mục tiêu hoàn thành
Hiệu quả kinh doanh (H) =
Nguồn lực được sử dụng một cách thông
minh
Với quan niệm trên, hiệu quả kinh doanh không chỉ là sự so sánh giữa
chi phí cho đầu vào và kết quả nhận được ở đầu ra; hiệu quả kinh doanh
được hiểu trước tiên là việc hoàn thành mục tiêu, nếu không đạt được mục
tiêu thì không thể có hiệu quả và để hoàn thành mục tiêu ta cần phải sử
dụng nguồn lực như thế nào? Điều này thể hiện một quan điểm mới là
không phải lúc nào để đạt hiệu quả cũng là giảm chi phí mà là sử dụng
những chi phí như thế nào, có những chi phí không cần thiết ta phải giảm
đi, nhưng lại có những chi phí ta cần phải tăng lên vì chính việc tăng chi
phí này sẽ giúp cho Doanh nghiệp hoàn thành mục tiêu tốt hơn, giúp cho
Doanh nghiệp ngày càng giữ được vị trí trên thương trường.
1.2.3.2 Các yếu tố giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh
•Nâng cao năng suất lao động
Năng suất lao động được định nghĩa bởi OECD (Tổ chức Hợp tác và
Phát triển Kinh tế- Organization for Economic Cooperation and
Development) là "tỷ số giữa sản lượng đầu ra với số lượng đầu vào
được sử dụng
11
Sản lượng đầu ra trên mỗi lao động tương ứng với "sản lượng trung
bình của nhân công" và có thể đối lập với sản lượng cận biên của lao động,
tức là nếu đầu vào tăng thì sản lượng đầu ra cũng tăng
•Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực
- Khái niệm: Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa bao gồm kinh

nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ
đặc điểm nào khác tạo giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cho tổ chức
của những người lao động
- Mô tả nguồn nhân lực:
+ Quy mô và cơ cấu theo các đặc tính nhận diện nguồn nhân lực (giới tính,
trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề, )
+ Các mô tả về các đặc điểm sự tận tâm, nỗ lực, khả năng thích nghi, sáng
tạo
Tuyển chọn những nhân viên có năng lực, đào tạo và nâng cao trình
độ lành nghề cho họ mới chỉ là những yếu tố quan trọng ban đầu, là điều
kiện cần thiết nhưng chưa đủ để bộ máy quản trị của doanh nghiệp hoạt
động có hiệu quả.
Phát hiện, cắt bỏ lao động thừa trong doanh nghiệp
Ngoài ra càn có các yếu tố khác như:
• Tận dụng tối đa cơ sở vật chất
• Bố trí sản xuất hợp lí
• Tìm kiếm các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh
• Giảm thiểu các khâu quản lí chồng chéo
Trong đó hạn chế gian lận và sai sót là một trong những yếu tố hàng
đầu
12
PHẦN II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NỘI
BỘ VỚI VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH
TRONG tỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
GIAO THÔNG 4
2.1 Đôi nét về tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4
“Tự hào là một trong những Tổng công ty có uy tín nhất
trong nghành xây dựng Việt Nam. Trong vòng 10 năm trở lại
đây, mức tăng trưởng trung bình hàng năm của Tổng công ty là
22%/năm” (trích báo cáo kết quả hoạt động năm 2007- Tổng công ti xây

