Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

khảo sát tính chất của nhiên liệu phản lực và dầu hỏa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (320.82 KB, 18 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ HÓA

ĐỀ TÀI:
DANH SÁCH NHÓM 2 MSSV
1. Lê Thị Minh Nhựt 0773207
2. Nguyễn Thị Thúy Nga 0773108
3. Trần Thị Trà Tân 0773384
4. Trần Cẩm Ba 0772491
5. Võ Văn Tú 0773043
6. Phùng Văn Tiến 0773088
7. Phan Thanh Tâm 0772439
8. Nguyễn Bảo Hưng 0772797
9. Nguyễn Mạnh Tuấn 0772601
TP.HCM, tháng 3 năm 2009

KHẢO SÁT TÌNH CHẤT HÓA HỌC CỦA
NHIÊN LIỆU PHẢN LỰC VÀ DẦU HỎA
A . NHIÊN LIỆU PHẢN LỰC (XĂNG MÁY BAY):
I . KHÁI NIỆM :
Nhiên liệu phản lực chủ yếu được pha chế từ những thành phần cất trực tiếp
nên chúng không chứa olefin (hợp chất không no) lượng hydrocacbon cũng bị hạn
chế vì chúng cháy không sạch, gây khói và tạo cặn cacbon trong động cơ.
Nhiên liệu phản lực là một loại sản phẩm được chưng cất từ dầu mỏ và
được dùng cho các loại máy bay, tên lửa, phi thuyền, có sử dụng động cơ phản lực
kiểu tuabin khí
II . YÊU CẦU :
Yêu cầu quan trọng của nhiên liệu phản lực là cần phải có tốc độ cháy cao,
dễ dàng tự bốc cháy, có nhiệt năng lớn, cháy điều hòa, có ngọn lửa ổn định không
bị tắt trong dòng không khí có tốc độ xoáy lớn.
Ngoài yêu cầu về nhiệt cháy, một yêu cầu khác không kém phần quan trọng


là trong thành phần nhiên liệu phải đảm bảo sao cho khi cháy hoàn toàn không tạo
cặn cốc bám trong buồng đốt. Về mặt này sự có mặt của các hydrocacbon
aromatic gây ra sự tạo cốc dễ nhất, vì vậy trong thành phần nhiên liệu động cơ
phản lực phải hạn chế hàm lượng hydrocacbon aromatic ở mức dưới 20%.
Trị số octan bằng hoặc lớn hơn 100, ngoài ra phải đảm bảo trị số octan khi
hỗn hợp cháy thiếu xăng, thừa không khí và hỗn hợp cháy thừa xăng, thiếu không
khí.
Nhiên liệu tiêu chuẩn để xác định chỉ số octan bao gồm hai hợp phần :
- Hợp phần n-heptan (n-C
7
H
14
) : có tính chống kích nổ kém, quy ước trị số
octan bằng 0.
- Hợp phần iso-octan (2,2,4 tri metyl pentan) : có tính chống kích nổ tốt, quy
ước trị số octan bằng 100.
Động cơ máy bay khi làm việc có hai quá trình : quá trình cất cánh bao giờ
cũng sử dụng công suất tối đa, lượng xăng trong hỗn hợp phải được tăng tối đa
(gọi là hỗn hợp giàu).
Thành phần chưng cất phân đoạn của xăng máy bay phải lấy hẹp (từ 40 cho
đến 180
o
C) để tránh có nhiều cấu tử nhẹ tạo nút hơi trong hệ thống cấp liệu, và có
nhiều cấu tử nặng, vì khi cháy sẽ cháy không hoàn toàn tạo cặn.
Hàm lượng olefin phải thấp (<3%) để tránh sự trùng hợp tạo nhựa, làm cho
xăng bị biến màu và không bảo quản được lâu.
III . MỘT SỐ TIÊU CHUẨN CỦA NHIÊN LIỆU PHẢN LỰC :
Vì các máy bay phản lực đều hoạt động trên cao, áp suất khí quyển giảm
mạnh, để tránh tạo nút hơi do sự bốc hơi quá nhanh trong ống dẫn, nhiên liệu phải
có áp suất hơi nằm giữa 140 – 219g/cm