dựng công trình giao thông 4)
Tên đầy đủ:
TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG
TRÌNH GIAO THÔNG 4
Tên giao dịch:
TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG
TRÌNH GIAO THÔNG 4
Tên viết tắt: CIENCO4
Địa chỉ liên hệ 29 Quang Trung, TP. Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 038.832493 - 844198
Fax: 038.586272 - 843329
Email:
Số đăng ký KD: 109832
Ngày cấp: 20/01/1996
Cơ quan cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nghệ An
Văn phòng Đại diện Hà Nội:
Số 19 - Ngõ 1043 - đường Giải phóng - p. Thịnh Liệt, quận Hoàng
Mai, Hà Nội.
Điện thoại: 84-4-6420382
Fax: 84-4-6811275
2.2.Sự hình thành và phát triển:
13
Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 tiền thân là Cục công
trình 1, Bộ giao thông vận tải Thành lập ngày 12 tháng 2 năm 1965; sau đó
là:
Xí nghiệp liên hiệp Công trình I ( năm 1971 );
Liên hiệp các xí nghiệp xây dựng giao thông 4 (năm 1983 );
Khu Quản lý đường bộ 4 (năm 1989 ) .
Ngày 17/12/1991- Quyết định 2657/QĐ-TCCB-LĐ thành lập Tổng
công ty XDCT Miền trung được tách ra từ các Công ty xây dựng cơ bản

của Khu quản lý đường bộ 4 và ba công ty của Khu quản lý đường bộ II
Ngày 2/12/1995 Tổng công ty được thành lập lại Theo Quyết định số:
4985 QĐ/ TCCB -LĐ Của Bộ GTVT với tên gọi “Tổng công ty xây dựng
công trình giao thông 4 “
Trong hơn 40 năm hoạt động Tổng công ty xây dựng công trình giao
thông 4 đã xây dựng mới và hoàn thành:
- 400 Km đường sắt
- 50.000m2 đường sân bay
- 10.000 Km đường bộ
- Nâng cấp và thảm nhựa hơn 600km Quốc lộ
- 30.000m cầu bê tông, cầu thép
- Làm mới và sửa chữa hơn 900km đường Tỉnh lộ
- 6.000m cảng biển
- Xây dựng 12.000m2 nhà chung cư và Văn phòng
- 02 Nhà máy thủy điện CS>50MW
- Nhiều công trình xây dựng khác
2.3 Cơ cấu tổ chức Tổng công ty
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TỔNG CÔNG TY
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 4
14
VP TỔNG HỢP
P. DỰÁN
P. ĐIỀU ĐỘ SX
TT. ĐÀO TẠO &
PT KHCN
CÁC BAN ĐHDA
VP. ĐẠI DIỆN TẠ
I HÀ NỘI
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC

CÁC PHÓ TỔNG GĐ
P. KINH DOANH
P. TỔ CHỨC CBLĐ
P. TC - KẾ TOÁN
P. KTCN CẦU
P. KTCN ĐƯỜNG
P. QL MÁY - TB
P. CÔNG NGHIỆP
THANH TRA-
KIẾM SOÁT
KIỂM TOÁN
NỘI BỘ
CTCT GIAO THÔN
G 422
CTCT GIAO THÔN
G 499
CHI NHÁNH HÀ
NỘI
CÔNG TY B.O.T
CT CP XDCT GIAO
THÔNG 208
CT CP XDCT GIAO
THÔNG 228
CT CP XDCT GIAO
THÔNG 246
CT CP SXVL & XD
CT 405
CT CP XDCT GIAO
THÔNG 419
CT CP XD & TM 4

23
CT CP TM ĐT & X
D 424
CT CP CK & XDCT
465
CT CT GIAO THÔNG
473
CT CP XDCT GIAO T
HÔNG 475
CT CP XDCT GIAO
THÔNG 479
CT ĐƯỜNG BỘ 471
CT CP XDCT GIAO
THÔNG 484
CT CP XDCT 492
CT TVTK CT GIAO
THÔNG 497
CT CP XDCT GIAO
THÔNG 482
15
2.4.Lĩnh vực kinh doanh
Với tiêu chí hợp tác toàn diện với mọi thành phần kinh tế trong và
ngoài nước, Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 hoạt động
trong các lĩnh vực kinh doanh sau:
 Thi công các dự án hạ tầng cơ sở GTVT
 Xây dựng các công trình cầu, đường các loại
 Xây dựng cảng sông, cảng biển, sân bay bến bãi
 Năng lượng điện, môi trường, nông nghiệp
 Xây dựng nhà máy điện công suất vừa và lớn
 Sản xuất và kinh doanh điện