2
.
Lưu tính của nhiên liệu phản lực có ý nghĩa quan trọng hơn ở xăng, vì độ an
toàn của máy bay ở trong không trung, vì máy bay thường bay ở độ cao khoảng
10km với nhiệt độ âm bốn năm mươi độ bách phân, thậm chí ở -60
o
C, nghĩa là
thùng đựng xăng của máy bay phản lực không siêu âm có thể lạnh đến -30 đến
-40
o
C. Nhiên liệu phản lực phải giữ được lưu tính cần thiết ở nhiệt độ thấp đó, cụ
thể phải có nhiệt độ hoá đục rất thấp, có độ nhớt nhỏ; muốn thế phải có tỷ khối
không quá cao, chứa rất ít parafin nặng, gần như không chứa nước, vì độ hoà tan
của nước giảm nhanh khi hạ nhiệt độ.
Bảng tóm tắt một số chỉ tiêu của nhiên liệu phản lực :
Đại lượng (phương pháp xác định) Giá trị
vẻ dáng Trong suốt, sáng
Trị số axit (ASTM D3242) ≤0,015 mgKOH/g
Olefin (ASTM D1319) ≥ 5%V
Aromatic (ASTM D1319) ≤ 20%V
Lưu huỳnh tổng (ASTM D 1266) ≤ 0,30%
Lưu huỳnh mercaptan (ASTM D 3227) ≤ 0,002%
Doctor test (ASTM D 235) Không
Đường chưng cất (ASTM D 86) T10 ≤204 độ C; T100 ≤ 300 độ C
Nhiệt độ chớp lửa (ASTM D 3828) ≥ 38 độ C
Khối lượng riêng ở 15 độ C (ASTM D1298) 0,775 – 0,840 g/ml
Nhiệt độ chảy (ASTM D 2386) ≤ -47 độ C
Độ nhớt ở -20 độ C (ASTM D 445) ≤ 8cSt
Nhiệt cháy dưới (ASTM D 2382) ≤ 42,8kJ/g
Điểm khói (ASTM D 1322) ≥ 25mm

Trị số phát sáng (ASTM D 1740) ≥ 45
Độ ăn mòn tấm đồng (ASTM D 130) 2 giờ ở 100 độ C, ≤ 1
Độ bền oxy hoá nhiệt (ASTM D 3214) ∆P ≤ 25,0mmHg
Gôm thực tế (ASTM D 381) ≤ 7mg/100ml
Lượng nước cho phép (ASTM D 1094) ≤ 1b
Độ dẫn điện (ASTM D 2624) 50-450 pS/m
1 . Nhiệt độ (điểm) vẩn đục, đông đặc, kết tinh.
a) Nhiệt độ (điểm) vẩn đục - ASTM D 2500 : là nhiệt độ mà tại đó nhiên
liệu bắt đầu vẩn đục do tạo thành những hạt nước, những tinh thể nước đá, benzen
hay parafin nhỏ li ti. Khi hiện tượng này xảy ra nhiên liệu đang từ chỗ trong suốt
trở thành mờ đục.
Phạm vi áp dụng :
Phương pháp này chỉ được áp dụng cho các sản phẩm dầu mỏ sáng màu (có
chỉ số màu nhỏ hơn 3,5 theo ASTM D1500) và có điểm vẫn đục dưới 49
o
C.
Mục đích và ý nghĩa :
Nhằm xác định nhiệt độ vẫn đục của các sản phẩm dầu mỏ sáng màu. Điểm
vẩn đục của sản phẩm dầu mỏ là nhiệt độ thấp nhất mà sản phẩm vẫn còn được sử
dụng.
Tóm tắt phương pháp :
Mẫu thử nghiệm được làm lạnh với tốc độ quy định và được kiểm tra định
kỳ. Nhiệt độ mà tại đó bắt đầu xuất hiện đám mây (vẩn đục) ở đáy ống thử nghiệm
được ghi nhận là điểm vẩn đục (cluod point).
Báo cáo kết quả :
Báo cáo nhiệt độ vẩn đục đã xác định ở trên chính xác đến 1
o
C.
b) Nhiệt độ đông đặc hay điểm chảy – ATSM D 97/TCVN 3753 : là nhiệt
độ mà tại đó sản phẩm dầu lỏng mất tính linh động trong điều kiện xác định và trở

nên đông cứng lại.
Phạm vi ứng dụng :
Phương pháp này được áp dụng đo điểm chảy cho mọi sản phẩm dầu mỏ.
Mục đích và ý nghĩa :
Điểm đông đặc là nhiệt độ mà tại đó mẫu nhiên liệu mất đi tính linh động,
dựa vào điểm đông đặc có thể dự đoán được thành phần các parafin có trong mẫu
nhiên liệu nhiều hay ít.
Điểm đông đặc có ý nghĩa rất quan trọng trong vận chuyển, tồn trữ sản phẩm.
Điểm đông đặc có giá trị càng cao thì có nguy cơ gây nghẹt lọc, hư hỏng bơm…
Tóm tắt phương pháp :
Trước khi xác định, mẫu được gia nhiệt trước và sau đó mẫu được làm lạnh
với tốc độ được quy định và kiểm tra đặc tính chảy của mẫu thử (cứ giảm 3
o
C
kiểm tra 1 lần). Điểm chảy là nhiệt độ thấp nhất mà ở nhiệt đó vẫn quan sát thấy
mẫu linh động.
Báo cáo kết quả :
Điểm chảy báo cáo là nhiệt độ quan sát được trong phép thử cộng thêm 3
o
C.
c) Nhiệt độ kết tinh – ASTM D 2386/TCVN 7170 : để đảm bảo tính lưu
chuyển tốt, yêu cầu nhiên liệu phản lực đặc biệt phải có độ kết tinh tùy từng loại là
từ -40
o
C hoặc -47
o
C trở xuống.
Ở nhiệt độ âm, nước hoà tan có thể kết tinh. Những tinh thể nước đá có thể
làm tắc bộ lọc ở máy bay. Việc hạn chế lượng nước có trong nhiên liệu khó hơn
việc làm tăng độ tan của nước, do làm giảm nhiệt độ kết tinh nước. Có thể tránh

bớt sự kết tinh nước bằng cách dùng chất phụ gia chống nước kết tinh. Chúng
thường là các chất lưỡng chức ête-rượu dùng ở hàm lượng nhỏ hơn 1500ppm như
tetrahydrfurfurol.
Đồng thời yêu cầu nghiêm ngặt không để lẫn nước trong nhiên liệu. Tạp
chất nước được xác định theo các chỉ tiêu: phản ứng nước và trị số tách nước.
Phạm vi ứng dụng :
Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định nhiệt độ mà khi thấp hơn
nhiệt độ này trong nhiên liệu tuốc bin hàng không và xăng máy bay các tinh thể
hydrocacbon rắn có thể hình thành.
Mục đích và ý nghĩa :
Điểm kết tinh của nhiên liệu hàng không là nhiệt độ thấp nhất mà tại đó vẫn
chưa xuất hiện các tinh thể hydrocacbon trong nhiên liệu.
Các tinh thể hydrocacbon có khả năng làm nghẹt hệ thống lọc trên máy
bay, vì thế nhiệt độ kết tinh phải luôn thấp hơn nhiệt độ hoạt động của buồng chứa
nhiên liệu trên máy bay trong suốt quá trình hoạt động.
Tóm tắt phương pháp :
Mẫu được làm lạnh và khuấy với tốc độ được quy định và theo dõi hiện
tượng kết tinh của các tinh thể hydrocacbon, khi quan sát thấy hiện tượng kết tinh
xảy ra (xuất hiện hiện tượng đục) thì lấy mẫu ra khỏi bể làm lạnh để nhiệt độ tăng
trỏ lại. Nhiệt độ mà tại đó các tinh thể biến mất (mẫu trong trở lại) gọi là điểm kết
tinh (cao hơn nhiệt độ đầu 3
o
C).
Báo cáo kết quả :
Điểm kết tinh báo cáo là nhiệt độ quan sát được chính xác đến 0,5
o
C.
2 . Hàm lượng nhựa thực tế - ASTM D381/TCVN 6593.
Hàm lượng nhựa là lượng nhựa tạo thành trong nhiên liệu do quá trình oxy
hóa dưới tác dụng của khí oxy ở áp suất và nhiệt độ cao, trong dụng cụ thí nghiệm