 Xây dựng các công trình thủy lợi, thủy nông
 Chế tạo các thiết bị xe máy công trình
 Chế tạo lu bánh lốp, bánh thép, thiết bị lao dầm, xe đúc dầm, ván
khuôn dầm 33m, super-T
 Chế tạo Ca nô, Xà lan và các loại sản phẩm cơ khí khác
 Đầu tư theo phương thức HĐXD kinh doanh chuyển giao
(B.O.T)
 Đầu tư theo phương thức B.O.O
 Sản xuất vật liệu xây dựng, gia công kết cấu thép
 Sản xuất kết cấu thép các loại, dầm cầu thép, neo bê tông dự ứng lực
 Cấu kiện bê tông đúc sẵn
 Sản xuất và kinh doanh xi măng
 Tư vấn, đầu tư, xuất khẩu lao động
 Tư vấn thiết kế công trình xây dựng
 Tư vấn giám sát, kiểm tra chất lượng công trình
 Xuất khẩu lao động
 Đầu tư kinh doanh trung tâm thương mại; sản xuất nước
khoáng thiên nhiên; xuất nhập khẩu vật tư thiết bị.
16
2.5.Sơ lược về tình hình tài chính của Tổng công ty tại
thời điểm năm cuối năm 2004:
Chỉ tiêu Số tiền
Tổng tài sản 58,684,210,530,000(VND)
Nguồn vốn kinh doanh 8,084,120,301,000
Doanh Thu 2,001,604,201,000
Thông tin từ Hội nghị Sơ kết SXKD 9 tháng đầu năm - Triển khai
Kế hoạch quý IV-2007:
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu 9 tháng đầu năm 2007:
- Giá trị sản lượng: Giá trị sản lượng thực hiện 9 tháng đạt 1.583 tỷ
đồng bằng 63 % KH năm 2007 và bằng 68% KH điều chỉnh (KH năm

2.532 tỷ đồng, KH điều chỉnh là 2.334 tỷ đồng).
- Doanh thu đạt 1.222 tỷ đồng bằng 55 % KH năm và bằng 59 % KH
điều chỉnh (2.050 tỷ đồng).
- Thanh toán và tạm ứng: 1.382 tỷ đồng bằng 62% KH và bằng 65 %
KH điều chỉnh (2.100 tỷ đồng); Các đơn vị có thanh toán khá so với KH là
Cty 419, 422, 475, 479, 482, 492 và CNHN.
• Các chỉ tiêu chính quý 4-2007:
- Giá trị sản lượng: 751 tỷ đồng bằng 32 % kế hoạch điều chỉnh năm
2007
- Doanh thu : 828 tỷ đồng bằng 40 % kế hoạch điều chỉnh
- Thanh toán: 717 tỷ đồng bằng 34% KH điều chỉnh.
- Thu nhập người lao động bình quân: 1,86 triệu đồng/người/tháng;
Phấn đấu trả lương đúng kỳ nếu chậm lương tối đa không quá 2 tháng .
17
• Các mặt hạn chế:
-Hiệu quả kinh doanh còn thấp, nhiều đơn vị thành viên còn yếu về
năng lực thi công chủ yếu là do tài chính khó khăn, Ngân hàng quản lý
chặt hơn về nguồn vay.
-Công tác điều hành sản xuất chưa được đổi mới, công tác quản lý
chất lượng còn xem nhẹ, đời sống người lao động chưa được quan tâm
đúng mức, tình trạng cán bộ giỏi việc, công nhân có tay nghề chưa yên tâm
công tác…
• Công tác đổi mới Doanh nghiệp:
Trong tháng 9 năm 2007, công ty đã hoàn thành đề án chuyển đổi mô
hình Cty mẹ – Cty con được Bộ GTVT duyệt và đã triển khai bước 1;
Triển khai QĐ thành lập Công ty mẹ và đang từng bước hoàn chỉnh bộ
máy, điều lệ hoạt động. Bộ GTVT duyệt cho phép Cổ phần hóa 3 Công ty
còn lại (Cty 471, 473, 497).
• Phòng kiểm toán nội bộ của Tổng công ty:
Phòng Kiểm toán nội bộ của Tổng công ty được thành lập ngày

01/04/2004 trực thuộc Ban giám đốc, phòng có nhiệm vụ tổ chức và thực
hiện kiểm toán các đơn vị thành viên của tổng công ty, kiểm tra tình hình
tài chính và việc chấp hành chế độ trong doanh nghiệp. Tính đến thời điểm
hiện tại, phòng gồm có 4 người:
18
Họ và tên Chức vụ
Phạm Quang Hưng Trưởng phòng
Nguyễn Huy Hoàng Phó phòng
Trần Quang Minh Nhân viên
NguyễnThị Thu Hà Trợ lí
2.6 Gian lận và sai sót trong doanh nghiệp
Phỏng vấn ông Phạm Quang Hưng- bộ phận kiểm toán nội bộ
Tổng công ty xây dựng công trình Giao Thông 4 về những gian lận, sai
sót thường gặp cũng như các yếu tố khác làm giảm hiệu quả kinh doanh
trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản:
- Sai sót về chế độ chấp hành hóa đơn chứng từ bao gồm các lỗi về
luật thuế, áp dụng mức thuế suất sai so với quyết định ban hành của bộ tài
chính.
- Trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản phần kiểm kê khối lượng dở
dang không chính xác( mức dở dang cao hơn so với thực tế) dẫn đến sai
lệch kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Vấn đề nợ:
 Treo công nợ tạm ứng : cấp đội, cá nhân….cao( cộng nợ tồn
đọng kéo dài năm này qua năm khác)
 Treo công nợ phải thu khách hàng, chủ đầu tư
Treo công nợ là một trong những nguyên nhân làm tăng nợ khó đòi
của doanh nghiệp; nợ khó đòi cao là nguyên nhân trực tiếp làm giảm vốn
lưu động cho sản xuất và kinh doanh
Số lượng đối chiếu công nợ khách hàng - chủ đầu tư ít tạo kẽ hở cho
gian lận và sai sót gia tăng

Trên báo cáo kiểm toán đã chỉ ra khoản mục “phải thu khách hàng” và
“ phải trả người bán” chiếm tỷ trọng lớn trong việc ảnh hưởng đến việc
làm tăng hay giảm chi phí. Phải thu khách hàng là 1,665,923,000 chiếm
19
hơn 70% trong các nguyên nhân tăng chi phí . Với mức ảnh hưởng lớn nên
khi số liệu đối chiếu ít gây ra khó khăn trong đối chiếu và xác nhận công
nợ.
Tại thời điểm 31/12/2004, tổng các khoản nợ phải thu của 16 doanh
nghiệp là 21.408 tỷ đồng chiếm 36,48% tổng tài sản và bằng 2, 66 lần
nguồn vốn kinh doanh, tổng số nợ phải trả là 47.005 tỷ đồng chiếm
80,04% tổng nguồn vốn.
- Chi phí năm này chuyển qua năm khác lớn
Đơn cử: Chứng từ số 14 ngày 18/2/06 trong dự án cầu Vĩnh Tuy gói
thầu số 4 với Công ty TNHH đầu tư và xây dựng nền móng Chương
Dương, chi phí chuyển năm sau là 8,116,000 đ tương ứng 173,64m khoan
cọc nhồi D1500mm; Chứng từ số 125 ngày 24/04/2006 về dự án cầu Vĩnh
Tuy; nghiệp vụ thuê máy đào thi công có 38,7 giờ là của năm 2005 chuyển
sang năm 2006 tương ứng số tiền 8,754,000 đồng …
Việc này làm cho chi phí trong năm hiện tại giảm di dẫn đến tăng
doanh thu ảo.
- Mức trích khấu hao tài sản cố định thấp hơn so với
khung quy định
Bao gồm các lỗi như tiếp tục tính khấu hao trong khi tài sản đã hết
hạn sử dụng, tính khấu hao cao hoặc thấp hơn mức quy định. Đây là một
trong những sai phạm nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến báo cáo tài
chính của công ty, nó làm sai lệch lợi nhận- chi phí, tài sản- nguồn vốn qua
đó gây ra cái ảnh hưởng lệch lạc tới nhận định của ban lanh đạo về tình
hình tài chính công ty mình
Trung bình, mỗi khoản mục được trích khấu hao thấp hơn khung quy
định từ 200 đến 400 triệu đồng; cá biệt khoản mục “máy móc thiết bị” có