chuyên dụng. Theo tiêu chuẩn sự oxy hóa ở 100
o
C và áp suất khí oxy là 7kg/cm
2
trong một khoảng thời gian xác định.
Hàm lượng nhựa đo bằng mg/100ml là chỉ tiêu gián tiếp đánh giá tính ổn
định của xăng máy bay và nhiên liệu phản lực khi bảo quản lâu trong bồn chứa.
Hàm lượng nhựa càng cao thì tính ổn định của nhiên liệu càng kém. Quy định hàm
lượng nhựa không được vượt quá một giới hạn cho phép. Nếu vượt quá giới hạn
này chứng tỏ tính ổn định của nhiên liệu quá kém không thể tiếp tục dùng làm
nhiên liệu cho máy bay.
Phạm vi áp dụng :
Phương pháp này được sử dụng để xác định hàm lượng nhựa có trong xăng
ôtô và nhiên liệu hàng không.
Nó cung cấp cho ta phương thức xác định hàm lượng nhựa có trong xăng
ôtô.
Mục đích ý nghĩa :
Ý nghĩa thật sự của phương pháp này cho việc xác định hàm lượng nhựa có
trong xăng ôtô thì không được thiết lập một cách vững chắc. Nó chứng minh rằng
hàm lượng nhựa cao là nguyên nhân gây nên hiện tượng lắng đọng trên hệ thống
cảm ứng và làm nghẹt van. Và trong hầu hết các trường hợp, hàm lượng nhựa thấp
cũng gây khó khăn cho hệ thống cảm ứng.
Mục đích chính của phương pháp là đo đạc khả năng bị oxi hóa của mẫu
sản phẩm trong điều kiện thông thường trong một chu kỳ.
Nhiều chủng loại xăng được pha trộn từ dầu khó bay hơi và phụ gia, việc
trích ly từng bước bằng n-heptan là cần thiết để loại bỏ hết những phần có thể bay
hơi, phần còn lại được xem như là hàm lượng nhựa.
Tóm tắt phương pháp :
Đo lượng nhiên liệu còn lại sau khi đã làm bay hơi bằng việc điều khiển
nhiệt độ và dòng không khí hoặc hơi. Đối với xăng máy bay thì kết quả báo cáo là

lượng mẫu (mg) còn lại trên 100ml mẫu, còn đối với xăng ôtô thì kết quả báo cáo
là phần còn lại sau khi đã trích bằng n-heptan với đơn vị là mg/100ml.
Báo cáo kết quả :
Tính toán hàm lượng nhựa thực tế có trong nhiên liệu tuabin
Trọng lượng được cân với hai đĩa (double-pan) cân:
A = 2000(B – D)
Khối lượng được cân với 1 đĩa (singble-pan) cân:
A = 2000(B – D + X – Y)
3 . Nhiệt độ chớp cháy cốc kín – ASTM D 93/TCVN 2693.
Bình nhiên liệu máy bay phản lực không siêu âm có thể thiết kế với thể tích
không quá hạn chế, nên nhiệt cháy khối lượng là đặc trưng được chú ý, trong khi
đó người ta phải quan tâm nhiều hơn đến nhiệt cháy thể tích ở các máy bay phản
lực siêu âm, vì ở đây thể tích bình nhiên liệu phải càng nhỏ càng tốt. Nhiệt cháy
thể tích càng lớn, máy bay có khả năng bay càng xa.
Phạm vi áp dụng :
Phương pháp xác định điểm bắt cháy cốc kín của sản phẩm dầu mỏ bằng
thiết bị cốc kín Pensky-Martens, áp dụng cho khoảng nhiệt độ 40-360
o
C.
Quy trình này áp dụng cho nhiên liệu chưng cất: diesel, dầu hỏa, nhiên liệu
turbin, dầu nhờn mới và các chất lỏng dầu mỏ đồng nhất.
Mục đích ý nghĩa :
Dùng để phát hiện các chất dễ bay hơi và dễ cháy nhiễm trong các sản
phẩm dầu mỏ. Nó đánh giá hàm lượng các cấu tử nhẹ có trong các mẫu sản phẩm,
từ đó áp dụng vào vấn đề bảo quản, vận chuyển và đảm bảo an toàn.
Tóm tắt phương pháp :
Mẫu trong cốc thử được gia nhiệt ở tốc độ quy định. Khi đưa ngọn lửa mồi
tiêu chuẩn trực tiếp vào bề mặt cốc mẫu ở các khoảng thời gian đều đặn.
Điểm độ chớp cháy là nhiệt độ thấp nhất mà tại đó hơi của mẫu trên bề mặt
cốc thử chớp cháy khi có mồi lửa tiêu chuẩn được đưa vào.