mức chênh lệch là 1,303,062,000 đồng
- Vật tư nhập thiếu so với hạn mức, dự toán
20
Việc nhập thiếu vật tư so với hạn mức có thể gây ảnh hưởng đến hiệu
quả kinh doanh, tiến độ công trình. Điển hình trong gói thầu số 9 cầu Vĩnh
Tuy, tính đến thời điểm hiện tại tổng giá trị gạch, cát đá , sắt thép nhập
thiếu là 870,000,000 đồng
- Phân bổ công cụ dụng cụ thiếu
Khi yêu cầu về công cụ dụng cụ ko được đáp ứng đủ có thể làm giảm
tiến độ công việc. mặt khác gây ra sự chênh lệch giữa chi phí thực tế và chi
phí tính toán được theo xu hướng là chi phí trên sổ sách cao hơn chi phí
thực tế bỏ ra. Điều này tạo điều kiện cho gian lận trong phân bổ công cụ
dụng cụ. trong công trình cầu bến thủy công cụ dùng cho công trình phân
bổ thiếu
- Trong thuê mượn máy móc thiết bị, trong hợp đồng
không ghi rõ ràng các chi tiết, chủng loại
Các lọai máy đi thuê thường thuê theo thời gian dẫn đến khó kiểm
soát, thiếu nhật trình xe, máy; thuê mượn máy giá trị lớn mà không có hoá
đơn của chủ máy
Điều này vi phạm quy định chế độ tài chính, gây khó khăn trong kiểm
soát cũng như đánh giá tình hình tài sản thuê mượn. Khi ko có hóa đơn
chứng từ đi kèm khó có thể xác nhận được quyền sở hữu,giá trị tài sản làm
cho chi phí về thuê mượn thiết bị thiếu cơ sở chứng minh.
Ví dụ trong công trình Trung Lương- Sài Gòn không có hóa đơn thuê
máy kích thủy lực, máy phát điện
- Trong công tác quản lí về vật tư nhiều nơi thường chưa
tốt, hầu hết vật tư vượt hạn mức so với quy định và dự toán.
Khâu cai quản vật tư và đặc điểm cơ sở hạ tầng bảo quản vật tư
thường nằm ngoài trời hoặc trong các kho tạm bợ gần công trình xây dựng
cũng dể nảy sinh gian lận.dẩn đến việc quản lý vật tư gặp khó khăn,dể nảy

sinh vấn đề thất thoát vật tư,vật tư thừa không được hạch toán hoặc hạch
21
toán thiếu,dể dàng tư lợi. do quản lý ko tốt tại một bãi chứa vật liệu của
công trình cầu Bến Thủy nên vật liệu bị hao hụt nhiều: sắt 4%, xi măng
hao hụt 15% gây thiệt hại đến chất lượng,tiến độ công trình và làm tăng
chi phí trong quá trình xây dựng.
- Trong công tác về lao động , tiền lương trả lương cho
người lao động chậm, sai so với quy định của bộ luật lao
động: Điều này gây tâm lí bức xúc, làm giảm hiệu quả lao động của công
nhân
- Số tiền thừa trong quỹ lương thừa nhiều một cách có
chủ ý.
Đơn cử tại công ty 471: Từ 2004 đến 2006 tiền lương trung bình của
công nhân tăng từ 1,1tr đồng/ tháng lên 1,7triệu đồng/ tháng nhưng quỹ
lương thừa năm 2006 lên tới hơn 1.5 tỉ đồng tháng, điều này làm giảm
đáng kể một lượng tiền lớn đáng lẽ là vốn kinh doanh của doanh nghiệp .
- Trong công tác khoán
Nhiều doanh nghiệp chưa có quy chế về xử lí trách nhiệm đối với đội
trưởng khi đội làm ăn thua lỗ trong khi đó đội trưởng là người quản lý trực
tiếp nhân công lao động,ảnh hưởng quan trọng đến năng suất lao động
cũng như tiến trình công việc.
- Trong công tác đầu tư thiết bị
Thiếu thủ tục về luận chứng kinh tế. Trong quy định về đầu tư tài sản
của công ty thành viên khi đầu tư hoặc thanh lí tùy theo mức quy định của
từng Doanh nghiệp thì công ty thành viên khi đầu tư hoặc thanh lí phải có
tờ trình và được Hội đồng quản trị chấp thuận duyệt dự án sau đó qua tổng
giám đốc phê duyệt nhà thầu thì công ty mới được đầu tư hoặc thanh lí
( nhiều công ty bỏ qua bước này; số tiền tùy thuộc quy định của doanh
nghiệp thường từ 50 triệu trở lên)
22

Ví dụ: Về chứng từ kế toán thiếu thủ tục: chứng từ số 28 ngày 25
tháng 9 năm 2006 của công ty 433 số tiền 4.950.000 đồng chỉ có hóa đơn
không có hợp đồng thanh lí (hoặc nghiệm thu).
Công ty đường bộ 471 chưa thực hiện nghiêm chỉnh Quy chế quản lý
đầu tư và xây dựng trong quá trình thực hiện đầu tư, như chưa thực hiện
đúng quy định về đấu thầu khi mua sắm thiết bị, tài sản.
2.7.Về hiệu qủa kinh doanh với hoạt động của kiểm toán nội bộ
Ví dụ về một báo cáo kiểm toán đơn vị thành viên: xem phụ
lục 1
Là một trong những nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội bộ
của công ty, bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát đánh giá
thường xuyên về toàn bộ hoạt động của công ty.Trong hoạt động của mình
kiểm toán nội bộ sẽ có điều kiện nắm rõ tình hình hoạt động của công ty
cũng như sự ảnh hưởng của môi trường chính sách từ đó có những kiến
nghị ,giải pháp về bố trí cũng như cơ cấu lại quy trình làm việc theo hướng
giúp tiết kiệm nguồn nhân lực vật lực nhằn nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Mỗi dự án hay công trình xây dựng khi có sự quan sát đánh giá thường
xuyên này sẽ mang lại sự chính xác đáng tin cậy trong quá trình thực hiện
công việc. Qua hoạt động của mình kiểm toán nội bộ kịp thời phát hiện các
sai phạm về quản lí, cũng như chấp hành các chế độ kịp thời cung cấp cho
ban Giám đốc biết để ngăn chặn và xử lí, định hướng cho Ban lãnh đạo có
Quyết định đúng đắn. Kiểm toán nội bộ như một sự giám sát bên trong đối
với hoạt động của công ty do đó giúp nâng cao tính tự giác cũng như khả
năng làm việc các bộ phận.
23
PHẦN III: Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP
3.1 Nhận xét chung
Nhìn chung hệ thống quy chế quản lý nội bộ của công ty đã tương
đối đầy đủ, bao quát hết các mặt của hoạt động sản xuất kinh doanh và hệ
thống kiểm soát nội bộ của công ty hoạt động có hiệu quả, sự phối hợp