Báo cáo kết quả :
Kết quả báo cáo là nhiệt độ chớp cháy được làm tròn số đến 0,5oC và theo
công thức hiệu chỉnh sau:
T = C + 0,25(101,3 – K)
T: là nhiệt độ bắt cháy sau khi đã hiệu chỉnh.
C: là nhiệt độ bắt cháy của mẫu quan sát được.
K: là áp suất của môi trường thử kPa.
4 . ASTM D.86 (thành phần chưng cất phân đoạn):
Thành phần cất là một trong những chỉ tiêu quan trọng cần phải xác định
đối với các sản phẩm trắng như xăng, kerosen, diezen. Theo thành phần cất phân
đoạn có thể biết được các loại sản phẩm thu và khối lượng của chúng. Các phân
đoạn dầu bao giờ cũng gồm rất nhiều các đơn chất khác nhau với nhiệt độ sôi thay
đổi. Do vậy đặc trưng cho tính chất bay hơi của một số phân đoạn là nhiệt độ sôi
đầu và nhiệt độ sôi cuối.
Nhiệt độ sôi đầu : là nhiệt độ tại đó giọt lỏng đầu tiên ngưng tụ rơi từ hệ
thống sinh hàn xuống ống đong hứng mẫu.
Nhiệt độ sôi cuối : là nhiệt độ cao nhất đọc trên nhiệt kế.
Tính chất bay hơi của hydrocacbon có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ an
toàn và sử dụng, đặc biệt trong lĩnh vực sử dụng nhiên liệu và dung môi. Là đặc
tính tối quan trọng để đánh giá chất lượng cho xăng máy bay, khả năng khởi động,
khả năng đốt nóng, và khả năng tạo hơi khi vận hành ở nhiệt độ cao hay ở độ cao.
Sự hiện diện của cấu tử có giới hạn sôi cao trong nhiên liệu dẫn đến mức độ hình
thành muội than rắn cao.
Phạm vi ứng dụng :
Phương pháp này áp dụng cho chưng cất khí quyển các sản phẩm dầu mỏ
được sử dụng trong phòng thí nghiệm để định lượng đặc tính giới hạn sôi của các
sản phẩm dầu như: xăng, nhiên phân đoạn cất nhẹ và trung bình, nhiên liệu động
cơ đốt trong ôtô, nhiên liệu diesel có hàm lượng sunfur thấp, kerosene…
Mục đích và ý nghĩa :
Phương pháp chưng cất là cơ sở xác định khoảng sôi của sản phẩm dầu mỏ

bằng chưng cất mẻ đơn giản.
Tính chất bay hơi của hydrocacbon có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ an
toàn và sử dụng, đặc biệt trong lĩnh vực sử dụng nhiên liệu và dung môi. Giới hạn
sôi cho biết thông tin về thành phần và sự thay đổi nhiên liệu trong lưu trữ, bảo
quản và sử dụng. Khả năng bay hơi của các hydrocacbon xác định khuynh hướng
tạo hỗn hợp nổ tiềm ẩn.
Tính chất bay hơi là đặc tính tối quan trọng để đánh giá chất lượng cho cả
xăng máy bay và xăng ôtô, khả năng khởi động, khả năng đốt nóng, và khả năng
tạo hơi khi vận hành ở nhiệt độ cao hay ở độ cao. Sự hiện diện của cấu tử có giới
hạn sôi cao trong nhiên liệu dẫn đến mức độ hình thành muội than rắn cao.
Tính chất dễ bay hơi, nó tác động đến tốc độ bay hơi, là chỉ tiêu và yếu tố
quan trọng được dùng rất nhiều trong dung môi, đặc biệt là trong ngành sơn.
Giới hạn chưng cất thường được đưa vào trong các yêu cầu chất lượng sản
phẩm dầu mỏ thương mại, ứng dụng điều khiển quá trình lọc dầu.
Tóm tắt phương pháp :
Tiến hành chưng cất 100ml mẫu dưới điều kiện tương ứng mà mẫu thuộc
nhóm đó. Quá trình chưng cất được thực hiện bằng dụng cụ chưng cất trong phòng
thí nghiệm, ở áp suất khí quyển và tương ứng như chưng cất một đĩa lý thuyết.
Các số liệu về nhiệt độ theo thể tích chưng cất được ghi chép lại một cách hệ
thống và tùy theo yêu cầu của người sử dụng số liệu, mà các kết quả ghi nhận
được về nhiệt độ, thể tích, cặn, mất mát được báo cáo.
Sau khi chưng cất xong, nhiệt độ sôi có thể được hiệu chỉnh theo khí áp kế
và các số liệu được xem xét về sự phù hợp theo yêu cầu đặt ra, ví dụ như tốc độ
chưng cất…Thí nghiệm được lặp lại cho đến khi thỏa mãn những yêu cầu đặc biệt.
Kết quả thường được báo cáo theo phần trăm bay hơi (percent evaporated)
hay phần trăm thu hồi (percent recovered) theo nhiệt độ tương ứng, kể cả bảng hay
đồ thị của đường chưng cất.
Báo cáo kết quả :
Kết quả giữa hai lần chưng song song cho phép sai số sau:
- Nhiệt độ sôi đầu: 4

o
C
- Nhiệt độ sôi cuối và các điểm trung gian: 2
o
C
- Cặn : 0,2 ml
5 . Độ nhớt động học – ASTM D445.
Theo tiêu chuẩn ASTM D.445/IP.71 của nhiên liệu ở nhiệt độ thấp (-20
o
C)
là giới hạn đảm bảo rằng dòng nhiên liệu và áp suất đủ duy trì ở điều kiện vận
hành. Độ nhớt có thể ảnh hưởng nhiều đến đặc tính bôi trơn của nhiên liệu và tuổi
thọ của máy bơm nhiên liệu.
Phạm vi áp dụng :
Phương pháp này dùng để đo độ nhớt của các sản phẩm dầu lỏng sáng và
tối màu đồng nhất có tính chất như chất lỏng Niuton. Bằng cách đo thời gian chảy
của một thể tích chất lỏng qua nhớt kế mao quản thủy tinnh đã chuẩn hóa dưới tác
dụng của trọng lực. Độ nhớt động lực học được tính bằng cách nhân độ nhớt động
học với tỷ trọng mẫu.
Khi đo cho dầu cặn F.O trong một vài điều kiện dầu là chất lỏng phi Niuton
cũng được áp dụng phương pháp này.
Khoảng độ nhớt động học áp dụng cho phương pháp này từ 0,2 – 300.000
cSt (mm
2
/s) ở tất cả các nhiệt độ.
Mục đích và ý nghĩa :
Trong sử dụng dầu bôi trơn, việc vận chuyển, bơm rót, sử dụng nhiên liệu,
vận hành đúng thiết bị phụ thuộc đáng kể vào việc xác định được độ nhớt phù hợp
của chất lỏng sử dụng.
Tóm tắt phương pháp :

Đo thời gian chảy của một thể tích cố định chất lỏng qua mao quản của
nhớt kế đã chuẩn hóa dưới tác dụng của trọng lực ở nhiệt độ cho trước. Độ nhớt
động học là kết quả của thời gian chảy đo được và hệ số nhớt kế.
Báo cáo kết quả :
Độ nhớt động học: m = C x t (mm
2
/s)
Trong đó: C : là hằng số nhớt kế (mm
2
/s
2
)
t : là thời gian chảy (s)
Độ nhớt động lực học : p = m x d x 10
-3
(mPa.s)
Trong đó : m : là độ nhớt động học (mm
2
/s)
d :là khối lượng riêng mẫu ở nhiệt độ xác định độ nhớt (kg/m
3
)
6 . Tỷ trọng – ASTM D1298/TCVN 6594.
Tỷ trọng biểu hiện tính bay hơi của một sản phẩm dầu mỏ. Tỷ trọng càng
thấp chứng tỏ sản phẩm càng nhẹ, càng dễ bay hơi.
Trên thực tế, các loại sản phẩm dầu mỏ có tỷ trọng trong một phạm vi nào
đó là hợp lý, nếu vượt khỏi phạm vi đó chứng tỏ tính bay hơi của sản phẩm đó
không phù hợp. Việc xác định tỷ trọng hay khối lượng riêng của các sản phẩm dầu
mỏ mang ý nghĩa thương mại nhiều hơn ý nghĩa kiểm định chất lượng.
Tỷ trọng phù hợp với nhiên liệu phản lực là vào khoảng 0,775 tới 0,840.

Phạm vi áp dụng :
Phương pháp áp dụng cho dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ lỏng, đồng
nhất. Có áp suất hơi bão hòa 14,696 spi hoặc thấp hơn.
Mục đích và ý nghĩa :
Phương pháp này dùng một phù kế thủy tinh để đo khối lượng riêng
(Density). Tỷ trọng (Specific Gravity) hay
o
API của dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ
để tính toán chuyển đổi thể tích ra khối lượng hoặc khối lượng ra thể tích và tỷ
trọng ở nhiệt độ khác.
Tóm tắt phương pháp :
Cho phù kế và nhiệt kế vào mẫu và được giữ ở nhiệt độ quy định trong ống
đong có kích thướt thích hợp. Khi hệ thống đạt cân bằng, đọc giá trị đo được trên
phù kế và nhiệt kế. Dùng bảng chuyển đổi để chuyển đổi về nhiệt độ yêu cầu và
loại tỷ trọng yêu cầu.
Khối lượng riêng (Density): là khối lượng của chất lỏng trên một đơn vị thể
tích ở 15
o
C và 101,325 kPa có đơn vị đo là kg/m
3
(Ở nhiệt độ khác như là đo ở 20
o
C và các đơn vị đo có thể được sử dụng
như kg/l hoặc g/ml).
Tỷ trọng (Specific gravity – spgr): là tỷ số khối lượng của một thể tích chất
lỏng ở nhiệt độ quy định với khối lượng của cùng thể tích nước tinh khiết ở cùng
nhiệt độ hoặc nhiệt độ khác. Cả hai nhiệt độ được ghi rõ.
Ví dụ: d
20
4