giữa các phòng ban chặt chẽ giúp cho công tác quản lý trong công ty tương
đối tốt; Tuy phần quy chế khoán cấp đội đã được ban hành nhưng công ty
thực hiện quy chế chưa đầy đủ. Ngoài ra, thẩm quyền của bộ phận kiểm
toán nội bộ cũng chưa được quy định một cách đúng mức.
3.1.1 Ưu điểm
- Hoạt động của phòng kiểm toán nội bộ tương đối hiệu quả, bám sát
các nghiệp vụ và hoạt động của công ty, kịp thời phát hiện và ngăn ngừa
gian lận, sai sót. Đặc biệt trong giai đoạn 2005-2006, công ty nhận được
rất nhiều gói thầu và dự án lớn, ước tính nhờ hoạt động của phòng kiểm
toán nội bộ mà công ty đã tiết kiệm được hơn 400 tỉ đồng.
- Các kiểm toán viên có chuyên môn cao và tinh thần trách nhiệm tốt,
thái độ làm việc tích cực: tất cả các kiểm toán viên nội bộ của công ty đều
qua đào tạo chính quy và hầu hết đều có kinh nghiệm trong kiểm toán các
doanh nghiệp xây dựng cơ bản.
Theo báo cáo tài chính của công ty: hiệu quả kinh doanh tăng
đáng kể đặc biệt giai đoạn 05-06
- Lợi nhuận trước thuế tăng trung bình 900 triệu đồng năm
Công tác khoán tổ đội tổ chức hợp lí hơn.
- Công tác quản lí vật tư, thiết bị tốt hơn: tỉ lệ hao hụt về nguyên vật
liệu giảm từ 5% năm 2004 xuống 4% năm 2005 và 2.5% năm 2006.
- Quỹ lương thừa giảm đi đáng kể: trong các năm 2004-2006, quỹ
lương thừa trung bình giảm từ 1.9 tỉ đồng năm 2004 đến 1,6 tỉ năm 2005
và 1,5 tỉ năm 2006.
24
- Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 492 (ECOMJCOM
492) là đơn vị thành viên của Tổng công ty công trình giao thông 4
(CIENCO 4). Ngay năm đầu tiên sau cổ phần hóa, Công ty đã đạt doanh
thu trên 81,3 tỷ đồng, năm 2006 đạt 102 tỷ đồng, dự kiến năm 2007 đạt
125 tỷ đồng nộp ngân sách năm 2005 và 2006 là 10,5 tỷ đồng, là một trong
những doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong ngành xây dựng giao thông

3.1.2 Hạn chế
- Đội ngũ kiểm toán viên còn ít: 4 ngừời trong đó có một người là trợ
lí. Đây cũng là thực trạng chung của kiểm toán nội bộ ở nước ta.
- Công tác kiểm toán chưa được tiến hành thường xuyên: hiện nay
Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 với quy mô tài sản gần 60
nghìn tỉ đồng đang là một trong những Tổng công ty lớn nhất Việt Nam,
với một quy mô lớn như thế mà phòng kiểm toán nội bộ của công ty chỉ có
4 người trong đó 1 người là trợ lí; chính vì vậy các kiểm toán viên không
thể bao quát hết mọi mặt của Tổng công ty cũng như các thiếu sót trong
từng hoạt động và công tác kiểm toán không được tiến hành thường xuyên
là một điều tất yếu được dự đoán trước.
Chưa có quy trình kiểm toán cụ thể: Tổng công ty kinh doanh trong nhiều
lĩnh vực, do vậy không thể tránh khỏi những sai lệch trong chuyên môn
của kiểm toán viên đối với khách thể kiểm toán. Ngoài ra đây cũng là một
trong những nguyên nhân gây khó khăn cho việc xây dựng quy trình kiểm
toán.
- Trong một số lĩnh vực, kiểm toán viên nội bộ còn bị hạn chế thẩm
quyền, đặc biệt là trong vấn đề quản lí ngân quỹ: kiểm toán viên chỉ có thể
kiểm tra khi có yêu cầu chứ chưa thực sự kiểm soát được các luồng tiền
vào ra trong doanh nghiệp, đôi khi do một lí do nào đó mà các kiểm toán
viên cũng không thực sự nắm chắc được tình hình tài chính của công ty.
25

×