là tỷ trọng tương đối của sản phẩm ở 20
o
C (sử dụng ở Việt
Nam).
d
20
: khối lượng riêng của sản phẩm ở 20
o
C
d
4
: khối lượng riêng của nước ở 4
o
C
Tùy từng quốc gia, tỷ trọng tiêu chuẩn còn có thể là d
15
4
, spgr 60
o
F/60
o
F.
o
API: có liên hệ với tỷ trọng tương đối spgr 60
o
F/60
o
F.
o
API:[141,5/(spgr 60

o
F/60
o
F)] – 131,5
Giá trị đọc được là giá trị quan sát được ở nhiệt độ khác với nhiệt độ quy
định. Giá trị này chỉ là số đo phù kế mà không phải là khối lượng riêng, tỷ trọng
tương đối hay tỷ trọng API ở nhiệt độ đó.
Báo cáo kết quả :
Kết quả báo cáo cuối cùng là giá trị khối lượng riêng (kg/m
3
) tại nhiệt độ
chuẩn thì phải chính xác đến 0,1 kg/m
3
.
Kết quả báo cáo cuối cùng là giá trị khối lượng riêng (kg/l) tại nhiệt độ
chuẩn thì phải chính xác đến 0,0001 kg/l.
Báo cáo kết quả cuối cùng là tỷ trọng tương đối tại nhiệt độ thử, tỷ trọng
tương đối ở điều kiện chuẩn, tỷ trọng API chính xác gần 0,1 đơn vị.
B . DẦU HỎA (KEROSEN)
I . KHÁI NIỆM:
Là hỗn hợp của các hiđrôcacbon lỏng không màu, dễ bắt cháy. Nó thu được
từ chưng cất phân đoạn dầu mỏ ở nhiệt độ 150 °C đến 275 °C (các chuỗi cacbon
từ C
12
đến C
15
).
Đã có thời, nó được sử dụng như nhiên liệu cho các đèn dầu hỏa, hiện nay
nó được sử dụng chủ yếu làm nhiên liệu cho máy bay phản lực (nói một cách kỹ
thuật hơn là Avtur, Jet-A, Jet-B, JP-4 hay JP-8). Một dạng của dầu hỏa là RP-1

cháy trong ôxy lỏng, được sử dụng làm nhiên liệu cho tên lửa.
Thông thường, dầu hỏa được chưng cất trực tiếp từ dầu thô phải được xử lý
tiếp, hoặc là trong các khối Merox hay trong các lò xử lý nước để giảm thành phần
của lưu huỳnh cũng như tính ăn mòn của nó.
Dầu hỏa cũng có thể được sản xuất bằng crackinh dầu mỏ.Nó cũng được sử
dụng như là nhiên liệu cho các bếp dầu để nấu ăn ở các nước chậm phát triển,
thông thường ở đó dầu hỏa không được làm tinh khiết tốt và còn nhiều tạp chất
hay thậm chí còn cả những mảnh vụn.
Thành phần chủ yếu của dầu hỏa là các nhóm hydrocacbon có trong dầu
thô. Dầu hỏa thu được từ dầu mỏ gốc parafin có độ nhớt thấp và tính cháy tốt,
sáng và tỏa nhiều nhiệt so với dầu hỏa gốc hydrocacbon naphten hoặc
hydrocacbon thơm.
II . YÊU CẦU:
Yêu cầu kỹ thuật chủ yếu của dầu hỏa dân dụng là nhiệt năng. Để đánh giá
khả năng phát thắp sáng và tỏa nhiệt của dầu hỏa dân dụng người ta sử dụng chỉ
tiêu chiều cao ngọn lửa không khói hay đểm khói.
III . MỘT SỐ TIÊU CHUẨN CỦA DẦU HỎA (KEROSEN) :
Dầu hỏa dân dụng phải đáp ứng được những tiêu chuẩn quy định như thành
phần cất, thành phần hóa học, màu sắc, chiều cao ngọn lửa không khói, nhiệt độ
bắt cháy, điểm đông đặc, hàm lượng lưu huỳnh…
Một số chỉ tiêu tham khảo
Dầu hỏa dân dụng - Quy cách sản phẩm
SỐ
THỨ
TỰ
TÊN CHỈ TIÊU MỨC PHƯƠNG PHÁP
THỬ
1 Điểm chớp cháy cốc kín, oC, không nhỏ hơn 38 ASTM D 56
2 Nhiệt độ cất, oC: TCVN 2698: 2002
- 10% thể tích, không lớn hơn 205 (ASTM D 86)

- Điểm sôi cuối, oC không lớn hơn 300
3 Hàm lượng lưu huỳnh, %khối lượng, không lớn
hơn
0,30 TCVN 2708: 2002
(ASTM D 1266)/
TCVN 6701: 2000
(ASTM D 2622)/
ASTM D 4294/
ASTM D 129
4 Chiều cao ngọn lửa không khói, mm, không nhỏ
hơn
19
ASTM D 1322
5 Ăn mòn đồng ở 100oC, 3 giờ, không lớn hơn 3 TCVN 2694: 2000/
(ASTM D 130)
6 Độ nhớt động học ở 40oC, cSt 1,0 - 1,9 ASTM D 445
7 Lưu huỳnh mercaptan, định tính Âm tính ASTM D 4952
8 Khối lượng riêng ở 15oC, kg/ l Báo cáo TCVN 6594: 2000
(ASTM D 1298)
Sau đây là một số chỉ tiêu kỹ thuật đặc trưng, ý nghĩa của nó và các phương
pháp xác định các chỉ tiêu ấy:
1 . Thành phần cất :
Phản ánh độ hóa hơi của các loại hydrocacbon có trong dầu hỏa. Thành
phần cất của dầu hỏa được kiểm tra, đánh giá bằng phương pháp tiêu chuẩn
ASTM D.86 và thường được quy định nhiệt độ sôi ở 10% và nhiệt độ cuối.
2 . Màu sắc :
Cho chúng ta biết độ sạch của sản phẩm. Để xác định màu sắc của dầu hỏa
cần dùng phương pháp thử đo màu Saybolt. Đây là một trong những đặc tính quan
trọng của dầu hỏa. Việc đo màu saybolt được tiến hành theo tiêu chuẩn ASTM
D.156.

3 . Hàm lượng lưu huỳnh :
Lưu huỳnh là một chất gây ăn mòn phá hỏng các bể chứa và dụng cụ đốt
đèn. Do dầu hỏa được sử dụng trực tiếp để thắp đèn, lưu huỳnh khi cháy bốc hơi
sẽ trực tiếp gây hại đến sức khỏe con người. Để đảm bảo khi thắp sáng đèn lưu
huỳnh cháy không có hại, lượng lưu huỳnh trong dầu hỏa phải thấp hơn 0,3%.
Phương pháp xác định hàm lương lưu huỳnh thường được tiến hành theo
tiêu chuẩn ASTM D.1266.
4 . Chỉ tiêu kỹ thuật về định tính đối với lưu huỳnh mercaptan :
Chỉ tiêu này được đưa ra nhằm loại bỏ những phản ứng phụ không mong
muốn và giảm mức tối đa mùi hôi không dễ chịu.
Chỉ tiêu này được xác định bằng phương pháp thử ASTM D.4952.
5 . Chiều cao ngọn lửa không khói :
Đặc tính này cho biết khả năng cháy đều, sáng trắng, không muội của dầu
hỏa. Chiều cao ngọn lửa không khói thường quy định không thấp hơn 20cm.
Chiều cao ngọn lửa không khói được xác định bằng phương pháp thử
ASTM D.1322.
6 . Độ nhớt động học :
Chỉ tiêu kỹ thuật này cho biết khả năng chảy và bôi trơn của dầu hoả. Độ
nhớt động học được xác định ở nhiệt độ 40
o
C và theo phương pháp thử ASTM
D.455.
7 . Điểm chớp cháy :
Chỉ tiêu kỹ thuật này cho biết về hiểm họa cháy và là cơ sở về mức độ để
bảo quản, tồn chứa và sử dụng dầu hỏa. Điểm chớp cháy được xác định bằng
phương pháp thử ASTM D.93.

×